NGÀY “D

Hồi Ký Hillary Clinton Và Chính Trường Nước Mỹ

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 50 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ngày “D

❊ ❊ ❊

Washington là thành phố của những lễ hội, và một trong số đó, được xem là uy tín nhất, là buổi dạ tiệc thường niên của câu lạc bộ Gridiron. Đây là một sự kiện trang trọng, là nơi được những nhà báo hàng đầu của Washington chưng diện trang phục, thể hiện những màn trình diễn trào phúng và ca cẩm, chế nhạo chính quyền đương nhiệm, kể cả Tổng thống và Đệ nhất Phu nhân. Quan khách dự tiệc bao gồm sáu mươi thành viên của câu lạc bộ cùng các chính khách cao cấp, giới kinh doanh và báo chí. Câu lạc bộ Gridiron rất bảo thủ. Mãi đến năm 1975, phụ nữ vẫn không được chấp nhận cho gia nhập. (Eleanor Roosevelt thường dùng cụm từ "Những quả phụ Gridiron" để chỉ các bà vợ và nữ nhà báo bị loại trừ. ) Năm 1992, Helen Thomas, phóng viên Nhà Trắng, được bầu làm nữ Chủ tịch đầu tiên. Tư cách Hội viên câu lạc bộ vẫn còn được sàng lọc rất gắt gao, do đó việc nhận được những thiệp mời dự lễ hội mùa xuân của câu lạc bộ là một trong những điều được mong ước nhất trong thành phố. Tổng thống và Phu nhân hầu như luôn luôn có mặt, ngồi trên bục cao ở đầu phòng khiêu vũ, tỏ ra vui vẻ và như không màng đến chuyện người ta nói gì về mình, thỉnh thoảng còn nhại lại chính họ.

Tháng Ba năm 1994, tại buổi tiệc thứ 109 của câu lạc bộ Gridiron, trong bối cảnh phe đối lập có nguồn lực tài chính dồi dào và được tổ chức tốt, Bill và tôi hiểu là mình không dễ dàng gì để đạt được sự ủng hộ của công chúng hay thúc đẩy Quốc hội hành động về Chương trình Chăm sóc Sức khỏe của Chính phủ. Hội Bảo hiểm Y tế Mỹ lo ngại rằng kế hoạch của Chính phủ sẽ làm giảm lợi nhuận và đặc quyền của các công ty bảo hiểm. Để làm tăng sự nghi ngại vào cuộc cải tổ này, nhóm đối lập đã tiến hành một đợt quảng cáo thứ hai, trình bày một màn kịch song tấu của một đôi vợ chồng tên . Ngồi cạnh bàn bếp, Harry và Louise đưa ra những câu hỏi đáp mỉa mai đã được đạo diễn kỹ lưỡng về kế hoạch cải tổ này và thắc mắc ầm ĩ về chi phí họ phải trả theo kế hoạch đó. Như dự tính, đợt quảng cáo đánh vào tâm lý lo ngại của 85% dân Mỹ, những người đã có bảo hiểm y tế, và sợ nó sẽ có thể bị xóa bỏ.

Tại buổi dạ tiệc của câu lạc bộ Gridiron, Bill và tôi đã quyết định diễn một màn kịch chế giễu chương trình vận động trên truyền hình này của giới kinh doanh bảo hiểm, với Bill đóng vai "Harry" và tôi vào vai "Louise". Điều này tạo cơ hội cho chúng tôi vạch trần chiến thuật gây hoang mang mà các đối thủ sử dụng, và cũng để vui ấy mà. Kịch bản do Mandy Grunwald và diễn viên hài Al Franken viết, Bill và tôi học thuộc vai diễn của mình và, sau vài lần diễn thử, vở kịch "Harry và Louise" của chúng tôi được thu video.

Màn kịch như sau: Bill và tôi ngồi trên ghế sofa - anh mặc áo len, uống cà phê, và tôi trong bộ áo cổ chui màu xanh nước biển và váy dài - đang xem xét một đống giấy tờ, được coi là Bộ luật An sinh Y tế.

Bill: ChàoLouise, hôm nay sao rồi cưng?

Tôi: Chào Harry - đến lúc này thì mọi việc đều tốt.

Bill : Coi kìa, Louise, trông em cứ như vừa mới bị ma rượt vậy.

Tôi: Tệ hơn nữa ấy chứ. Em vừa mới đọc Kế hoạch An sinh Y tế của Clinton.

Bill: Với anh, cụm từ Cải cách Chăm sóc Y tế nghe có vẻ hay đấy.

Tôi: Em biết, nhưng một số chi tiết “rằng hay thì thật là hay” đã gây nên cảm giác ngậm đắng nuốt cay” nè.

Bill : Chỗ nào đâu ?

Tôi: Ví dụ như ở trang 3764, nói rằng chúng mình sẽ bệnh mất thôi với kế hoạch của Clinton.

Bill : Thật khủng khiếp !

Tôi : Thế nhé ! Và đây, cái này mới là tệ hơn nữa, ở trang 12. 743 - à không em lầm - ở trang 27.655, nói rất có thể tất cả chúng ta sắp quy tiên.

Bill: Dự án Chăm sóc Sức khỏe của Clinton mà vậy à ? Ý em là sau khi Bill và Hillary áp đặt mọi sự quan liêu và thuế má đó lên chúng ta, tất cả mọi người sắp “tiêu diêu”?

Tôi: Ngay cả Leon Panetta nữa.

Bill: Ghê thật ! Trong đời anh chưa bao giờ “hãi” như vậy?

Tôi: Em cũng vậy, Harry à.

Cả hai: Phải có một giải pháp tốt hơn.

Người dẫn chương trình: Phe liên minh đã trả tiền để hù các bạn sợ mất mật rồi !

Khán giả thích vở kịch cùng màn diễn không chuyên của Tổng thống và Phu nhân. Thường thì buổi lễ Dạ tiệc Gridiron là một sự kiện chính trị phi chính thức nên các nhà báo đến dự đều không cần phải viết bài về nó. Nhưng toàn bộ những bài hát và chuyện trào phúng vẫn xuất hiện như thường lệ vào ngày hôm sau. Cuốn băng trình diễn của chúng tôi được phổ biến rộng rãi, ngay cả chương trình tin buổi sáng Chủ nhật cũng phát lại vài lần. Tôi hài lòng vì đã nêu những nghi vấn về luận điệu của chiến dịch vận đ̕ của phe kinh doanh bảo hiểm và khẳng định sự vô lý của nó, dù một số chuyên gia cho rằng sự nhại lại này sẽ đơn giản chỉ làm màn quảng cáo Harry và Louise thu hút thêm sự chú ý mà thôi. Hơn nữa, thật hay khi “tiêm" một chút trào phúng vào một tình huống không có chút gì là đáng cười cả.

