ĐẠI HỌC YALE

Hồi Ký Hillary Clinton Và Chính Trường Nước Mỹ

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 50 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Đại Học Yale

❊ ❊ ❊

Khi tôi vào trường Luật Yale mùa thu 1969, tôi là một trong số 27 phụ nữ trên tổng số 235 sinh viên trúng tuyển. Đây có lẽ là một con số không đáng kể vào thời nay nhưng lúc ấy là một đột phá có ý nghĩa, chứng tỏ phụ nữ không còn là những sinh viên hình thức tại Yale. Trong lúc quyền phụ nữ có vẻ sẽ giành được một số quan tâm của xã hội vào nhưng năm cuối của thập niên 1960, mọi thứ khác dường như lại hỗn độn và không chắc chắn. Nếu không sống trong giai đoạn lịch sử này, bạn thật khó tượng tượng mức độ phân hóa của bức tranh chính trị Hoa Kỳ.

Giáo sư Charles Reich - đã trở nên nổi tiếng với công chúng qua tác phẩm The Greening of America - cắm trại cùng với một số sinh viên ở một khu nhà lụp xụp ngay giữa khuôn viên trường luật để phản đối "giới cầm quyền", dĩ nhiên bao gồm cả giới lãnh đạo Trường Luật Yale. Khu nhà ổ chuột này tồn tại được vài tuần trước khi bị giải tỏa một cách hòa bình. Tuy nhiên các cuộc phản đối khác thì không hòa bình như thế. Thập niên 1960 đã khởi đầu với rất nhiều hy vọng nhưng lại kết thúc bằng một thực trạng đầy biến động, chống đối và bạo lực. Người da trắng, các nhà hoạt động phản chiến thuộc tầng lớp trung lưu bị phát hiện có âm mưu chế tạo bom dưới tầng hầm nhà họ. Phong trào ôn hòa đòi quyền công dân cho người da đen thì chia năm xẻ bảy. Cũng có một số nhân vật mới nổi từ cộng đồng cư dân thành thị da đen theo Hồi giáo hoặc của tổ chức Báo Đen (Black Panther). Cơ quan FBI của J. Edgar Hoover cài người vào các tổ chức chống đối và thậm chí trong một số trường hợp đã vi phạm pháp luật để phá hoại các tổ chức này. Sự thi hành luật pháp đôi khi không phân biệt được đâu là ranh giới giữa các hoạt động chống đối hợp pháp, hợp hiến và đâu là hành vi tội phạm. Do các hoạt động mật thám và phản gián nở rộ dưới thời chính quyền Nixon, dường như đôi khi chính phủ chúng ta đã khởi chiến với nhân dân của mình.

Theo truyền thống thì các sinh viên Trường Luật Yale rất quan tâm đến hoạt động của các cơ quan chính phủ và các cuộc nói chuyện của chúng tôi bên trong hoặc bên ngoài lớp học đều phản ánh một mối quan ngại sâ các sự kiện trên khắp đất nước. Yale cũng khuyến khích sinh viên ra môi trường ngoài đời và áp dụng các lý thuyết họ học trong lớp. Môi trường ngoài đời và các thực tế của nó đã tràn vào Yale vào tháng 4 năm 1970, khi tám thành viên của tổ chức Báo Đen kể cả người lãnh đạo là Bobby Seale bị xét xử vì tội giết người ở New Haven. Hàng ngàn người phản đối giận dữ, tin là các thành viên Panther đã bị FBI và chính quyền gài bẫy, đã tràn vào thành phố. Các cuộc biểu tình bột phát trong khuôn viên trường đại học hoặc gần đó. Trường đại học đã tổ chức một cuộc mít tinh khổng lồ nhân Ngày Quốc tế Lao động 1/5 để ủng hộ các thành viên Báo Đen. Tôi nhớ là Thư viện Luật Quốc tế ở dưới tầng hầm của trường Luật bị bốc cháy vào đêm 27/4. Hoảng hốt, tôi vội vã tham gia vào một nhóm giáo viên, sinh viên xách các xô nước đi chữa cháy. Khoa trưởng Louis Pollak yêu cầu mọi người tập hợp ở đại giảng đường. Thầy Pollak, một học giả theo chính sách mở cửa với nụ cười luôn ở trên môi, đã yêu cầu chúng tôi tổ chức các đội tuần tra an ninh trực 24/24 trong suốt năm học còn lại.

