Lần thứ hai chồng tôi chơi golf cùng với Greg Norman, anh ấy phải đi nạng suốt hai tháng. Chẳng phải Bill bị trượt ngã xuống một hố cát, hay vì bị trúng cú đánh quá mạnh mà chỉ vì anh ấy vấp chân tại một bậc thang tối trước nhà của Norman tại Florida và ngã về phía sau, làm rách gần 90% cơ bốn đầu. Tai nạn xảy ra lúc hơn một giờ sáng ngày thứ Sáu, 14 tháng 3 năm 1997 và Bill gọi điện cho tôi biết trên đường đến bệnh viện. Anh bị đau dữ dội, nhưng vẫn cố, như anh nói "đi ba chân bốn cẳng". Tôi cảm thấy bớt căng thẳng khi thấy anh ấy vẫn còn khôi hài được, nhưng tôi lại lo một chuyện khác. Mối quan tâm duy nhất của Bill là làm sao để quay trở lại Nhà Trắng và sau đó bay đến Helsinki, Phần Lan, để tham dự một cuộc họp đã hẹn trước từ lâu với Boris Yeltsin vào ngày thứ Tư tuần sau đó - mặc cho bác sĩ có nói gì đi nữa. Tôi gọi điện cho giáo sư Connie Mariano, giám đốc Trung tâm Y tế của Nhà Trắng viều trị của Tổng thống để hỏi ý kiến. Cô ấy bảo tôi rằng Bill cần phải được tiến hành phẫu thuật, tuy nhiên anh ấy vẫn có thể bay trở về Florida an toàn và tiến hành phẫu thuật tại Washington.
Tôi đón chiếc Air Force One tại sân bay quân sự Andrews vào sáng thứ Sáu. Tôi đứng trên đường băng theo dõi một đám đông các nhân viên Sở Mật vụ khiêng anh ấy ra khỏi khoang máy bay, một người mà bình thường không gì có thể làm suy yếu được, vậy mà giờ đây lại bị như thế. Họ đặt anh ngồi trên một chiếc xe lăn, rồi dùng một thang thủy lực để hạ anh ấy xuống đất. Tôi đi cùng Bill trong một chiếc xe cứu thương đến Bệnh viện Bethesda Naval, nơi các bác sĩ phẫu thuật sẽ tiến hành mổ chân cho anh ấy. Bill vẫn vui vẻ mặc cho cơn đau hành hạ và chỉ nghĩ đến việc đi Helsinki. Tôi bảo anh hãy đợi cho đến khi biết cuộc phẫu thuật diễn ra như thế nào, nhưng Bill đã quả quyết rằng mọi chuyện sẽ tốt đẹp cả. Bill thường nhắc tôi nhớ đến hình ảnh một chú bé hăng say đào bới trong một nhà chứa thóc đầy phân ngựa. Khi có ai hỏi vì sao lại làm thế, cậu bé bảo: "Với nhiều phân ngựa thế này, hẳn phải có một con ngựa đâu đó".
Anh ấy từ chối gây mê tổng quát hoặc dùng bất kỳ một loại thuốc an thần giảm đau nào bởi vì, là một Tổng thống, anh cần phải tỉnh táo và phải liên lạc được 24/24 giờ mỗi ngày. Điều này quả là một rắc rối. Cuộc phẫu thuật nối lại dây chằng từ cơ bốn đầu đến xương bánh chè của anh ấy rất đau và không dễ dàng chút nào. Nếu tiến hành gây mê tổng quát, Bill cần phải tạm trao quyền Tổng thống của mình, theo điều luật bổ sung thứ 25 của Hiến pháp, cho Phó Tổng thống lúc bấy giờ đang túc trực bên anh ấy. Điều này đã không hề xảy ra kể từ năm 1985, khi Tổng thống Reagan trải qua một cuộc phẫu thuật ung thư ruột kết. Bill nhất quyết không dùng đến biện pháp nhượng quyền. Cuộc họp mặt sắp đến với Yeltsin có liên quan đến vấn đề mở rộng khối NATO, mà người Nga kịch liệt phản đối. Bill không muốn thấy những bài báo nói bóng gió đến tình trạng yếu đuối hoặc dễ bị tổn thương của anh. Anh ấy chọn hình thức gây tê bộ phận và trò chuyện với các bác sĩ về bản nhạc Lyle Lovetr đang được trỗi trong phòng mổ khi bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình và ê-kíp khoan các lỗ vào trong xương bánh chè, kéo phần cơ bốn đầu bị rách qua, và sau đó khâu đoạn cuối trở vào phần cơ bị tổn thương.
Trong suốt thời gian giải phẫu, tôi hồi hộp chờ đợi trong một căn phòng đặc biệt dành cho Tổng thống và gia đình, Chelsea cũng đến đợi với mẹ sau giờ học. Gia đình chúng tôi đã được Chúa ban cho sức khỏe tốt. Lần duy nhất mà tôi phải vào bệnh viện là khi sinh con. Không tính đến giai đoạn chữa viêm xoang ngoại trú của Bill vào những năm đầu thập niên 80 và lần Chelsea cắt amiđan vài năm sau đó, không ai trong chúng tôi phải trải qua phẫu thuật. Tôi không hề coi đó là những may mắn hiển nhiên, vì tôi biết rằng "tất cả là nhờ có Chúa Trời".
