KHÓA ’69

Hồi Ký Hillary Clinton Và Chính Trường Nước Mỹ

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 50 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Khóa ’69

❊ ❊ ❊

Vào năm 1994, Frontline chương trình truyền hình nhiều tập của hãng PBS đã sản xuất một bộ phim tài liệu về khóa ’69 của Trường Wellesley, Lớp học của Hillary. Vâng đó là lớp của tôi nhưng nó có nhiều sự kiện hơn bộ phim đã thể hiện. Nhà sản xuất Rachel Dretzin giải thích lý do tại sao 25 năm sau khi chúng tôi đã tốt nghiệp, Frontline mới quyết định nghiên cứu lớp tôi : "Họ đã thực hiện một hành trình không giống bất kỳ một thế hệ nào khác trong một thời kỳ có nhiều thay đổi và biến động sâu sắc đối với nữ giới".

Các đồng lớp đã nói rằng Wellesley là một trường nữ sinh khi chúng tôi nhập học và trở thành một đại học của nữ khi chúng tôi rời trường. Tình cảm đó có lẽ đã thể hiện ở lớp chúng tôi cũng như ở trường đại học này.

Tôi đến Wellesley, mang theo niềm tin chính trị của bố cùng ước mơ của mẹ và rời trường với những ấp ủ chính kiến của riêng mình. Nhưng vào ngày đầu tiên đó, tôi cảm thấy thật cô đơn khi bố mẹ tôi ra về. Tôi cảm thấy hụt hẫng và lạ lẫm với nơi ở mới. Tôi đã gặp các cô gái từng đi học ở các trường nội trú tư thục, sống ở nước ngoài, nói lưu loát các thứ tiếng và được miễn một số môn học năm thứ nhất nhờ điểm số kiểm tra đầu vào của họ. Còn tôi chỉ mới một lần được ra nước ngoài để ngắm thác Niagara từ phía bên Canada. Ngoại ngữ duy nhất của tôi là tiếng La tinh học ở trung học.

Tôi đã không hòa nhập được ngay với cuộc sống sinh viên. Tôi ghi danh các môn học khó. Việc tôi học môn Toán và Địa chất một cách chật vật giúp tôi hiểu mình sẽ phái từ bỏ ý tưởng trở thành bác sĩ hoặc một nhà khoa học. Giáo sư dạy môn tiếng Pháp nhẹ nhàng bảo tôi: "Cô bé! Tài năng của em nằm ở lĩnh vực khác cơ". Một tháng sau ngày khai giảng, tôi gọi điện thoại về nhà, tôi nghĩ mình không đủ thông minh để học được ở đây. Bố bảo tôi quay về, nhưng mẹ tôi nói bà không muốn tôi trở thành người bỏ cuộc. Sau một khởi đầu nhiều dao động, những lo lắng, do dự nguôi ngoai dần. Tôi nhận ra rằng mình không thể quay về nhà được và tôi sẽ dấn bước để tiếp tục.

Vào một đêm đầy tuyết khi tôi học năm nhất, Margaret Clapp - lúc đó là Hiệu trưởng của trường - đã bất ngờ đến ký túc xá Stone-Davis của tôi nằm bên bờ hồ Waban đến phòng ăn và kêu gọi các tình nguyện viên giúp rung các nhánh cây xung quanh trường cho tuyết rơi xuống để chúng khỏi gãy vì sức nặng của tuyết đọng trên cành. Chúng tôi đi bộ từ gốc cây này sang cây kia trên mặt đất tuyết phủ dày đến tận đầu gối dưới bầu trời trong vắt đầy sao, nghe sự chỉ dẫn của một phụ nữ thông minh, mạnh mẽ, rất nhạy cảm về các điều kỳ thú và tính dễ tổn thương của thiên nhiên. Bà hướng dẫn và đốc thúc cho cả sinh viên lẫn giáo viên một cách rất nhiệt tình. Vào tối đó, tôi đã quyết định được con đường đi cho mình.

Madeleine Albright, người từng giữ chức Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên hiệp quốc và Ngoại trưởng trong nội các của Clinton đã học ở Wellesley trước tôi mười năm. Tôi thường trò chuyện với bà về những khác biệt giữa thế hệ của bà và tôi. So với thế hệ tôi thì Albright và những người bạn của mình trong cuối thập niên 50 cố tìm cho mình một tấm chồng và ít bị tác động bởi các thay đổi thời cuộc ở thế giới bên ngoài. Tuy nhiên họ gặt hái được rất nhiều lợi ích từ một môi trường như Wellesley và nhà trường đặt nhiều kỳ vọng nơi họ về những thành quả mà phụ nữ có thể đạt được nếu họ có được cơ hội. Vào thời của Albright và tôi, Trường Wellesley nhấn mạnh đến sự cống hiến. Khẩu hiệu bằng tiếng La tinh của trường là Non Ministrari sed Ministrare - Hãy giúp người chứ đừng để người giúp. Một khẩu hiệu phù hợp với giáo lý tôn giáo đã răn dạy tôi. Vào lúc tôi nhập học, trong bối cảnh sinh viên hoạt động sôi nổi, nhiều sinh viên đã xem phương châm này như là một lời kêu gọi phụ nữ tham gia nhiều hơn nữa trong đời sống xã hội và tạo ảnh hưởng với thế giới xung quanh. Điều giá trị nhất tôi có được từ Wellesley là những người bạn suốt đời mà tôi đã kết giao và cơ hội mà trường đại học nữ này đã mang lại trong việc chắp cánh và mở mang tầm nhìn cho chúng tôi trên bước đường sau này, đến sự định hình và khẳng định bản thân. Chúng tôi đã học hỏi từ những câu chuyện kể cho nhau nghe trong lúc ngồi quây quần trong phòng ở ký túc xá hoặc trong các buổi ăn trưa kéo dài trong phòng ăn tập thể. Tôi ở tại ký túc xá Stone-Davis ròng rã bốn năm trời, chia sẻ cuộc sống với năm sinh viên đã trở thành những người bạn tri kỷ của mình. Johanna Branson, một vũ công có dáng người cao ráo đến từ Lawrence, Kansas, chọn ngành lịch sử mỹ thuật. Cô đã chia sẻ với tôi tình yêu hội họa và phim ảnh. Johanna giải thích trên chương trình Frontline là từ ngày đầu tiên tại Wellesley, chúng tôi đã được bảo mình là "... tinh hoa của những tinh hoa. Ngày nay điều này nghe thật sự khoe khoang và mang tính phân biệt. Nhưng vào lúc đó, thật là tuyệt vời khi nghe lời nói đó nếu bạn là một phụ nữ... bạn không phải ngồi ghế hạng hai trước bất kỳ ai”. Jinnet Fowles đến từ Connecticut và cũng là một sinh viên lịch sử mỹ thuật, đã đặt ra những câu hỏi khó trả lời về vấn đề thành công thông qua hành động của người sinh viên. Jan Krigbaum, một người có tâm hồn tự do đến từ Califomia, có nhiệt tâm không bao giờ cạn trước mọi thách thức, đã giúp thành lập chương trình trao đổi sinh viên châu Mỹ La tinh. Connie Hoenk, và mái tóc dài vàng óng từ vùng South Bend, bang Indiana là một cô gái rất thực tế, thường có những quan điểm rất đặc trưng cho dân gốc vùng Midwest. Suzy Salomon, một cô gái thông minh, cần mẫn ở vùng ngoại ô Chicago, luôn tươi cười và sẵn sàng giúp đỡ mọi người.

