VÙNG CHIẾN

Hồi Ký Hillary Clinton Và Chính Trường Nước Mỹ

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 50 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Vùng Chiến

❊ ❊ ❊

Ý thức được tầm quan trọng của mối quan hệ phức tạp và lâu dài giữa Mỹ và Pháp, tôi và Bill rất lo lắng về buổi đại yến đầu tiên chiêu đãi Tổng thống Pháp Jacques Chirac và phu nhân Bernadette vào tháng 2 năm 1996. Chirac, một chính trị gia bảo thủ của đảng De Gaulle, đã từng làm thị trưởng Paris suốt 18 năm. Và mặc đầu Chirac nói tiếng Anh trôi chảy, đã từng đi du lịch khắp nước Mỹ thuở trẻ, tình cảm cá nhân ông dành cho nước Mỹ không phải bao giờ cũng biến thành sự ủng hộ của chính phủ ông đối với các chính sách của chúng tôi. Tuy nhiên, Bill đã làm việc cật lực để giành được sự hợp tác của Pháp, đáng kể nhất là vào năm 1999, Bill đã thuyết phục được Pháp cùng với NATO tiến hành những cuộc không kích để dập tắt những cuộc thanh trừng sắc tộc ở Kosovo, mặc dù Liên hiệp quốc đã không có được một nghị quyết cần thiết nào.

Ngoại giao là một công việc đầy thủ đoạn, ngay cả trong mối quan hệ với đồng minh. Sự hợp tác chặt chẽ và tôn trọng lẫn nhau giữa hai nước có gốc rễ từ việc họ giúp chúng tôi trong cuộc Cách mạng. Nhưng đã có lúc chính sách của Mỹ và Pháp rất khác nhau và mối quan hệ giữa hai nước trở nên căng thẳng, chẳng hạn như Pháp đã lên tiếng kịch liệt phản đối cuộc chiến tranh Iraq do Mỹ khởi xướng.

Thách thức đầu tiên của buổi ăn tối là thực đơn. Ẩm thực của người Pháp mang tính huyền thoại vì thế tôi thật sự lo lắng về bữa ăn hoàn hảo để phục vụ họ tại Nhà Trắng. Bếp trưởng của chúng tôi, Walter Scheib, sinh trưởng và học nghề tại Mỹ, tỏ ra chẳng hề nao núng và đảm bảo với tôi rằng ông ta sẽ kết hợp những món ngon nhất của truyền thống ẩm thực của cả hai nước.

Những cái bàn tròn trong Phòng ăn Chính phủ được trải lụa damask và tràn ngập hoa hồng, đồ bạc và pha lê. Khi những bông tuyết giữa mùa đông bắt đần rơi ở Washington, thì những nhà ngoại giao, lãnh đạo doanh nghiệp, nghệ sĩ, ngôi sao điện ảnh lại kháo nhau về món tôm hùm nấu lá húng tây vxúp cà tím nướng, sườn cừu non và khoai lang nghiền, cùng với rượu vang hảo hạng của Mỹ. Kể từ bữa ăn đầu tiên này đến những lần gặp gỡ sau đó với gia đình Chirac, Bill và tôi đã phát hiện ra rằng nếu thế giới ngoại giao này đầy mưa toan thì nó cũng đem lại thật nhiều điều ngạc nhiên.

"Đương nhiên, tôi yêu thích nhiều thứ của nước Mỹ, bao gồm cả các món ăn", Tổng thống Chirac ngồi phía tay phải tôi, nói. "Bà biết không, tôi đã từng làm việc tại nhà hàng Howard Johnson."

Mặc dù đôi khi nước Pháp và Mỹ có những quan điểm chính trị rất khác nhau nhưng Bill và tôi luôn giữ được hòa khí với gia đình Chirac trong suốt thời gian chúng tôi ở Nhà Trắng và tôi rất thích chuyến đi cùng với bà Bernadette Chirac đến miền trung nước Pháp. Bernadette là cháu gái của viên sĩ quan phụ tá của tướng De Gaulle, bà là một phụ nữ thanh lịch và có học thức, đã từng là một viên chức dân cử tại vùng Correze vào năm 1971. Bà là phu nhân tổng thống duy nhất mà tôi biết đã tự ra ứng cử. Tôi thật sự khâm phục vai trò độc lập mà bà đã vạch ra cho bản thân cũng như những câu chuyện bà kể về việc đi bộ hay lái xe đến từng nhà để vận động mọi người bỏ phiếu cho mình. Sau đó bà mời tôi đến thăm khu vực bầu cử của mình, và đến tháng 5 năm 1998, tôi đã có một ngày tuyệt vời cùng bà viếng thăm Correze và gặp những người dân mà bà làm đại diện.

Chẳng bao lâu sau, đã đến lúc ăn mừng một sự kiện quan trọng khác của gia đình: đó là sinh nhật lần thứ 16 của Chelsea. Tôi không thể tin là con gái của chúng tôi lại trưởng thành nhanh như vậy. Dường như mới hôm qua con bé còn tập những điệu nhảy đầu tiên và bò vào lòng mẹ để đọc sách vậy mà giờ đây đã cao bằng mẹ và muốn có bằng lái xe cho riêng mình. Điều đó đã đã làm tôi lo lắng, nhưng còn đáng lo sợ hơn là việc cha nó đang dạy nó lái xe.

Sở Mật vụ không bao giờ để Bill tự lái xe,.ngoại trừ khi đánh golf. Điều này tốt cho anh ấy. Không phải anh ấy không thích máy móc nhưng vì anh phải suy nghĩ quá nhiều thứ, nên không phải lúc nào cũng để ý được là mình đang đi đâu. Nhưng anh ấy nài nỉ được làm bổn phận của người cha nên đã mượn một chiếc xe từ đội xe Sở Mật vụ tại Trại David.

Tôi gặp Chelsea khi nó quay về từ Aspen Lodge sau bài học đầu tiên về việc lùi xe và đậu xe song song. "Sao ? Thế nào?"

Con bé nói: "Con nghĩ bố học được nhiều điều!".

