“Điều gì bạn không học được từ mẹ mình thì sẽ học ở trường đời” là một câu nói mà tôi từng được nghe từ bộ lạc Masai ở Kenya. Trước mùa thu 1960, thế giới của tôi dần dần rộng mở và các cảm nhận chính trị của tôi cũng phát triển. John F. Kennedy đã thắng cử Tổng thống trước sự sững sờ của bố tôi. Ông đã ủng hộ Phó Tổng thống Richard MNixon và thầy dạy tôi môn xã hội học ở lớp tám, ông Kevin, cũng vậy. Thầy Kevin đã đến trường ngay sau ngày bầu cử. Ông chỉ cho chúng tôi những vết bầm tím trên người mà ông nói rằng đã nhận lãnh khi cố gắng chất vấn các hoạt động của các quan sát viên bầu cử trong bộ máy Dân chủ tại khu vực bầu cử của ông tại Chicago. Besty Johnson và tôi đã rất uất ức khi nghe câu chuyện của ông, nó càng củng cố niềm tin của bố tôi là sự gian lận trong việc kiểm phiếu bầu của Thị trưởng Richard J. Daley đã đem về chiến thắng cho Tổng thống Kennedy. Trong suốt khoảng thời gian ăn trưa, chúng tôi đã gọi điện thoại công cộng ngoài căn-tin trường đến văn phòng của Thị trưởng Daley để khiếu nại. Chúng tôi đã được một phụ nữ rất dễ thương tiếp máy và bà ta cam đoan rằng sẽ chuyển thông điệp của chúng tôi đến ngài Thị trưởng.
Một vài ngày sau đó, Besty nghe tin về một nhóm người Cộng hòa kêu gọi tình nguyện viên kiểm tra danh sách cử tri đối thành phố vào 9 giờ sáng thứ Bảy. Besty và tôi đã quyết định tham gia vụ này. Chúng tôi biết là bố mẹ mình không đời nào đồng ý nên đã không xin phép họ. Chúng tôi đi xe buýt xuống trung tâm thành phố, đi bộ tiếp đến khách sạn và được hướng dẫn vào một phòng khiêu vũ nhỏ. Chúng tôi đến bàn thông tin và bảo họ là mình đến đây để giúp đỡ theo lời kêu gọi. Số người tham gia có vẻ ít hơn kỳ vọng. Mỗi người chúng tôi được giao một chồng các danh sách đăng ký cử tri và được phân vào các nhóm khác nhau. Họ đưa chúng tôi đến các địa điểm khác nhau, thả xuống ở đó và báo là sẽ trở lại đón một vài giờ
Besty và tôi tách ra và đi cùng với những người hoàn toàn xa lạ Tôi đi cùng với hai người khác. Họ chở tôi đến vùng South Side, thả tôi xuống xe tại một khu dân cư nghèo và bảo tôi gõ cửa từng nhà dân hỏi tên tuổi để đối chiếu với danh sách đăng ký cử tri nhằm tìm ra chứng cứ gian lận bầu cử. Tôi rất hăng hái, đến mức ngờ nghệch, và không chút sợ sệt. Tôi tìm được một khu nhà trống được liệt kê là địa chỉ của chừng một chục cử tri. Tôi đánh thức nhiều người, khiến họ vội vàng ra mở cửa hoặc quát mắng xua đuổi tôi. Thậm chí tôi đã vào một quán bar có một nhóm người đang chè chén để hỏi xem có người nào trong danh sách của tôi hay không. Đám đàn ông nhìn tôi một cách sửng sốt đến nỗi họ lặng đi trong giây lát khi tôi đưa ra vài câu hỏi. Vừa lúc đó, người phục vụ quầy bar đến và bảo tôi nên quay lại sau vì chủ quán không có mặt.
Sau khi hoàn thành công việc, tôi đứng ở một góc đường đợi xe đến rước. Tôi rất sung sướng là đã truy tìm ra bằng chứng cho chính kiến của bố tôi là "Daley đã gian lận kết quả bầu cử cho Kennedy".
Dĩ nhiên khi về nhà, tôi kể lại ngay với bố tôi đã đi đâu. Ông giận điên lên. Đi một mình xuống trung tâm không có người lớn đi kèm đã là không hay rồi chứ đừng nói chi đến việc dám đến khu South Side. Bố tôi nổi trận lôi đình nói rằng Kennedy sẽ là Tổng thống, cho dù chúng tôi có thích việc này hay không.
Năm học đầu tiên tại trường Trung học Maine East là một cú sốc về văn hóa đối với tôi. Cái trường học bé xíu tiếp nhận đăng ký của năm ngàn học sinh da trắng thuộc đủ thành phần kinh tế, xã hội và sắc tộc. Tôi vẫn còn nhớ cảm giác lần đầu tiên vào lớp chủ nhiệm, phải nép sát tường để tránh cảnh chen lấn xô đẩy của đám học sinh. Tất cả họ trông có vẻ lớn c và trưởng thành hơn tôi. Để chuẩn bị vào trung học, trước đó một tuần tôi đã quyết định để một kiểu tóc có vẻ "người lớn" hơn. Và chính điều đó đã khởi đầu cho một nỗi khổ sở của tôi về mái tóc.