Hai sinh viên lớn hơn, Shelley Parry và Laura Grosch là những cố vấn của nhóm. Đang học năm thứ ba khi tôi đến trường làm sinh viên năm đầu, Shelley có vẻ duyên dáng và tác phong rất đặc biệt. Có thường lặng lẽ nhìn chúng tôi với đôi mắt to, thông minh trong lúc tôi lên án những điều bất công trong thực tế hay cảm nhận được trên thế giới. Thế rồi cô khéo léo hỏi rõ nguồn gốc các lý lẽ hay cảm xúc dâng trào của tôi. Sau khi tốt nghiệp, cô giảng dạy ở Ghana và một số nơi khác ở châu Phi. Ở đây, cô đã gặp và kết hôn với một người Úc v đã định cư ở Úc. Bạn cùng phòng của Shelley là Laura Grosch bất khuất, một phụ nữ trẻ với nhiều hoài bão và tài năng nghệ thuật. Khi tôi thấy Fooly Scare, một trong những bức họa được cô sáng tác trong phòng mình ở ký túc xá, tôi thích đến nỗi đã mua luôn bức tranh cho dù phải trải qua vài năm tiêu xài hạn hẹp. Hiện nay bức tranh ấy được treo trong căn nhà của chúng tôi ở Chappaqua.

Trường đại học nữ của chúng tôi đảm bảo một sự tập trung vào kết quả học tập và kỹ năng lãnh đạo trong các buổi ngoại khóa mà chúng tôi có lẽ đã không có được tại một trường đại học có cả nam và nữ. Nữ sinh ở đây không những tham gia tất cả các hoạt động của sinh viên - từ chế độ tự quản, báo chí, câu lạc bộ sinh hoạt - mà còn cảm thấy thoải mái, tự do hơn khi dám mạo hiểm, phạm sai lầm và thậm chí bị thất bại trước mặt người khác. Lớp trưởng, chủ bút tờ báo và các sinh viên giỏi nhất trong mọi lĩnh vực đều là nữ giới. Và bất cứ ai trong số chúng tôi cũng đều có thể trở thành những người ấy. Không giống như một số nữ sinh ưu tú tại trường trung học của tôi ngày trước - cảm thấy bị áp lực phải từ bỏ các tham vọng của bản thân để có được một cuộc sống bình thường - các bạn học cùng lớp của tôi tại Wellesley muốn những khả năng, nỗ lực và các thành quả của họ phải được công nhận. Điều này có thể lý giải tại sao có một tỉ lệ cao bất thường các sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học nữ chọn các ngành nghề mà phụ nữ có khuynh hướng bị lu mờ.

Sự không có mặt các nam sinh viên đã giải tỏa được vấn đề tâm lý và tạo ra một vùng an toàn cho chúng tôi. Chúng tôi không phải e dè về dung nhan của mình - hiểu cả theo nghĩa đen và nghĩa bóng của từ này - từ thứ Hai đến tận thứ Sáu. Chúng tôi có thể chuyên tâm vào việc học mà không phải lo lắng về dung mạo khi đến lớp. Tuy nhiên, không có nam giới trong khu khuôn viên đại học, cuộc sống xã hội của chúng tôi chuyển hướng sang hình thức các chuyến đi chơi dã ngoại và các trò hẹn hò gọi là "các buổi giao lưu". Khi tôi đến học ở trường vào mùa thu năm 1965, trường vẫn đóng vai trò giám hộ nghiêm ngặt. Chúng tôi không được phép tiếp nam giới trong phòng ngoài khoảng thời gian từ 2 giờ đến 5 giờ 30 chiều ngày Chủ nhật, với điều kiện để cửa phòng hé mở và tuân theo cái mà chúng tôi gọi là "Quy tắc hai chân" : hai (trong số bốn chân) phải luôn để trên sàn. Chúng tôi có giờ giới nghiêm là vào 1 giờ sáng cuối tuần và tuyến đường số 9 từ Boston đến Trường Wellesley giống như một đường đua trong giải Grand Prix vào các tối thứ Sáu và thứ Bảy vì bọn bạn trai phải chờ chúng tôi tốc hành về ký túc xá để chúng tôi không vi phạm quy định giới nghiêm này. Chúng tôi có những bàn tiếp khách đặt ở phòng vào mỗi ký túc xá, nơi mà khách phải làm thủ tục khai báo và được nhận dạng thông qua một hệ thống chuông; có người thông báo cho chúng tôi biết khách muốn gặp chúng tôi là nam hay nữ. Nếu là nữ thì thông báo gọi là "khách" và nếu người đó là nam thì thông báo xướng lên là "bạn". Việc thông báo một "bạn" bất ngờ sẽ giúp các nữ sinh có thời gian sắp xếp hoặc gọi xuống cho sinh viên trực, nhờ nói hộ là mình đang bận.