Làm con của một Tổng thống chẳng dễ dàng một chút nào, từ việc mất tự do cá nhân của người bình thường đến chuyện phải chịu giám sát 24 trên 24 giờ mỗi ngày. Ngay cả khi con bé đã lớn khôn hơn, chúng tôi vẫn quyết định phải làm sao để con được sống một cuộc sống bình thường hơn. Chứng tôi cố gắng làm việc cật lực để dành thời gian ăn tối với con gái tại bếp ăn gia đình, để chúng tôi có dịp gặp gỡ nói chuyện về kế hoạch cuối tuần hay những chuyến đi nghỉ cho cả nhà. Cho dù chuyện gì đang diễn ra đi nữa, tôi vẫn luôn cố gắng nán lại tầng hai khi con bé đi học ba lê về phòng - là lúc nó muốn nói chuyện với mẹ. Ít nhất, tôi cũng muốn nhìn thấy con trước khi nó biến vô phòng.

Chúng tôi cũng làm hết sức để tránh cho con bé khỏi dính vào những cuộc điều tra và những bài báo khắc nghiệt nhưng tôi biết chắc những áp lực ở Nhà Trắng đã làm cho cuộc sống trở nên nhiều thách thức hơn đối với Chelsea. Nó làm cho con bé trưởng thành sớm hơn và có khả năng phán đoán tính cách nhanh nhạy, xác định và loại bỏ những kẻ nịnh hót, nhưng người bạn giả dối và xây dựng mối quan hệ với những người bạn thật sự, những người đến nay vẫn là bạn bè gần gũi với nó

Chúng tôi mừng sinh nhật lần thứ l6 của con bé vào ngày 27 tháng 2 năm 1996, bằng một buổi đi xem hát, vở Les Misérables tại Nhà hát kịch Quốc gia. Sau đó, tôi và Bill mời bạn bè của con bé đi chơi cuối tuần tại Trại David. Chelsea lên kế hoạch cho các hoạt động, bao gồm trò chơi bóng sơn vào buổi chiều. Những anh lính thuỷ đánh bộ đóng quân ở trại chỉ lớn hơn những vị khách mời một vài tuổi, vì vậy họ tổ chức hai đội thiếu niên mặc đồ ngụy trang chạy băng rừng và đuổi bắt nhau bằng những quả bóng sơn. Bill cứ liên tục hò hét hướng dẫn và ra chiến lược cho bất kỳ đội nào có vẻ yếu thế. Sau bữa tiệc sinh nhật tối ở Laurel Lodge, ăn sạch một cái bánh cà rốt khổng lồ do bếp trưởng bếp bánh của Nhà Trắng Roland Mesnier chuẩn bị, chúng tôi lại tập trung ở Hickory Lodge để xem phim và chơi bowling trong một sân bowling do Tổng thống Eisenhower lắp đặt. Đến sau nửa đêm, Bill và tôi cuối cùng phải thú nhận là mình không còn ở tuổi 16 nữa.

Chelsea và bạn của nó đều mong đợi được lên đại học. Tuy tôi cảm thấy rất buồn, vì điều đó có nghĩa là nó không còn ở nhà với chúng tôi bao lâu nữa nhưng tôi cố gắng không làm nó lo lắng về cảm xúc của mình. Tôi chỉ cầu nguyện là nó sẽ chọn một trường đại học gần Washington.

Mỗi năm, Trường Sidwell Friends tổ chức một "đêm đại học" cho những học sinh trung học và cha mẹ của các em. Bill và tôi cùng Chelsea đến nghe đại diện của các trường đại học nói về điều kiện và cách thức nhập học. Chelsea đã không nói gì suốt thời gian chúng tôi lái xe trở về Nhà Trắng. Sau đó, nó nói, giọng rất buồn rầu "Mẹ biết không, có lẽ con thích đến thăm trường Stanford".

Dường như quên hết mọi thứ về tâm lý và cách ứng xử giữa mẹ và con gái, tôi la lên: "Cái gì! Stanford xa quá! Con không thể đi xa như vậy. Ở tận bờ Tây, cách cả ba múi giờ! Bố mẹ không thể đi thăm được".

Bill ấn cánh tay tôi và nói với Chelsea: "Con yêu, con có thể đi bất kỳ nơi đâu con muốn". Tôi biết con bé muốn đi Stanford và muốn được bố mẹ chấp thuận, nhưng tôi sẽ rất nhớ nó. Tôi còn nhớ rất rõ bố tôi đã từng bác bỏ mọi lựa chọn của tôi, nên Bill và tôi đã tự hứa sẽ không bao giờ làm như thế. Tuy vậy, tôi thật sự hy vọng con bé sẽ ở lại Washington. Nhưng cuộc tranh luận đã bắt tôi phải đối diện thực tế: bất kể Chelsea học ở đâu đi nữa, thì trong vòng một năm rưỡi nữa con bé sẽ rời khỏi chúng tôi. Chắc hẳn là con bé đã sẵn sàng, nhưng tôi thì chưa và tôi quyết dành nhiều thời gian cho con hơn hay ít nhất là lâu đến mức nó có thể chấp nhận !

Bộ Ngoại giao đã yêu cầu tôi đến Bosnia-Herzegovina với vai trò đại sứ nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của Hiệp ước Hòa bình Dayton được ký vào tháng 11 trước đó. Những chiến thắng trên bộ của Liên minh Hồi giáo-Croatia do Mỹ ủng hộ, cùng với những cuộc không kích của NATO do Bill ủng hộ, cuối cùng cũng buộc được người Serb ngồi vào bàn thương thuyết. Tôi cũng lên chương trình ghé thăm các căn cứ quân sự Mỹ tại Đức và Ý, thăm Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp trong một tuần. Hai đồng minh quan trọng của Mỹ này có mối quan hệ căng thẳng xung quanh vấn đề đảo Cyprus và những vấn đề không thể giải quyết khác.

Bill và tôi bàn với nhau có nên cho Chelsea đi Bosnia hay không. Chúng tôi cân nhắc những rủi ro an ninh và quyết định nếu có những biện pháp phòng bị thích hợp thì mọi chuyện sẽ ổn cho tôi và Chelsea. Con bé đủ chín chắn để có thể trưởng thành hơn qua kinh nghiệm của chuyến đi. Bên cạnh đó, chúng tôi sẽ đi cùng với một nhóm USO bao gồm cả ca sĩ Sheryl Crow và danh hài Sinbad, tất cả họ sẵn sàng chấp nhận những rủi ro có thể xảy ra trong chuyến đi.