Cho tới lúc đó, tôi vẫn để tóc dài, buộc theo kiểu đuôi gà hoặc cài một dải ruy-băng trên đầu. Khi mẹ và tôi muốn đi làm tóc thì chúng tôi thường đến chỗ người bạn thân của mẹ, cô Amalia Toland, trước đây đã từng là chuyên viên giải phẫu thẩm mỹ. Cô Amalia vừa chuyện trò với mẹ tôi, vừa chăm sóc tóc cho hai mẹ con. Tuy nhiên, tôi muốn đi học trung học với mái tóc tém giống như kiểu các bà chị mà tôi ngưỡng mộ. Thế là tôi năn nỉ mẹ dẫn tôi đến một tiệm làm tóc thời trang. Một người hàng xóm đã giới thiệu một người thợ làm tóc có cửa hiệu tại một căn phòng nhỏ không có cửa sổ nằm sau cái cửa hàng tạp hóa gần đó. Khi đến tiệm, tôi đưa cho anh ta một bức hình có kiểu tóc mà tôi ao ước và ngồi đợi nó hiện ra trên đầu mình. Anh ta vừa nói chuyện với mẹ tôi, vừa cầm kéo cắt, xoay vòng quanh tôi. Tôi lặng đi vì sợ hãi khi anh ta cắt đứt một mảng tóc lớn ra khỏi phần đầu bên phải của tôi. Tôi thét lên. Rồi thì anh ta cũng nhìn vào nơi tôi chỉ và nói, "Ồ, cái kéo của chú chắc là hơi quá tay, chú sẽ phải cắt luôn bên kia cho đều". Kinh hoàng, tôi nhìn phần tóc còn lại bên kia biến mất. Trong mắt tôi lúc đó, cái đầu của mình trông thật giống một củ atisô. Người mẹ tội nghiệp của tôi cố gắng trấn an tôi nhưng tôi thì chỉ nghĩ rằng cuộc đời mình thế là tàn.
Tôi không chịu ra khỏi nhà mất mấy ngày cho đến khi tôi nghĩ ra cách mua một đuôi tóc hoặc một mái tóc giả tại cửa hàng Ben Franklin's Five and Dime để gắn nó lên cái đầu đáng thương của mình, giấu mối gắn dưới một dải ruy-băng và cứ giả vờ như cái tai họa bị kéo trượt chưa bao giờ xảy ra. Thế là tôi làm ngay và việc đó giúp tôi tránh khỏi cảm giác không tự nhiên, bối rối vào ngày khai giảng. Nhưng rồi một hôm, tôi không giữ được bí mật đó vì Ernest Ricketts, biệt danh "Ricky". Cậu ấy là bạn tôi từ thuở hai đứa cùng đi học mẫu giáo. Hôm ấy, khi tôi đang bước xuống cầu thang lớn giữa khu lớp học thì Ricky đang đi lên cầu thang. Cậu ta chào tôi, đợi tôi đi ngang qua và thế là, như cậu ta đã từng làm nhiều lần trước đó, túm lấy cái bím tóc đuôi ngựa của tôi. Nhưng lần này, nó tuột ra luôn và cả bím tóc nằm trong tay cậu ta! Lý do mà chúng tôi vẫn còn là bạn bè cho đến hôm nay là nhờ cậu ta không nói thêm lời nào trước sự tủi hổ của tôi. Thay vào đó, cậu ta cầm lấy bím tóc đưa lại cho tôi, xin lỗi là đã làm rơi tóc của tôi và bỏ đi mà không gây ra bất kỳ sự chú ý nào vào cái giây phút tồi tệ nhất đó - ít ra là tồi tệ nhất cho đến thời điểm ấy của đời tôi.
Nhưng trường trung học của tôi vào những năm đầu 1960 giống như trong bộ phim Grease hoặc chương trình truyền hình Happy Days. Tôi trở thành Chủ tịch Câu lạc bộ những thành viên ái mộ Fabian, thần tượng của giới trẻ, gồm có tôi và hai nữ sinh nữa. Chúng tôi xem Ed Sullivan Show vào mỗi buổi tối Chủ nhật cùng với gia đình mình, ngoại trừ buổi tối trình diễn của Beatles vào ngày 9/2/1964 đã trở thành một sự kiện của nhóm. Paul McCartney là thành viên Beatles ưa thích của tôi. Và thế là có các cuộc tranh cãi về thần tượng của mỗi người, đặc biệt là với Besty, người luôn luôn thần tượng George Harrison. Tôi có vé xem buổi trình diễn của ban nhạc Rolling Stones ở McCormick Placc thuộc thành phố Chicago vào năm 1965. Bài hát (I Can’t Get No) Satisfaction, đã trở thành một tuyên ngôn về tất cả những gì dằn vặt tâm tư của giới trẻ lúc bấy giờ. Nhiều năm sau, khi tôi gặp các thần tượng hồi trẻ của mình như Paul McCartney, George Harrison và Mick Jagger, tôi đã không biết là mình sẽ bắt tay với họ hay là nhảy cẫng hét lên vì sung sướng.