Trong khi tiểu phẩm hài của chúng tôi giúp cho những chính khách và giới báo chí Washington có được một trận cười, thì chúng tôi lại hiểu rằng mình vẫn đang thua trong cuộc chiến vận động công chúng về cải cách y tế. Ngay cả vị Tổng thống được ngưỡng mộ với một diễn đàn hùng hậu trong tay cũng không thể sánh được hàng trăm triệu đô la chi cho những mẩu quảng cáo giả dối, che giấu và bóp méo vấn đề sang mặt tiêu cực, cùng những thủ đoạn khác. Chúng tôi cũng đang đối đầu với sức mạnh của các công ty dược phẩm - họ sợ rằng việc kiểm soát giá thuốc sẽ làm giảm lợi nhuận của họ - và ngành bảo hiểm, họ đang chi không tiếc tiền cho chiến dịch chống việc chi trả toàn bộ chi phí điều trị của người được bảo hiểm. Hơn nữa một số người ủng hộ chúng tôi đang mất dần sự hứng thú đối với dự án cải cách này, vì nó không đáp ứng hoàn toàn mọi mong muốn của họ. Sau cùng, đề nghị cải tổ của chúng tôi vốn dĩ đã phức tạp - cũng như chính những vấn đề chăm sóc y tế - trở thành nỗi ác mộng trong quan hệ công chúng. Gần như mỗi nhóm quan tâm hoặc có lợi ích liên quan đều có thể tìm thấy vài điểm đáng chỉ trích trong kế hoạch.

Chúng tôi cũng khám phá ra là những chống đối dự án Cải cách Chăm sóc Sức khoẻ, cũng như vụ Whitewater, là một phần của cuộc chiến chính trị lớn hơn bản thân chức vụ Tổng thống của Bill hoặc những vấn đề mà chúng tôi đã ủng hộ. Chúng tôi đang ở trên tuyến đầu của một cuộc xung đột ý thức hệ đang ngày càng dữ dội giữa những người Dân chủ ôn hòa và một Đảng Cộng hòa đang càng lúc càng nghiêng về phía cực hữu. Những khái niệm của người Mỹ về chính phủ và nền dân chủ, cùng phương hướng mà đất nước chúng tôi sẽ theo trong những năm tới, đang bấp bênh. Chúng tôi cũng sớm thấy là không có một giới hạn nào trong cuộc chiến này và đối thủ đã được trang bị những công cụ tốt hơn nhiều cho đấu trường chính trị: tiền bạc, phương tiện truyền thông và sự tổ chức.

Bốn tháng trước, vào tháng 12 năm 1993, nhà văn William Kristol, chiến lược gia của Đảng Cộng hòa, Chánh Văn phòng của cựu Phó Tổng thống Dan Quayle và là Chủ nhiệm Dự án về Tương lai của Đảng Cộng hòa, đã gửi một giác thư tới các thủ lĩnh Cộng hòa trong Quốc hội, yêu cầu họ hủy bỏ việc cải cách chăm sóc y tế. Ông đã viết trong giác thư: "Dự án là một sự đe dọa nghiêm trọng về chính trị đối với Đảng Cộng hòa" và sự thất bại của nó sẽ là "một bước lùi vĩ đại của Tổng thống". Không phản đối dự án về những phẩm chất của nó; áp dụng một lý luận chính trị thiên vị, ông đã chỉ đạo các đảng viên Cộng hòa không thương lượng hay thỏa hiệp về dự luật. Theo Kristol, sách lược duy nhất đúng là hủy bỏ dự án ngay lập tức. Bức giác thư không màng đến hàng triệu người dân Mỹ không có bảo hiểm.

Cùng với bức giác thư của Kristol, Jack Kemp và William Bennett, cựu thành viên trong nội các Reagan, đã giúp Đảng Cộng hòa quảng bá trên các chương trình phát thanh truyền hình quan trọng nhằm chống lại cuộc cải cách chăm sóc y tế. Ở nhiều thành phố và thị trấn tôi đến để giới thiệu dự án, sóng phát thanh trong khu vực tràn ngập những quảng cáo chỉ trích cuộc cải cách.

Bức giác thư gửi các lãnh tụ Cộng hòa trong Quốc hội của Kristol đã có hiệu quả như ý. Trong lúc cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ diễn ra vào tháng 11 năm 1994 đang đến gần, những đảng viên Cộng hòa ôn hòa trong Quốc hội, những người tận tụy với cuộc cải cách đã bắt đầu xa lánh dự án của chính phủ. Nghị sĩ Dole vốn nghiêm túc quan tâm tới cuộc cải cách chăm sóc y tế nhưng lại muốTổng thống vào năm 1996. Ông đã không thể giúp Bill Clinton có một chiến thắng lập pháp nào nữa khi còn tại vị, đặc biệt sau những thành công của Bill về ngân sách, dự luật Brady và NAFTA. Chúng tôi đã đề nghị làm việc với nghị sĩ Dole về một dự luật chung, để cùng chia sẻ thành công nếu nó được thông qua. Vị Nghị sĩ đã đề nghị chúng tôi trình bày dự luật trước và khi đó sẽ tiến tới thỏa hiệp. Điều đó đã không bao giờ xảy ra. Sách lược của Kristol vẫn đứng vững.

Chúng tôi cứ tiến một bước lại lùi hai bước. Vào giữa năm 1993, hai tổ chức doanh nghiệp quan trọng - Phòng Thương mại và Hiệp hội Quốc gia các nhà sản xuất - đã nói với Ira rằng họ có thể chấp nhận một cơ cấu then chốt của dự luật, sự ủy quyền thuê mướn nhân công, sẽ đòi hỏi những doanh nghiệp có nhiều hơn 50 nhân công phải mua bảo hiểm y tế cho lực lượng lao động của họ. Các doanh nghiệp này biết rằng đa số các chủ thuê mướn nhiều lao động đã cung cấp bảo hiểm y tế và kết luận rằng sự ủy quyền sẽ loại bỏ những ai không có sự cung cấp ấy. Tuy nhiên, vào khoảng cuối tháng 3 năm 1994, khi một tiểu ban của Ủy ban Pháp chế Hạ viện biểu quyết 6-5 cho việc ủy quyền thuê mướn nhân công, hai nhóm này, bị áp lực của những người Cộng hòa và phe chống cải cách, đã thay đổi vị trí của họ. Rõ ràng, sự ủy quyền đã gây tranh luận, Bill bắt đầu nhượng bộ và thỏa hiệp với Quốc hội. Anh cho thấy mình có thể ủng hộ một điều gì đó ít hơn dù đã dọa phủ quyết bất kỳ dự luật nào không bao gồm việc chi trả toàn bộ chi phí điều trị. Đây là bản chất của quy luật "bánh ít đi bánh quy lại" được mong đợi trong suốt quá trình mặc cả với bên lập pháp, nó mở ra một lối để Thượng viện xem xét đề xuất bảo hiểm cho 95% thay vì 100% dân Mỹ, do các thành viên của Ủy ban Tài chính dưới quyền nghị sĩ Moynihan bảo trợ. Ngay việc nhượng bộ cũng không giúp chúng tôi có thêm được đồng minh nào đáng kể. Thực tế, chúng tôi đã mất sự ủng hộ trong số những người kiên định, cảm thấy chúng tôi đang từ bỏ lý tưởng bằng việc đồng ý với bất cứ điều gì thấp hơn 100%.