Tôi nghĩ Bill, Bộ trưởng Ngoại giao Warren Christopher và phái viên đặ của ông, Đại sứ Richard Holbrooke đã làm nên phép mầu ở Dayton bằng cách thuyết phục được người Serb, người Croatia và người Hồi giáo chấm dứt cuộc chiến và đồng ý thiết lập một hệ thống cai trị mới. Để cô lập các nhóm chủ chiến, và thiết lập an ninh cơ bản, Mỹ đã gửi sang hơn 18 ngàn quân giữ hòa bình cùng với 40 ngàn quân từ những nước khác. Chính phủ muốn gửi một thông điệp mạnh mẽ rằng những thỏa ước hòa bình phải được trân trọng và sẽ có hiệu lực. Các nhân viên hay trêu chọc tôi, đề nghị Bộ Ngoại giao nên có một chỉ thị: nếu một nơi quá nhỏ, quá nguy hiểm hay quá nghèo - hãy gửi Hillary tới. Điều đó không có vấn đề gì với tôi, bởi vì những nơi xa xôi hẻo lánh và nguy hiểm thường là nhưng nơi hấp dẫn nhất. Tôi cảm thấy vinh dự được đến Bosnia.

Chủ nhật ngày 24 tháng 3, chiếc 707 được tân trang lại của chúng tôi đã đến Căn cứ không quân Ramstein, Đức, gần Baumholder, căn cứ của Sư đoàn Thiết giáp Thứ nhất, nơi cung cấp phần lớn quân lực Mỹ tại Bosnia.

Hai năm trước đây, người Đức đã từng nồng nhiệt chào đón tôi và Bill đến đất nước họ để mừng sự thống nhất của nước Đức ở Berlin. Khi chúng tôi đi bộ qua cổng Brandenburg cùng với Thủ tướng Kohl và phu nhân, chúng tôi đã đứng trên mảnh đất mà mãi đến 1989 vẫn là một phần của Đông Đức. Helmut Kohl là một người hấp dẫn, đầy xúc cảm và thậm chí rất hài hước. Ông đã trở thành một người bạn và một đối tác chính trị của Bill. Kohl đã cống hiến hết sức mình, vượt qua 40 năm chia cắt để thống nhất Đông và Tây Đức thành một quốc gia. Ông ấy cũng đã đóng góp nhiều trong việc xây dựng một Cộng đồng chân Âu, sử dụng một đồng tiền chung và ủng hộ những nỗ lực cua Mỹ nhằm chấm dứt xung đột ở Balkan. Sự hợp tác của hai nước là một ví dụ sống động cho một liên minh sau chiến tranh nhằm đem lại hòa bình và an ninh cho châu

Sau khi đến Baumholder, Chelsea và tôi đã dự những buổi lễ ở nhà thờ, gặp gỡ các gia đình quân nhân và xem buổi trình diễn của Sheryl và Sinbad ở phòng ăn. Khoáng 6 giờ 30 sáng hôm sau, những người tùy tùng của chúng tôi lên chiếc máy bay vận tải C-17 và bay đến căn cứ không quân Tuzla, Bosnia-Herzegovina. Ngoài những nghệ sĩ, chúng tôi còn mang theo những thùng thư và quà tặng cho quân lính, gồm 2.200 thẻ gọi điện thoại đường dài và 300 cuốn phim video do các công ty Mỹ tài trợ. Nhà Trắng đã tài trợ 6 thùng kẹo M&M được Tổng thống đóng dấu riêng trên mỗi thùng. Các công ty Mỹ cũng gửi tặng dụng cụ dạy học và đồ chơi cho trẻ em ở Bosnia - những đứa trẻ đã phải bỏ học trong nhiều năm vì chiến tranh.

Tôi đi loanh quanh khoảng 1 giờ 40 phút trong các khoang kim loại của chiếc máy bay vận tải khổng lồ, nói chuyện với phi hành đoàn và những nhân viên báo chí, những người phải ngồi trên những băng ghế nhảy dù. Tôi có cảm giác như đang đi bên trong một chiếc khinh khí cầu nhưng ồn ào hơn. Người lái chuyến bay này là một trong bốn nữ phi công lái máy bay vận tải C-17 của lực lượng không quân, cố giữ cho máy bay bay cao trên vùng đất đang bị chiến tranh tàn phá, cao hơn tầm với của những tên lửa đất đối không và tầm đạn của nhưng tay bắn tỉa. Mỗi chúng tôi được yêu cầu mặc thêm áo chống đạn khi đi máy bay, điều đó cho thấy những mối nguy hiểm vẫn còn tồn tại, mặc cho lệnh ngừng bắn chính thức đã được ban hành. Và khi máy bay sắp hạ cánh nhân viên mật vụ đã chuyển Chelsea và tôi đến khoang chống đạn trên máy bay. Ngay phía trên đường băng, cơ trưởng đã nghiêng máy bay và đáp gần như thẳng đứng so với đường băng để tránh bị tấn công từ dưới mặt đất.

Tình hình an ninh tại Nam Tư cũ liên tục thay đổi và trở nên xấu đi gần đây. Do có báo cáo về những người bắn tỉa trên những ngọn đồi xung quanh đường băng, chúng tôi buộc phải rút ngắn chương trình gặp gỡ những trẻ em đNương ngay trên sân đỗ máy bay. Mặc dù vậy, chúng tôi vẫn có đủ thời gian gặp gỡ bọn trẻ và thầy giáo của chúng để biết họ đã làm việc vất vả đến thế nào trong thời buổi chiến tranh để duy trì lớp học ở bất cứ nơi nào an toàn mà họ tìm thấy. Một cô bé tám tuổi đã đưa cho tôi xem bản copy bài thơ mà cô bé đặt tên là "Hòa bình”. Chelsea và tôi tặng các em những đồ dùng học tập mà chúng tôi mang theo cùng với những lá thư của các học sinh lớp bảy ở Baumholder. Cha mẹ và thầy giáo của những đứa bé ở đó đã đề xướng chương trình trao đổi thư từ này. Sau đó, chúng tôi buộc phải vội vã bay đến căn cứ quân sự Mỹ ở Tuzla, nơi có trên 2.000 lính Mỹ, Nga, Canada, Anh và Ba Lan đang cắm trại trong các căn lều lớn.