Tôi cùng với các bạn học hành chăm chỉ và hò hẹn với những chàng trai cùng tuổi, hầu hết từ Trường Harvard và các trường hàng đầu khác. Đó là những chàng trai chúng tôi quen thông qua bạn bè hoặc tại các cuộc khiêu vũ "giao lưu”. Thường thì âm nhạc rất ầm ĩ tại các buổi khiêu vũ này, đến nỗi bạn không thể hiểu được người ấy đang nói gì trừ phi bạn bước ra ngoài. Thường thì bạn chỉ làm như vậy đối với ai mà mình thật sự để ý. Có một buổi tối, tôi đã khiêu vũ hàng giờ với một chàng trai tên Farce, mà sau này tôi mới biết tên đúng là Forrest. Tôi có hai người bạn trai có ý định nghiêm túc đến mức ra mắt bố mẹ tôi. Thái độ của bố tôi đối với bất cứ ai mà tôi hẹn hò đều giống như một sự thử thách hơn là một hoạt động giao tiếp xã hội. Cả hai chàng trai đều vượt được thử thách nà mối quan hệ của chúng tôi lại không tồn tại lâu.

Theo xu hướng của thời đó, chẳng bao lâu chúng tôi cảm thấy bị gò bó bởi các quy định lỗi thời của Trường Wellesley và yêu cầu được đối xử như những người lớn. Chúng tôi gây áp lực đối với Ban giám hiệu nhà trường, đòi hủy bỏ các quy định giám sát vô lý và cuối cùng cũng đạt được khi tôi ở cương vị Chủ tịch Hội Sinh viên. Sự thay đổi này trùng hợp với việc loại bỏ một chương trình học bắt buộc mà sinh viên cảm thấy nặng nề.

Nhìn lại những năm này, tôi không ân hận gì nhưng tôi không chắc là việc yêu cầu bãi bỏ các chương trình học và chế độ giám sát nghiêm khắc đó có phải là tiến bộ hoàn toàn không. Hai môn học mà tôi giỏi nhất lại là những môn học bắt buộc và bây giờ tôi mới đánh giá đúng hơn về giá trị của các môn cơ bản bắt buộc. Bước chân vào thăm ký túc xá dành cho cả nam và nữ của cô con gái tôi tại Trường Stanford, nhìn thấy những cô cậu sinh viên nằm, ngồi dọc hành lang trường, tôi tự hỏi không biết làm thế nào người ta tổ chức được việc học nhỉ.

Vào giữa thập niên 1960, Đại học Wellesley bình lặng bắt đầu bị ảnh hưởng bởi các sự kiện của thế giới bên ngoài. Mặc dù tôi được bầu làm Chủ tịch Hội Thanh niên Cộng hòa của trường trong năm học đầu tiên nhưng tôi ngày càng nghi ngờ về Đảng Cộng hòa và các chính sách của nó, đặc biệt khi nó đề cập đến dân quyền và chiến tranh Việt Nam. Nhà thờ của tôi có tặng dài hạn cho những thanh niên tốt nghiệp trung học tạp chí Motive

được Hội Giám lý xuất bản. Hàng tháng, tôi đều đọc các bài báo trình bày quan điểm hoàn toàn tương phản với các nguồn tin thường có của mình. Tôi cũng bắt đầu đọc The New York Times, điều này làm bố tôi sửng sốt nhưng cô Fahlstrom thì khoái ch. Tôi đọc các bài diễn văn, xã luận của những tác giả thuộc giới diều hâu hoặc cánh ôn hòa cũng như của bất kỳ nhà bình luận nào. Các ý tưởng cũ và mới của tôi được kiểm nghiệm hàng ngày bởi các giáo sư dạy môn chính trị học, những người đã giúp tôi mở mang hiểu biết về thế giới và kiểm nghiệm các định kiến của mình với đầy đủ các dữ kiện đương thời. Chẳng bao lâu, tôi nhận thức rằng các tư tưởng chính trị của mình không còn đồng điệu với Đảng Cộng hòa. Đã đến lúc cần từ bỏ vai trò Chủ tịch Hội Thanh niên Cộng hòa.

Phó Chủ tịch Hội, cũng là bạn tôi - Besty Griffith - không những trở thành Chủ tịch mới mà còn gia nhập Đảng Cộng hòa cùng với chồng mình là nhà cố vấn chính trị John Deardourff. Cô đã nỗ lực giữ cho đảng của cô không quay sang cực hữu và là người ủng hộ trung thành phong trào đòi sửa đổi Hiến pháp về quyền bình đẳng nam nữ. Cô nhận được học vị Tiến sĩ Lịch sử và đã viết một cuốn tiểu sử về Elizabeth Cady Stanton được đón nhận nồng nhiệt. Sau này, cô quyết định dồn tâm huyết vào cương vị Hiệu trưởng Trường nữ sinh Madeira ở bắc Virginia. Tuy nhiên, tất cả những sự kiện đó là việc của mãi sau này, khi tôi đã chính thức rời tổ chức Thanh niên Cộng hòa ở Trường Wellesley và say mê tìm hiểu mọi thứ có thể tìm hiểu được về Việt Nam.