Mùa xuân năm đó, chúng tôi mất đồng minh quan trọng nhất trong Hạ viện, Dan Rostenkowski, bị truy tố mười bảy tội danh về việc lừa gạt chính phủ, ông nhận tội và đã bị kết án. Việc này tiếp theo sau một tin gây thất vọng là thủ lĩnh phe đa số trong Thượng viện, George Mitchell, đã quyết định không tái cử, nghĩa là đảng viên Dân chủ mạnh nhất trong Thượng viện và là người ủng hộ dự luật của chúng tôi lúc này, thực tế, chẳng là gì cả.

Chúng tôi cũng phát hiện ra rằng Chương trình Cải cách Y tế bộc lộ một sự thiểu năng trí tuệ của nhiều đại biểu Quốc hội. Được chờ đợi để biểu quyết một số dự luật nêu ra, đa số họ chỉ chú ý vào những văn kiện pháp quy liên quan đến những nhiệm vụ của Ủy ban mình và không rảnh để xem xét sự phức tạp của từng vấn đề trước Thượng hay Hạ viện. Và tôi từng ngạc nhiên khi đối đầu với không chỉ một đại biểu Quốc hội không hiểu được sự khác biệt giữa Medicare và Medicaid, cả hai chương trình bảo hiểm y tế được liên bang cấp ngân sách. Những người khác không hề biết họ đang nhận được bảo hiếm y tế từ chính phủ theo chương trình nào. Newt Gingrich thuộc Đảng Cộng hòa, người lẽ ra sẽ là Chủ tịch Hạ viện vào năm 1995, đã nói trong một lần xuất hiện trên chương trình Meet the Press hồi năm 1994 rằng ông ta không nhận bảo hiểm y tế của Chính phủ, mà mua nó từ Blue Cross - Blue Shield. Thật ra, hợp đồng bảo hiểm của ông ấy là một trong nhiều hợp đồng cấp cho công chức liên bang thông qua Kế hoạch Phúc lợi Y tế dành cho Công chức Liên bang. Chính phủ đã gánh 75% trong hóa đơn 400 đô latháng của Gingrich và các đại biểu Quốc hội khác.

Tôi càng nhận thấy rõ cái lỗ hổng kiến thức này trong một cuộc họp với một nhóm nghị sĩ tổ chức tại tòa nhà Quốc hược mời trả lời những câu hỏi về kế hoạch của Chính phủ, tôi đã phân phát một quyển tóm lược, tổng kết những gì đã đề xuất. Nghị sĩ Ted Kennedy, một trong những chuyên gia thật sự về chăm sóc y tế và những lĩnh vực khác trong Thượng viện, đã dựa ngửa vào chiếc ghế lắc lư trên hai chân trong khi lắng nghe những câu hỏi liên miên của các đồng nghiệp. Cuối cùng, hạ hai chân trước của chiếc ghế xuống sàn, ông gào lên: "Nếu các người nhìn vào trang 34 của quyển tóm lược, các người sẽ thấy câu trả lời cho câu hỏi đó". Thật là thượng thặng, ông rành từng chi tiết - kể cả số trang.

Ngay cả một số đồng minh của chúng tôi trong nhóm ủng hộ cũng gây ra nhiều vấn đề. Một trong những tổ chức quan trọng nhất của chiến dịch cải tổ là Hiệp hội Người Mỹ Hưu trí, hay AARP. Nhóm vận động hành lang mạnh mẽ của các công dân cao tuổi đã bắt đầu tiến hành những chương trình vận động của riêng mình vào tháng 3 năm 1994, đòi hỏi Quốc hội thông qua dự luật cải cách y tế bao gồm cả chi phí đơn thuốc. AARP đã tỏ ra cứng rắn về các đơn thuốc và tôi cũng vậy. Dù AARP dự định giúp chúng tôi nhưng cuộc vận động đã có tác dụng ngược vì nó khiến người ta cho rằng dự án của chúng tôi không bao luôn thanh toán chi phí đơn thuốc - điều dĩ nhiên là có.

Tôi đã phải làm việc cật lực để giữ các lực lượng ủng hộ cải cách đứng chung dưới một mái nhà có tên là Chương trình Cải cách Y tế. Nhưng chúng tôi chỉ có thể huy động khoảng 15 triệu đô la để tiến hành chiến dịch thông tin đại chúng và tuyển các phát ngôn viên rải khắp đất nước. Chúng tôi đã phải chi tiêu rất dè sẻn so với các đối thủ gồm các công ty hùng mạnh, mà theo ước tính, họ được chi ít nhất là 300 triệu đô la cho chiến dịch nhằm đánh bại cuộc cải cách.

Sự xuyên tạc của ngành bảo hiểm đã hiệu quả đến mức nhiều người Mỹ rằng những yếu tố then chốt của cuộc cải cách mà họ ủng hộ lại thật sự nằm trong kế hoạch của Clinton. Một bản tin trên tờ Wall Street Journal, số ngày 10 tháng 3 năm 1994, đã tổng kết tình thế tiến thoái lưỡng nan của chúng tôi dưới hàng tít "NHIỀU NGƯỜI KHÔNG NHẬN RA ĐÓ LÀ KẾ HOẠCH CLINTON MÀ HỌ THÍCH". Tác giả giải thích rằng trong khi nhiều người Mỹ ủng hộ mạnh mẽ những yếu tố rành mạch trong kế hoạch Clinton thì "ông Clinton lại thất bại trong việc xác định dự luật chăm sóc y tế của mình. Sự hỗn độn và cắt xén có tính tích cực của những chương trình vận động trên truyền hình, của những nhà phê bình và các đối thủ đã làm cho những nghi ngờ xung quanh kế hoạch Clinton đang tăng nhanh trong dân chúng, đến nỗi Tổng thống và Phu nhân Hillary Rodham Clinton cũng giải trình không xuể. Không có triển vọng về việc thông qua những yếu tố chính trong dự luật của họ, trừ khi gia đình Clinton vượt qua được mớ bòng bong này".

