Ngày 4 tháng 7 mùa hè năm 1996, lần đầu tiên tôi đánh bạo đến thăm Trung và Đông Âu, khi nền dân chủ non trẻ đã được xây dựng ở những đất nước này. Nhưng theo tôi thấy, chấp nhận những giá trị của nền dân chủ chỉ là bước khởi đầu. Xây dựng một chính phủ dân chủ có khả năng hoạt động, tạo thị trường tự do, thiết lập xã hội dân sự đhỏi phải có thời gian, nỗ lực và kiên nhẫn cũng như sự giúp đỡ và đầu tư về tài chính, huấn luyện kỹ thuật và sự ủng hộ tinh thần từ những quốc gia như nước Mỹ.
Bill ủng hộ việc mở rộng NATO từ Đại Tây Dương sang phía Đông bao gồm những nước thuộc Hiệp ước Warsaw như là một phần trong nội dung chính sách đối ngoại của anh và tin tưởng điều này là thiết yếu để tăng cường hơn mối quan hệ lâu dài với châu Âu và tiến tới hòa hợp châu Âu. Có một sự chống đối mạnh mẽ đối với việc mở rộng NATO ngay từ trong nước Mỹ và cả nước Nga, quốc gia không muốn nhìn thấy NATO tại biên giới của họ. Thách thức dành cho Bill và đội ngũ của anh là phải quyết định những quốc gia nào đã đủ tư cách gia nhập NATO, đồng thời phải giữ cánh cửa mở rộng cho những quốc gia ở Đông và Trung Âu muốn gia nhập NATO trong tương lai bằng cách đảm bảo sự ủng hộ liên tục của nước Mỹ. Tôi được yêu cầu đại diện Bill thăm viếng một khu vực mà anh cho rằng đang rất cần sự động viên cũng như sự bày tỏ tình đoàn kết từ phía Mỹ.
Trong một phần của chuyến đi, tôi đã được Đại sứ Mỹ tại Liên hiệp quốc và sau này là Bộ trưởng Ngoại giao, Madeline Albright, tháp tùng. Gia đình bà đã chạy trốn khỏi chủ nghĩa phát xít trên chính quê hương Cộng hòa Tiệp Khắc của mình và chỉ quay lại sau chiến tranh, nhưng sau đó một lần nữa họ lại ra đi khi chủ nghĩa cộng sản chiếm lĩnh đất nước này. Cuối cùng, họ đã định cư ở Hoa Kỳ. Bản thân Madeline chính là một biểu tượng của những cơ hội và hứa hẹn mà chế độ dân chủ có thể mang lại.
Chuyến đi của tôi bắt đầu từ Bucharest, Rumani, nơi đã từng là một trong những thủ đô đẹp nhất châu Âu. Bucharest từng được so sánh với Paris vào đầu thế kỷ 20, nhưng giờ đây, nó đã mất đi vẻ thanh lịch và rực rỡ huyg. Tôi còn thấy phảng phất những dấu vết sót lại của một kỷ nguyên huy hoàng trong những tòa nhà hầu như không được chăm chút từ cuối thế kỷ trước, trên những đại lộ rộng lớn đã từng trải qua một thời sầm uất với nhiều quán cà phê. Giờ đây, kiến trúc chính của thành phố là kiểu kiến trúc chủ nghĩa hiện thực Xã hội Chủ nghĩa theo kiểu Xô viết, hiện hữu ngay cả trong những bộ khung của những tòa nhà khổng lồ mà chẳng bao giờ được hoàn tất.
Không ai có thể đo lường được những nỗi sợ hãi mà người Rumani phải gánh chịu trước khi triều đại Nicolae Ceaucescu bị lật đổ. Cùng với vợ, ông ta đã khủng bố quốc gia này trong nhiều năm cho đến khi bị phế truất và hành quyết vào ngày 25 tháng 12 năm 1989. Điểm dừng chân đầu tiên của tôi là Quảng trường Cách Mạng, tôi đã đặt vòng hoa ở tượng đài tưởng nhớ những nạn nhân của cuộc nổi dậy lật đổ gia đình Ceaucescu. Tôi đã gặp gỡ những đại diện của Hiệp hội 21 tháng 12, được đặt tên theo ngày đầu tiên của cuộc nổi dậy, những người này đã kể về lịch sử cuộc cách mạng của họ. Một đám đông khoảng ba ngàn người Rumani tụ họp để chào đón tôi ở quảng trường chính của thành phố. Đó là một nơi tuyệt đẹp nhưng dường như đã bị phá hỏng bởi nhiều vết đạn trên các bức tường của những tòa nhà xung quanh. Tôi thật ngạc nhiên với những con chó thả rong đang gầm gừ trên đường phố - một cảnh tượng tôi chưa từng thấy ở bất kỳ thành phố nào khác - và tôi đã hỏi người hướng dẫn: "Chúng ở khắp nơi", anh ta nói, "Người ta không có khả năng nuôi chúng, cũng không có nơi để nhốt chúng lại". Những con chó này thật sự là một dấu hiệu của sự bỏ mặc quá tệ hại ở Rumani.