Cuối cùng, sau ba giờ phẫu thuật, Bill được chuyển sang căn phòng mà chúng tôi đang đợi vào lúc 4 giờ 43 phút chiều. Anh ấy trông xanh xao và kiệt sức, nhưng tâm trạng vẫn tươi vui vì giáo sư Mariano và bác sĩ phẫu thuật cho chúng tôi biết ca phẫu thuật đã thành công và Bill có triển vọng hồi phục rất tốt. Chelsea và tôi lúc đó đang xem một bộ phim của Cary Grant và câu nói đầu tiên của Bill là "Kết quả giải bóng rổ ra sao rồi ?". Chúng tôi nhanh chóng đổi kênh để xem chương trình March Madness.
Ngoài đội bóng rổ Razorbacks, tất cả những gì còn lại mà Bill muốn trò chuyện là chuyến đi Phần Lan. Giáo sư Mariano và các bác sĩ phẫu thuật giải thích những rủi ro trong việc ngồi máy bay đi xa và yêu cầu tôi khuyên anh đừng đi. Tôi nói sẽ cố gắng vì một lý do duy nhất là điều đó cần cho sức khỏe của anh ấy, nhưng tôi không chắc là mình có thể thuyết phục được. Tôi gọi cho Sandy Berger, Cố vấn An ninh Quốc gia của Bill, người cùng vợ là Susan đã làmchúng tôi từ những năm 70. Sandy am hiểu các vấn đề và có khả năng phân tích các dữ kiện một cách tài tình trước khi đệ trình các phương án để Tổng thống xem xét. Ông ấy đã ửng hộ các chuyến công tác ở nước ngoài của tôi và tin rằng vấn đề phát triển và nhân quyền là những vấn đề cấp bách đối với bất kỳ chương trình nghị sự về chính sách ngoại giao nào. Sandy giải thích tầm quan trọng của chuyến đi đến Helsinki và lý do vì sao ông hy vọng Bill có thể đi được, nhưng ông cũng biết rằng nếu những người chăm sóc sức khỏe cho Bill khẳng định anh ấy không nên ngồi máy bay thì tốt nhất là không đi. Tôi chuyển lời của Sandy cho Bill: Sandy rất tiếc phải công nhận ý kiến của các bác sĩ.
"Anh thì không," Bill nói, "anh sẽ đi".
Tôi gọi cho giáo sư Mariano từ bên giường của Bill.
"Cô xem này, anh ấy đòi đi", tôi nói với cô ấy. "Cho nên chúng ta cần phải tính xem chúng ta sẽ đưa anh ấy đến đó và trở về an toàn như thế nào."
"Nhưng ông ấy không thể ngồi trên máy bay lâu như vậy được”, cô ấy phản đối, "Máu có thể sẽ bị nghẽn cục.”
Tôi nhìn người chồng dễ nổi giận của mình, và nghĩ anh ấy có thể bị máu nghẽn cục nếu họ không để cho anh ấy đi.
"Họ nói sao vậy?”, Bill gặng hỏi.
"Yeltsin không thể đến đây sao?", tôi hỏi anh.
"Không! Anh phải đi."
“Anh ấy sẽ đi Helsinki", tôi bảo với giáo sư Mariano. "Hãy đảm bảo để anh ấy không bị máẽn cục.”
"Chúng tôi sẽ phải ủ ông ấy trong nước đá khô."
"Tốt, vậy thì hãy làm như vậy."
Giáo sư Mariano cuối cùng đã dịu lại và bắt đầu thu xếp một đội ngũ cùng đi đến Phần Lan.
Chặp sau, Chelsea và tôi tạm biệt Bill để con bé thu xếp tham dự một buổi khiêu vũ Opera Viennese do đại sứ quán Áo tài trợ. Chelsea đã học nhảy điệu waltz, và Bill nhất định bảo con nên đi. Vào ngày thứ Bảy, tôi trở lại bệnh viện sau khi đi một vòng quanh khu vực mình ở, tìm hiểu về tất cả những khó khăn mà một người ngồi xe lăn hoặc đi nạng phải đối diện. Với sự giúp đỡ của một chuyên gia vật lý trị liệu hải quân, tôi lập một danh sách các việc cần làm trước khi Bill về nhà: các tấm thảm và dây phải được cuốn lại, lắp đặt một thanh vịn trong phòng tắm, các đồ đạc phải di dời. Công việc này giúp tôi hiểu rõ hơn về cuộc sống thường nhật của những người phải ngồi trên xe lăn. Kể cả vị Tổng thống tiền bối, Franklin Delano Roosevelt cũng đã từng phải trải qua kinh nghiệm đó.
Chủ nhật, Bill về đến Nhà Trắng bằng một chiếc xe dùng để chở xe lăn, đôi chân xoải dài trước mặt. Anh vào ngay giường mình, nhưng thay vì thiếp đi, anh ấy lại uống một viên tăng lực Tylenol và xem phần còn lại của vòng chung kết cuộc thi đấu bóng rổ trên tivi.
Tôi đã lên kế hoạch cùng đi châu Phi với Chelsea từ hôm thứ Bảy. Tôi nghĩ mình nên hoãn chuyến đi và nên cùng Bill đến Helsinki, hoặc ít nhất là hoãn chuyến đi của chúng tôi cho đến khi anh ấy đi Helsinki vào thứ Ba tuần sau. Nhưng anh không đồng ý. Bill lý giải là nếu chúng tôi hoãn chuyến đi châu Phi, người ta có thể nghĩ là cuộc phẫu thuật không tốt. C tôi cũng thu xếp được với nhau: Bill vẫn đi Helsinki như dự kiến, còn tôi và Chelsea sẽ đi châu Phi vào ngày Chủ nhật, muộn hơn một ngày.