Trong khi Washington bị hút vào việc cải cách chăm sóc y tế và Whitewater, phần còn lại của thế giới thì không. Vào đầu tháng Năm, Liên hiệp quốc đã thắt chật các cuộc cấm vận nhóm sĩ quan đảo chính quân sự ở Haiti, và một làn sóng tị nạn mới của dân Haiti hướng thẳng đến bờ biển nước Mỹ. Một cuộc khủng hoảng đang hình thành và Bill thấy anh phải yêu cầu Al Gore thay mình sang Nam Phi dự lễ nhậm chức Tổng thống của Nelson Mandela. Tipper và tôi tháp tùng Al với tư cách là thành viên phái đoàn Mỹ. Tôi đã xúc động với viễn cảnh được tham dự vào sự kiện rất quan trọng này. Trong suốt thập niên 80, tôi đã ủng hộ cuộc tẩy chay Nam Phi, hy vọng chế độ phân biệt chủng tộc (apartheid) sẽ bị khuất phục trước áp lực quốc tế. Tháng 2 năm 1990, ngày Mandela ra tù, Bill đã đánh thức Chelsea dậy từ rất sớm để cùng xem sự kiện xúc động này.

Để đến Johannesburg, tôi bay trên một chuyên cơ trong mười sáu giờ. Những người cùng đi với tôi thức suốt đêm chơi bài, nghe nhạc, bàn tán sôi nổi về sự thay đổi mang tính lịch sử mà chúng tôi sắp chứng kiến. Sa năm trong tù vì âm mưu chống lại chính quyền phân biệt chủng tộc ở Nam Phi, Nelson Mandela đã chiến thắng trong cuộc bầu cử bình đẳng sắc tộc đầu tiên của đất nước để trở thành vị Tổng thống da đen đầu tiên của Nam Phi. Cuộc đấu tranh giải phóng Nam Phi liên kết chặt chẽ với phong trào dân quyền Mỹ và được các lãnh đạo người Mỹ gốc Phi ủng hộ, nhiều người trong số họ đã cùng đi với chúng tôi để vinh danh Mandela.

Chúng tôi hạ cánh ở ngoại ô Johannesburg, một thành phố hiện đại trên vùng trung nguyên khô hạn ở Nam Phi. Tối đó chúng tôi dự một cuộc trình diễn tại Nhà hát Market nổi tiếng, nơi mà trong nhiều năm, Athol Fugard và các nhà soạn kịch khác đã bất chấp sự kiểm duyệt của chính quyền, tái hiện sự tàn bạo của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Sau đó, chúng tôi dự một buổi tiệc đứng với hỗn hợp nhiều món đặc sản châu Phi đi kèm với món salad thịt thái miếng thông thường. Tôi đã không dám mạo hiểm như Maggie và các nhân viên khác, họ thách nhau nếm món châu chấu và dòi chiên.

Phái đoàn của chúng tôi đi xe hơi lên phía bắc để đến Thủ đô Pretoria. Vì cuộc chuyển giao quyền lực chính thức chỉ diễn ra sau khi Tổng thống mới đã tuyên thệ nhậm chức, nên dinh thự trang nghiêm của Tổng thống vẫn do Tổng thống sắp mãn nhiệm F. W. de Klerk cư ngụ. Sáng hôm sau, trong khi Al Gore tiếp xúc với F. W. de Klerk và các Bộ trưởng của ông ta, Tipper và tôi dùng điểm tâm với bà Marike de Klerk cùng phu nhân của những quan chức Đảng Quốc gia sắp hết nhiệm kỳ. Chúng tôi ngồi trong một phòng điểm tâm có vách bằng gỗ phiến được trang trí bằng những tấm thảm sần và đồ sứ. Giữa chiếc bàn tròn lớn là một mâm xoay với đầy những món điểm tâm cổ truyền của nông trại Hà Lan : mứt, bánh mì, bánh bích quy và trứng. Dù chúng tôi đã có cuộc trò chuyện nhẹ nhàng về thức ăn, con cái và thời tiết khoảnh khắc này là một cái gì đó không thể diễn tả bằng lời: trong vài giờ ngắn ngủi nữa, cái thế giới mà những phụ nữ này đã sống sẽ vĩnh viễn biến mất.

Năm mươi ngàn người đã tham dự lễ nhậm chức, một quang cảnh của lễ hội, giải phóng và sự công bằng. Toàn thế cử tọa rất ngạc nhiên vì cuộc chuyển giao quyền lực trong trật tự ở một đất nước đã bị tàn phá quá nhiều bởi nỗi sợ phân biệt chủng tộc và lòng thù hận. Colin Powell, một thành viên trong phái đoàn chúng tôi, đã bật khóc khi những phản lực cơ của Lực lượng Phòng vệ Nam Phi bay qua. Khói của chúng vạch những sọc nhuộm màu đỏ đen, xanh lá, xanh, trắng và vàng, màu của lá quốc kỳ mới trên bầu trời. Vài năm trước đây, cũng những chiếc phản lực này là biểu tượng quyền lực của quân lực chính quyền apartheid; bây giờ thì họ đang vẫy cánh để tôn vinh vị tân tổng tư lệnh da đen của mình.

Trong diễn văn của mình, Mandela đã lên án sự phân biệt chủng tộc và giới tính, hai định kiến sâu sắc ở Phi châu và hầu hết phần còn lại của thế giới. Khi rời buổi lễ, tôi đã thấy cha Jese Jackson ứa nước mắt vì sung sướng. Ông cúi chào và nói với tôi: "Có bao giờ bà nghĩ bất kỳ ai trong chúng ta sẽ sống để được thấy cái ngày này."

Với một đoàn xe hộ tống, chúng tôi quay lại phủ Tổng thống và thấy nó đã được chuyển giao. Chỉ trước đấy vài giờ, con đường dài chạy xen giữa những bãi cỏ xanh có những người vũ trang đứng xếp hàng dọc theo, lúc này đã được thay bằng những người đánh trống và các vũ công trong trang phục tươi sáng đến từ khắp Nam Phi. Cảnh trí sáng sủa và vui tươi cứ như chính bầu trời đã tự biến đổi chỉ trong một buổi chiều. Chúng tôi được dẫn vào dinh để dự tiệc cốc-tai và hòa với hàng tá các vị nguyên thủ quốc gia cùng phái đoàn của họ đến thăm. Chiều hôm đó, một trong những thử thách của tôi là Fidel Castro. Những hướng dẫn viên của Bộ Ngoại giao đã lưu ý rằng Castro muốn được hội kiến với tôi. Họ bảo tôi phải tránh bằng mọi giá, vì chúng ta không có quan hệ ngoại giao với Cu chưa kể đến việc cấm vận thương mại.

Họ bảo tôi "Phu nhân không thể bắt tay ông ấy", "Phu nhân không thể đàm luận với ông ấy". Thậm chí nếu tôi chỉ vô tình đâm sầm vào ông ta, những nhóm chống Castro ở Florida sẽ nổi điên.

Suốt buổi tiếp tân, tôi thường xuyên ngó lại để trông chừng chòm râu xám bờm xờm của ông ta trong đám đông. Thình lình, giữa lúc cuộc trò chuyện giữa tôi và một người, hình như là Quốc vương Mswati III của Swaziland, đang lý thú, tôi chợt thấy Castro đang đi về phía mình và tôi đã lẩn nhanh về một góc xa của gian phòng. Điều này thật lố bịch, nhưng tôi hiểu rằng chỉ với một tấm hình, một câu nói bâng quơ, hay tình cờ chạm mặt cũng có thể trở thành một bản tin.