Cho dù bị ảnh hưởng bởi lối sống "văn hóa thanh niên" được hình thành từ truyền hình và âm nhạc, luôn có những nhóm khác nhau tạo ra sự đa dạng trong trư̖ng như : nhóm thích thể thao, nhóm hoạt náo viên, các loại hội của học sinh, nhóm học sinh giỏi, nhóm học sinh quậy phá. Có những lối đi trong trường mà tôi không dám bước vào vì nghe người ta nói rằng có những học sinh chiếm lĩnh "địa bàn" đó và họ có thể bắt nạt hoặc gây khó dễ cho những học sinh khác. Chỗ ngồi trong căn-tin trường được quy định bởi các ranh giới vô hình mà lũ học trò chúng tôi ngầm hiểu. Năm tôi học lớp mười một, những căng thẳng, tranh chấp âm ỉ đã bột phát thành các trận ẩu đả giữa các phe nhóm tại khu để xe sau trường hoặc trong các trận đấu bóng đá và bóng rổ.
Ban Quản lý trường nhanh chóng can thiệp và thành lập một nhóm học sinh được gọi là Ủy ban Giá trị Văn hóa bao gồm các thành viên đại diện từ các nhóm học sinh khác nhau. Thầy Hiệu trưởng, Tiến sĩ Clyde Watson đề nghị tôi tham gia Ủy ban này, giúp tôi có cơ hội gặp gỡ và trò chuyện với những học sinh mà trước đây tôi không biết hoặc né tránh tiếp xúc. Ủy ban của chúng tôi đưa ra các khuyến nghị cụ thể để xây dựng tính kiềm chế và giảm bớt những sự căng thẳng giữa các nhóm học sinh. Một số người trong bọn tôi được yêu cầu xuất hiện trên các chương trình truyền hình địa phương để thảo luận những hoạt động mà chúng tôi đã thực hiện. Đây không những là cơ hội đầu tiên để tôi xuất hiện trên truyền hình mà còn là kinh nghiệm đầu tiên của tôi khi nỗ lực trình bày thuyết đa nguyên, sự tôn trọng và thông hiểu lẫn nhau. Những giá trị này cần được định hướng, thậm chí ngay ở một trường trung học thuộc ngoại ô Chicago. Bởi vì mặc dù đại bộ phận học sinh là người da trắng và theo Công giáo nhưng chúng tôi vẫn nhận thấy có hiện tượng cô lập hoặc nói xấu nhau. Ủy ban đã cho tôi cơ hội kết thân với nhiều người bạn khác nhau. Sau đó một vài năm, khi tôi dự một vũ hội tại hội quán YMCA ở địa phương và bị một số gã thanh niên bắt đầu giở trò thì một "đại ca", trước đây từng là cựu thành viên của Ủy ban này, đã ưng tay này là hãy để tôi yên bởi vì tôi "chơi được".
Tuy nhiên, mọi sự không phải luôn thuận lợi trong suốt những năm trung học của tôi. Ngày 22 tháng 11 năm 1963, khi tôi ngồi trong lớp học giờ hình học và đang đánh vật với các bài toán hình của thầy Craddock thì một giáo viên đến lớp thông báo là Tổng thống Kennedy đã bị bắn tại Dallas. Thầy Craddock, một trong những giáo viên mà tôi rất quý mến và cũng là giáo viên chủ nhiệm lớp tôi đã thốt lên "Cái gì? Không thể có chuyện đó!". Và ông chạy ra khỏi lớp học. Khi quay về, thay xác nhận là có một kẻ nào đó đã bắn Tổng thống và đó có thể là phe nhóm "John Bircher", một tổ chức cực hữu chống lại Tổng thống Kennedy. Ông bảo chúng tôi đến hội trường đề chờ nghe thêm thông tin. Các phòng học im phăng phắc trong khi hàng ngàn học sinh kéo đến hội trường trong tâm trạng hoang mang, ngờ vực. Cuối cùng, thầy hiệu trưởng đến và cho chúng tôi được tan trường sớm.