Ngoài các phóng viên và nhiếp ảnh gia thường đồng hành với tôi, tạp chí Vogue gởi thêm nhiếp ảnh gia nổi tiếng Annie Leibovitz để ghi lại nhật ký ảnh cho suốt chuyến đi. Mặc dù được nhiều người biết đến vì các bức ảnh chụp những người nổi tiếng, cô ấy đã say mê từng nét đẹp và vẻ kỳ diệu của người dân châu Phi và các khung cảnh nơi họ sinh sống. Tôi đã nhận lời viết các bài báo đi kèm với các bức hình của Leibovitz, qua đó tôi muốn làm nổi bật những nỗ lực bản thân của người dân nơi đây cùng với sự ủng hộ của các tổ chức từ thiện cá nhân và chính sách hỗ trợ nước ngoài của Mỹ, cũng như trình bày thẳng thắn về các quyền phụ nữ, ủng hộ nền dân chủ và khuyến khích người Mỹ tìm hiểu thêm về châu Phi. Quả thật mục đích cuối cùng này thật sự cần thiết vì đã có một nhà báo hỏi tôi trước chuyến đi: "Thủ đô của châu Phi là gì?”. Có Chelsea đi cùng, lúc nào cũng thế, luôn là một điều vui sướng cho tôi, và sự có mặt của cháu có một ý nghĩa nhất định tại những nơi mà các nhu cầu và năng lực của tuổi trẻ bị xem thường. Tổng thống nước Mỹ có một cô con gái mà ông yêu quý và cô xứng đáng được hưởng một nền giáo dục lẫn chăm sóc y tế để có thể phát huy hết tiềm năng nội lực mà Chúa Trời đã ban cho.
Trước tiên Chelsea và tôi dừng lại ở Senegal, quê quán của hàng triệu người Mỹ đã bị bán làm nô lệ qua đảo Goree ngoài khơi bờ biển Dakar, thủ đô của Senegal. Tại một pháo đài nhỏ, nơi các nô lệ bị giam giữ, những chiếc cùm chân bằng sắt và những sợi dây xích vẫn còn lủng lẳng trên các bức tường bằng đất của các phòng giam; sự khắc nghiệt gợi đến bản năng tàn ác của con người. Đây là nơi những con người vô tội, bị tách ra khỏi nhà cửa cùng gia đình và bị biến thành nô lệ, bị lùa qua cánh cửa No Return phía sau của đài, dẫn xuống bãi biển và lên những chiếc xuồng chèo ra những chiếc tàu chở nô lệ ngoài khơi. Tôi nhắm mắt lại và hít thở trong một bầu không khí ẩm ướt, tưởng tượng đến nỗi tuyệt vọng cuồng dại của mình nếu con gái tôi bị bắt cóc và bán làm nô lệ.
Sau đó, tôi đã tìm hiểu về những nỗ lực để chấm dứt một tập tục mà tôi xem là một hình thức của sự nô dịch là tập tục cắt âm vật của phụ nữ. Tại làng Saam Njaay, cách Dakar một giờ rưỡi, một cuộc cách mạng trong đời sống và sức khỏe của phụ nữ đang được nến hành. Molly Melching, một cựu tình nguyện viên của Tổ chức Hòa bình, đã ở lại Senegal để cùng với mọi người sáng lập ra Tostan, một tổ chức phi chính phủ tiên phong lập các dự án giáo dục và kinh doanh nhỏ dựa theo quy mô của làng xã. Và kết quả là, dần dà những người phụ nữ bắt đầu nói về nỗi đau và các ảnh hưởng sức khỏe - kể cả cái chết - mà họ đã chứng kiến hoặc trải qua do tập tục cổ xưa cắt bỏ âm vật của các bé gái gây ra. Sau khi Tostan tổ chức những buổi thảo luận rộng rãi khắp làng, dân làng đã biểu quyết chấm dứt tập tục này. Khi những người lãnh đạo nam giới của làng đến các ngôi làng khác để giải thích vì sao tập tục không tốt cho các bé gái và phụ nữ, những làng khác cũng đồng tình bãi bỏ nó. Phong trào này ngày càng lớn mạnh và những người đứng đầu của các ngôi làng đã làm đơn thỉnh cầu Tổng thống Abdou Diouf tiến hành ngăn cấm tập tục này trên toàn đất nước. Khi gặp Tổng thống Abdou Diouf, tôi đã tán dương phong trào này của những người dân nơi đây và ủng hộ yêu cầu của họ về việc Senegal phê duyệt điều luật cấm tập tục này. Tôi cũng gởi cho Tostan một bức thư khích lệ và họ đã dùng lá thư này cho chiến dịch của mình. Một đạo luật ngăn cấm tập tục này đã được thông qua trong cùng năm đó, nhưng để đạo luật thực sự có hiệu lực không phải là một điều dễ dàng. Những tập tục đã thấm sâu thường khó mà
Ví dụ về một phong trào quần chúng giúp cải thiện đời sống nhân dân này cho tôi một niềm hy vọng khi đến Nam Phi, một vùng đất tiêu biểu cho sự thay đổi của lục địa. Nelson Mandela là một trong số các nhà lãnh đạo đã tiến hành sự thay đổi. Một người khác là Tổng giám mục Desmond Tutu, tiếng nói lương tâm của phong trào chống nạn phân biệt chủng tộc ở Nam Phi, một phong trào đã khiến Mandela thiết lập nên Ủy ban Sự thật và Hòa giải. Tôi đã gặp vị Tổng giám mục Tutu và các thành viên của Ủy ban tại Cape Town trong một phòng họp mặt thông thường. Đây chính là nơi họ lấy lời chứng từ các nạn nhân và thủ phạm của nạn bạo lực, xem đó như một phương thức trình bày sự thật và khuyến khích một sự hòa giải giữa các sắc tộc đã sống giữa bất công và sự tàn bạo qua nhiều thế hệ. Mandela và Tutu hiểu những thách thức và tầm quan trọng của việc thể chế hóa sự tha thứ. Trong tiến trình mà họ đang xây dựng, những người đã từng phạm tội ác vẫn có thể tiến bước về phía trước và thú tội để nhận được sự ân xá. Và những nạn nhân cuối cùng có thể tìm thấy câu trả lời cho chính mình. Như lời một nạn nhân đã nói: "Tôi muốn tha thứ, nhưng tôi cần biết mình tha thứ cho ai và tha thứ điều gì".