Sheryl Crow, Sinbad, Chelsea và tôi bay trên chiếc trực thăng Diều Hâu Đen để thăm những người lính ở tuyến đầu. Súng bắn dữ dội bên sườn máy bay, điều này cho thấy công việc giữ gìn hòa bình nguy hiểm như thế nào. Chúng tôi đáp xuống Trại Bedrock và Trại Alicia, những đơn vị tiền đồn ở đông bắc Bosnia. Chúng tôi được chứng kiến các binh lính gỡ mìn trên những cánh đồng và những con đường. Có thể nói các binh sĩ của chúng ta có sứ mệnh khó khăn và họ phải sống một cuộc sống hiểm nghèo. Ở quê nhà, mọi người cứ đặt câu hỏi về vai trò của nước Mỹ ở Bosnia. Vài người cho rằng binh lính không nên can dự vào việc gìn giữ hòa bình, cho dù đó là một phần của sứ mệnh lịch sử của quân đội Mỹ ở những nơi và những thời điểm rất khác nhau như sa mạc Sinai sau thỏa thuận hòa bình giữa Israel và Ai Cập và vùng phi quân sự sau chiến tranh Triều Tiên. Những người khác lập luận rằng chính quân đội châu Âu chứ không phải quân đội Mỹ, nên chịu trách nhiệm về việc gìn giữ an ninh biên giới trong khu vực. Vì những lo lắng này nên tôi đã nói chuyện thật nhiều với các binh sĩ và sĩ quan, hỏi ý kiến họ và lắng nghe họ đánh giá về sứ mệnh của mình. Một trung úy bảo tôi rằng anh ấy đã không hiểu vai trò của nước Mỹ cho đến khi anh tận mắt nhìn thấy những gì diễn ra ở Bosnia.

"Trước khi chúng tôi đến", anh ấy nói, "thật không thể thăm dò được cái gì đang diễn ra ở đây". Anh ấy mô tả những nhóm sắc tộc đang chung sống hòa bình với nhau bỗng nhiên giết hại lẫn nhau vì lý do tôn giáo. "Bà thử đi ra các ngôi làng và bà sẽ thấy được sự thiệt hại", anh ấy nói với tôi, "Bà sẽ thấy những mái nhà bị thổi tung, cả một vùng rộng lớn bị bom cày nát, và những con người sống sót trong nhiều năm trời với rất ít thức ăn và thức uống. Nhưng bây giờ, bất cứ nơi nào chúng tôi đến, bọn trẻ lại vẫy tay và mỉm cười với chúng tôi", anh ấy kể tiếp, "Đối với tôi, đó là lý do đủ để tôi ở đây.”

Tôi nhìn cảnh điêu tàn của chiến tranh qua cửa sổ máy bay trực thăng. Từ trên cao, miền thôn quê trải dài một màu xanh rất đẹp, một vùng quê điển hình của châu Âu. Nhưng khi máy bay xuống thấp hơn, tôi nhận thấy có rất ít ngôi nhà còn mái nguyên vẹn và hầu như không có căn nhà nào không bị lỗ chỗ những vết đạn. Những cánh đồng không được cày bừa mà bị cày xới bởi bom đạn. Đây là thời điểm mùa xuân nhưng không có ai trồng trọt vì sợ mìn và lo bị bắn tỉa. Những cánh rừng và các con đường cũng không được an toàn. Thật khủng khiếp khi nhìn thấy quy mô sự tàn phá và khối lượng công việc khổng lồ mà người Bosnia phải làm để có thể khôi phục cuộc sống bình thường.

Tôi đã định ghé lại Sarajevo để gặp gỡ một phái đoàn đa sắc tộc hầu lắng nghe ý kiến của họ về những gì mà chính phủ Mỹ và các tổ chức tư nhân có thể làm để giúp họ hàn gắn một xã hội đã bị chiến tranh tàn phá. Tuy nhiên, tình hình an ninh buộc tôi phải hủy bỏ chuyến đi Sarajevo. Nhưng những người dân mà tôi hẹn gặp đã không bỏ cuộc, họ quyết định vượt một chặng đường 50 dặm dọc theo những con đường đầy cam go để đến gặp tôi ở Tuzla

Chúng tôi tập trung tại hội trường Sớ Chỉ huy Quân đội Mỹ. Trong số những vị khách, có Giáo chủ Hồng y của Giáo hội Thiên Chúa giáo La Mã ở địa phận Bosnia và người đứng đầu nhà thờ Chính Thống giáo ở Cộng hòa Serbia. Trông họ hết sức mệt mỏi và dường như muốn quy ngã vì những thử thách nhưng họ lại rất nóng lòng muốn nói. Họ mô tả những việc mà họ đang cố gắng làm để giữ lại một chút gì được xem là bình thường trong một thế giới bị chiến tranh làm đảo lộn hoàn toàn.

Họ mô tả cảm giác bị sốc khi phát hiện những người bạn và những đồng nghiệp lâu năm bỗng nhiên không còn nói chuyện với họ nữa và đôi khi còn tỏ thái độ thù địch. Khi chiến tranh nổ ra, bom và bắn tỉa trở thành lối sống. Trưởng khoa chấn thương của bệnh viện Kosovo, người Bosnia, kể cho tôi nghe rằng bệnh viện của ông vẫn phải mở cửa ngay cả khi thuốc men đã cạn kiệt và bị mất điện. Một cô giữ trẻ người Croatia, bị mất đứa con gái 12 tuổi trong cuộc vây hãm ở Sarajevo, đã nói với tôi rằng lớp học của cô ngày càng thu nhỏ vì các em phải di tản cùng gia đình, hoặc phải bỏ học, hoặc bị thương vong vì bạo lực và hỗn loạn. Một nhà báo người Serbia, người đã bị những người đồng hương của mình đánh đập và bỏ tù vì dám bảo vệ những người Hồi giáo. Bosnia, cho rằng vết thương tâm lý thường có khả năng hủy hoại khủng khiếp hơn cả những tàn phá về vật chất. Ở nhiều nơi tôi viếng thăm, hậu quả đáng sợ của chiến tranh trong tâm trí người dân sẽ vẫn còn hiện hữu hàng thập kỷ và thậm chí nhiều thế kỷ sau. Xây dựng lại cơ sở hạ tầng sau chiến tranh là một chuyện, xây dựng lại lòng tin trong nhân dân là một chuyện hoàn toàn khác.

Sau buổi gặp gỡ, tôi đi thăm căn cứ, xem xét điều kiện sống. của binh lính và ghé qua bệnh viện, nhà ăn và phòng giải trí. Sheryl và Sinbad trở về Tuzla,có một màn trình diễn tuyệt vời. Trong suốt chuyến đi, Chelsea là một điểm thu hút mạnh đối với các binh sĩ và gia đình họ, con bé bắt tay, tặng chữ ký với vẻ nồng hậu và duyên dáng thường ngày của nó. Con bé còn tham gia vào chương trình giải trí khi người dẫn chương trình, một thượng sĩ, yêu cầu nó lên sân khấu từ hàng ghế khán giả.