Khó mà giải thích cho thanh niên Mỹ ngày nay, đặc biệt là với một người lính tình nguyện về mức độ ám ảnh đối với thế hệ của tôi về chiến tranh Việt Nam. Bố mẹ tôi, sống qua Thế chiến thứ hai, đã kể cho chúng tôi những câu chuyện cảm động về tinh thần hy sinh của người Mỹ trong thời gian này và sự đồng tâm nhất trí của người dân Mỹ về việc cần thiết tham chiến của Hoa Kỳ sau vụ ném bom Trân Châu Cảng. Tuy nhiên trong cuộc chiến Việt Nam, đất nước lại bị chia rẽ, làm chúng tôi bối rối, mất phương hướng. Nều chàng trai trong chương trình huấn luyện sĩ quan dự bị ROTC rất trông mong được nhập ngũ khi họ tốt nghiệp và cũng không thiếu những thanh niên toan tính trốn quân dịch. Nữ sinh trường chúng tôi đã có những cuộc nói chuyện dài về nhưng điều mà chúng tôi có thể làm được nếu mình là nam giới. Chúng tôi biết rõ là mình không phải đối diện các lựa chọn tương tự. Đó là một nỗi dằn vặt đối với mọi người. Một bạn nam sinh viên ở Trường Đại học Princeton cuối cùng đã bỏ học giữa chừng và gia nhập Hải quân bởi vì anh ta nói với tôi là anh ta phát ốm với những tranh cãi và những điều không chắc chắn.

Cuộc tranh luận về Việt Nam đã thể hiện những thái độ khác nhau về cuộc chiến lẫn trách nhiệm công dân và tinh thần ái quốc. Có phải bạn tôn vinh tổ quốc bằng cách tham gia một cuộc chiến mà mình cho là phi nghĩa và đi ngược lại quyền lợi của Hoa Kỳ ? Liệu bạn có phải là người không yêu nước nếu bạn lợi dụng hoãn quân dịch hoặc trông chờ số phận may rủi để né tránh tham chiến ? Nhiều sinh viên mà tôi biết dù tranh luận và phản đối các giá trị đạo đức của cuộc chiến nhưng đều là người Mỹ yêu nước, cũng nồng nàn không kém các thanh niên dũng cảm khác đang phục vụ trong quân ngũ không mảy may hoài nghi hay những người nhập ngũ phục vụ trước rồi thắc mắc sau. Đối với nhiều nam nữ thanh niên có hiểu biết và suy nghĩ thì không hề có lời giải dễ dàng và đối với họ thì có nhiều cách để biểu lộ tinh thần ái quốc.

Một số nhà văn và chính tri gia đương thời cố gắng làm giảm nhẹ những đau đớn của những năm tháng này bằng cách miêu tả lối sống buông thả của những năm 60. Thật vậy, có một số người muốn viết lại lịch sử để xóa bỏ những di hại của chiến tranh và các biến động xã hội. Họ làm cho chúng ta tin rằng mâu thuẫn này không nghiêm trọng nhưng theo tôi nhớ thì hoàn toàn không phải v

Vấn đề Việt Nam đã biến đổi Hoa Kỳ một cách sâu sắc. Đất nước vẫn ôm một nỗi trăn trở về lỗi lầm và ý kiến lại đối với những người đã tham chiến hoặc không tham chiến tại Việt Nam. Là một phụ nữ, tôi biết mình không bị động viên nhập ngũ nhưng vẫn trải qua hàng giờ đồng hồ day dứt, trăn trở với những tình cảm mâu thuẫn của mình.

Nếu xét lại thì năm 1968 là một năm bước ngoặt đối với đất nước và cả đối với bản thản tôi cùng với xu hướng chính trị của mình. Các sự kiện trong nước và quốc tế diễn biến rất nhanh và liên tục : cuộc tấn công Tết Mậu Thân, sự rút lui của Lyndon Johnson khỏi cuộc đua bầu cử Tổng thống, vụ ám sát Mục sư Martin Luther King Jr., vụ ám sát Robert Kennedy và sự leo thang liên tục của cuộc chiến tranh Việt Nam.

Đến lúc học đại học năm thứ ba, tôi đã biến từ một cô gái ủng hộ Goldwater sang ủng hộ phong trào phản chiến của Eugene McCarthy, một Thượng nghị sĩ Dân chủ của tiểu bang Minnesota - người đã tranh cử với Tổng thống Johnson trong cuộc bầu chọn ứng cử viên trong Đảng Dân chủ. Mặc dù tôi ngưỡng mộ Tổng thống Johnson với những thành tựu trong nước nhưng tôi nghĩ rằng việc ông kiên trì ủng hộ cho cuộc chiến tranh mà ông kế thừa là một sai lầm mang tính bi kịch. Cùng với một số bạn bè , tôi đã lái xe rời Wellesley đến Manchester, New Hampshire vào ngày thứ Sáu hay thứ Bảy để phát tờ bướm tại các khu đông người qua lại. Tôi có cơ hội gặp gỡ Thượng nghi si McCarthy khi ông dừng lại trước trụ sở của mình cám ơn những sinh viên tình nguyện đã tập hợp ủng hộ ông chống chiến tranh. Ông hầu như đã đánh bại Johnson trong cuộc bầu chọn ứng viên tại vùng New Hampshire và vào ngày l6 tháng 3 năm 68, Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy của New York bước vào cuộc đua tranh.