Vào ngày 30 tháng 4, Tổng thống Nixon tuyên bố là ông sẽ gửi quân Mỹ đến Campuchia, mở rộng chiến tranh Việt Nam. Các cuộc phản đối nhân ngày 1/5 trở thành một cuộc biểu tình lớn hơn, không chỉ để ủng hộ việc xét xử công bằng các thành viên tổ chức Báo Đen mà còn để phản đối các hành động của Nixon trong chiến tranh. Trong suốt giai đoạn diễn ra các cuộc phản đối của sinh viên, Hiệu trưởng Trường Yale, ông Kingman Brewster và Mục sư của trường là William Sloane Coffin đã áp dụng chính sách hòa giải giúp cho Yale tránh được các vấn đề xảy ra ở những nơi khác. Mục sư Coffin đã trở thành nhà lãnh đạo quốc gia của phong trào phản chiến thông qua các bài phê bình với lý lẽ sắc bén về sự dính líu của Hoa Kỳ. Hiệu trưởng Brewster đã tham gia đối thoại về các lo lắng của sinh viên và cảm thông với nỗi thống khổ của nhiều người. Thậm chí ông từng nói ông "không tin là những người da đen làm cách mạ sẽ được xét xử công bằng ở bất kỳ nơi nào trên đất Mỹ. Đối phó với viễn cảnh của các kẻ biểu tình quá khích, Brewster cho tạm nghỉ học và tuyên bố rằng các ký túc xá sẽ được mở để phục vụ các bữa ăn cho bất kỳ ai đến thăm. Các hành động, phát biểu của ông đã làm kích động nhiều sinh viên cũng như Tổng thống Nixon và Phó Tổng thống Spiro Agnew.

Thế rồi vào ngày 4 tháng 5, lính Vệ binh Quốc gia bắn vào những sinh viên phản đối tại Trường Đại học KentState ở bang Ohio. Bốn sinh viên bị giết chết. Bức hình chụp một phụ nữ trẻ quỳ bên xác của một sinh viên thể hiện tất cả những gì mà tôi và nhiều người khác đã sợ và căm ghét về cái đang xảy ra trên đất nước mình. Tôi nhớ mình đã lao ra khỏi cửa trường luật, nước mắt tuôn rơi và gặp Giáo sư Fritz Kessler, một người tị nạn thời Đức quốc xã Hitler. Ông hỏi tôi chuyện gì xảy ra và tôi nói rằng tôi không thể tin vào điều đang xảy ra, ông làm tôi lạnh gáy khi nói rằng đối với ông chuyện đó quá là quen thuộc.