Mandela đã nêu một tấm gương về lòng vị tha. Khi ông ấy dẫn tôi và Chelsea đi thăm nhà tù tại đảo Robben mà ông đã từng bị giam cầm trong mười tám năm, Mandela giải thích rằng ông ấy đã có nhiều năm để suy nghĩ về những gì mình sẽ làm khi ra tù. Ông đã đi qua tiến trình sự thật và hòa giải của chính mình, khiến ông có thể nói lên những điều thật phi thường mà tôi từng được nghe trong buổi lễ nhậm chức khi ông giới thiệu với mọi người ba trong số các cai tù cũ của mình. Tha thứ không phải là một việc dễ thực hiện cho dù ở bất kỳ thời điểm nào, tại bất kỳ nơi đâu. Mất mát cuộc sống hay sự tự do luôn chứa đầy đau đớn, càng đau đớn hơn nữa nếu đó là kết quả từ điều mà Tiến Martin Luther King đã gọi là "mối hận thù truyền kiếp”. Bởi hầu hết chúng ta đều là người, gợi nên ước muốn báo thù bao giờ cũng dễ dàng hơn gợi nên lòng vị tha. Mandela đã cho thế giới thấy được làm thế nào để có thể chọn lựa sự tha thứ và tiếp bước về phía trước.
Cũng giống như toàn bộ phần còn lại của lục địa, Nam Phi vẫn còn bị bao trùm bởi sự nghèo đói, tội ác và bệnh tật, nhưng tôi được khích lệ bởi niềm hy vọng mà mình nhìn thấy trên gương mặt các em học sinh - từ những trẻ em mặc đồng phục đang học tiếng Anh trong một lớp học tại Soweto (là một phần nhờ ở chương trình USAID) cho đến các nhà khoa học và nhà thơ đang phát triển tài năng tại Trường Đại học Cape Town. Và khi diễn thuyết trên một khoảng đất bụi bặm vùng ven Cape Town, tôi đã gặp những người phụ nữ đang thật sự xây dựng một tương lai tươi sáng hơn cho bản thân và con cái họ. Với những hoa văn lễ hội vẽ trên mặt và giọng hát cất cao của mình, họ đẩy những chiếc xe cút kít, đổ xà bần và trộn màu để xây dựng chỗ ở mới cho mình. Từng là người vô gia cư, từng sinh sống trong những điều kiện tệ hại, nay họ đã tạo dựng nên các hội làm nhà, hội tín dụng - theo mô hình của Tổ chức Phụ nữ Đổi công tại Ấn Độ mà tôi đã đến thăm. Góp chung với nhau những khoản tiền dành dụm, họ mua xẻng, sơn và xi măng, học cách xây móng nhà và lắp đặt đường cống thoát nước rồi bắt đầu cuộc sống cộng đồng của chính mình. Khi Chelsea và tôi đến thăm, họ đã xây được 18 ngôi nhà; một năm sau, khi tôi cùng Bill trở lại nơi đây, đã có 104 ngôi nhà. Tôi thích một câu trong bài hát mà họ đã hát, hiểu nôm na là "Sức mạnh, tiền bạc và tri thức - ta sẽ không làm gì được nếu không có chúng". Thật là một lời khuyên hữu ích cho phụ nữ ở khắp nơi.
Khi rời Nam Phi, tôi đã hiểu rõ những khó khăn thử thách mà các nhà lãnh đạo nơi đây phải đương đầu, nhưng vẫn lạc quan tin tưởng vào tương lai. Nhưng tại Zimbabwe, đất nước láng giềng không hề có biển ở phía bắc Nam Phi, tôi thấy một đất nước mà những tiềm năng hứa hẹn bị kìm hãm bởi những người lãnh đạo tai hại. Robert Mugabe, người đứng đầu Zimbabwe kể từ khi nước này giành được độc lập vào năm 1980, đã trở nên chuyên quyền và đầy thái độ thù địch đối với những ai mà ông ta cho là kẻ thù. Tổng thống Mugabe nói rất ít trong suốt chuyến thăm xã giao của tôi tới dinh Tổng thống tại thủ đô Harare. Ông ta không rời mắt khỏi người vợ trẻ của mình, Grace, trong khi tôi trò chuyện với cô ấy, và thỉnh thoảng lại cười khúc khích mà không rõ lý do. Tôi ra về mà lòng tin chắc rằng ông là một người không kiên định đáng lo ngại và hy vọng ông sẽ từ bỏ quyền hành của mình. Suy nghĩ đó của tôi đã trở thành hiện thực vài năm sau đó, khi Mugabe đàn áp mọi chống đối chính trị và tiến hành một chiến dịch khủng bố đuổi những nông dân da trắng ra khỏi đất đai của mình và dọa dẫm những người da đen nào thách thức ông. Ông ta đã đẩy dân chúng của mình lâm vào tình trạng hỗn loạn và đói khát.