Bữa trưa được dọn trên nền đất, dưới một lều bạt trắng cực lớn. Mandela đứng dậy để giới thiệu những vị khách của ông. Tôi thích nghe ông nói với giọng chậm rãi, trang nghiêm với chủ ý để tạo ra sự trịnh trọng, sống động với sự khôi hài ý nhị. Ông đã dùng những lời trân trọng để chào đón chúng tôi. Sau đó, ông nói một điều khiến tôi vô cùng kính phục: Dù vui vì được tiếp đãi những vị khách quan trọng, ông lại vui nhất là vì sự hiện diện của ba trong số các cựu cai ngục ở đảo Robben, những người đã đối xử với một lòng kính trọng trong thời gian ông bị cầm tù.

Ông yêu cầu họ đứng dậy để ông giới thiệu với quan khách. Tấm lòng độ lượng của ông thật cao cả. Trong nhiều tháng, ở Washington, tôi đã bị sự thù nghịch, sự khủng bố tinh thần liên quan đến Whitewater, Vince Foster và văn phòng công du ám ảnh. Còn ở đây, Mandela đang vinh danh ba người từng cầm giữ mình.

Khi tôi đã hiểu nhiều hơn về ông, Mandela giải thích rằng hồi trất dễ nổi cáu. Trong lao tù, ông đã học được cách kềm chế cảm xúc của mình để sống còn. Những năm ở tù đã cho ông thời gian và nghị lực để nhìn vào tận tâm tư mình, và đế đối phó với những khố đau ông đã gặp. Ông nhắc nhở tôi rằng lòng vị tha thường là kết quả của những niềm đau, đòi hỏi sự tự chủ dị thường. Ông nói với tôi về ngày cuối cùng của đời tù ngục: "Khi bước qua cửa xà lim hướng về phía cánh cổng sẽ đưa tôi về với tự do, tôi đã ngộ ra nếu không rũ bỏ nỗi cay đắng và lòng hận thù lại phía sau, tôi sẽ vẫn còn bị giam cầm".

Tối đó, từ Nam Phi quay về, vẫn suy ngẫm về trường hợp của Mandela, tôi nhập vào nhóm năm cựu Đệ nhất Phu nhân ở Hoa viên Quốc gia Gala. Tôi là Chủ tọa danh dự buổi gây quỹ tại Vườn Thực vật Hoa Kỳ để giúp xây dựng một hoa viên mới, sẽ là một tiêu bản sống tại khu Mall, tặng cho tám Đệ nhất Phu nhân đương đại và vinh danh những đóng góp của chúng tôi cho tổ quốc.

Tôi rất vui vì sự hiện diện của Phu nhân Bird Johnson. Bà từng là một phóng viên dễ mến và quả quyết. Suốt những năm ở Nhà Trắng, chúng tôi đã trao đổi thư từ với nhau. Tôi ngưỡng mộ nét duyên dáng và sự trầm tĩnh mạnh mẽ vốn có đã đưa bà đến địa vị Đệ nhất Phu nhân. Bà đã khởi xướng một chương trình làm đẹp bằng việc trồng hoa dại suốt dọc những dặm đường xa lộ xuyên Mỹ nhằm tăng cường sự trân trọng cảnh quan thiên nhiên của chúng tôi. Qua sự ủng hộ của Phu nhân Bird, một thế hệ người Mỹ đã học được cách tôn trọng và có ý thức giữ gìn môi trường mới. Bà cũng ủng hộ chương trình Head Start, một chương trình học vỡ lòng cho trẻ bất hạnh. Năm 1964, trong cuộc chạy đua của chồng với Barry Goldwater, khi bắt đầu chiến dịch tranh cử, bà đã đi vận động cho chồng mình ở nông thôn miền Nam. Suốt thời kỳ khó khăn ở Nhà Trắng, bà hiểu sự nghiệp chính trị của Tổng thống đòi hỏi lòng tận tụy và s hy sinh. Nhờ trí thông minh và lòng trắc ẩn, bà đã thể hiện được bản sắc riêng trong một thế giới được bao trùm bởi nhân cách lớn của Lyndon Johnson. Do gặp rất nhiều trở ngại ở Washington nên tôi hiểu được những giá trị của những thành tựu kết tinh từ sự nỗ lực của bà.

Trong những tấm ảnh đã chụp tại buổi dạ tiệc hôm đó có: Phu nhân Bird, Barbara Bush, Nancy Reagan, Rosalynn Carter, Betty Ford và tôi. Thật là hoành tráng: tất cả các Đệ nhất Phu nhân còn tại thế đứng chung trên sân khấu - trừ một người.

Vài tháng trước, Jackie Kennedy Onassis được chẩn đoán mắc bệnh thiểu bạch cầu Hodgkin, một chứng ung thư đôi khi bộc phát chậm nhưng lại thường gây chết người. Vì thế, bà đã không thể hiện diện cùng với chúng tôi.

Ngày 19 tháng 5 năm 1994, Jackie tạ thế trong căn hộ của bà ở New York, có Caroline, John và Maurice bên cạnh. Chúng tôi được báo rằng bà qua đời sau một cuộc phẫu thuật, nhưng không biết vì sao thể trạng bà suy sụp nhanh như thế. Bà đã giữ cái chết được riêng tư như chính cuộc đời mình, đúng với tính cách của bà. Sáng sớm hôm sau, tôi và Bill đã đến Hoa viên Jacqueline Kennedy ở ngoài hiên phía đông của Nhà Trắng để phát biểu cảm nghĩ của chúng tôi trước một nhóm các nhà báo, nhân viên và bạn bè. Bill xác định những cống hiến của bà cho tổ quốc, còn tôi nói về sự hy sinh của bà cho con cháu: "Có lần, bà đã giải thích sự quan trọng của khoảng thời gian dành cho gia đình và bảo rằng: Nếu bạn cẩu thả trong việc nuôi dạy con cái, thì tôi không tin bạn làm được bất cứ điều gì khác. Tôi hoàn toàn tán thành ý nghĩ đó". Tang lễ của bà tổ chức ở Nhà thờ Thiên chúa giáo La Mã St. Ignatius Loyola, thành phố New York, tôi đã đến dự rồi cùng với gia đình và bạn bè thân thiết của bà bay đi Washington. Bill đón chúng tôi tại phi trường, cùng đưa tiễn Jackie đến nơi an nghỉ ngàn thu của bà cạnh mộ phần Tổng chống John F. Kennedy và đứa con trai còn thơ ấu - Patrick và một con gái chết lúc chưa chào đời của họ. San táng, chúng tôi đã thăm một chi họ của gia tộc Kennedy ở gần tư dinh của Kennedy tại Ethel, trên Đồi Hickory.