Trung thành với nền giáo dục của mình, tôi chủ trương can dự, chứ không phải phá hoại hoặc "cách mạng". Vào ngày 7 tháng 5, tôi vẫn tiến hành nhiệm vụ đã lên lịch là phát biểu tại lễ kỷ niệm 50 năm thành lập Liên đoàn Cử tri nữ ở Washington DC., một lời mời xuất phát từ bài diễn văn tốt nghiệp của tôi. Tôi đeo trên tay một miếng băng tang màu đen để tưởng nhớ những sinh viên đã thiệt mạng. Một lần nữa, những xúc động của tôi lại trào dâng sục sôi khi tôi lên án rằng việc Hoa Kỳ mở rộng Chiến tranh Việt Nam sang Campuchia là bất hợp pháp và vi hiến. Tôi cố gắng lý giải hoàn cảnh mà các cuộc phản đối xảy ra và tác động của vụ bắn giết tại Trường Kent State đối với các sinh viên Trường Luật Yale, những người đã bỏ phiếu với sự cách biệt 239-12 để tham gia cùng với hơn 300 trường học khác tổ chức cuộc đình công bãi khóa toàn quốc nhằm phảni "sự mở rộng chiến tranh mù quáng mà đáng lẽ không nên tiến hành". Tôi điều hành cuộc mít tinh nơi cuộc bỏ phiếu diễn ra và tôi biết các bạn sinh viên của mình đã rất nghiêm túc thực hiện luật pháp và trách nhiệm của mình với tư cách là những công dân. Các sinh viên luật, trước đây không tham gia cùng với các trường đại học khác trong các hoạt động phản đối đã tranh luận về các chủ đề một cách sâu sắc theo một phong cách của những luật gia. Họ không phải là những người "ăn bám, theo đuôi", cái từ mà Nixon gán ghép cho tất cả các sinh viên phản đối.

Người phát biểu chính tại đại hội Liên đoàn là Marian Wright Edelman, người giúp tôi trong sự nghiệp mà tôi theo đuổi suốt đời mình là giúp đỡ và bảo vệ trẻ em. Marian đã tốt nghiệp Trường Luật Yale vào năm 1963 và trở thành người phụ nữ da đen đầu tiên được nhận vào Luật sư đoàn vùng Mississippi. Bà đã dành những năm giữa thập niên 60 để điều hành văn phòng Quỹ Giáo dục và Bảo vệ Luật pháp NAACP tại Jackson, đi khắp đất nước để thiết lập chương trình Head Start và đã không ngại nguy hiểm để tranh đấu cho các quyền công dân ở miền Nam. Lúc đầu tôi nghe kể về Marian từ người chồng của bà, Peter Edelman, một sinh viên tốt nghiệp Trường Luật Harvard làm thư ký tại Tòa án Tối cao cho Arthur J. Goldberg và cũng đã từng làm việc cho Bobby Kennedy. Peter đã tháp tùng Thượng nghị sĩ Kennedy đến Mississippi vào năm 1967 trong một chuyến đi tìm hiểu sự thật về tình trạng nghèo đói ở vùng Deep South nước Mỹ. Marian là một trong những hướng dẫn viên của Thượng nghị sĩ trong suốt cuộc hành trình khắp Mississippi. Sau chuyến đi đó, Marian tiếp tục cộng tác với Peter, và sau vụ ám sát Thượng nghi sĩ Kennedy, họ đã làm đám cưới.

Lúc đầu tôi gặp Peter Edelman tại một hội nghị quốc gia về phát triển cộng đồng và tổ chức thanh niên do Liên đoàn bảo trợ vào tháng 10/1969 tại Trường Đại học ColoradoState ở Fort Collins của tiểu bang Colora. Liên đoàn đã mời một nhóm các nhà hoạt động tiêu biểu ở khắp đất nước để thảo luận các phương cách để thanh niên có thể tham gia tích cực hơn trong chính phủ và chính trị. Tôi được mời tham gia ủy ban Điều hành cùng với Peter - người sau đó trở thành Phó Giám đốc phụ trách Quỹ Tưởng niệm Robert F. Kennedy, David Mixner - có chân trong Ủy ban Đình chiến Việt Nam và Martin Slate - chàng sinh viên Trường Luật Yale cũng là một trong số những người bạn của tôi hồi anh ta còn ở Harvard và tôi còn ở Trường Wellesley. Một trong những vấn đề đã đoàn kết chúng tôi lại là niềm tin rằng Hiến pháp phải được tu chính để hạ thấp tuổi cử tri từ 21 xuống 18. Nếu thanh niên đủ tuổi tham chiến thì họ có quyền bỏ phiếu. Tu chính 26 cuối cùng cũng được thông qua vào năm 1971 nhưng những thanh niên trong độ tuổi 18 đến 24 không đi bỏ phiếu theo đúng số lượng như nhiều người chúng tôi dự đoán và ngày nay nhóm cử tri thanh niên vẫn thuộc nhóm đăng ký và đi bầu thấp nhất so với bất kỳ nhóm tuổi nào khác. Sự thờ ơ của họ làm cho nền chính trị của đất nước chúng ta ít khi phản ánh được các mối quan tâm của giới trẻ và bảo đảm cho tương lai của họ.