Sau đó, tôi gặp một nhóm những phụ nữ hoạt động chính trị, chuyên môn và kinh doanh ở một phòng triển lãm nghệ thuật tại Harare. Họ mô tả mối căng thẳng giữa những quyền hạn mà họ có trên giấy tờ với các tập tục và các quan niệm cổ xưa hiện vẫn chiếm ưu thế. Họ kể lại những trường hợp phụ nữ bị chồng đánh đập vì đã "ăn mặc không đứng đắn" trong những chiếc quần tây. Một chị tóm lược lại những vấn đề mà họ phải đối diện: "Chừng nào còn có luật lệ cho phép đàn ông có hai vợ nhưng phụ nữ không thể có hai chồng, thì vấn đề vẫn chưa được giải quyết".
Tôi rời Harare, lòng cảm thấy không vui trước những suy thoái trong đời sống vật chất và tinh thần nơi đây lẫn sự thất bại hiển nhiên của một người lãnh đạo đã nắm giữ quyền lực quá lâu. tinh thần của tôi phấn chấn trở lại tại điểm dừng chân tiếp theo, thác Victoria, nơi dòng sông Zambezi đổ vào một hẻm núi hùng vĩ. Chelsea và tôi bước đi giữa làn sương mù hơi nước bốc lên từ những dòng nước đang rền vang, ngắm nhìn chúng biến thành những chiếc cầu vồng lung linh huyền ảo trong ánh nắng ban mai. Vẻ đẹp đến mê hồn của châu Phi và tài nguyên thiên nhiên nơi đây cần phải được gìn giữ và bảo vệ trong quá trình phát triển các cơ hội kinh tế cho người dân địa phương. Nhưng điều đó quả là một thách thức lớn, theo những gì tôi được thấy trong chuyến đi thăm Tanzania, một đất nước trải dài ở Đông Phi được hình thành vào năm 1964 từ hai thuộc địa cũ đã từng mê hoặc tôi khi còn bé : Tanganykia và Zanzibar. Tại thủ đô, Dar es Salaam, tôi đã gặp Tổng thống Benjmin Mkapa, một cựu phóng viên vui tính đã từng lao động cật lực để phát triển một nền kinh tế dựa trên những nguồn tài nguyên thiên nhiên và vị trí chiến lược ven biển Ấn Độ Dương. Với sự tán đồng nhiệt tình của vợ ông, Anna Mkapa, và những nữ bộ trưởng có mặt tại buổi họp của chúng tôi, tôi khuyến khích ngài Tổng thống chấm dứt những đạo luật giới hạn việc sở hữu và thừa hưởng tài sản đối với phụ nữ, những hạn chế không chỉ bất công mà còn góp phần làm tổn hại đến tiềm năng kinh tế của phân nửa dân số đất nước . Năm 1999, Tanzania thông qua Đạo luật Đất đai và Làng mạc, hủy bỏ và thay thế những điều luật phân biệt đối xử chống lại phụ nữ trước đây.
Tanzania cũng đóng vai trò quan trọng trong việc mang lại nền hòa bình và sự ổn định cho châu Phi đang bị chiến tranh giằng xé. Tại Arusha, tôi đã đi thăm Hội đồng Xét xử Tội phạm Quốc tế của Rwanda, nơi đang tiến hành điều tra những tội ác diệt chủng. Hội đồng xét xử này có quyền hạn xét xử và trừng phạt những tội phạm chiến tranh. Sự thành công của việc xét xử này là cực kỳ quan trọng đối với toàn bộ người dân châu Phi, và đặc biệt là đối với phụ nữ và trẻ em - những người thường là nạn đầu tiên của các xung đột dân sự. Tại Rwanda, tình trạng cưỡng bức và hiếp dâm diễn ra tràn lan, những chiến thuật quân sự dùng trong các cuộc bạo động diệt chủng này trở nên thịnh hành vào năm 1994. Tại Kampala, Uganda, tôi đã gặp một phái đoàn những phụ nữ Rwanda nói năng nhỏ nhẹ như tiếng nhạc, ngược hẳn với những thực tế kinh khủng mà họ đã trải qua. Một phụ nữ trẻ mô tả việc mình - sau khi bị tấn công bằng dao rựa - đã cố chắp phần cánh tay bị thương bằng một sợi dây trong khi gắng tìm sự hỗ trợ về y tế một cách vô vọng. Cuối cùng không tránh khỏi bị nhiễm trùng, cô ấy đã tự chặt đứt cánh tay của mình. Người phụ nữ này đã cho tôi xem một quyển album đầy những bức ảnh về xương, sọ, những người sống sót với vẻ mặt u mê, và các trẻ em mồ côi. Tôi thậm chí không dám nhìn. Tôi thật sự lấy làm tiếc cho sự thất bại của thế giới, trong đó có cả chính quyền của chồng tôi, trong việc chấm dứt nạn diệt chủng.