Trong số những di sản khủng khiếp nhất mà chế độ Ceaucescu để lại nơi đây là số lượng khổng lồ trẻ em bị AIDS. Ceaucescu đã cấm việc kiểm soát sinh sản và nạo phá thai, ông ta yêu cầungười phụ nữ sinh thật nhiều con vì đất nước. Những người phụ nữ kể với tôi, mỗi tháng một lần từ chỗ làm, họ bị chở đi để được các bác sĩ của chính phủ khám, nhiệm vụ của các bác sĩ là đảm bảo những người phụ nữ không sử dụng các biện pháp tránh thai hay nạo phá thai. Một phụ nữ được xác định có thai đã bị theo dõi suốt cho đến khi bà ta sinh em bé. Tôi không thể tưởng tượng có một sự xúc phạm nhân phẩm nào tệ hại hơn nữa: những phụ nữ trần truồng xếp hàng dài trong khi chờ đợi những viên chức y tế khám dưới sự giám sát của cảnh sát. Trong các cuộc tranh luận về nạo phá thai ở nước Mỹ, khi bảo vệ quan điểm ủng hộ quyền tự quyết, tôi hay dẫn chứng đến nước Rumani, nơi mà thai nghén do chính phủ kiểm soát và Trung Quốc, nơi mà thai nghén có thể bị buộc phải phá đi. Một lý do mà tôi tiếp tục chống đối việc tội phạm hóa hành vi phá thai là vì tôi không tin bất kỳ một quốc gia nào lại có quyền thông qua luật và cảnh sát để lấy đi một trong những quyền quyết định có tính chất riêng tư nhất của người phụ nữ. Ở Rumani cũng như những nơi khác, nhiều trẻ em đã được sinh ra ngoài ý muốn hay sinh ra trong những gia đình không có khả năng chăm sóc chúng. Lập tức, chúng trở thành người được chính phủ bảo trợ, bị đưa vào những trại trẻ mồ côi. Do bọn trẻ thường. xuyên bi bệnh và suy dinh dưỡng nên chúng được chưa trị bằng cách truyền máu, mà Ceaucescu cho áp dụng như là một chính sách của chính phủ. Khi nguồn cung cấp máu của Rumani bị nhiễm virus AIDS, đất nước này gặp phải một tai họa về AIDS ở trẻ em. Ở một trại mồ côi, tôi cùng với các nhân viên của mình chứng kiến những đứa trẻ bị AIDS, vài đứa trên người đầy những u bướu, những đứa khác trông tiều tụy vì AIDS đang tàn phá cơ thể nhỏ bé của chúng. Trong khi các nhân viên của tôi lui vào một góc của tòa nhà, khóc nức nở, tôi đã cố kềm nước mắt vì biết rằng nếu không giữ được điềm tĩnh, mình sẽ làm cho những đứa trẻ và những người đang chăm sóc cho chúng càng cảm thấy vô vọng hơnới sự giúp đỡ từ nước ngoài, Chính phủ mới của Rumani đã làm việc không mệt mỏi nhằm cải thiện việc chăm sóc sức khỏe của trẻ em và cho phép các gia đình nước ngoài được nhận con nuôi. Tuy nhiên hệ thống nhận con nuôi lại bị rơi vào tình trạng tham nhũng. Có những cáo buộc về việc trẻ em ở đất nước này được bán cho những người trả giá cao nhất, dẫn đến việc cấm nhận con nuôi quốc tế vào năm 2001 sau khi Liên minh. châu Âu chỉ trích những thực tế ở Rumani. Còn nhiều việc mà đất nước này cần phải làm để quét sạch tệ tham nhũng và hiện đại hóa hệ thống an sinh cho trẻ em. Nhưng từ chuyến viếng thăm của tôi, Rumani đã trở thành một thành viên mới của cả NATO lẫn Liên minh châu Âu vì có những tiến bộ thật ấn tượng để bắt kịp các nước khác.