Vụ ám sát Tiến sĩ King vào ngày 4/4/1968, gần cuối năm thứ ba đại học của tôi đã làm tôi rất đau khổ và phẫn nộ. Bạo loạn đã bùng phát ở một số thành phố. Ngày hôm sau, tôi tham gia một đoàn biểu tình lớn và làm lễ tưởng niệm tại quảng trường Post Office ở Boston. Tôi quay về làng đại học, đeo băng tang trên cánh tay và trăn trở đau khổ cho tương lai mà Hoa Kỳ phải đối mặt.

Trước khi tôi đến Trường Wellesley, những người Mỹ da đen ít ỏi mà tôi biết là những người được bố mẹ tôi tuyển dụng trong việc kinh doanh và phụ giúp trong gia đình. Tôi đã từng nghe Tiến sĩ King nói chuyện và tham gia trao đổi với các thanh niên da đen và thanh niên gốc Mỹ La tinh tại nhà thờ. Nhưng tôi không có một người bạn da đen nào, thậm chí là hàng xóm hoặc bạn cùng lớp cho đến khi tôi vào đại học. Karen Wilhamson, một sinh viên năng động với tư duy độc lập đã trở thành một trong những người bạn da đen đầu tiên của tôi ở trường. Mặc dù tôi quý mến Karen và muốn hiểu hơn về người bạn này nhưng tôi vẫn ngại ngùng về động cơ của mình và hiểu rất rõ rằng tôi đang rời bỏ quá khứ của bản thân. Khi bắt đầu hiểu rõ hơn về những người bạn da đen cùng lớp, tôi biết rằng họ cũng ngại ngùng. Giống như tôi đến Trường Wellesley từ một môi trường toàn người da trắng, họ cũng đến đây từ một cộng đồng toàn người da đen. Janet McDonald, một cô gái duyên dáng và bản lĩnh đến từ vùng New Orleans, đã kể một câu chuyện giữa cô với bố mẹ ngay sau ngày cô đến trường. Khi cô nói với bố mẹ là, "Con ghét nơi này, toàn người da trắng", bố cô đồng ý để cô rời trường nhưng bà mẹ thì lại nhất quyết rằng, "Con làm được mà! Mẹ tin con sẽ trụ lại được". Điều này cũng tương tự như câu chuyện của tôi với bố mẹ mình. Các ông bố của chúng tôi sẵn sàng, thậm chí khuyến khích tôi quay về nhà trong khi các bà mẹ lại khuyên nhủ chúng tôi ở lại. Và chúng tôi đã làm theo lời của mẹ.

Karen, Fran Rusan, Alvia Wardlaw và các sinh viên da đen khác tham gia vào tổ chức Ethos, một tổ chức đầu tiên của người Mỹ gốc Phi ở đại học, hoạt động như một mạng lưới xã hội dành cho các sinh viên da đen tại Trường Wellesley, đóng vai trò như một nhóm vận động hành lang trong các vấn đề cần giải quyết với ban điều hành trường. Sau vụ ám sát Mục sư King, tổ chức Ethos đã vận động trường quan tâm hơn tới các vấn đề sắc tộc, tuyển nhận thêm các giảng viên và sinh viên da đen. Họ đe dọa tổ chức một cuộc tuyệt thực nếu trường không đáp ứng các yêu cầu đó. Đây là cuộc phản đối công khai duy nhất của sinh viên Trường Wellesley vào cuối những năm 1960. Trường Wellesley đã đáp ứng bằng cách triệu tập một cuộc họp toàn trường tại Houghton Memorial Chapel để các thành viên của Ethos có thể giải trình các yêu cầu của mình. Cuộc họp bắt đầu có chiều hướng trở thành một đám đông huyên náo, hỗn loạn. Kris Olson, Nancy Gist và Susan Graber - những người sau này sẽ cùng tôi tiếp tục học lên Đại học Luật Yale - lo lắng là đám sinh viên có thể tổ chức đình công, bãi khóa. Tôi vừa được bầu làm Chủ tịch Hội Sinh viên trường nên Kris và các thành viên Ethos yêu cầu tôi cố gắng làm cho cuộc tranh luận đi theo chiều hướng xây dựng tích cực và cố truyền đạt những bức xúc chính đáng của đa số sinh viên đối với các cơ chế điều hành của trường. Trường Wellesley không làm họ thất vọng, trường đã nỗ lực tuyển thêm các giảng viên và sinh viên da màu. Việc làm này bước đầu đem lại những kết quả khích lệ vào thập niên 1970.

Vụ ám sát Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy vào hai tháng sau, ngày 5/6/1968, đã làm trầm trọng hơn sự thất vọng của tôi về các sự kiện trong đời sống xã hội Mỹ. Khi hay tin về vụ ám sát từ Los Angcles, tôi đang nghỉ học ở nhà. Mẹ tôi đánh thức tôi và bà nói "một chuyện gì đó rất tồi tệ lại tái diễn". Tôi gần như ôm máy điện thoại cả ngày nói chuyện với người bạn Kevin O’Keefe, một người Chicago gốc Ai Len-Ba Lan, rất mến mộ gia đình Kennedy và quan tâm đến các biến cố chính trị. Chúng tôi hay nói chuyện chính trị và hôm ấy anh rất phẫn nộ về việc mất đi John Kennedy và Robert Kennedy, trong khi đất nước rất cần sự lãnh đạo, mạnh mẽ và sáng suốt của họ. Chúng tôi đã nói chuyện rất nhiều, lúc đó và cả sau này, không biết hoạt động chính trị có đáng với nỗi đau và sự đấu tranh như thế không. Lúc đó, cũng như bây giờ, chúng tôi cho rằng là đáng, cho dù, nói theo cách của Kevin, là chỉ để "ngăn chặn bọn xấu đè đầu, cưỡi cổ mình".