Uganda còn đáng nhớ vì những lý do khác. Để đương đầu với bệnh dịch AIDS của châu Phi, chính quyền của Uganda cam kết sẽ ngăn chặn sự lây lan của vi rút HIV bằng một chiến dịch can thiệp và giáo dục. Ta có thể thấy những hậu quả của bệnh dịch AIDS toàn cầu đã và đang diễn ra thật nghiêm trọng tại vùng hạ Sahara châu Phi này, một khu vực chiếm đến 70% tổng số các ca nhiễm HIVAIDS. Mọi thành phần xã hội đều bị ảnh hưởng bởi cơn khủng hoảng này. Tại những quốc gia diễn ra đại dịch nặng nề nhất như Uganda, tỉ lệ tử vong sơ sinh gia tăng với một mức độ báo động vào cuối những năm 1990 và tuổi thọ bình quân giảm mạnh. Các nền kinh tế phải chịu đựng sức ép từ lực lượng lao động đang bị co cụm lại và các hệ thống chăm sóc y tế bị quá tải. Trong thời kỳ chính quyền của Bill, nước Mỹ đã gia tăng gấp ba lần ngân quỹ dành cho các chương trình AIDS thế giới trong hai năm nhằm mục đích ngăn chặn, chăm sóc và điều trị căn bệnh này, cùng với tăng cường cơ sở hạ tầng y tế. USAID (Cơ quan phát triển quốc tế Mỹ) gia tăng việc phát bao cao su, cung cấp một tỉ bao cao su trên khắp thế giới, và nước Mỹ đã cùng với các quốc gia khác kiến tạo và tài trợ một sự hợp tác toàn cầu rộng lớn hơn - Chương trình Liên kết Liên hiệp quốc về AIDS - nhằm phát triển các chiến lược hợp tác chống lại căn bệnh này. Nhận thức rõ các nhu cầu khẩn cấp của châu Phi, Bill đã ký một sắc lệnh nhằm giúp các nước châu Phi ở vùng hạ Sahara có thể tiếp cận dễ dàng hơn, hợp khả năng tài chính hơn với các loại thuốc và kỹ thuật y khoa liên quan đến bệnh HIVAIDS. Tổ chức Hòa bình bắt đầu đào tạo và huấn luyện 2.400 tình nguyện viên châu Phi thành những nhân viên tuyên truyền HIVAIDS.
Với sự hỗ trợ của USAID, một trung tâm xét nghiệm và tư vấn tiên phong được thành lập tại Kampala, ở đây tên của các bệnh nhân được giữ kín. Khi tôi đi xe từ sân bay Entebbe đến đó, tôi nhìn thấy những pa-nô cổ động việc phòng chống và ngăn ngừa AIDS với các khẩu hiệu: Kiêng khem, Chung thủy hoặc Hãy dùng bao cao su. Chiến dịch này do Tổng thống Yoweri Museveni, một con người đầy nhiệt huyết và niềm tin trong việc đương đầu với những vấn đề gai góc vẫn thường bị phớt lờ và bỏ quên tại những nơi khác của châu lục. Vợ của ông, Janet, cũng gắn bó không kém với chiến dịch chống AIDS và là một thành viên hăng hái của chương trình Bữa ăn sáng cầu nguyện toàn quốc. Khi tôi giúp khai mạc trung tâm thông tin AIDS, thông qua một bác sĩ người Mỹ, tôi được biết rằng chính sách xét nghiệm và thông báo kết quả trong cùng ngày, được thử nghiệm tại đây, cũng đang được áp dụng tại Mỹ. Chương trình hỗ trợ nước ngoài của chúng tôi đang xúc tiến cuộc nghiên cứu tìm kiếm vắc-xin và phương thức chữa trị tại Uganda, và nước Mỹ cũng sẽ được lợi từ việc này.
Không vấn đề nào khẩn cấp hơn việc chấm dứt các xung đột đang diễn ra tại châu Phi - xung đột bộ tộc, tôn giáo và quốc gia - hiện hủy diệt sự sống và ngăn cản tiến trình phát triển từ mọi góc độ. Eritrea là quốc gia trẻ nhất châu Phi, một nền dân chủ sinh ra cuộc nội chiến dài 30 năm giành độc lập khỏi Ethiopia, trong đó phụ nữ cùng chiến đấu với nam giới. Khi bước xuống cầu thang máy bay tại Asmara, tôi đã nhìn thấy một băng-rôn màu xanh, trắng và đỏ ghi dòng chữ YES, IT DOES TAKE A VILLAGE. Những phụ nữ trong các chiếc áo màu sáng chào đón tôi bằng cách thảy bắp rang về phía tôi, một tập tục chào đón mang ý xua đi những điều xấu xa, tội lỗi và mang lại may mắn cho khách mời. Khi chúng tôi từ sân bay đi vào thành phố, một tấm băng-rôn lớn khác thể hiện dòng chữ WELCOME, SISTER.