Trong buổi giải lao tại hội nghị, tôi ngồi trên một cái ghế dài nói chuyện với Peter Edelman thì bất chợt cuộc nói chuyện của chúng tôi bị gián đoạn bởi một người đàn ông cao ráo và ăn mặc lịch lãm.

“Ồ, Peter, sao anh không giới thiệu tôi với cô tiểu thư này?", Ông ta hỏi. Đó là lần gặp mặt đầu tiên của tôi với Vernon Jordan, lúc đó là Giám đốc Dự án Giáo dục Cử tri thuộc Hội đồng Miền Nam ở Atlanta và là một người ủng hộ việc hạ tuổi đi bầu. Vernon là một vị luật sư lão luyện trong phong trào đòi quyền công dân, rất thông minh và có sức lôi cuốn. Ông đã trở thành người bạn của tôi vào cái ngày đáng nhớ ấy và sau đó cũng là bạn của chồng tôi. Ông và người vợ thành công của mình, Ann, luôn được xem là những người bạn đồng hành tốt và những nhà tư vấn thông

Peter kể cho tôi nghe về kế hoạch của Marian khởi xướng một tổ chức chống đói nghèo và giục tôi nên gặp bà càng sớm càng tốt. Sau đó vài tháng, Marian đã có buổi nói chuyện tại Yale. Tôi tự giới thiệu với bà sau đó và xin một công việc làm thêm trong dịp hè. Bà bảo là tôi có thể có được một công việc nhưng bà không có tiền trả cho tôi. Đây là một vấn đề vì tôi phải kiếm đủ tiền để phụ thêm vào phần học bổng mà Trường Wellesley đã tặng cho tôi để học trường luật và các khoản tôi phải đi vay. Hội đồng Nghiên cứu Quyền Công dân Sinh viên Luật đã cho tôi một khoản trợ cấp mà tôi đã dùng để chi tiêu trong suốt mùa hè 1970 khi tôi làm cho Dự án Nghiên cứu Washington mà Marian khởi xướng tại Washington, DC.

Thượng nghị sĩ Walter "Fritz" Mondale bang Minnesota, sau này trở thành Phó Tổng thống dưới thời Jimmy Carter đã quyết định tiếp tục duy trì các chuyến viếng thăm để tìm hiểu và kiểm tra các điều kiện sống và làm việc của nông dân di cư. Các đợt tìm hiểu năm 1970 lại trùng hợp vào ngày kỷ niệm 10 năm ra mắt bộ phim tài liệu truyền hình nổi tiếng Harvest of Shame của Edward R. Murrow. Bộ phim này đã làm bàng hoàng người dân Mỹ vào năm 1960 khi nó phơi bày về sự đối xử tàn tệ mà người dân nhập cư phải chịu đựng. Marian giao cho tôi việc nghiên cứu về vấn đề giáo dục và sức khỏe của trẻ em nhập cư. Tôi có một số kinh nghiệm ít ỏi với những trẻ em diện nhập cư theo học tại trường tiểu học của tôi trong vài tháng mỗi năm và với một số trẻ mà nhà thờ đã phân công cho tôi trông giữ khi tôi khoảng 14 tuổi. Vào mỗi buổi sáng thứ Bảy trong suốt mùa thu hoạch, tôi đi cùng với một số người bạn học giáo lý đến trại định cư. Ở đây, chúng tôi chăm nom lũ trẻ dưới 10 tuổi trong khi các anh chị của chúng phải ra ngoài đồng làm việc với bố mẹ.