Tôi đã nộp đơn xin theo Chương trình Sinh viên Thực tập Wellesley tại thủ đô Washington. Mặc dù thất vọng và mất niềm tin vì vụ ám sát này nhưng tôi vẫn nung nấu ý định đi Washington. Chương trình thực tập hè chín tuần giúp sinh viên tham gia vào các cơ quan và văn phòng Quốc hội để có cái nhìn khái quát về "phương cách hoạt động của chính phủ”. Tôi rất ngạc nhiên khi giáo sư Alan Schechter, giám đốc chương trình, một giảng viên chính trị học tài ba và cũng là giáo viên hướng dẫn luận văn tốt nghiệp của tôi đã phân tôi vào làm việc thực tập tại Văn phòng Nghị sĩ Đảng Cộng hòa. Ông biết tôi vào đại học với tư tưởng của người ủng hộ Đảng Cộng hòa theo lập trường chính trị của bố mình, và cũng biết sau đó tôi đã từ bỏ chính kiến này. Ông nghĩ rằng chương trình thực tập này sẽ giúp tôi tiếp tục hoạch định con đường của riêng mình, bất kể là tôi đã quyết định điều gì đi nữa. Tôi phản đối, song vô ích, và cuối cùng phải đến trình diện với một nhóm do Gerald Ford - lúc đó là thủ lĩnh Phe thiểu số - lãnh đạo. Nhóm có cả Nghị sĩ Melvin Laird của bang Wisconsin và Nghị sĩ Charles Goodell của New York, người đã làm bạn và tư vấn tận tình cho tôi.

Các sinh viên thực tập có những tấánh chụp theo quy định cùng với các nghị sĩ Quốc hội. Nhiều năm sau này, khi tôi đã trở thành Đệ nhất Phu nhân Hoa Kỳ, tôi đã kể cho cựu Tổng thống Ford nghe việc tôi đã từng là một trong số hàng ngàn sinh viên thực tập đã làm việc cho ông tại Trụ sở Quốc hội Mỹ. Bức ảnh chụp tôi cùng với ông Ford và các nhà lãnh đạo của Đảng Cộng hòa đã làm cho bố tôi rất hạnh phúc, ông đã treo nó trong phòng ngủ cho đến khi ông qua đời. Tôi cũng ký tên vào một bản sao của bức ảnh đó và tặng nó cho Tổng thống Ford với những lời cảm kích và xin lỗi vì đã xa rời đường lối của ông.

Tôi thường nghĩ về kinh nghiệm đầu tiên của mình ở Washington mỗi khi có dịp gặp gỡ các sinh viên thực tập tại văn phòng Thượng nghị sĩ của mình. Tôi đặc biệt nhớ buổi ông Mel Laird tổ chức cho một nhóm đông sinh viên chúng tôi thảo luận về chiến tranh Việt Nam. Mặc dù ông đã bày tỏ các quan ngại của mình về cách thức chính quyền Johnson viện trợ chiến tranh và nếu việc leo thang chiến tranh có vượt qua sự phê chuẩn của Quốc hội Mỹ thông qua nghị quyết Vịnh Bắc bộ nhưng ông vẫn công khai ủng hộ cuộc chiến với tư cách là một nghị sĩ. Trong cuộc họp mặt với các sinh viên thực tập, ông đã lý giải việc tham gia của Hoa Kỳ và bênh vực mạnh mẽ cho mục tiêu xây dựng lực lượng quân sự hùng mạnh hơn của Mỹ. Khi ông ngừng phát biểu để nghe đặt câu hỏi, tôi đã lặp lại ý kiến của Tổng thống Eisenhower quan ngại về sự tham gia của Hoa Kỳ trong những cuộc chiến lục quân ở châu Á và chất vấn tại sao ông nghĩ chiến lược này có khả năng thành công. Dù chúng tôi bất đồng quan điểm nhưng tôi vẫn đánh giá cao và kính trọng ông ở chỗ ông sẵn sàng giải thích và bảo vệ quan điểm của mình trước thế hệ trẻ. Ông đã thu hút được sự quan tâm và kính trọng của chúng tôi. Sau đó ông đảm nhiệm vai trò Bộ trưởng Quốc phòng cho Tổng thống

Dân biểu Charles Goodell đại diện cho vùng tây New York là người sau này được Thống đốc Nelson Rockefeller chỉ định làm Thượng nghị sĩ thay thế Robert Kennedy cho đến khi tổ chức bầu cử Goodell là một chính khách Cộng hòa cấp tiến bị một nghị sĩ bảo thủ hơn nhiều là James Buckley đánh bại trong cuộc bầu cử vào năm 1970. Năm 1976, Buckley thất bại trong cuộc tranh cử với Daniel Patrick Moynihan, người tiền nhiệm của tôi đã giữ ghế suốt 24 năm. Khi tôi ra tranh cử ghế Thượng nghị sĩ vào năm 2000, tôi rất vui khi được kể cho mọi người ở Jamestown, quê hương của Goodell là tôi đã từng làm việc cho ngài Nghị sĩ. Gần cuối khóa thực tập, Goodell đề nghị tôi và một ít thực tập sinh khác đi cùng với ông đến Đại hội Đảng Cộng hòa ở Miami để hỗ trợ cho Thống đốc Rockefeller trong một nỗ lực cuối cùng cố vận động đảng mình đừng lựa chọn Richard Nixon. Tôi nắm lấy cơ hội và lên đường đi Florida.