Vào thời điểm năm 1996, Ba Lan đã có những tiến bộ vượt bậc về kinh tế và chính trị. Tổng thống Aleksander Kwasniewski nói tiếng Anh thật trôi chảy và đã từng du lịch khắp nước Mỹ trước khi bước vào chính trường với vai trò là thành viên Đảng Cộng sản Ba Lan. Bắt đầu nhiệm kỳ vào năm 1995 ở tuổi 41, ông đại diện cho thế hệ lãnh đạo mới trái ngược so với Lech Walesa, Tổng thống được bầu cử lần đầu tiên ở Ba Lan, nhà lãnh đạo anh hùng trong những cuộc đình công của Công đoàn Đoàn Kết tại Xưởng tàu Lenin ở Gdansk năm 1980. Công đoàn Đoàn Kết là phương tiện để lật đổ chủ nghĩa cộng sản ở Ba Lan và Walesa, người đoạt giải Nobel Hòa bình năm 1983, đã làm Tổng thống trong thời gian tôi và Bill thăm Warsaw năm 1994. Tại buổi ăn tối cấp chính phủ mà ông cùng với vợ - bà Danuta - tiếp đãi chúng tôi, đã có một cuộc tranh luận sôi nổi giữa Walesa, người ủng hộ những bước đổi mới kinh tế thần tốc, và một người đại diện nông dân, người biện luận cho những thay đổi từ tốn với biện pháp bảo hộ nền kinh tế tốt hơn. Nhiều quyết định kinh tế cứng rắn ở Ba Lan, vốn là chuyện không tránh được khi chuyển từ một nền kinh tế do nhà nước quản lý sang thị trường tự do, đã được hành theo tầm nhìn của Walesa. Đảng của ông đã thất bại trong lần bầu cử tiếp theo vào năm 1995 và Kwasniewski thay thế ông. Kwasniewski là người đã thành công trong việc mở rộng nền tảng hậu cộng sản trong toàn đảng bao gồm cả những người trẻ.
Jolanta Kwasniewska, phu nhân của tân Tổng thống, cùng đi với tôi đến Krakow, nơi được tôn vinh là một trong những thành phố thời trung cổ được bảo tồn tốt nhất ở châu Âu, với những tòa tháp Gô-tích và các ngọn tháp màu xám. Bà ấy và tôi đều có một cô con gái duy nhất, do đó chúng tôi nói chuyện với nhau rất ăn ý, về những khó khăn cũng như những niềm vui trong việc nuôi dạy con. Chúng tôi cùng đến viếng thăm hai nhà trí thức mà những người cộng sản đã đặt tên "những kẻ chống đối" - Jerzy Turowicz và Czeslaw Milosz. Turowicz đã xuất bản một tờ tuần báo Thiên Chúa giáo trong suốt 50 năm mặc cho những áp lực từ phía chính quyền Ba Lan muốn đóng cửa tờ báo. Milosz, người đoạt giải Nobel Văn học năm 1980 cho một số tác phẩm bao gồm The Seizure of Power và The Captive Mind, đã cổ xúy cho việc tự do ngôn luận và tự do suy nghĩ. Lòng can đảm và niềm tin của hai con người phi thường này đã tiếp thêm sức mạnh cho những người chống đối cùng tư tưởng trên toàn thế giới hàng chục năm qua. Dường như họ rất khát khao được thể hiện rõ tính cách chính nghĩa của mình.
Không thể có một bằng chứng nào khủng khiếp hơn về cái ác bằng những trại tập trung của phát xít ở Auschwitz và Birkenau. Những thước phim tư liệu, những đoạn phim về các tòa nhà gạch ảm đạm ở Auschwitz và những đoạn đường ray xe lửa lặng câm chạy dài ở Birkenau không thể diễn tả được hết những nỗi kinh hoàng thật sự mà ta có thể cảm nhận khi đến chốn này. Chính tại đây, những người Do Thái, người Ba Lan, người Gipsy và những người từ các nước khác nữa đã bị bọn phát xít giết hại. Tôi đã xem căn phòng chất đầy quần áo trẻ con, kính đeo mắt, giày, răng giả và tóc - không gian thật im lặng nhưng bốc đầy mùi tàn bạo củabọn phát xít. Tôi cảm thấy như bị tê liệt và buồn nôn khi nghĩ đến hàng triệu con người bị đánh cắp tương lai một cách tàn nhẫn. Khi chúng tôi đứng tại đường ray xe lửa dẫn đến những phòng hơi ngạt, hướng dẫn viên cho biết bọn phát xít đã cho nổ mìn lò hỏa thiêu để phá hủy những chứng cớ tội ác của chúng, khi quân đội Đồng minh đến giải phóng Ba Lan.