Tôi có biết một cô bé 7 tuổi tên là Maria sắp sửa nhận ăn bánh thánh lần đầu khi gia đình cô bé trở về Mexico vào cuối mùa thu hoạch. Nhưng cô bé không thể nào dự lễ trừ phi gia đình cô để dành đủ tiền để mua cho cô một cái áo dài trắng để mặc khi hành lễ. Tôi kể với mẹ mình về Maria và bà đưa tôi đi mua một cái áo đầm tuyệt đẹp. Khi chúng tôi tặng nó cho mẹ của Maria, bà đã bật khóc và quỳ xuống hôn vào tay của mẹ tôi. Mẹ tôi bối rối cứ nhắc đi nhắc lại là bà biết tầm quan trọng để một cô gái nhỏ cảm thấy mình đặc biệt trong một sự kiện như thế. Nhiều năm sau, tôi cảm nhận rằng mẹ tôi trước đây chắc là cũng ở trong tình cảnh giống Maria.

Mặc dù những đứa trẻ này sống cực khổ nhưng chúng rất lạc quan và được bố mẹ mình yêu thương. Bọn trẻ bỏ dở những việc chúng đang làm để chạy xuống đường khi bố mẹ chúng từ cánh đồng về nhà. Các ông bố thường bế bổng con lên trong khi các bà mẹ thì cúi xuống ôm ghì con mình. Cảnh tượng cũng giống như bên nhà hàng xóm của tôi khi ông bố quay về nhà sau một ngày làm việc trên thành phố.

Tuy nhiên, khi tiến hành việc nghiên cứu thì tôi mới biết những người nông dân và con cái của họ đã và nay vẫn còn bị tước đoạt các điều cơ bản như chỗ ăn ở và vệ sinh. Cesar Chavez đã sáng lập Hội Nông dân Quốc gia vào năm 1962, quy tụ các công nhân nông nghiệp ở các cánh đồng của Califomia, nhưng điều kiện sống của họ ở hầu hết những nơi còn lại của đất nước đã không thay đổi nhiều kể từ năm 1960.

Các cuộc tiếp dân mà tôi tham dự vào tháng 7 năm 1970 là một phần trong hàng loạt các chuyến thị sát khác mà Ủy ban Thượng viện tổ chức để thu thập lời khai và chứng cớ từ các công nhân làm việc ở trang trại, từ những người ủng hộ và các chủ doanh nghiệp. Những nhân chứng đã đưa ra các bằng chứng là các tập đoàn sở hữu các trang trại mênh mông ở Florida đã đối xử tệ hại với những di dân ư cách đây một thập kỷ. Một số sinh viên tôi quen biết hồi ở Yale đi làm thêm cho các hãng tư vấn luật vào kỳ nghỉ hè với tư cách là đại diện cho các doanh nghiệp. Những sinh viên này bảo tôi là họ đang tìm phương cách phục hồi hình ảnh hoen ố của các thân chủ doanh nghiệp của mình. Tôi đề nghị cách tốt nhất để làm được điều đó là cải thiện việc đối đãi với công nhân trang trại.

Khi trở về Đại học Yale học năm hai vào mùa thu 1970, tôi đã quyết định tập trung vào chủ đề luật ảnh hưởng như thế nào đến trẻ em. Trước nay, các quyền và nhu cầu của trẻ em được thể hiện trong luật gia đình và thường được định nghĩa theo các quyết định của cha mẹ đứa trẻ với một số ngoại lệ đáng lưu ý như trẻ em được quyền nhận một sự chăm sóc y tế cần thiết, thậm chí vượt trên các chống đối có tính tôn giáo của bố mẹ chúng. Tuy nhiên bắt đầu vào những năm 1960, tòa án trong một chừng mực hạn chế bắt đầu tìm thấy một số trường hợp mà trong đó trẻ em có những quyền tách biệt độc lập với bố mẹ chúng.