Đại hội Đảng Cộng hòa là dịp để tôi lần đầu tiên được quan sát các hoạt động chính trị tầm cỡ và tôi nhận thấy một tuần lễ ở đây toàn là những ảo tưởng và âu lo. Khách sạn Fontainebleau bên bãi biển Miami là khách sạn đầu tiên tôi thật sự được ở - bởi gia đình tôi thường ngủ trong xe hơi trên đường đến hồ Winola hoặc ở trong các khách sạn lữ hành nhỏ dọc xa lộ. Quy mô, sự sang trọng và dịch vụ của khách sạn là một ngạc nhiên đối với tôi. Chính ở đó lần đầu tiên tôi gọi phục vụ phòng. Một buổi sáng, tôi gọi món ngũ cốc kèm với đào và đến nay, tôi như vẫn còn thấy rõ quả đào tươi mọng được bọc trong một chiếc khăn đặt trên một cái đĩa ấy. Tôi được dành cho một cái giường có bánh xe và ở cùng với bốn phụ nữ khác trong phòng nhưng tôi nghĩ là không người nào trong số chúng tôi có thể ngủ ngon. Chúng tôi trực căn phòng làm tổng hành dinh tranh cử của Rockefeller, tiếp điệnại và đưa nhận tin từ các phái viên hoặc đại diện chính trị của Rockefeller. Vào một đêm khuya, một nhân viên tham mưu chiến dịch của Rockefeller hỏi mọi người trong phòng là chúng tôi có muốn gặp Frank Sinatra hay không. Mọi người reo hò sôi nổi, háo hức trước viễn cảnh này. Tôi cùng với một nhóm người đến căn phòng trên lầu thượng để bắt tay với Sinatra, người làm ra vẻ quan tâm lịch sự đến chúng tôi. Tôi đi thang máy xuống cùng với John Wayne lúc đó đang bực bội và phàn nàn đủ thứ về các món ăn dở tệ ở trên lầu.

Mặc dù rất hồ hởi với tất cả các trải nghiệm mới mẻ này, từ dịch vụ phòng cho đến các nhân vật nổi tiếng, nhưng tôi biết rằng Rockefeller sẽ không được đề cử. Việc chọn Richard Nixon sẽ củng cố uy quyền của phe bảo thủ đối với phái theo tư tưởng ôn hòa trong nội bộ Đảng Cộng hòa. Ưu thế này trở lên nổi trội suốt nhiều năm khi Đảng Cộng hòa tiếp tục khuynh hướng thiên hữu và phe ôn hòa suy yếu về số lượng và ảnh hưởng. Đôi khi tôi nghĩ rằng Đảng Cộng hòa đã rời bỏ tôi chứ không phải là tôi rời bỏ nó.

Tôi về nhà ở Park Ridge sau khi kết thúc Đại hội Đảng Cộng hòa mà không có kế hoạch nào cho những tuần lễ hè còn lại ngoài việc thăm gia đình, bạn bè và chuẩn bị cho năm học cuối. Vì gia đình tôi hàng năm có một chuyến đi nghỉ ở hồ Winola nên tôi tháp tùng theo mọi người. Tôi chắc chắn sẽ dành hàng tiếng đồng hồ đề tranh luận với bố tôi về Nixon và chiến tranh Việt Nam. Bố tôi rất thích Nixon và tin là Nixon sẽ trở thành một Tổng thống lỗi lạc. Về cuộc chiến Việt Nam, ông có thái độ nước đôi. Những nghi ngờ của ông về sự khôn ngoan của Hoa Kỳ trong việc dính líu vào cuộc chiến này thường bị chặn đứng bởi sự tức giận đối với lũ thanh niên tóc dài híp-pi phản chiến.

Ng1;i bạn thân Besty Johnson của tôi vừa về nước sau một năm học tập ở Tây Ban Nha. Mặc dù nhiều thứ đã thay đổi kể từ thời trung học - những đồng phục mà chúng tôi mặc ngày trước như áo dài tay, váy dài trang nhã đã được thay thế bằng chiếc quần jeans xanh bạc phếch và mái tóc xõa dài - nhưng có một thứ vẫn không đổi thay. Đó là việc tôi vẫn trông đợi một tình bạn với Besty và sự chia sẻ về những mối quan tâm chính trị. Cả hai chúng tôi đều không dự định đến Chicago khi Đại hội Đảng Dân chủ được tổ chức tại đây. Nhưng khi các cuộc phản đối nổ ra tại trung tâm thành phố, chúng tôi biết rằng đây là cơ hội để chứng kiến lịch sử. Besty gọi điện cho tôi nói "Chúng ta phải đích thân đến xem sự kiện này" và tôi đã đồng ý.

Giống như thời chúng tôi đi xuống trung tâm thành phố kiểm tra danh sách bầu cử lúc học cấp hai, chúng tôi biết rằng bố mẹ mình sẽ không bao giờ cho phép nếu họ biết được điều chúng tôi định làm. Mẹ tôi đã đi Pennsylvania và mẹ của Besty, bà Roslyn, đeo đôi găng tay trắng và mặc áo đầm chuẩn bị đi xuống trung tâm thành phố ghé qua khu Marshall Field đế mua sắm và ăn trưa ở nhà hàng Stouffer. Do đó, Besty nói với mẹ mình "Mẹ cho Hillary và con đi lên phố xem xi-nê nhá".

Mẹ Besty đến đón tôi bằng một chiếc ô tô loại dành cho gia đình và thế là chúng tôi lên đường đi Grant Park, trung tâm sự kiện của các cuộc biểu tình, tuần hành. Đấy là buổi tối cuối cùng của Đại hội Đảng Dân chủ, Grant Park rơi vào tình trạng hỗn loạn. Bạn có thể ngửi thấy mùi hơi cay trước khi thấy cảnh sát dàn hàng ngang chắn đường. Trong đám đông phía sau có ai đó văng tục và ném một hòn đá sượt qua chúng tôi. Tôi và Besty đã phải bò lê bò càng để thoát ra khi cảnh sát đàn áp đám biểu tình bằng dùi cui và gậy gộc.