Khi về nhà, tôi thấy mẹ mình đang ngồi trước truyền hình xem Walter Cronkite. Cronkite thông báo là Tổng thống Kennedy đã từ trần vào lúc 1 giờ chiều. Bà thú nhận bà đã bỏ phiếu cho Kennedy và cảm thấy rất tiếc cho vợ con của Tổng thống. Tôi cũng vậy. Tôi cũng cảm thấy rất tiếc cho đất nước mình và tôi muốn giúp đỡ bằng một cách nào đó, mặc dù tôi không hình dung ra là phải làm như thế nào.
Tôi đặt nhiều niềm tin vào việc đi làm để kiếm sống và tôi có toàn quyền lựa chọn nghề nghiệp theo ý mình. Tôi may mắn có được bố mẹ là những người không bao giờ cố bắt ép tôi phải theo một con đường. Tôi nhớ là chưa bao giờ bố mẹ hoặc thầy cô bảo tôi hay các bạn tôi rằng "Con gái không thể làm cái này hoặc "Con gái không nên làm việc kia". Mặc dù có khi thông điệp này được thể hiện bằng những cách khác.
Tác giả Jane O'Reilly, người trưởng thành vào thập niên 1950, đã có một bài viếối tiếng đăng trên tạp chí Ms vào năm 1972, hồi tưởng những giây phút trong cuộc đời mình vào những năm 1950, khi bà nhận ra mình đang bị đánh giá thấp chỉ vì là phụ nữ. Bà mô tả cái khoảnh khắc bà ngộ ra điều đó bằng một từ rất tượng thanh là click ! - giống như một cơ chế bật sáng một bóng đèn tròn. Điều đó quá rõ ràng và hiển nhiên trong các quảng cáo tuyển người - cho đến giữa những năm 60 vẫn còn được chia ra làm các mục riêng biệt dành cho nam và nữ - hoặc nó được thể hiện dưới dạng khó nhận ra hơn như phải nhường phần mặt trước của tờ báo cho tin tức mà quý ông quan tâm và đành phải bằng lòng với những trang sau dành cho phụ nữ, để các ông thuận tiện mà đọc các tin tức sốt dẻo!
Cũng có nhiều lúc tôi cảm thấy giống như thế. Tôi luôn bị lĩnh vực thám hiểm không gian hấp dẫn, có lẽ một phần vì bố tôi rất lo lắng về việc Hoa Kỳ bị tụt hậu so với Nga trong lĩnh vực này. Lời thề của Tổng thống Kennedy đưa người lên mặt trăng đã cổ vũ tôi rất nhiều và tôi đã viết thư cho NASA, tình nguyện tham gia vào lớp huấn luyện phi công vũ trụ. Tôi đã nhận được một bức thư hồi đáp, báo rằng họ không nhận phụ nữ trong chương trình. Đó là lần đầu tiên tôi vấp phải một trở ngại mà tôi không thể nào vượt qua bằng nỗ lực và lòng quyết tâm, điều này làm tôi cảm thấy bị xúc phạm. Dĩ nhiên, dù không kể yếu tố giới tính thì với thị lực kém và thể chất hạng xoàng của bản thân, tôi cũng sẽ bị loại. Nhưng tình trạng phân biệt đối xử này đã khiến tôi tổn thương và sau này giúp tôi cảm thông hơn với những ai lâm vào tình cảnh tương tự.
Ở trường trung học, một trong những bạn gái thông minh nhất của tôi đã bỏ các lớp bồi dưỡng học sinh giỏi chỉ vì bạn trai của cô không theo học. Một người bạn khác thì lại không muốn điểm các môn học của mình được niêm yết trên bảng vì cô nàng biết là mình sẽ đạt điểm cao hơn chàng trai mà cô đang yêu. Các cô gáày hiểu những dấu hiệu văn hóa, hoặc tế nhị hoặc lộ liễu, để tuân theo những khuôn mẫu định sẵn cho giới tính của mình, nhằm tránh việc trội hơn, giỏi hơn những cậu con trai xung quanh họ. Tôi cũng để ý vài chàng trai thời trung học nhưng tôi chưa bao giờ hò hẹn với ai một cách nghiêm túc. Đơn giản là tôi không thể nào tưởng tượng là có thể từ bỏ học đại học hoặc không đi làm để lập gia đình khi mà một số người bạn gái của tôi lại đang lập kế hoạch như thế.
Tôi quan tâm đến chính trị từ hồi bé và thích mài giũa các kỹ năng tranh luận của mình với các bạn. Tôi thường ép người bạn Ricky Ricketts tội nghiệp của mình vào các cuộc tranh luận thường ngày về các vấn đề hòa bình thế giới, tỉ số các trận bóng chày hoặc bất kỳ chủ đề nào mà tôi chợt nghĩ ra. Tôi đã tranh cử thành công vào Hội đồng học sinh và làm lớp phó khi còn học lớp bốn. Tôi cũng là một thành viên tích cực của Đoàn Thanh niên Cộng hòa và sau này là thành viên của tổ chức Goldwater với bộ đồng phục miền viễn tây, đội mũ rơm cao bồi có đính khẩu hiệu "AuH20".