Hai tuần sau, John F. Kennedy, Jr. gởi cho tôi và Bill một bức thư viết tay mà tôi vẫn nhớ. Cậu viết: "Tôi muốn ông bà hiểu rằng tình bằng hữu nảy nở giữa ông bà và mẹ tôi có ý nghĩa như thế nào đối với bà ấy. Từ khi mẹ tôi rời khỏi Washington, tôi tin rằng bà đã từng chống chọi với những cảm xúc - hay những yêu cầu theo thông lệ - của việc trở thành cựu Đệ nhất Phu nhân. Bà đã phải làm nhiều điều với những ký ức ngổn ngang và ước mong chống chọi lại số phận nghiệt ngã của bản thân. Tuy nhiên, thông qua ông bà, một cách sâu sắc, dường như mẹ tôi rất hạnh phúc và dễ chịu khi cho phép bản thân nối lại điều đó. Mẹ tôi đã có những gợi ý sáng suốt có lẽ vì những điểm tương đồng giữa nhiệm vụ Tổng thống của Ngài và cha tôi - dù việc dưỡng dục con cái trong môi trường như thế xem ra có nhiều hiểm họa (hiểm họa thực sự)”.

Đầu tháng 6 năm 1994, Bill và tôi đã sang Anh để dự những hoạt động kỷ niệm lần thứ 50 cuộc đổ bộ Normandy dẫn đến sự kết thúc Thế chiến thứ hai ở châu Âu. Nữ hoàng Elizabeth đệ nhị đã mời chúng tôi ở lại đêm trên du thuyền Britannia của hoàng gia, và tôi đã rất hào hứng bởi viễn cảnh sắp được hiểu thêm về hoàng gia. Năm ngoái, tại một buổi tiệc nhỏ của gia đình Gore, tôi đã gặp Thái tử Charles. Với khả năng ứng đối nhanh và óc khôi hài tự tin, ông khá vui vẻ. Khi đã lên chiếc Britannia, Bill và tôi được đưa đến diện kiến Nữ hoàng, Hoàng thân Philip và Thái hậu, những người đã đón tiếp chúng tôi với lời mời dùng nước. Khi tôi giới thiệu Kelly Craighead, người điều hành chuyến công du của chúng tôi, Thái hậu đã khiến tất cả ngạc nhiên khi hỏi Kelly có thể ở lại du thuyền để dùng bữa với bà và vài vị tùy viên quân sự trẻ của Nữ hoàng hay không. Kelly đáp rằng cô rất vui nhưng phải liệu xem mình có thể thu xếp thời hay không. Kelly đi theo vào khoang phòng của tôi và hỏi cô nên làm thế nào. Tôi bảo cô nên ở lại. Người khác có thế trám chỗ cho cô trong buổi tiệc long trọng của Nữ hoàng và Hoàng thân Philip tối hôm đó. Cô chạy ra bảo với một tùy viên quân sự và quay lại với nét mặt thất thần vì cô được biết phải phục sức trang trọng cho buổi tiệc. Bộ quần áo chẽn màu đen của cô không phù hợp. Tôi lôi hết những y phục sang trọng của mình ra và giúp Kelly thử từng chiếc với nhau để có một bộ cánh thích hợp với bữa tiệc của Thái hậu.

Tại buổi đại tiệc, tôi ngồi giữa Hoàng thân Philip và Thủ tướng John Major ở đầu chiếc bàn đủ dài để phục vụ các Quốc vương, Hoàng hậu, Thủ tướng và Tổng thống có mặt. Từ bục sàn nhô lên, tôi nhìn bao quát gian phòng rộng đông người. Hơn 500 quan khách đã tập họp tại đây để kỷ niệm sự liên minh đã đem lại chiến thắng của Anh - Mỹ vào Ngày D. Trong số đó có cựu Thủ tướng Margaret Thatcher, người mà tôi đã dõi theo với sự quan tâm mãnh liệt; Mary Soames, con gái của Churchill và cháu của ông, Winston - con trai của Pamela Harriman. Rất dễ bắt chuyện với Major. Tôi thích trao đổi về tính cách các nhân vật trong số quan khách và lắng nghe ông tả lại tai nạn ô tô khủng khiếp lúc làm việc ở Nigeria khi còn trẻ. Ông đã phải nằm bất động hàng tháng trời và chịu đựng đau đớn một thời gian dài trước khi bình phục.

Hoàng thân Philip, một người đối thoại lịch thiệp, đã phân chia thời gian của mình rất kỹ lưỡng giữa tôi và người phụ nữ ngồi phía bên kia của ông, Paola, Nữ hoàng Bỉ. Ví dụ như khi nói về việc chạy thuyền buồm và lịch sử du thuyền Britannia, ông thường dừng ở lúc "cao trào" để nghiêng đầu từ bà sang tôi và trở lại tư thế cũ.

Ngồi cạnh Bill, Nữ hoàng Elizabeth đệ nhị đội một chiếc mão kim cương phản chiếu ánh sáng lấp lánh khi bà gật đầu và cười với những câu chuyện của Bill. Dung mạo, cử chỉ lịch sự v dặt của bà gợi tôi nhớ về mẹ của mình. Tôi đặc biệt ngưỡng mộ và đồng cảm với cách tiếp nhận và hoàn thành nhiệm vụ đứng đầu vương quốc của bà lúc còn là một thiếu nữ khi phụ vương băng hà. Thật khó hình dung được tất cả những khó khăn của bà trong việc giữ một vai trò quan trọng và khắc nghiệt trong hàng thập kỷ, vượt qua nhưng khó khăn và thay đổi nhanh chóng của thời đại. Năm Chelsea chín tuổi, Bill và tôi đã dẫn nó theo trong một kỳ nghỉ ngắn ở Luân Đôn. Tất cả những gì nó muốn là được diện kiến Nữ hoàng và Công nương Diana mà chúng tôi đã không thể sắp xếp được vào thời điểm đó. Tuy nhiên, tôi đã đưa nó đến một cuộc triển lãm tư liệu về triều đại của tất cả những vị Vua và Nữ hoàng Anh. Chelsea đã xem đi xem lại cuộc trưng bày, bỏ ra gần một giờ để đọc rất kỹ những mô tả về từng người một. Khi đọc xong, nó nói với tôi: "Mẹ à, con nghĩ làm Vua hay Nữ hoàng là việc khó”.