Năm lên 10, tôi nhớ bố đã dắt tôi đến một quán ăn bên đường ở bờ sông Susquehanna gần căn nhà vùng quê của ông nội tôi ở hồ Winola. Khi người phục vụ quầy rượu nói chuyện với bố, tôi để ý thấy cổ tay của ông ta có những vết xăm các con số. Sau, tôi hỏi bố về những con số đó, bố giải thích rằng người đàn ông ấy đã từng là tù nhân chiến tranh của bọn phát xít. Tôi muốn bố kể thêm và bố bảo bọn phát xít xăm những con số lên cánh tay của hàng triệu người Do Thái và giết họ trong những phòng hơi ngạt hay bắt làm nô lệ trong các trại tập trung. Tôi biết chồng sau của bà ngoại Della của tôi, ông Max Rosenberg là người Do Thái. Tôi cảm thấy thật kinh khủng vì những người giống như ông có thể bị sát hại chỉ vì tôn giáo của họ. Nhận biết sự tồn tại của những cái ác như vậy từ một khoảng cách xa xôi đã là điều khó, nhưng tại chặng dừng chân kế tiếp ở Warsaw, tôi sẽ gặp gỡ những người mà bản thân họ đã trực tiếp trải qua thử thách kinh khủng đó.
Trong phòng đợi của Trung tâm Cộng đồng Do Thái của Tổ chức Ronald S. Lauder, tôi đã gặp gỡ với 20 người mà họ chỉ biết được mình là người Do Thái trong những năm gần đây. Một người đàn ông 50 tuổi được mẹ nuôi kể lại rằng cha mẹ ruột của ông đã trao ông cho bà để tránh nạn tàn sát người Do Thái vào thời Hitler. Một cô bé được ba mẹ cho biết ông bà ngoại của cô đã phải giả dạng không phải là người Do Thái để tránh bị chuyển vào các trại tập trung. Giờ đây, bé gái đó đã là một người phụ nữ và chắc hẳn cô phải quyết định mình là ai. Khi trở lại Ba Lan vào tháng 10 năm 1999, tôi đã ghé thăm Trung tâm trong buổi lễ công nhận sự tái lập đạo Do Thái ở Ba Lan. Sau khi báo chí Ba Lan viết về bài phát biểu của tôi, tổ chức đã nhận được rất nhiều cuộc gọi và thư từ của những người Ba Lan gốc Do Thái sống ở miền quê. Họ nói rằng họ nghĩ mình là những người Do Thái duy nhất mãi cho đến khi họ đọc được bài báo về chuyến viếng thăm của tôi. Khi xã hội đang đối mặt với sự nghiệt ngã của lịch sử thì nhiều cá nhân cũng phải cùng chung số phận.
Thực tế thì Madeleine Albright cũng có cùng một trải nghiệm. Madeleine không hề biết rằng cha mẹ mình là người Do Thái mãi đến khi trưởng thành. Bà được nuôi dạy theo đạo Thiên Chúa nhưng sau này - thông qua một nhà báo viết về tiểu sử của bà - Madeleine mới biết được ba người trong số ông bà nội ngoại của mình đã bị giết trong các trại tập trung của phát xít. Gia đình bà di tản từ Tiệp Khắc sang Anh rồi cuối cùng là Denver. Madeleine đã học trung học tại đây trước khi vào Đại học ở Wellesley. Mặc dù bị bất ngờ về nguồn gốc Do Thái của mình, Madeleine nói với tôi rằng bà hiểu cha mẹ mình đã phải đau lòng như thế nào khi phải chối bỏ nguồn cội nhằm bảo vệ con cái.
Madeleine và tôi đã gặp Tổng thống Vaclav Havel, một nhà soạn kịch đồng thời là nhà hoạt động nhân quyền, ông đã phải ngồi tù nhiều năm vì những hoạt động chống đối chính quyền. Sau cuộc Cách mạng Nhung năm 1989, Tiệp Khắc đã biến thành một đất nước dân chủ một cách hòa bình, Havel trở thành vị Tổng thống thứ nhất của đất nước. Ba năm sau, khi Tiệp Khắc tách làm hai quốc gia - Slovakia và Cộng hòa Czech - ông được bầu làm Tổng thống của nước Cộng hòa Czech non trẻ.