Giáo viên dạy Sử lớp chín của tôi là thầy Paul Carlson luôn là một nhà giáo tận tụy và là một người Cộng hòa rất bảo thủ. Thầy Carlson khuyến khích tôi đọc cuốn sách vừa mới xuất bản The Conscience of a Conservative của Thượng nghị sĩ Barry Goldwater. Cuốn sách này đã cho tôi nhiều cảm hứng trong việc viết bài tiểu luận cuối khóa về phong trào bảo thủ ở Hoa Kỳ, trong đó tôi có đề " Kính tặng cha mẹ là những người đã dạy con thành người". Tôi thích Thượng nghị sĩ Goldwater bởi vì ông là một người theo chủ nghĩa cá nhân bộc trực, dám đi ngược lại với các trào lưu chính trị. Những năm tháng sau đó, tôi khâm phục sự ủng hộ thẳng thắn của ông đối với những quyền tự do cá nhân vốn được ông xem là phù hợp với những nguyên tắc bảo thủ lỗi thời của mình: "Đừng tạo ra địa ngục cho những người đồng tính luyến ái, những người da đen và người Mễ. Những ngi tự do có quyền làm những điều họ thích". Sau này, khi Goldwater biết rằng tôi đã từng ủng hộ ông vào năm 1964, ông đã gửi đến Nhà Trắng một hộp thịt nướng cùng với tương cay và ông đã mời tôi đến gặp ông. Tôi đã đến nhà ông ở Phoenix vào năm 1996 và đã có một giờ đàm đạo tuyệt vời với ông và bà vợ rất năng động của ông là Susan.
Thầy Carlson cũng rất thích Tướng Douglas MacArthur nên thầy trò chúng tôi thường nghe đi nghe lại những cuốn băng ghi âm lời từ biệt của ông trước Quốc hội. Có một lần sau khi nghe xong đoạn băng, thầy đã kết luận đầy tâm huyết : "Hãy nhớ điều thiêng liêng nhất trên tất cả mọi thứ là thà chết chứ không chịu mất tự do". Ricky Ricketts ngồi bàn phía trước tôi đã bật cười và tôi cũng cười theo. Thế là thầy Carlson nghiêm nghị hỏi chúng tôi: "Các em nghĩ gì mà cười vậy?". Ricky trả lời : "Thưa thầy Carlson, em chỉ mới mười bốn tuổi và rất muốn được sống ạ !".
Sự tham gia tích cực của tôi trong Nhà thờ Hội Giám lý First United của thành phố Park Ridge đã giúp tôi thấu hiểu và cảm thông với những nhu cầu của người khác, cho tôi thấm nhuần ý thức trách nhiệm xã hội và giúp nó trở thành niềm tin của tôi. Song thân của bố tôi đã tuyên thệ theo Hội Giám lý bởi vì ông bà cố của họ đã được Mục sư John Wesley cải đạo hồi còn cư ngụ tại các khu làng khai thác mỏ than quanh vùng Newcatsle ở phía Bắc nước Anh và vùng South Wales. Mục sư John Wesley đã sáng lập ra Hội Giám lý vào thế kỷ 18. Wesley đã dạy rằng tình yêu Chúa được thể hiện bằng các việc thiện được ông giảng đạo theo một nguyên tắc đơn giản là "Các con hãy làm mọi điều tất với tất cả mọi người bằng mọi phương cách vào mọi lúc, ở mọi nơi, cho đến chừng nào mà các con còn có thể làm được". Luôn có những cuộc tranh luận hữu ích về định nghĩa "việc thiện" mà người ta theo đuổi nhưng đối ô gái trẻ như tôi thì điều răn của Mục sư Wesley luôn được khắc ghi trong lòng. Hàng đêm, bố tôi đều cầu nguyện bên giường và những lời cầu nguyện đó đã trở thành một nguồn động viên và chỉ dẫn cho tôi khi tôi còn bé.
Mẹ tôi dạy lớp giáo lý vào ngày Chủ nhật. Theo như bà nói, chủ yếu là để trông chừng các cậu em của tôi. Tôi học các lớp giáo lý và tham gia nhóm giáo hữu trẻ tuổi, rất tích cực trong các việc công đức như chăm sóc và lau dọn bàn thờ vào các ngày thứ Bảy để chuẩn bị cho lễ ngày Chủ nhật. Việc tôi tìm ra lý tưởng của mình, mà lý tưởng đó có thể dung hòa với quan niệm của bố về tính tự lập và nhưng lo lắng của mẹ về công bằng xã hội, có liên quan tới sự xuất hiện của một vị mục sư trẻ tuổi thuộc Hội Giám lý tên là Donald Jones vào năm 1961.