Không tỏ vẻ gì là ngượng ngùng, con bé bước đến phía micro để tham gia trò chơi nói đùa.

"Em tên là Chelsea à?” viên thượng sĩ đùa.

"Cũng đâu đó", con bé trả lời và cười.

Sau đó anh ta yêu cần con bé mô phỏng cách hoan hô kiểu Mỹ của đám đông.

"Hooo-hah!"

"Tốt lắm", anh ta nói. "Thử lần nữa xem."

"HOOOO-hah !" con bé hét lên. Đám đông vỗ tay và đáp lễ bằng những tiếng hoan hô inh ỏi.

Mặc dù chỉ áp dụng những quy định truyền thông bình thường - không có phóng viên nào cố ý phỏng vấn Chelsea, không có ai chụp ảnh trái quy định - con bé hẳn là khá tự tin và vui vẻ hơn bao giờ hết trong suốt chuyến đi. Giống như bố, nó rất tự nhiên, thân thiện và thoải mái trước đám đông. Chiều ngày hôm đó khi chúng tôi viếng thăm những binh lính Mỹ đóng lại Aviano, Ý, Chelsea càng tỏ ra tự tin hơn. Con bé cùng mẹ chụp hình với các phi công và thợ máy của Air Force. Khi chúng tôi bước đi có ai đó hỏi to phía sau chúng tôi.

"Này Chelsea! Việc lái xe của em thế nào?”

Con bé quay lại đáp lời một người lính trẻ trong bộ quần áo dù chiến, người này rõ ràng có tin tức về con bé trên báo.

"Tốt lắm rồi!", con bé mỉm cười đáp. Nó bước đi nhanh hơn rồi quay lại một lần nữa và la lớn "Cẩn thận khi anh đến DC !”

Chuyến đi này để lại án tượng sâu sắc cho Chelsea và tôi. Chúng tôi thật tự hào về những nam và nữ quân nhân của chúng ta, họ là những ví dụ sinh động nhất về những giá trị Mỹ và tính đa dạng Mỹ. Nếu người dân vùng Balkan cần thêm chứng cứ cho lợi ích của thuyết đa nguyên, điều mà họ cần phải làm là ngồi vào bàn ăn ở Tuzla hay Trại Bedrock hoặc Trại Alicia, giữa những tập thể nhiều màu da, tôn giáo, giọng nói và thái độ. Tính đa dạng này là một điểm mạnh của nước Mỹ và cũng có thể là của họ nữa.

Trước khi kết thúc chuyến thăm ở Istanbul và Athens, chúng tôi đã bay từ Ankara, thủ đô Thổ Nhĩ Kỳ, đến Ephesus, một thành phố cổ Hy Lạp đã được khôi phục thật đẹp trên bờ biển phía nam của Thổ Nhĩ Kỳ. Đó là một ngày tuyệt vời, bầu trời trong và đầy nắng, khung cảnh bên dưới thật ngoạn mục với đường bờ biển chạy dài và biển Aegean xanh ngắt. Tôi nhớ lại mình đã nghĩ rằng đó quả thật là một ngày tuyệt vời để bay và những giây phút đó thật đáng để sống.

Tôi trở về Washington vào ngày cuối cùng của tháng Ba, thật mệt mỏi về thể chất nhưng đầy ắp những ấn tượng và thông tin để chia sẻ với Bill. Những vấn đề mà tôi thấy ở Bosnia làm cho những câu chuyện nhiều tập ở Washington trở nên nhỏ bé và vụn vặt. Và những câu chuyện nhiều tập lại tiếp tục. Nhưng, lần này có một sự thay đổi, Ken Starr đang bị điều tra kỹ lưỡng.

Trong một bài xã luận phê phán Văn phòng Luật sư Độc lập, tờ The New York Times đã chỉ trích Starr về việc ông ta vẫn tiếp tục mở văn phòng luật tư với doanh thu hàng triệu đô la một năm trong khi đang điều tra Nhà Trắng. Bài xã luận viết "vụ kiện đòi hỏi một công tố viên công tâm và không vướng bận", nhưng không dám yêu cầu Starr từ chức luật sư độc lập. Tôi nghĩ thật vô nghĩa với lập luận rằng cuộc điều tra có thể đã bị vấy bẩn của ông ta đã đi "quá xa để có thể bắt đầu trở lại". Tuy nhiên, điều lý thú là giới báo chí đã cảnh tỉnh công chúng về việc Starr vẫn làm đại diện luật pháp của những doanh nghiệp như các công ty thuốc lá mà quyền lợi của những công ty này rõ ràng là mâu thuẫn với lợi ích của Chính phủ Clinton. Khi Kenneth Starr được bổ nhiệm làm luật sư độc lập, ông ta không bị yêu cầu hoặc buộc phải từ bỏ vai trò cộng tác viên cao cấp với Hãng Luật Kirkland & Ellis; ông ta cũng không cảm thấy nghĩa vụ phải từ bỏ việc tham gia nhiều lợi lộc vào các vụ kiện bị ảnh hưởng trực tiếp bởi chính sách của Chính quyền Clinton.

Một vài nhà báo can đảm - như Gene Lyons của tờ Arkansas Democrat Gazette và Joe Conason của tờ New York Observer - đã từng viết về những mâu thuẫn về quyền lợi của Starr trong một số tờ báo có số ấn bản giới hạn, nhưng bây giờ câu chuyện đã bắt đầu trở thành đề tài chính của báo giới ở Washington.

Ai cũng biết rõ là Starr rất thiên vị với phe Cộng hòa vì ông ta là một cựu nhân viên của Chính quyền Reagan và Chính quyền Bush. Tương tự nhưng ở mức độ ít hơn là những mối quan hệ của ông ta với các nhóm phong trào tôn giáo và chính trị cánh hữu cực kỳ bảo thủ và với Paula Jones. Nhưng việc Starr vẫn tiếp tục giữ mối quan hệ kinh doanh với các đối thủ chính trị của chúng tôi mãi cho đến gần đây mới được tiết lộ.