Tôi gặp Havel lần đầu tiên ở Washington tại Bảo tàng về Nạn diệt chủng Do Thái vào năm 1993. Ông là một người bạn lớn của à đã trải qua những năm tháng tuổi thơ ở Praha và nói tiếng Tiệp trôi chảy. Vào thời điểm đó, tuy đã là một thần tượng tầm cỡ quốc tế nhưng Havel vẫn có vẻ gì đó hơi ngượng ngùng, tuy vậy ông rất có tài hùng biện, vui tính và rất duyên dáng. Tôi cảm thấy ông thật cuốn hút. Ông và Bill rất hợp nhau vì có cùng sở thích âm nhạc. Trong chuyến viếng thăm Praha lần đầu tiên của Bill năm 1994, Havel đã tặng Bill một cây kèn saxophone, khi họ đến một câu lạc bộ nhạc jazz, nơi đây đã từng là trung tâm của cuộc Cách mạng Nhung. Havel nài nỉ Bill chơi với ban nhạc và đánh trống phụ họa cho ông! Những bài mà Bill biểu diễn như Summertime và My Funny Valentine cùng với những bài hát khác mà họ cùng biểu diễn đã được thu thành một đĩa nhạc rất được ưa chuộng ở Praha.
Havel đã mời Madeleine và tôi đến dùng bữa tối tại nhà riêng cho thân mật thay vì ăn tối ở nhà ăn chính thức của Tổng thống tại Lâu đài Praha, có lẽ vì ông mới vừa góa vợ trong những năm gần đây. Khi xe hơi của tôi dừng lại, ông ấy đang đợi ở lối đi với một bó hoa trên tay và một món quà nhỏ, đó là một băng-đô bằng nhôm được một trong số những người bạn họa sĩ của ông chạm khắc.
Sau bữa ăn tối thật vui vẻ, Havel dắt chúng tôi đi dạo quanh thành phố cổ và đi qua cây cầu Charles nổi tiếng, một điểm tham quan được các nhạc sĩ, du khách và những người trẻ tuổi ưa thích. Trong suốt những năm làm người chống đối chính quyền, cây cầu này là nơi mà ông và mọi người đến để chơi nhạc, trao đổi những băng đĩa nhạc mua được từ chợ đen; và đây cũng là nơi mà họ có thể trao đổi thông tin mà không bị chính quyền phát hiện. Năm 1977, Havel đã dẫn đầu những người biểu tình phản đối việc bắt giữ và xét xử ban nhạc rock Tiệp Khắc Những Con Người Bằng Nhựa của Vũ Trụ được đặt tên theo lời bài hát của Frank Zappa. Đã từng ký tên vào bản tuyên ngôn nhân quyền, được gọi là Hiến chương 77 và từng bị đi l động khổ sai vì tội "lật đổ chính quyền", ông đã phải nhờ vào văn chương và tư tưởng để giúp mình đứng vững. Trong thời gian ở tù, ông đã viết một tập thư cho người vợ sau này của mình, bà Olga, mà bây giờ nó đã trở thành tác phẩm kinh điển cho văn chương chống chế độ.
Havel, một triết gia về chính trị đồng thời là một nhà soạn kịch, cho rằng toàn cầu hóa thường làm tăng thêm sự đối nghịch giữa các sắc tộc và các quốc giaViệc thống nhất mọi người trong một nền văn hóa toàn cầu chung, một nền văn hóa đại chúng mà ở đó mọi người đều mặc những chiếc quần jeans giống nhau, ăn một thứ thức ăn nhanh như nhau và nghe một thứ âm nhạc, không hẳn sẽ làm mọi người gần gũi nhau hơn. Mà ngược lại ông tin rằng, nó sẽ làm cho họ cảm thấy bất an hơn về bản ngã và kết quả là sẽ dẫn đến những nỗ lực cực đoan - như trào lưu tôn giáo chính thống, bạo lực, khủng bố, thanh trừng sắc tộc và thậm chí cả tội ác diệt chủng - nhằm để giữ gìn và khắng định bản sắc riêng. Lý thuyết của Havel đặc biệt phù hợp với những nền dân chủ non trẻ ở Trung và Đông Âu, nơi mà những căng thẳng của chủ nghĩa dân tộc và sự bất khoan dung bắt đầu nở rộ, đặc biệt ở những nơi như Nam Tư và Liên bang Xô viết cũ.
Havel đã thành công trong việc tranh thủ hậu thuẫn của Bill và những nhà lãnh đạo khác của Mỹ đề dời tổng hành dinh của Đài Phát thanh Tự do châu Âu (RFE) từ Berlin sang Praha. Trong suốt thời gian chiến ranh lạnh, chính phủ Mỹ đã tài trợ Đài Phát thanh này nhằm thách thức tổ chức tuyên truyền của cộng sản. Havel cho rằng sau chiến tranh lạnh, châu Âu không còn bị Bức Tường Sắt ngăn chia, cho nên RFE phải có vai trò mới: quảng bá nền dân chủ. Cả Bill lẫn Quốc hội Mỹ đều đồng tình với lý luận của Havel. Năm 1994, Mỹ đã chấp thuận dời RFE sang Praha và đặt trong tòa nhà Quốc hội cũ với kiến trúc kiểu Xô viết tại một góc của Quảng trường Wenceslas lịch sử. Havel thật sự là ngất giỏi về chủ nghĩa biểu trưng chính trị.