Mục sư Don Jones tốt nghiệp TrườngDòngDrewUniversity và đã có bốn năm phục vụ trong Hải quân. Ông chịu ảnh hưởng bởi các lời giáo huấn của Dietrich Bonhoeffer và Reinhold Niebuhr. Bonhoeffer nhấn mạnh rằng một tín hữu phải là một người đạo đức toàn tâm toàn ý với sứ mạng thúc đẩy sự phát triển của con người trên thế giới. Niebuhr thì nêu cao một sự cân bằng hợp lý giữa chủ nghĩa hiện thực khách quan về bản chất con người cùng khát vọng cháy bỏng về công lý và cải cách xã hội. Mục sư Jones đã nhấn mạnh rằng cuộc đời của một tín hữu là "đức tin thể hiện bằng hành động cụ thể". Tôi chưa bao giờ gặp bất kỳ ai giống như ông. Don gọi các buổi hành lễ Giáo hữu Thanh niên của Hội Thánh vào tối Chủ nhật và thứ Năm của mình là "trường đời". Ông rất nhiệt tình với chúng tôi bởi vì ông hy vọng rằng chúng tôi sẽ hiểu biết hơn về cuộc sống bên ngoài vùng Park Ridge. Với tôi thì đúng là như thế. Nhờ "trường đời" của Don mà tôi đã đọc các tác phẩm khó nu của T. S. Eliot, xem tranh của Picasso đặc biệt là bức họa Guernica - trăn trở với ý nghĩa "Tòa án Dị giáo" trong tác phẩm Brothers Karamazov của nhà văn Dostoyevsky. Tôi về đến nhà, hân hoan với niềm phấn khích và chia sẻ điều tôi đã khám phá với mẹ tôi là người cũng nhanh chóng nhận ra ở Don một lý tưởng rất tâm đầu ý hợp. Tuy nhiên, "trường đời" không phải chỉ là nghệ thuật và văn chương. Chúng tôi đã viếng thăm các nhà thờ của người da đen và người gốc Mỹ La tinh ở vùng nội ô thành phố Chicago để giao lưu với những giáo hữu trẻ của các nhà thờ này.
Trong các buổi thảo luận, chúng tôi ngồi thành vòng tròn trong khuôn viên nhà thờ. Tôi biết được là mặc dù có nhiều khác biệt, những người bạn này cũng rất giống với tôi. Họ cũng muốn biết nhiều hơn về điều gì đang xảy ra trong phong trào đòi dân quyền ở miền Nam. Tôi chỉ nghe mơ hồ về Rosa Parks và Tiến sĩ Martin Luther King nhưng chính những cuộc thảo luận này đã đánh thức sự quan tâm của tôi.
Do đó, khi Don thông báo là một tuần nữa ông sẽ đưa chúng tôi đến nghe Mục sư King nói chuyện tại Nhà hát Giao hưởng, tôi thật sự háo hức. Bố mẹ đã cho phép tôi đi nhưng phụ huynh của một số bạn bè tôi lại từ chối cho con họ đi nghe "một tên kích động vớ vẩn" như thế.
Bài diễn thuyết của Mục sư King có tựa đề Remaining Awake through a Revolution (Hãy thức tỉnh bằng một cuộc cách mạng.) Cho đến trước khi ấy, tôi vẫn lờ mờ với những hiểu biết về một cuộc cách mạng xã hội đang xảy ra trên đất nước mình. Những lời nói của Mục sư King đã soi sáng cho cuộc đấu tranh đang xảy ra và làm cho chúng tôi không thể thờ ơ được nữa : "Chúng ta đang đứng bên biên giới của "vùng đất hứa" của sự hòa hợp. Trật tự cũ đang tiêu vong và một trật tự mới đang đến gần. Tất cả chúng ta nên chấp nhận trật tự này và học cách sống hòa đồng với nhau như anh em trong một xã hội toàn cầu. Nếu không, tất cả chúng ta sẽ hủy diệt, tàn sát lẫn nhau.”
Mặc dù đã biết nhận thức nhưng tôi hầu như vẫn còn bắt chước các triết lý truyền thống của vùng Park Ridge và quan điểm chính trị của bố tôi. Trong khi Don Jones cho tôi các kinh nghiệm “mới mẻ" thì Paul Carlson lại giới thiệu cho tôi những người tị nạn từ Liên Xô. Don đã có lần nói rằng ông và Paul Carlson đang mắc kẹt trong một trận đấu để giành lấy tâm hồn tôi. Tuy nhiên Paul cũng là một thành viên trong nhà thờ của chúng tôi và mâu thuẫn của họ ngày càng trầm trọng đến mức lâm vào tình trạng khủng hoảng. Paul bất đồng với các ưu tiên của Don về chương trình giáo huấn "trường đời" và đẩy Don ra khỏi nhà thờ. Sau nhiều cuộc đối đầu, chỉ hai năm sau Don đã quyết định rời Hội Giám lý để trở lại dạy ở trường cũ, Drew University, nơi ông đã nghỉ hưu với danh hiệu Giáo sư ưu tú môn Đạo đức học. Chúng tôi vẫn còn liên lạc trong nhiều năm. Don và vợ ông, Karen, là khách thường xuyên tại Nhà Trắng. Ông còn giúp đỡ lễ cưới của Tony, em trai tôi, tại Vườn Hồng vào ngày 28 tháng 5 năm 1994.