Sáng hôm sau buổi đại tiệc, tôi đã gặp Công nương Diana lần đầu tiên tại lễ Drumhead Service, một nghi thức tín ngưỡng truyền thống của "Lực lượng Cảm tử”. Nghi lễ được tổ chức trên sân của căn cứ Hải quân Hoàng gia, một khu đất có những mảnh vườn bao quanh chạy dài theo một dải đất cao cạnh bờ biển. Trong số quan khách và các cựu chiến binh có Công nương Diana, đã ly thân với Thái tử Charles. Bà đến dự lễ một mình. Tôi đã nhìn bà chào những người ủng hộ, rõ ràng là họ yêu mến bà. Cung cách của Diana thật quyến rũ. Sử dụng đôi mắt để thu hút người khác. Bà cúi đầu về phía trước để chào bạn trong lúc mắt mở to nhìn lên, đẹp một cách khác thường. Cuộc sống phù hoa và sự thương tổn tình cảm của bà làm nhói lòng tôi. Mặc dù có rất ít thời gian đàm đạo trong suốt chuyến thăm này nhưng tôi vẫn hiểu và thích bà. Diana là một phụ nữ bị giằng xé trong những tranh chấp của bản thân và xã hội, nhưng bà thật tình muốn cống hiến, muốn đời mình có giá trị cho một điều gì đó. Bà đã trở thành người tuyên truyền hữu hiệu cho sựvề bệnh AIDS và xóa sổ các bãi mìn. Bà cũng là một người mẹ tận tụy. Bất cứ lúc nào gặp nhau, chúng tôi đều thảo luận tính thách thức của việc nuôi dạy con cái trước sự xét nét của công chúng.

Xế trưa hôm đó, chúng tôi lên chiếc Britannia và tiến ra biển Manche, nhập vào một đoàn tàu dài, có cả chiếc Jeremiah O’Brien, một trong số những tàu mà chính phủ Hoa Kỳ đã dùng để chuyên chở tiếp liệu đến Anh trong suốt cuộc chiến. Chúng tôi chuyển sang hàng không mẫu hạm USS George Washington thả neo ngoài khơi bờ biển nước Pháp. Đây là lần đầu tiên tôi thăm một hàng không mẫu hạm, một thành phố nổi có dân số sáu ngàn thủy thủ và thủy quân lục chiến. Trong khi Bill soạn bài diễn văn sẽ đọc vào ngày hôm sau, tôi đi một vòng tham quan tàu, kể cả phi đạo, một trong những địa điểm hoạt động nguy hiểm nhất trong quân đội. Hãy hình dung sự tập luyện và lòng can đảm cần có để cất cánh và đáp một chiến đấu cơ trên một mẩu bất động sản của Mỹ bập bềnh giữa đại dương. Từ đài chỉ huy nhô cao trên boong tàu, tôi nhìn bao quát chiếc mẫu hạm vĩ đại và cảm nhận được uy phong của nó. Tại bếp ăn của tàu, tôi dùng bữa tối với một số thành viên thuỷ thủ đoàn, đa số khoảng 18-19 tuổi. Năm mươi năm trước, những chàng trai cũng ở vào độ tuổi của họ đã gây bão tố trên các bãi biển vùng Normandy vào Ngày D định mệnh.

Dù đã đọc quyển D-day của Stephen Ambrose, tôi vẫn không khỏi bất ngờ trước chiều cao của dãy vách đá mà lực lượng đồng minh leo lên sau khi đã chiến đấu vượt qua bãi biển vào ngày 6 tháng 6 năm 1944. Mũi Hoc trông có vẻ như không thể vượt qua được. Tôi đã vô cùng thán phục khi lắng nghe lời kể của những cựu binh, những người đã thực hiện cuộc chinh phục đó. Quan hệ của Bill với quân đội đã vượt qua bước khởi đầu đầy khó khăn, vì thế, nhiều người đã lắng nghe bài diễn văn của anh về Ngày D. Cũng như tôi, anh chống lại chiến tranh Việt Nam, tin rằng đó là một lầm và Hoa Kỳ không thể thắng trong cuộc chiến này. Vào cuối thập niên 60, lúc đang học đại học, do được làm việc với Thượng nghị sĩ Fulbright trong Ủy ban Đối ngoại của Thượng viện, khi đó anh đã hiểu những gì mà ngày nay chúng ta đều biết: Chính phủ Hoa Kỳ đã lừa dối công luận về sự sa lầy, về sức mạnh của những đồng minh người Việt, về sự kiện Vịnh Bắc bộ, về sự thành công của chiến lược quân sự, về con số thương vong, và những thông tin khác; vì thế mà đã kéo dài sự xung đột và làm hao binh tổn tướng nhiều hơn. Năm 1969, trong lá thư gửi đến chủ nhiệm chương trình Huấn luyện sĩ quan Dự bị (ROTC) của Đại học Arkansas, Bill đã cố giải thích mối lo ngại sâu sắc của anh về cuộc chiến. Quyết định rút khỏi chương trình và chấp hành lệnh quân dịch, anh đã dấn thân vào lòng cuộc đấu tranh như nhiều người trẻ tuổi cảm nhận về đất nước mà họ yêu mến và một cuộc chiến mà họ không thể ủng hộ.

Lần đầu gặp Bill, chúng tôi đã thảo luận không dứt về chiến tranh Việt Nam, về lệnh nhập ngũ và những nghĩa vụ mâu thuẫn mà chúng tôi cảm nhận được, giống như bao thanh niên Mỹ yêu đất nước của mình nhưng phản đối cuộc chiến đặc biệt đó. Chúng tôi hiểu những nỗi thống khố đương thời - mỗi chúng tôi đều có bạn đầu quân, bị gọi nhập ngũ, chống đối hoặc trở thành những người từ chối nhập ngũ vì lương tâm cho thế là trái đạo lý. Bốn bạn cùng lớp của Bill ở trường trung học tại Hot Springs đã tử trận tại Việt Nam. Tôi biết Bill tôn trọng nghĩa vụ quân sự, anh sẽ sung sướng phục vụ nếu như được gọi gia nhập quân đội trong Thế chiến thứ hai - cuộc chiến tranh có mục đích hết sức rõ ràng. Còn chiến tranh Việt Nam đã thử thách trí tuệ và lương tâm của nhiều người thuộc thế hệ chúng tôi, vì nó dường như mâu thuẫn với những giá trị và lợi ích quốc gia của Mỹ, chứ không phải là sự nghiệp của họ. Với tư cách là vị Tổng thống đầu tiên của lớp trưởng thành trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, Bill mang theo những mặc cảm không xóa bỏ được của đất nước chúng tôi về cuộc chiến đó bước vào Nhà Trắng. Anh tin rằng đây là lúc để hòa giải những dị biệt của người Mỹ chúng ta và bắt đầu một chương mới: hợp tác với kẻ cựu thù.

Năm 1994, với sự ủng hộ của những cựu binh từng tham chiến ở Việt Nam trong Quốc hội, Bill đã xóa bỏ lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam, bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai nước vào năm sau. Chính phủ Việt Nam liên tục chứng tỏ sự nỗ lực chân thành trong việc giúp tìm kiếm quân nhân Mỹ bị mất tích trong chiến tranh hoặc bị bắt làm tù binh. Vào năm 2000, Bill trở thành vị Tổng thống Mỹ đầu tiên đến thăm Việt Nam kể từ khi quân đội Mỹ rút khỏi đây vào năm 1975. Những hoạt động ngoại giao dung cảm của anh đã tỏ rõ sự kính trọng đối với hơn 58.000 quân Mỹ đã hy sinh mạng sống của họ trong rừng già Đông Nam Á, giúp nước Mỹ chữa lành vết thương xưa và tìm ra những điểm chung giữa chúng ta và nhân dân Việt Nam.