Ngày 4 tháng 7, tôi đã nói chuyện trên RFE - một thông điệp về Ngày Độc Lập được phát thanh cho 25 triệu người nghe ở Trung và Đông Âu và những nước vừa giành độc lập. Tôi ca ngợi vai trò mà RFE thực hiện trước cuộc cách mạng, khi mà nhiều người Czech đã hướng radio của họ đến cửa sổ để nhận tín hiệu từ RFE và bắt những chương trình phát thanh từ Tây Âu. Lấy cảm hứng từ những lời cảnh báo của Havel về mặt trái của toàn cầu hóa và sự đồng nhất văn hóa, tôi kêu gọi "một liên minh các giá trị dân chủ nhằm giúp các dân tộc đương đầu với những "vấn đề không thể tránh khỏi của thế kỷ 21" , như cân bằng giữa quyền lợi cá nhân và cộng đồng, nuôi dạy con cái giữa áp lực của phương tiện truyền thông đại chúng và văn hóa tiêu dùng, giữa giữ gìn bản sắc và tự hào dân tộc trong quá trình hợp tác trong khu vực và toàn cầu.
Tôi cho rằng chế độ dân chủ vẫn đang trong quá trình phát triển, ngay như nền dân chủ của nước Mỹ đã hình thành trên hai thế kỷ nhưng vẫn chưa thật sự hoàn hảo. Xây dựng và gìn giữ một xã hội tự do cũng giống như tạo dựng một dụng cụ có ba chân : chân thứ nhất là chính phủ dân chủ , chân thứ hai là một nền kinh tế tự do và chân thứ ba là một xã hội văn minh - những tổ chức dân sự, những thể chế tôn giáo, những lực lượng tình nguyện, những tổ chức phi chính phủ và những hoạt động công dân của từng cá nhân, tất cả cùng dệt nên cơ cấu của cuộc sống dân chủ. Ở những quốc gia vừa mới tự do, để có thể khắc vào tâm trí của người dân và cuộc sống hàng ngày của họ những giá trị dân chủ thì vai trò của một xã hội vì dân cũng không kém phần quan trọng so với sự tự do bầu cử và tự do kinh doanh.
Tôi đã kết thúc bài nói của mình bằng một câu chuyện mà Madeleine đã kể cho tôi về chuyến đi xuyên miền tây Cng hòa Czech vào năm 1995 để kỷ niệm lần thứ năm mươi Thế chiến thứ hai kết thúc. Ở mỗi thành phố mà bà viếng thăm, người dân Czech đã vẫy chào bằng những lá cờ Mỹ với 48 ngôi sao. Những người lính Mỹ đã để lại những lá cờ này từ nửa thế kỷ trước, và những người dân Czech đã giữ gìn chúng trong suốt những năm qua, như thể họ đã giữ niềm tin vào tự do mà cuối cùng đã trở thành hiện thực.
Tôi thật sự hạnh phúc được cùng làm việc với Madeleine sau chuyến đi đến Hội nghị phụ nữ Liên hiệp quốc tại Trung Quốc năm 1995. Bà ấy và tôi cùng quyết định tiếp tục thực hiện những gì đã đạt được ở Bắc Kinh, tiếp tục ủng hộ tầm quan trọng của những vấn đề phụ nữ và phát triển xã hội trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Sau khi bà trở thành Bộ trưởng Ngoại giao, chúng tôi thường xuyên dùng bữa trưa tại văn phòng riêng của bà tại tầng 7 của Tòa nhà Bộ Ngoại giao cùng với các cố vấn của bà là Elaine Shocas và Melanne. Dần dà, chúng tôi đã thay đổi được chính kiến của một số người và giúp thay đổi nội dung của chính sách đối ngoại, sao cho nó phản ánh đúng những giá trị dân chủ về bình đẳng của đất nước.