Tổng thống của Eritrea, Isaias Afwerki, cùng vợ là Saba Haile, một cựu chiến sĩ tự do, sinh sống tại một ngôi nhà nhỏ nhưng họ tiếp đón chúng tôi tại dinh Tổng thống. Trong lúc chúng tôi ngồi xem các diễn viên múa dân gian trình diễn trong một cái sân nhỏ do người Ý xây dựng từ thời kỳ thuộc địa, tôi đã hỏi Tổng thống Afwerki, người đã bỏ học đại học để đi kháng chiến, rằng có bao giờ ông có thời gian để nhảy múa trong suốt cuộc chiến tranh dài đằng đẵng đó không. "Dĩ nhiên là có", ông trả lời, "Chúng tôi phải nhảy múa để nhắc nhở mình về một thế giới không có chiến tranh".
Vào cuối tháng 5 năm 1998, xung đột lại nổ ra giữa Ethiopia và Eritrea xoay quanh vấn đề tranh chấp biên giới. Hàng ngàn người bị giết và đáng buồn thay, hứa hẹn hòa bình cho cả hai dân tộc lại lần nữa bị trì hoãn. Bill gởi Tony Lake, cựu Cố vấn An ninh Quốc gia, và Susan Rice, trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao phụ trách các vấn đề châu Phi, đến khu vực này. Cuối cùng chính quyền Clinton đã làm môi giới trung gian cho một thỏa thuận hòa bình. Giờ đây, tôi chỉ có thể hy vọng rằng tiềm năng phát triển một tương lai tốt đẹp hơn, mà tôi đã nhìn thấy - thể hiện qua bắp rang và điệu múa - sẽ trở thành hiện thực cho cả hai quốc gia.
Khi Chelsea và tôi trở về từ châu Phi, Bill cũng vui lây với cuộc hành trình của chúng tôi. Cuộc gặp thượng đỉnh giữa anh ấy và Yeltsin đã thành công tốt đẹp nhưng không nào thích thú và rực rỡ như chuyến đi của chúng tôi. Chân của Bill đã lành, nhưng anh vẫn còn đi tập tễnh quanh Nhà Trắng bằng nạng. Sự chống đối của Đảng Cộng hòa không cho phép anh vắng mặt ngay cả khi bị thương tật. Một tháng trước đó, vào tháng 2 năm 1997, sự nghiệp công tố viên của Kenneth Starr chuyển sang một hướng rẽ kỳ lạ khi ông ta tuyên bố sẽ từ chức luật sư độc lập để đảm nhận vị trí trưởng khoa Luật tại Trường Đại học Pepperdine, kiêm hiệu trưởng một trường mới về chính sách công của đại học này. Thế nhưng chiến lược thoát hiểm của Starr nhận được những phản ứng ngược khi những nhà phê bình cánh hữu nguyền rủa ông đã từ bỏ cuộc điều tra trước khi tìm thấy một chứng cứ gì có liên quan đến chúng tôi. Cùng lúc đó, một vài người trong giới báo chí nhận được một nguồn tin về mối liên hệ của vị luật sư độc lập "lẽ ra là công tâm" này với một trong số những người ủng hộ Đảng Cộng hòa. Mọi chuyện hóa ra là chức trưởng khoa của Starr là một món quà hào phóng từ Richard Mellon Scaife, một thành viên hội đồng quản trị của trường đại học. Trong nhiều ngày sau đó, Starr đã phải đầu hàng trước sức ép của công luận và từ bỏ ý định nhận chức vị ấy. Để biện hộ cho mình, ông ta tuyên bố sẽ tiếp tục đảm nhiệm vai trò luật sư độc lập cho đến khi nào công việc của mình hoàn tất.
Tôi không biết liệu tình hình của chúng tôi sẽ tốt hơn nếu có hay không có Starr. Nhưng một hậu quả trước mắt của việc Starr ở lại OIC là ông ta sẽ làm mọi cách để tìm kiếm bất kỳ lý do nào nhằm biện hộ cho cuộc điều tra vẫn đang tiếp diễn. David Kendall, người thường trực theo dõi tin tức liên quan đến vụ Whitewater, nhận thấy càng ngày càng có nhiều bài báo xuất phát từ văn phòng của Starr. Báo chí tường thuật rằng các điều tra viên OIC đang tái thăm viếng "các nguồn" ở Arkansas, như là các toán quân vệ sĩ, nhằm thăm dò cuộc sống riêng tư của Tổng thống. Trong khi đó, Jim McDougal đã thông đồng với các ủy viên công tố hòng giảm nhẹ lời cáo buộc. Ông sẵn sàng tham dự các buổi phỏng vấn, thay đổi câu chuyện của mình, tiếp tục lôi kéo tôi và Bill vào âm mưu của ông ta. Người vợ trước của ông ta, Susan, đang chịu cảnh ngồi tù vì đã từ chối cung khai trước đại bồi thẩm đoàn vụ Whitewater, mà theo ý bà đó là một cái bẫy nhằm kết tội bà đã khai man so với sự thật. Những ai tin rằng ủy viên công tố không lạm dụng hệ thống luật hình sự nước Mỹ nên đọc quyển sách của Susan, The Woman Who Wouldn’t Talk : Why I Refused to Testify Against Clintons and What I Learned in Jail. Đó là một bản tường thuật rợn người về sự lạm dụng mà bà đã phải chịu đựng từ phe cánh của Starr và là một lời cảnh tỉnh mọi người rằng việc bảo vệ tự do của chúng ta phụ thuộc vào việc đảm bảo nguyên tắc luật pháp dành cho mọi người.