Giờ đây, tôi hiểu mâu thuẫn giữa Don Jones và Paul Carlson là sự biểu hiện sơ khai một loạt các khác biệt về tôn giáo, chính trị và văn hóa diễn ra tại Hoa Kỳ trong 40 năm qua. Về mặt cá nhân, tôi mến cả hai người và đôi khi không xem các niềm tin của họ là hoàn toàn đối lập.
Hết năm lớp mười một tại Trường Maine East, lớp của tôi bị tách ra làm hai và một nửa chúng tôi học lớp mười hai tại Trường Maine Township High School South được xây dựng trong thời bùng nổ dân số. Tôi ra tranh cử chức Chủ tịch Hội Học sinh với một số nam sinh khác và thất cử. Điều này không làm tôi bất ngờ nhưng vẫn làm tôi tổn thương vì một trong những đối thủ đã bảo tôi thật ngếch nếu nghĩ rằng một đứa con gái lại có thể được bầu làm Chủ tịch. Ngay khi cuộc bầu cử kết thúc, người thắng cử đề nghị tôi lãnh đạo Ủy ban Tổ chức mà theo tôi biết thì đó là nơi sẽ làm hầu hết công việc của Hội. Tôi đã đồng ý.
Điều này hóa ra lại rất vui. Vì là lớp cuối cấp nên chúng tôi tổ chức tất cả các hoạt động truyền thống của trường như diễu hành, múa hát, bầu cử hội đồng học sinh, hội hè, khiêu vũ. Chúng tôi dàn dựng mô phỏng một cuộc tranh luận tranh cử Tổng thống nhân cuộc bầu cử năm 1964. Thầy giáo trẻ Jerry Baker phụ trách hoạt động này. Thầy Baker biết tôi rất tích cực ủng hộ Thượng nghị sĩ Goldwater. Thậm chí tôi đã thuyết phục bố cho tôi và Besty đi dự buổi nói chuyện của ông Goldwater khi ông đến trong chiến dịch tranh cử bằng xe lửa ở khắp vùng ngoại vi Chicago.
Một trong những người bạn của tôi, Ellen Press là người duy nhất trong lớp ủng hộ Đảng Dân chủ. Cô ấy là người luôn lớn tiếng ủng hộ Tổng thống Johnson. Thầy Baker với một quyết định cực kỳ sáng suốt hoặc tai quái đã chỉ định tôi đóng vai Tổng thống Johnson và Ellen đóng vai Thượng nghị sĩ Goldwater. Cả hai chúng tôi cảm thấy bị xúc phạm và phản đối kịch liệt, nhưng thầy Baker nói rằng điều này sẽ buộc chúng tôi phải tìm hiểu các vấn đề của phía bên kia. Thế là lần đầu tiên tôi hóa thân làm Tổng thống Johnson của Đảng Dân chú nói về dân quyền, y tế, đói nghèo và chính sách ngoại giao. Tôi bực bội vì phải ở trong thư viện hàng giờ đồng hồ đọc cương lĩnh của Đảng Dân chủ và các bài diễn văn của Nhà Trắng. Nhưng khi lên diễn đàn, tôi nhận thấy mình tranh luận rất kịch liệt và sôi nổi hơn thường lệ. Ellen chắc là cũng trải qua trạng thái tương tự. Trước khi chúng tôi tốt nghiệp đại học, mỗi người chúng tôi đã thay đổi quan điểm ủng hộ chính trị của mình. Còn thầy Baker sau đó đã bỏ nghề dạy học để đến thủ đô Washington DC. làm cố vấn pháp lý cho Hiệội Phi công Hàng không, một vị trí thuận lợi giúp ông hiểu rõ các quan điểm của cả hai Đảng Dân chủ và Cộng hòa.