Madeleine và tôi đã trở thành đồng minh vì chứng tôi có cùng quan điểm và trải nghiệm , bao gồm cả việc học tại Trường Đại học Wellesley. Chúng tôi cũng trở thành những người bạn. Trong suốt ba ngày ở Praha, chúng tôi không ngừng trò chuyện suốt chuyến đi trên chiếc thuyền lộng lẫy trên dòng sông Vltava. Khi thuyền chúng tôi đi qua Lâu đài Praha, những chùm pháo hoa mừng ngày 4 tháng 7 đã được đốt lên để tỏ lòng quý trọng đối với chúng tôi. Khi đi bộ quanh Praha, Madeleine giới thiệu với tôi những điểm tham quan và chào những người hâm mộ bằng tiếng Czech.
Tính thực tế và tài xoay xở của Madeleine được thể hiện rõ trong một tình huống của chuyến đi. Trước buổi gặp gỡ với Thủ tướng Václav Klaus, chúng tôi phải bàn bạc với nhau một số thông tin ngoại giao mang tính cơ mật nhưng không tìm được một nơi riêng tư để họp. Bất thình lình, Madeleine nắm cánh tay tôi và kéo về phía cánh cửa.
"Theo tôi", bà ấy nói. Ngay sau đó, chúng tôi đã ở trong một phòng vệ sinh nữ - một địa điểm thật hoàn hảo và độc đáo để hai người phụ nữ có thể nói chuyện riêng.
Madeleine và tôi rời Praha để đi Bratislava, thủ đô của Slovakia và cũng là trụ sở của chính phủ do Thủ tướng Vladimir Meciar đứng đầu, một sự tụt hậu trở về kỷ nguyên của chế độ độc tài. Ông ta muốn đặt các tố chức phi chính phủ ra ngoài vòng pháp luật, xem những tổ chức này như là những mối đe dọa đến sự cai trị của ông ta. Trước khi chúng tôi đến đây, những người đại diện cho các tổ chức phi chính phủ đã hỏi liệu tôi có muốn tham dự một cuộc họp mặt của các tổ chức phi chính phủ được tổ chức vào thời điểm chúng tôi ghé thăm Slovakia nhằm kêu gọi sự chú ý của mọi người về cách đối xử hà khắc của Meciar đối với những tổ chức này, đồng thời tố cáo thái độ thiếu thiện chí của ông ta đối với chế độ dân chủ. Cuộc họp được tổ chức tại Phòng hòa nhạc, nơi biểu diễn chính của dàn nhạc Giao hưởng Slovak. Sự có mặt của tôi đã là nguồn động viên để những người tham dự nói lên sự thật về các vấn đề như quyền của các dân tộc thiểu số, việc phá hủy môi trường và những sai phạm về thủ tục ,bầu cử, cũng như chỉ trích việc chính phủ dự định đẹp bỏ và cấm đoán những hoạt động của họ.
Trong số tất cả những vị nguyên thủ trên thế giới mà tôi đã từng gặp gỡ thân mật, tôi chỉ bực mình về cách cư xử của hai người. Một là Robert Mugabe ở Zimbabwe - ông ta không ngừng cười một cách vô duyên trong khi vợ của ông ta đang nói chuyện. Và hai là Meciar, người mà tôi gặp vào buổi xế chiều hôm đó ở Văn phòng. Ông ta là một cựu vận động viên quyền Anh. Ông ta ngồi ở một đầu của chiếc trường kỷ nhỏ, còn tôi ngồi đầu còn lại. Tôi nói với Meciar rằng tôi có ấn tượng tốt đối với những tổ chức phi chính phủ tại buổi họp ở Phòng hòa nhạc, cũng như những việc quan trọng mà họ đang làm. Lập tức ông chồm về phía tôi, với giọng đe dọa, liên tục siết chặt nắm tay, nguyền rủa về sự tráo trở và sự thách thức giả dối của họ đối với chính phủ. Cuối buổi họp, tôi bị ông ta lấn sát về phía cuối trường kỷ, tôi thật sự khủng hoảng trước thái độ côn đồ của ông ta và tôi gần như không thể kiểm soát nổi cơn tức giận. Tháng 9 năm 1998, người dân Slovakia đã bỏ phiếu bất tín nhiệm ông, đó là nhờ vào nỗ lực đáng kể của những tổ chức phi chính phủ trong việc vận động các cử tri bỏ phiếu ủng hộ sự đổi mới.