Lời hứa đưa ra trong chiến dịch tranh cử: để cho những người đồng tính phục vụ trong quân đội chừng nào tình trạng giới tính của họ không làm phương hại đến sự phục vụ và sự liên kết trong đơn vị, dưới bất kỳ hình thức nào, đã trở thành một trong những thử thách đầu tiên của Bill trong vai trò tổng tư lệnh. Tôi đồng ý với vị thế người bình thường là việc thi hành điều lệnh quân đội nên khắt khe hơn đối với hành vi chứ không phải tình trạng giới tính. Vấn đề này nổi lên vào đầu năm 1993, trở thành một cuộc chiến quyết liệt giữa những quan điểm đối chọi nhau. Những người giữ vững quan điểm rằng người đồng tính đã từng phục vụ xuất sắc trong lịch sử chiến tranh của nước Mỹ, và nên được phép tiếp tục phục vụ, chỉ là thiểu số trong quân đội và Quốc hội. Công luận đã tiến gần đến chỗ phân hóa, nhưng - như thường thấy trong những trư̖ như vậy - những người chống lại sự thay đổi thì cứng rắn và to tiếng hơn những người ủng hộ. Điều làm tôi phiền muộn là tính đạo đức giả. Vì tổ quốc cần, chỉ mới ba năm trước, trong thời kỳ chiến tranh vùng Vịnh, những quân nhân được biết là đồng tính - cả nam lẫn nữ - đã đi vào những nơi nguy hiểm để hoàn thành sứ mạng. Sau khi chiến tranh kết thúc, họ không còn cần thiết nữa và bị giải ngũ vì lý do giới tính của mình. Với tôi, điều này thật khó chấp nhận.

Bill hiểu vấn đề này là một thất bại chính trị, nhưng điều làm anh phiền lòng là đã không thuyết phục được Hội đồng Tham mưu Liên quân chấp nhận sự thật rằng những người đồng tính đã đang và sẽ luôn luôn phục vụ trong quân đội và sự thay đổi chính sách thích hợp là quy định một chuẩn mực về hành vi chung cho tất cả. Sau khi cả Thượng và Hạ viện bày tỏ sự phản đối của họ bằng cách phủ quyết, Bill đã chấp nhận một thỏa hiệp: chính sách "không hỏi, không nói". Chính sách này cấm cấp trên lục vấn cấp dưới liệu cô hay anh có phải là người đồng tính không. Nếu được hỏi thì không nhất thiết phải trả lời. Nhưng chính sách này đã không được thực hiện tốt. Vẫn còn có các trường hợp trừng phạt hay quấy rối đối với những ai bị nghi là đồng tính và con số những người đồng tính giải ngũ vẫn thực sự gia tăng. Năm 1992, Canada đã bỏ lệnh cấm đối với người đồng tính và năm 2000, Anh Quốc, đồng minh thân cận nhất của chúng ta, đã thay đổi chính sách, cho phép những người đồng tính được phục vụ trong quân đội và đã không có khó khăn nào được báo cáo. Chúng ta còn phải đi một chặng đường dài với tính chất một cộng đồng có tổ chức trước khi vấn đề này được giải quyết. Tôi chỉ mong phe đối lập sẽ lắng nghe Barry Goldwater, một biểu trưng của Pháp quyền Mỹ, phát ngôn viên ủng hộ quyền của người đồng tính. Về vấn đề người đồng tính trong quân đội, ông nói: "Bạn không cần phải là người có tình dục bình thường khi chiến đấu và chết cho tổ quốc mình. Bạn chỉ cần bắn thẳng".

Trong bài diễn văn đọc tại Nghĩa trang Colleville-sur-Mer, trước Đài Tưởng niệm những quân nhân Hoa Kỳ hy sinh ở Normandy trong Thế chiến thứ hai gửi đến những cựu binh Mỹ thuộc thế hệ cha ông chúng ta, Bill đã nói: "Chúng tôi là con cháu của sự xả thân của quý vị". Những người Mỹ dũng cảm này đã gia nhập quân đội và lực lượng kháng chiến của Anh, Na Uy, Pháp, Bỉ, Hà Lan, Đan Mạch và những nước khác, chống lại chủ nghĩa Phát xít và củng cố một liên minh lịch sử giữa Mỹ và châu Âu đến nửa thế kỷ sau. Đó là một “Thế hệ vĩ đại" gồm những người Mỹ và châu Âu đã liên kết và chia sẻ với nhau một sự nghiệp dẫn đến chiến thắng trong cuộc Chiến tranh lạnh, tạo điều kiện cho sự tự do và dân chủ lan rộng trên nhiều châu lục. Ngày nay, trước những bất ổn của thế giới, sự gắn bó lịch sử giữa Mỹ và châu Âu mà nhiều chứng tích vẫn còn trên những bãi biển Normandy, giữ vai trò quyết định cho ước vọng hòa bình, thịnh vượng và an ninh toàn cầu.

Bài diễn văn kỷ niệm ngày đổ bộ Normandy là một xúc cảm đặc biệt của Bill vì anh vừa nhận được một bản sao lục hồ sơ quân nhân của cha mình và thành tích đơn vị của ông, đã tham dự cuộc đổ bộ vào nước Ý. Sau khi câu chuyện về sự phục vụ của cha anh được đăng trên một số tờ báo, Bill nhận được thư của một người từ Nettuno (Ý) di cư sang sống ở New Jersey. Hồi trai trẻ, người này được một binh sĩ Mỹ trong ban quân xa của lực lượng đổ bộ đối xử tốt. Người lính đã dạy chàng trai cách bảo trì xe hơi và xe tải chính là Wilham Blythe, cha của Bill. Bill xúc động khi biết tin về cha mình và ngộ ra mối liên cảm mình từng có với người chiến binh trẻ đó - người cha mà anh chưa hề biết mặt - lúc anh cố bày tỏ lòng biết ơn của thế hệ chúng ta đối với tất cả những gì mà ông và hàng triệu người khác đã làm cho tổ quốc và thế giới.

Tôi cũng xúc động vì chuyến công du ấy. Tôi muốn nhiệm kỳ Tổng thống của Bill thành công không đơn giản chỉ vì tôi yêu anh và anh là chồng tôi, mà còn vì tôi yêu tổ quốc mình và tin rằng anh là người lãnh đạo đất nước chân chính ở cuối thế kỷ 20.

linton và chính trường nước Mỹ Living history ebook©MotSAch TVE-4u©heoconmtv —★— Nhà xuất bản: NXB Văn Hóa Sài Gòn 2006
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.