Học lớp cuối cấp trung học cũng có nghĩa là phải chuẩn bị cho giai đoạn lên đại học. Tôi biết là mình sẽ học lên nữa nhưng không định hướng là sẽ học ở đâu. Tôi đến gặp thầy phụ trách tư vấn hướng nghiệp vốn đã rất bận rộn với nhiều công việc. Thầy chỉ đưa cho tôi một số tập sách mỏng chứa thông tin về các trường đại học ở vùng Midwest, không giúp đỡ hay tư vấn gì thêm. Tôi được sự hướng dẫn của hai sinh viên mới tốt nghiệp đại học đang theo học cao học về giáo dục tại Đại học Northwestem. Họ đang dạy học tại Trường công lập Maine South. Đó là Karin Fahlstrom, sinh viên tốt nghiệp Trường Smith, và Janet Altman, Trường Wellesley. Tôi còn nhớ chị Fahlstrom nói với lớp tôi là chị muốn chúng tôi đọc một nhật báo nào khác chứ không phải là tờ Chicago Tribune của Đại tá McCormick. Khi tôi hỏi là nhật báo nào thì chị khuyên nên xem tờ The New York Times. Tôi trả lời "Nhưng đó là công cụ của giới tài phiệt các tiểu bang miền Đông". Chị Fahlstrom rất ngạc nhiên nói, "Được rồi, nếu vậy thì hãy đọc tờ The Washington Post”. Sự thật là cho đến lúc đó tôi chưa bao giờ đọc hai tờ báo này và cứ cho rằng tờ Tribune là chân lý rồi.
Vào trung tuần tháng Mười, cả hai chị Fahlstrom và Altman hỏi tôi đã nhắm sẵn một trường đại học nào chưa. Tôi nói là chưa thì họ khuyên tôi nên nộp đơn vào Trường Smith và Wellesley, hai trong số bảy trường đại học nữ thuộc hệ thống Seven Sisters. Họ bảo là nếu tôi theo học một trường nữ sinh thì tôi có thể tập trung vào việc học hành suốt tuần và thư giãn vào cuối tuần. Tôi chưa nghĩ đến việc rời Midwest để đi học đại học và chỉ ghé thăm TrườngMichiganState vì nơi này có chương trình danh dự mời các học sinh vào chung kết nhận học bổng xuất sắc ghé thăm. Nhưng khi ý tưởng đó xuất hiện thì tôi rất quan tâm. Họ mời tôi tham dự các hoạt động gặp gỡ cựu nữ sinh của trường và các sinh viên đang theo học. Cuộc gặp gỡ do Trường Đại học Smith tổ chức tại một căn nhà đẹp và rộng lớn ở một trong những khu ngoại ô giàu có dọc theo bờ hồ Michigan. Còn buổi gặp mặt do Trường Wellesley tổ chức tại một căn hộ trên lầu thượng bên bờ hồ Shore Drive ở Chicago. Tôi cảm thấy lạc lõng ở cả hai cuộc gặp gỡ này. Dường như tất cả các cô gái không những giàu mà còn lắm lời hơn tôi. Thậm chí một cô gái trong buổi họp mặt của Trường Wellesley còn hút thuốc và huyên thuyên về kỳ nghỉ hè của mình ở châu Âu. Điều đó rất xa lạ với quê hương ở vùng hồ Winola và lối sống của tôi.
Tôi nói với hai giáo viên tư vẩn của mình là tôi không thích thú lắm chuyện đi học đại học tại "miền Đông". Nhưng họ lưu ý là tôi nên nói chuyện với bố mẹ về việc nộp đơn vào đại học của mình. Mẹ tôi nghĩ là tôi nên theo học bất kỳ trường nào tôi thích còn bố tôi thì nói tôi có toàn quyền tự do chọn lựa, nhưng ông sẽ không tài trợ cho tôi học ở các trường ở phía tây Mississippi hoặc ở vùng Radclifie vì ông nghe ở đó có bọn người theo trào lưu hip-pi. Trường Smith và Wellesley mà ông chưa từng được nghe đến thì chấp nhận được. Tôi chưa từng ghé thăm hai trường trên nhưng quyết đinh chọn Wellesley dựa trên các bức ảnh chụp trường này, đặc biệt là vì nó có một cái hồ nhỏ Waban gợi cho tôi liên tưởng đến hồ Winola ở quê nhà. Tôi luôn nhớ ơn Fahlstrom và Altman về việc tư vấn này.
Tôi không biết có ai khác theo học tại Wellesley. Hầu hết bạn bè tôi học tại các trường đại học vùng Midwest để đở gần nhà. Bố mẹ đưa tôi đến Trường Wellesley và không biết vì lý do gì mà chúng tôi bị lạc đường ở Boston, ngay tại quảng trường Harvard, nơi bố tôi chứng kiến những nhóm người hip-pi tụ tập. Nhờ không thấy bóng dáng những người này ở Trường Wellesley mà dường như ông đã an tâm. Mẹ tôi nói là bà đã khóc suốt quãng đường cả ngàn dặm rời Massachusetts về nhà ở Illinois. Thế mà bây giờ tôi lại trải qua cảm xúc ấy đối với con gái mình đang theo học ở một trường đại học xa xôi và tôi đã hiểu được lòng mẹ mình. Nhưng vào lúc đó, tôi chỉ háo hức hướng về tương lai mà thôi.