Ngày 11 tháng 3 năm 1996, tờ USA Today đưa tin Starr kiếm được 390 đô la một giờ để đại diện cho bang Wisconsin trong việc vận động phê chuẩn chương trình chi phí trường học, một chính sách giáo dục mà Chính quyền Clinton phản đối. Phí luật sư của ông ta do Tổ chức Bradley bảo thủ trả. Danh sách các bài viết còn dài: một bài báo trong tạp chí The Nation đã đưa ra những sự kiện chứng minh rằng Starr đã có một sự mâu thuẫn quyền lợi thật sư. Trong khi ông ta đang thanh tra RTC với vai trò là một công tố viên bán thời gian, thì RTC lại đang điều tra Hãng Luật Kirkland Ellis của ông ta. RTC đã kiện Kirkland & Ellis về việc bất cẩn trong vụ kiện Denver S&L. Quyền lợi về tiền bạc của Starr trong phần hùn với hãng luật đang trực tiếp bị ảnh hưởng, hay ít nhất, dường như có một sự xung đột quyền lợi, nhưng không hiểu sao các phương tiện truyền thông đã bỏ qua chuyện đó. Lẽ ra, Starr đã. phải rút lui khỏi cuộc điều tra RTC. Trong khi sự dàn xếp giữa RTC và hãng luật của Starr, mà trong đó hãng phải trả 325.000 đô la, được giữ bí mật theo một thỏa thuận bảo mật giữa hai bên, thì mọi khía cạnh của hồ sơ pháp lý về vụ Madison Guaranty của Hãng Luật Rose lại bị RTC, Quốc hội và báo giới bới tung lên. Đã không hề có bất kỳ cuộc điều tra nào về vụ dàn xếp và những hành động của Starr.

Việc báo chí đột ngột chuyển sang chỉ trích Starr trong tháng Ba xem ra chẳng có ảnh hưởng gì đến ông ta mấy. Ông ta chẳng thèm để ý đến lời cảnh cáo của tờ The New York Times rằng "ông ta nên rời hãng luật và tất cả các vụ kiện cho đến khi hoàn tất các nhiệm vụ đối với vụ Whitewater". Ngược lại, vào ngày 2 tháng 4, thay mặt cho bốn công ty thuốc lá chính, viên luật sư độc lập này lại đi biện hộ trong một vụ kiện quan trọng tại Tòa Phúc thẩm thứ năm ở New Orleans.

Tôi thật sự thất vọng với chính sách bất công đã bảo vệ Starr và những thân chủ của ông ta được miễn trừ trách nhiệm trong khi nhóm bảo thủ lại chơi lá bài "mâu thuẫn quyền lợi" để triệt hạ những điều tra viên và bồi thẩm liêm chính. Robert Fiske, công tố viên đặc biệt ban đầu, đã bị sa thải vào tháng 8 năm 1994 để dọn đường cho Starr. Fiske bị sa thải với tội danh mâu thuẫn quyền lợi. Một tội danh thật hồ so với nhiều mâu thuẫn về tài chính và chính trị của Starr, mà lẽ ra đủ để loại ông khỏi vị trí công tố viên ngay từ đầu và đủ để buộc ông ta phải từ chức nhiều lần sau đó.

Starr đã sử dụng lời cáo buộc về mâu thuẫn quyền lợi mà thực chất mang tính chất vu khống để loại bỏ một luật gia có uy tín nhất ở tòa liên bang ở Arkansas khỏi một vụ kiện mà trước đó viên thẩm phán này đã xử Starr thua. Vụ kiện này không liên quan đến Bill và tôi; nó cũng không dính líu đến Madison Guaranty nhà McDougal hay bất kỳ ai liên quan đến vụ đầu tư Whitewater. Starr đã dùng quyền lực của một luật sư độc lập để tố cáo Jim Guy Tucker, Thống đốc Dân chủ của Arkansas, người thay thế Bill, về tội đồng lõa và gian lận trong việc mua các đài truyền hình cáp ở Texas và Florida. Tháng 6 năm 1995, Starr đã dùng biện pháp đe dọa buộc tội để trấn áp bất kỳ ai mà ông ta có thể rồi hứa sẽ tha cho họ nếu họ khai ra điều gì - bất kỳ điều gì - để buộc tội Bill và tôi. Thẩm phán Henry Woods của tòa án khu vực được bổ nhiệm xử vụ Tucker, sau khi xem xét các dữ kiện, đã bác bỏ bản buộc tội của Starr đối với Tucker vì nó không liên quan gì đến vụ điều tra Whitewater. Dựa vào sự uyên bác của mình về luật quy định về luật sư độc lập, Henry Woods đã kết luận rằng Starr đã vượt quá quyền hạn cho phép. Starr đã yêu cầu phúc thẩm quyết định đó và yêu cầu loại Thẩm phán Woods ra khỏi vụ kiện.

Thẩm phán Woods là cựu nhân viên FBI và đồng thời là một luật sư xuất sắ. Ông được Tổng thống Jimmy Carter bổ nhiệm vào vị trí quan tòa. Ở tuổi 77, ông đã có được một sự nghiệp xuất sắc với vai trò là luật gia và là một nhà ủng hộ nhân quyền ở miền Nam. Hơn 15 năm trên ghế quan tòa, Thẩm phán Woods rất nổi tiếng về những quyết định công tâm và chặt chẽ rất khó lay chuyển - cho đến khi ông ta ngáng đường Starr.

Ba thẩm phán trong danh sách hội thẩm tòa án Liên bang cho vụ phúc thẩm của những đảng viên Đảng Cộng hòa bảo thủ do các Tổng thống Reagan và Bush bổ nhiệm vào Tòa Phúc thẩm thứ tám. Cả ba thẩm phán chấp thuận thỉnh cầu của Starr, khôi phục bản buộc tội của ông ta và thay thế Woods, không phải dựa trên những bằng chứng cụ thể về sự không công tâm của Woods mà chỉ dựa trên những bài báo phê bình xuyên tạc ông ta.

Với tư cách là một luật sư, tôi cảm thấy thật khó chịu trước quyết định kỳ lạ vô tiền khoáng hậu này. Lẽ ra một công tố viên không được phép đòi thay đổi một thẩm phán chỉ vì mình không thích một phán quyết. Và trong trường hợp này, Starr đã không gởi đơn kháng nghị lên Thẩm phán Woods. Nếu ông ta làm thế, vị quan tòa này đã có thể tự bảo vệ mình, bằng cách đối phó với những tranh luận của Starr và mở một phiên tòa nữa, rồi đóng hồ sơ. Nhưng Starr đã đi trước một bước tới Tòa phúc thẩm nên thẩm phán Woods đã không kịp trở tay.