Tất cả những quốc gia mà tôi viếng thăm đều muốn bàn luận về khả năng gia nhập NATO của họ. Ở Hungary, tôi đã bàn luận về những triển vọng gia nhập NATO của đất nước này trong cuộc gặp gỡ thân mật với Thủ tướng Gyula Horn. Vì bản thân tôi rất ủng hộ việc phát triển của NATO, nên tôi luôn cố động viên ông. Tôi cũng gặp gỡ Tổng thống Hungary Árpad Goncz, một nhân vật anh hùng, nổi tiếng vì đã chống lại cộng sản và phát xít. Cũng là một nhà biên kịch như Havel, ông ấy được người dân Hungary bầu làm Tổng thống đầu tiên khi đất nước chuyển sang chế độ dân chủ. Khi Goncz tiếp tôi tại dinh Tổng thống, một ngôi nhà rất rộng lớn, ông đã thú nhận rằng mình không biết phải làm gì với tất cả các phòng. "Chỉ có tôi và vợ tôi", ông ấy nói, "Chúng tôi chỉ dùng một phòng ngủ. Có lẽ chúng tôi nên mời nhiều người đến đây sống !". Goncz có mái tóc bạc trắng và tính cách dí dỏm, trông giống Thánh Nicolas như tạc. Nhưng thái độ của ông trở nên nghiêm nghị khi chúng tôi bàn về vấn đề Balkan, ông lo ngại châu Âu sẽ phải trải qua một cuộc đấu tranh lâu dài về xung đột sắc tộc. Ông đã cảnh báo về nhữngười Hồi giáo cực đoan trong một lời nhận xét mà sau này trở thành lời tiên tri. Những tham vọng bành trướng từng dẫn đế quốc Otroman đến những cánh cổng của Budapest vào thế kỷ mười sáu, một lần nữa lại sục sôi trong tâm trí của những người theo Hồi giáo chính thống, họ không chấp nhận tính đa nguyên thế tục của những nền dân chủ hiện đại, sự tự do tín ngưỡng và quyền tự quyết của phụ nữ.
Người ta thường thắc mắc không biết tôi có được tự do đi lại trong khi viếng thăm các thành phố hay là luôn phải có Sở Mật vụ hộ tống. Đúng là đa phần tôi đi lại với những đoàn xe hộ tống và các nhân viên mật vụ bao quanh. Nhưng ở Budapest, tôi may mắn được phép đi bộ đến Nhà hàng Gundel nổi tiếng để dùng bữa tối trong vườn, nơi có những chiếc đèn lồng thắp sáng lối đi và một người chơi vĩ cầm đang dạo các dạ khúc du dương. Sau đó, tôi có một buổi tối tuyệt vời để đi dạo và tham quan thành phố cổ trong một vài giờ. Cùng với Melanne, Lissa, Kelly và Roshann Parris, một phụ nữ tiến bộ thuộc tầng lớp thượng lưu đến từ thành phố Kansas, chúng tôi cố gắng cải trang thành khách du lịch. Trưởng nhóm mật vụ, Bob McDonough, người duy nhất đi cùng với tôi cũng cải trang như vậy. Tôi đội một cái nón lá, đeo kính mát, mặc một cái áo sơ mi và một cái quần rất bình thường. Chúng tôi khởi hành xuống phố, đi ngang qua các cửa hiệu, những nhà tắm công cộng và đi vào một nhà thờ có kiến trúc Gô-tích hiện đại. Chỉ một bất tiện là chính phủ sở tại yêu cầu "bảo vệ” tôi trong khi tôi đang ở trên đất nước của họ, vì thế hai nhân viên an ninh Hungary - mặc đồ đen, mang đôi giày đế cao và đeo vũ khí - đi xa xa ở phía trước. Chúng tôi đã ở bên ngoài được hơn một giờ đồng hồ thì bị một du khách người Mỹ phát hiện từ phía bên kia đường "Hillary! Chào bà!". Việc cải trang của tôi thế là bị lộ, người ta bắt đầu ngớ ra nhìn, vẫy tay và la hét để chào tôi. Tôi bắt tay và chào họ, rồi tiếp tục đi dạo thêm nhiều giờ nữa.
Sau đó, có một cặp vợ chồng trẻ người Mỹ đến chào tôi và yêu cầu chụp hình chung. Người chồng là một quân nhân, đóng quân ở Bosnia. Anh ta biết tôi đã viếng thăm Bosnia nhiều tháng trước nên rất háo hức kể cho tôi nghe những trải nghiệm của anh ta. "Cho đến thời điểm này thì rất tốt", anh ta nói xã giao theo kiểu cổ điển của người Mỹ. Cuộc gặp gỡ với người lính nồng nhiệt này và vợ anh ta làm tôi nhớ đến nỗi lo sợ của Tổng thống Goncz về một tương lai đầy rẫy những xung đột trên đất nước của ông và tôi tự hỏi không biết điều gì sẽ xảy đến với họ và với tất cả chúng ta.