Jay Katz và Joe Goldstein - hai giáo sư trường luật - đã động viên tôi nghiên cứu lĩnh vực mới mẻ này và đề nghị tôi nên tìm hiểu thêm về vấn đề phát triển trẻ em thông qua một khóa học tại Trung tâm Nghiên cứu Trẻ em của Yale. Họ giới thiệu tôi đến gặp Giám đốc Trung tâm, Tiến sĩ Al Solnit và vị bác sĩ trưởng, Tiến sĩ Sally Provence. Tôi thuyết phục họ cho tôi dành một năm ở trung tâm tham dự các cuộc hội chẩn ca bệnh và quan sát các bộ phận điều trị. Tiến sĩ Solnit và Giáo sư Goldstein đề nghị tôi phục vụ với tư cách là trợ lý nghiên cứu của họ trong tác phẩm Beyond the Best Interest of the Child. Đây là một cuốn sách mà họ viết cùng với Anna Freud, con gái của nhà thần kinh học lừng danh Sigmund Freud. Tôi cũng bắt đầu tham vấn với đội ngũ bác sĩ điều trị ở Bệnh viện Yale-New Haven về vấn đề mới được thừa nhận về tình trạng lạm dụng trẻ em và giúp soạn thảo các thủ tục pháp lý cho bệnh viện khi xử lý các trường hợp nghi ngờ về lạm dụng trẻ em.

Các hoạt động này tiến hành song song với các nhiệm vụ của tôi tại văn phòng luật New Haven. Một luật sư trẻ về tư vấn luật, Penn Rhodeen, đã hướng dẫn tôi tầm quan trọng của người bảo trợ trong những tình huống liên quan đến vấn nạn lạm dụng hoặc thiếu trách nhiệm đối với trẻ em. Penn đề nghị tôi giúp anh làm người đại diện cho một phụ nữ Mỹ da đen khoảng 50 tuổi đã làm mẹ nuôi cho một bé gái lai hai tuổi kể từ khi đứa bé này mới sinh. Người phụ nữ này cũng đang nuôi dưỡng con ruột của bà và muốn xin nuôi bé gái này một cách chính thức. Sở Dịch vụ Xã hội của Connecticut lại đi theo chính sách là bà không được phép nuôi đứa bé và tách rời đứa bé khỏi sự chăm sóc của bà để chuyển bé đến một gia đình "thích hợp” hơn. Penn đã khởi kiện cơ quan chính quyền, tranh luận rằng bà mẹ nuôi là bà mẹ duy nhất mà bé gái từng được biết và việc tách rời cô bé khỏi mẹ nuôi sẽ gây ra những tổn hại lâu dài. Dù hết sức nỗ lực nhưng cuối cùng chúng tôi thua kiện. Tuy nhiên, vụ kiện này đã thôi thúc tôi tìm ra các phương cách mà các nhu cầu phát triển và quyền lợi của trẻ em được công nhận trong hệ thống pháp luật. Tôi nhận thức rằng điều mà tôi làm trong lĩnh vực luật là phát ngôn cho trẻ em, những người đã không được lắng nghe và thấu hiểu. Bài báo nghiên cứu đầu tiên của tôi với tựa đề Child under the Law (Trẻ em dưới con mắt pháp luật) được xuất bản vào năm 1974 trong tạp chí khoa học Harvard Educational Review. Bài viết tìm hiểu các quyết định khó khăn mà ngành tư pháp và xã hội phải đối diện khi trẻ em bị người thân trong gia đình ngược đãi hoặc thờ ơ, thiếu trách nhiệm hoặc khi các quyết định của cha mẹ gây cho trẻ những hậu quả không thể nào khắc phục được. Ví dụ như không cho con trẻ được điều trị khi bị bệnh hoặc quyền được tiếp tục học hành. Các quan điểm của tôi được hình thành nhờ những điều mà tôi quan sát là nhân viên tình nguyện cho cơ quan luật pháp, là đại diện cho trẻ em trong những vụ con nuôi và nhờ vào những trải nghiệm của tôi tại Trung tâm Nghiên cứu Trẻ em tại Bệnh viện Yale-New Haven. Tôi đã tư vấn cho các bác sĩ khi họ cố gắng xác định các vết thương của một đứa bé là do bị ngược đãi hay không và nếu xảy ra thì liệu có nên cách ly đứa bé khỏi gia đình của nó và giao bé cho một hệ thống an sinh trẻ em hay không. Đây là những quyết định khó khăn. Tôi xuất thân từ một gia đình tốt đẹp và tin tưởng vào quyền đặc nhiên của bố mẹ được nuôi dạy con mình theo cách họ thấy phù hợp. Tuy nhiên, những kinh nghiệm của tôi ở Bệnh viện Yale-New Haven lại rất khác xa những điều tôi được giáo dục ở một vùng ngoại ô yên bình.