Tác giả của những bài báo mang tính miệt thị mà các thẩm phán tòa phúc thẩm sử dụng để loại bỏ Thẩm phán Woods là Thẩm phán Jim Johnson, một chính trị gia phân biệt chủng tộc ở Arkansas, người đã nhận được tán thành của Ku Klux Klan trong cuộc tranh cử thống đốc. Ông ta tỏ ra khinh miệt Bill và Thẩm phán Woods vì những người này có quan điểm phóng khoáng về chủng tộc của dân New South. Bài báo mà Johnson dùng để tấn công Woods, cũng như hầu hết mọi người trong giới chính trị ở Arkansas được đăng tải trên tờ báo cánh hữu Washington Times. Bài báo này chứa đầy những thông tin vu cáo nhưng hầu hết những phương tiện truyền thông khác lại cho là sự thật. Sau khi bị thải hồi, Thẩm phán Woods đã nói với tờ Los Angeles Times "Tôi có vinh dự là vị thẩm phán duy nhất trong lịch sử Anh-Mỹ, theo tôi biết, bị truất quyền xử một vụ kiện chỉ vì những thông tin trên báo, những bài viết trên tạp chí và những kịch bản truyền hình."

Tôi cảm thấy thật tồi tệ khi Jim Guy Tucker và vợ ông ta, Betty bị rơi vào cuộc săn mồi của Starr. ặc cho mọi nỗ lực của Starr, Jim Guy, người đã từng thua Bill trong lần tranh cử thống đốc năm 1982, đã không nói dối về chúng tôi. Điều này buộc Starr lấn thêm một bước nữa bằng cách đưa ra một bản cáo trạng khác, kiện Tucker cùng với Jim và Susan McDougal ra tòa ở Little Rock, Arkansas vào tháng 3 năm 1996.

Lần này Tucker và gia đình McDougal bị buộc tội đồng lõa, giả mạo thư tín, áp dụng sai quỹ S&L và điền những thông tin giả vào các hồ sơ S&L. Hầu hết những lời cáo buộc này đều liên quan đến David Hale, một doanh nhân Cộng hòa người Arkansas với đầy vẻ ám muội. Bản cáo trạng cho rằng Hale đã đồng lõa với Jim McDougal để vay tiền từ Madison Guaranty và Ban Quản lý Doanh nghiệp nhỏ để đầu tư cho những dự án khác nhau - bao gồm các vụ kinh doanh đất đai - hoặc cho các công ty của Hale, của gia đình McDougal và của Jim Guy Tucker vay, nhưng các khoản vay này đã không được thanh toán lại. Bản cáo trạng còn cho rằng việc sử dụng các khoản vay và những giải ngân cho các khoản vay là không đúng thực tế. Những bản cáo trạng gồm 21 điểm này không đả động gì đến Công ty Phát triển Whitewater, Tổng thống và tôi.

Hale quả là một tên trộm chuyên nghiệp và một nghệ sĩ bậc thầy trong lĩnh vực lừa đảo - ông ta có động lực để làm chuyện đó. Hale đã hợp tác với Starr, hy vọng tránh bị ngồi tù rục xương vì những tội ác mà ông ta đã phạm trước đây. Ban Quản lý Doanh nghiệp nhỏ đã cho công ty của Hale vay hàng triệu đô la với ý định làm lợi cho các công ty nhỏ và những người có thu nhập thấp. Nhưng sau đó họ thông báo đã bị thua lỗ đến 3,4 triệu đô la vì những hoạt động bất hợp lý, những vụ giao dịch tự ý và trái phép của Hale. Cuối cùng, vào năm 1994, Ban Quản lý Doanh nghiệp nhỏ đã buộc phải giao công ty của Hale cho Ban Quan lý Tài sản bị tranh chấp và Hale bị xử phạt về tội âm mưu lừa đảo Ban Quản lý Doanh nghiệp nhỏ với số tiền 900.000 đô la, nhưng án phạt đó đã được dời lại cho đến trước thời điểm vụ McDougal- Tucker hai năm sau đó. Hale thay đổi lời khai xoành xoạch và sẵn sàng cho bất kỳ lời chứng nào mà công tố viên muốn. Các luật sư bào chữa đã tranh luận gay gắt để chứng minh với quan tòa về những mối quan hệ của Hale với những nhà hoạt động cánh tả, ví dụ như việc thanh toán tài chính của Văn phòng Luật sư Độc lập, 40 cuộc điện thoại giữa Hale và Thẩm phán Jim Johnson trước và sau khi Hale có giao dịch với Starr, việc Hale được luật sư Ted Olson tư vấn miễn phí. Ông này thực chất là bạn cũ của -Kenneth Starr và là luật sư cho Dự án Arkansas và tờ American Spectator một ấn phẩm tuyên truyền của cánh tả. Sau đó Olson đã làm cho Ủy ban Tư pháp Thượng viện hiểu sai về mối liên hệ của ông ta với các hoạt động này diễn ra trong giai đoạn ông ta được xem xét đề cử vào vị trí Cố vấn Luật pháp chính dưới thời Tổng thống George W. Bush. Mặc dù ông ta cố thoái thác nhưng cuối cùng cũng bị Ủy ban Tư pháp Thượng viện xác nhận là có liên quan.

Mặc dù hầu hết các mối liên hệ tư lợi của Hale không được thẩm phán của phiên tòa McDongal-Tucker ghi nhận vào hồ sơ phiên tòa và dù cho toàn bộ câu chuyện chỉ được tiết lộ nhiều năm sau đó, nhưng đây là lần đầu tiên những chi tiết về Dự án Arkansas bí mật bắt đầu được tiết lộ trước công chúng. Hale là một con tốt được trả tiền hậu hĩnh trong một chiến dịch bí mật nhằm hạ uy tín Bill và chính quyền của anh. Hale không chỉ được Văn phòng Luật sư Độc lập trả 56.000 đô la tiền mặt sau khi ông ta đồng ý ra làm chứng, mà còn được Dự án Arkansas bí mật trả một khoản tiền khác. Sau đó, nhà báo David Brock đã tiết lộ việc Hale được trả tiền từ một quỹ đen về "giáo dục" của tờ báo American Spectator do Richard Mellon Scaife tài trợ. Brock viết "Thoạt đầu... Dự án Arkansas là một phương tiện hỗ trợ cho Hale trong việc tố cáo Bill có liên quan đến một sai phạm".