Các thành viên trong đội ngũ của Starr và chính bản thân Starr dường như đang tiết lộ những lời khai mật trước bồi thẩm đoàn, một điều vốn trái với pháp luật. Trong một bài viết trên tờ The New York Times ngày 1 tháng 6 năm 1997, Starr nghi ngờ tính trung thực của tôi và nói bóng gió đến những lời buộc tội ngăn cản cuộc điều tra. Đối với David Kendall thì đó là giọt nước cuối cùng làm tràn ly, và ông đề nghị một cuộc phản công. Ông viết một lá thư, mà Bill và tôi cùng chấp nhận, kết tội Starr về một chiến dịch "tiết lộ và bôi nhọ" trên báo chí. Ba cựu ủy viên công tố đặc biệt, trong đó có một đảng viên Cộng hòa bảo thủ và là cựu chưởng lý Mỹ, đã công khai đồng ý với Kendall rằng việc làm của OIC là quá đáng. Thế nhưng cuộc chiến trên những phương tiện truyền thông vẫn tiếp tục.
Trong khi đó, vụ quấy rối tình dục Paula Jones dấy lên trở lại. Hồi tháng 1, Bob Bennett, luật sư của Bill trong vụ Jones, đã tranh cãi trước Tòa án Tối cao nước Mỹ rằng một Tổng thống không nên bị đè nặng bởi những vụ kiện cáo dân sự mang tính bào chữa khi tại nhiệm. Quan điểm của Bennett là nếu điều này được cho phép, bất kỳ Tổng thống nào cũng có thể bị trói buộ các vụ việc tranh chấp kiện tụng do những kẻ thù chính trị gây nên hoặc từ những kẻ muốn tìm kiếm sự nổi danh, và điều đó có thể hủy hoại khả năng điều hành công việc của người lãnh đạo. Nhưng vào ngày 27 tháng 5 năm 1997, tất cả 9 thẩm phán nhất trí rằng đặc quyền của một vị Tổng thống không liên quan đến các điều luật dân sự, và vụ việc Jones và Clinton có thể xúc tiến. Tôi nghĩ đó quả là một quyết định kinh khủng và là một lời mời gợi ý cho những đối thủ chính trị đi kiện cáo bất kỳ vị Tổng thống nào.
Chelsea quyết định chọn học ở Stanford, cách nhà 3 ngàn dặm và tôi nghĩ đến ngày con tốt nghiệp trung học rồi xa nhà lên đại học mà đau lòng. Tôi đã cố không để lộ cảm giác buồn bã khi sắp phải xa con, vì ngại mình sẽ có thể làm hỏng giây phút đặc biệt này trong đời nó. Tôi tự an ủi mình bằng cách dành cho con thật nhiều thời gian và tôi ái ngại cho những người mẹ khác đang phải chịu đựng nỗi lo lắng vì sự chia cắt sắp xảy đến trong suốt một tháng cao điểm chuẩn bị đón phong tục truyền thống của Trường Sidwell Friends: tiết mục trình diễn Mẹ và Con gái. Mẹ của những cô con gái học Trường Sidwell được khuyến khích tham gia vào một vở hài kịch buổi tối có nội dung chế giễu nhẹ nhàng các cô cậu học sinh tốt nghiệp. Tôi gia nhập nhóm với vài bà mẹ của các bạn Chelsea và trình diễn những vở kịch ngắn trào phúng trong đó chúng tôi đóng vai các cô con gái của mình. Vai của tôi có liên quan đến rất nhiều tư thế xoay người trên mũi chân giống như một nữ diễn viên ba lê và tán gẫu trên điện thoại về những kế hoạch đi chơi ngoài trời. Cảnh mở màn yêu cầu chúng tôi phải trùm những tấm trải trông giống như những cái áo choàng rộng thời La Mã và hát bài I Believe I Can Fly. Tôi diễn xuất không kém các bạn diễn của mình nhưng may mắn thay cho Chelsea, giọng của tôi bị lấn át bởi những bà mẹ khác trong suốt màn trình diễn nhạc khai mạc này.
Buổi lễ tốt nghiệp ở Trường Sidwell năm 1997 cũng giống như hầu hết các trường khác, trừđiều: Tổng thống nước Mỹ là người đọc diễn văn khai mạc. Anh ấy khiến tôi phải rơi nước mắt khi mong muốn những học sinh tốt nghiệp nhận ra rằng cha mẹ của các em có thể "hơi buồn hoặc hành xử đôi chút lạ thường. Các em thấy đó, hôm nay chúng ta nhớ lại ngày đầu tiên các em đi học và tất cả những thành tích cùng những vất vả khó nhọc từ đó đến nay. Mặc dù chúng ta ca ngợi các em trong khoảnh khắc khởi đầu này và rất tự hào về các em, vẫn có những bậc làm cha mẹ như chúng tôi mong được ôm lấy các em một lần nữa như khi các em vừa biết đi, hay đọc cho các em nghe thêm chỉ một câu chuyện nữa, Good Night, Moon, Curious George hay The Little Engine That Could”. Sau buổi lễ, toàn bộ nhân viên Nhà Trắng đã tụ tập tại Phòng Đông để chúc mừng Chelsea. Mỗi người dùng một miếng bánh Roland Mesnier dành cho dịp lễ tốt nghiệp truyền thống được làm theo hình một quyển sách rất đúng ý nghĩa. Những người này đã gặp Chelsea lần đầu tiên khi cháu còn là một đứa bé mặc quần yếm, đã theo dõi cũng như giúp đỡ cháu trưởng thành và trở nên một thiếu nữ tuyệt vời.