Có lẽ ở quê hương tôi, vùng Park Ridge, cũng có sự ngược đãi và bạo hành gia đình đối với trẻ em nhưng tôi đã không được chứng kiến. Trái lại ở Bệnh viện New Haven, tôi thấy những đứa trẻ bị bố mẹ chúng đánh đập, làm phỏng, bị bỏ mặc một mình nhiều ngày trong các căn hộ tồi tàn, có bố mẹ không đủ khả năng về tài chính nên từ chối các điều trị y tế cần thiết cho chúng. Sự thật đáng buồn là có một số bậc bố mẹ đã từ bỏ quyền làm bố làm mẹ của họ và trong những trường hợp như vậy, nhà nước, tốt hơn là một người bà con thân thuộc nên dang rộng vòng tay dành cho đứa trẻ cơ hội có được một mái ấm yêu thương và bền vững.

Tôi thường nghĩ đến những chịu đựng của mẹ mình trước sự bàng quan, ngược đãi của bố mẹ và ông bà của mẹ và nghĩ làm cách nào mà những người lớn quan tâm khác có thể lấp vào khoảng trống tình cảm này để giúp đỡ mẹ. Mẹ tôi đã nỗ lực đền đáp mối ân tình này bằng cách tiếp nhận các cô gái ở một gia đình địa phương đông con giúp việc nhà cho mẹ. Bà muốn cho họ cơ hội giống như bà đã được ban tặng để trải qua tình yêu thương đùm bọc của gia đình một chút gợn đục.

Ai có thể dự đoán rằng trong suốt chiến dịch tranh cử tổng thống 1992, gần hai thập kỷ sau khi tôi viết bài nghiên cứu này, các chính khách bảo thủ Đảng Cộng hòa như Marilyn Quayle và Pat Buchanan đã xuyên tạc các lời nói của tôi để mô tả tôi như là kẻ "phá gia”? Một số nhà phê bình còn cho rằng tôi muốn con cái đi kiện bố mẹ chúng nếu chúng bị sai đi đổ rác. Tôi không thể lường trước được sự diễn đạt lệch lạc sau này đối với bài viết của mình và tôi cũng không thể nào đoán được các tình huống dẫn đến chính khách Đảng Cộng hòa lên án mình. Và dĩ nhiên, tôi không biết rằng tôi sắp gặp một người đã làm cho cuộc đời tôi đi theo một cách mà tôi không thể nào hình dung được.

linton và chính trường nước Mỹ Living history ebook©MotSAch TVE-4u©heoconmtv —★— Nhà xuất bản: NXB Văn Hóa Sài Gòn 2006
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.