Thẩm phán Woods đã yêu cầu một cuộc điều tra cấp liên bang về dự án Arkansas khi Starr đưa ra những chứng cứ về tội đồng lõa nhằm bôi nhọ uy tín của ôngCác thẩm phán liên bang - những người được cả phe Dân chủ lẫn Cộng hòa bổ nhiệm - cũng nhất trí với yêu cầu này. Nhưng đã không có bất kỳ cuộc điều tra nào về lời tố cáo của Woods được thực hiện. Thẩm phán Woods về hưu năm 1995 và mất năm 2002. Ông là một trong số nhiều người tốt đã bị cuộc chiến bè phái của Starr bôi nhọ danh dự.

Sau khi Văn phòng Luật sư Độc lập trình bày xong phần luận tội mà chủ yếu dựa vào việc làm chứng của Hale, Jim McDougal ngày càng trở nên thất thường, ông ta nài nỉ được làm chứng để tự bào chữa cho mình. Nhiều nhà quan sát cho rằng việc làm chứng của ông ta đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho cả ba bị đơn. Các công tố viên đã có thể kết tội cả ba bị đơn với những điểm buộc tội nghiêm trọng. Tucker phải từ chức Thống đốc trong quá trình kháng cáo của mình. Và Kenneth Starr chuyển áp lực sang Jim và Susan McDougal để tạo ra những chứng cứ buộc tội giả khác.

Tôi nhận thấy bầu không khí ở Washington bắt đầu thay đổi khi những dữ kiện xuyên tạc về vụ Whitewater được đưa ra trong phiên tòa. Trên Điện Capitol, Thượng nghị sĩ D'Amato đã dừng các cuộc điều trần về vụ Whitewater khi phe Dân chủ đe dọa cắt nguồn tài chính của ông ta. Sau nhiều năm trời, đây là lần đầu tiên, tôi bắt đầu hy vọng có thể bỏ lại sau lưng vụ Whitewater mãi mãi.

Mặc dù đã có những khoảnh khắc hy vọng đó, mùa xuân năm 1996 không phải là thời điểm để ăn mừng. Ngày 3 tháng 4, chiếc phản lực cơ T-43 của Air Force chở Bộ trưởng Bộ Thương mại Ron Brown và phái đoàn những nhà lãnh đạo doanh nghiệp Mỹ đã đâm sầm vào sườn đồi dọc bờ biển Croatia trong một cơn bão dữ dội. Ron đến Balkan để quảng bá chương trình đầu tư và thương mại, một phần trong chiến lược lâu dài của Chính phủ vì hòa bình cho vùng đất rối ren đó. Đây là biện pháp điển hình của Ron trong Nội các. Ông hiểu rõ rằng quảng bá cơ hội kinh tế tốt cho quyền lợi chiến lược của Mỹ cũng như các doanh nghiệp Mỹ. Ron đã tử nạn cùng với 32 người Mỹ và hai người Croatia.

Tôi thật sự đau lòng. Ron và vợ ông ta, Alma, là những người bạn thân thiết của chúng tôi. Họ là những đồng minh trung thành nhất kể từ chiến dịch tranh cử năm 1992, khi đó Ron làm việc rất hiệu quả với vai trò Chủ tịch Ủy ban Quốc gia Dân chủ. Với tính cách hài hước và. tự tin, Ron đã lãnh đạo Đảng qua những giai đoạn thăng trầm suốt chiến dịch đó. Ngay cả khi những cơ hội thành công của Bill trở nên mờ mịt trước những đòn tấn công không ngừng của đối thủ, Ron không bao giờ chùn bước. Ông ta tin rằng Bill có thể và sẽ chiến thắng nếu Đảng Dân chủ được bảo tồn. Và ông ta đã đúng. Ron cũng là người rất vui tính. Với nụ cười luôn hiện diện trên khuôn mặt và cái nháy mắt muôn thuở trên đôi mắt, ông có thể làm cho mọi người cảm thấy vui vẻ và tôi là người được hưởng may mắn đó nhiều lần. Ông ấy luôn nhắc nhớ tôi "Đừng để mình nản lòng chỉ vì những người hay than vãn."

Khi nghe hung tin này, Bill và tôi vội đến thăm Alma và các con của Ron, Michael và Tracey. Ngôi nhà của họ chật cứng người thân và bạn bè, giống như một điểm gặp gỡ tái sinh vì mọi người đều cười nói vui vẻ, kể cho nhau nghe những cân chuyện về Ron. Sau đó, tôi biết chiếc máy bay định mệnh đó cũng chính là chiếc máy bay và phi hành đoàn đã chở tôi và Chelsea một tuần trước đó, vào cái buổi chiều rực rỡ trên bầu trời Thổ Nhĩ Kỳ ấy.

Tôi và Bill đến căn cứ không quân Dover ở Delawarc để đón chiếc máy bay Air Force US chở 33 quan tài được phủ quốc kỳ. Trong số những nạn nhân có Lawry Payne, một doanh nhân rất khôn khéo, người đã đi tiền trạm cho vài chuyến đi của tôi, và Adam Darling, một nhân viên Bộ Thương mại 29 tuổi, anh ta đã trở thành một người bạn được ưa thích nhất của Bill và tôi sau kh tình nguyện đi khắp nước Mỹ bằng xe đạp để ủng hộ cho chiến dịch bầu cử của Bill năm 1992.

Trong bài điếu trên đường băng, Bill đã nhắc nhở chúng tôi rằng những nạn nhân này đã hy sinh trong khi phục vụ cho đất nước, đại diện cho những gì tốt đẹp nhất mà nước Mỹ có thể dâng tặng.

Bill nói khi tôi cố kềm nước mắt: "Mặt trời đang lặn xuống vào ngày hôm nay để rồi ngày mai sẽ mọc lại và đó sẽ là một buổi sáng phục sinh, đánh dấu một sự chuyển đổi từ đau thương mất mát thành hy vọng và cứu rỗi. Đây là một ngày, hơn mọi ngày khác nhắc nhở chúng ta rằng cuộc sống còn hơn những gì mà chúng ta từng biết...và đôi lúc còn hơn những gì mà chúng ta có thể chịu đựng . Nhưng cuộc sống cũng bất tử.... Những gì mà họ làm khi mặt trời lặn sẽ mãi mãi còn trong tâm trí chúng ta".

linton và chính trường nước Mỹ Living history ebook©MotSAch TVE-4u©heoconmtv —★— Nhà xuất bản: NXB Văn Hóa Sài Gòn 2006
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.