Người đầu tiên chúng tôi tình cờ gặp là một người bạn từ học. Là một sinh viên ngành điều dường, cô ấy đang tình nguyện tham gia đội cấp cứu để chăm sóc những người biểu tình bị thương. Cô bảo chúng tôi là điều mà cô đang chứng kiến và hành động đã làm cô trở thành một người cấp tiến, và tình hình nghiêm trọng này có thể dẫn đến một cuộc cách mạng.

Besty và tôi thật sự bị sốc khi chứng kiến sự tàn bạo của cảnh sát tại Grant Park. Nhưng hình ảnh này cũng được chiếu trên đài truyền hình quốc gia. Sau này, Besty đã nói với tờ The Washington Post là "Chúng tôi đã có một tuổi thơ tuyệt vời tại Park Ridge nhưng rõ ràng chúng tôi không được hưởng trọn vẹn.”

Kevin O’keefe và tôi đã dành hàng tiếng đồng hồ vào mùa hè năm ấy để tranh luận về ý nghĩa của cách mạng và tranh cãi xem Hoa Kỳ có phải đối mặt với một cuộc cách mạng hay không. Mặc dù năm ngoái xảy ra một số sự kiện, cả hai chúng tôi đều kết luận là sẽ không xảy ra cuộc cách mạng và thậm chí nếu có cách mạng thì chúng tôi cũng không bao giờ tham gia. Tuy có tan vỡ những ảo tưởng về chính trị nhưng tôi biết rằng đây là con đường duy nhất cho chế độ dân chủ với những thay đổi ôn hòa và lâu dài. Lúc đó, tôi cứ nghĩ là mình sẽ không tham gia vào cơ quan chính quyền nữa nhưng tôi vẫn muốn đóng vai trò vừa là công dân vừa là nhà hoạt động chính trị. Tôi nghĩ rằng hành động phản kháng bất tuân và bất bạo động của Mục sư King và Mahatma Gandhi đã đem lại nhiều thay đổi thật sự hơn hành động ném đá của một triệu người biểu tình.

Năm cuối tại Đại học Wellesley đã cho tôi cơ hội kiểm chứng lại niềm tin của mình. Để chuẩn bị luận văn, tôi nghiên cứu và phân tích công việc của một nhà tổ chức nghiệp đoàn ở Chicago tên là Saul Alinsky, người mà tôi đã có dịp gặp gỡ vào mùa hè trước. Alinsky là một nhân vật mu mè, hay gây tranh cãi, từng xúc phạm hầu hết mọi người trong quá trình làm việc. Phương châm của ông cho vấn đề thay đổi xã hội là cần tổ chức dân chúng lại, hướng dẫn họ đối đầu với chính phủ và các doanh nghiệp nhằm giành lấy sức mạnh và quyền hạn để cải thiện cuộc sống. Tôi đồng ý với một số ý tưởng của Alinsky, đặc biệt là việc trao quyền cho nhân dân làm chủ. Nhưng chúng tôi có một bất đồng cơ bản. Ông tin rằng chỉ có thể thay đổi hệ thống từ bên ngoài. Tôi lại không nghĩ như vậy. Ông muốn tôi về làm việc cho ông sau khi tốt nghiệp đại học và ông đã thất vọng khi tôi quyết định học tiếp trường luật. Alinsky nói rằng tôi sẽ phung phí thời gian của mình. Nhưng quyết định của tôi thể hiện niềm tin của bản thân là hệ thống có thể được thay đổi từ bên trong. Tôi đã dự kỳ thi tuyển sinh của trường luật và nộp đơn vào một số trường.

Sau khi được Trường Harvard và Yale chấp nhận, tôi vẫn chưa quyết định nơi mình nhập học mãi cho đến khi tôi được mời tham dự một bữa tiệc cocktail tại Trường Luật Harvard. Một bạn nam sinh viên luật giới thiệu tôi với một giáo sư luật nổi tiếng của Harvard và nói: "Đây là Hillary Rodham. Cô đang cố gắng quyết định năm tới sẽ học tại trường chúng ta hoặc đặt bút ký đơn xin nhập học tại trường đối thủ của chúng ta”. Vị học giả nhìn tôi với một ánh mắt lãnh đạm và khinh khỉnh nói "Trước hết, chúng ta không có trường nào là đối thủ cạnh tranh cả. Thứ hai, chúng ta không cần thêm bất kỳ một phụ nữ nào tại Trường Harvard". Lúc đó tôi đã có hướng thiên về đại học Yale nhưng dù sao sự việc này đã làm tôi không còn gì phải do dự nữa.

Bây giờ chỉ còn chuyện tốt nghiệp Trường Wellesley và tôi nghĩ chuyện này không có gì là đặc biệt cho đến khi người bạn cùng lớp của tôi là Eleanor "Eldie" Acheson quyết định là lớp của chúng tôi cần có một phát ngôn viên tại tốt nghiệp. Tôi đã gặp Eldie, cháu của Bộ trưởng Ngoại giao Dean Acheson thời Tổng thống Truman, trong một lớp chính trị học năm thứ nhất, nơi chúng tôi phải mô tả xuất thân chính tri của mình. Sau này Eldie nói với tạp chí Boston Globe rằng cô bị sốc khi biết không chỉ có Hillary mà còn có các nhân vật thông minh khác lại theo Đảng Cộng hòa. Phát hiện này làm cô rất buồn rầu nhưng chính nó đã lý giải tại sao Đảng Cộng hòa đã liên tục giành chiến thắng trong các cuộc bầu cử Tổng thống.

Wellesley chưa bao giờ có một phát ngôn viên của giới sinh viên và Hiệu trưởng Ruth Adams đã chống lại việc mở ra một tiền lệ như vậy. Bà không có nhiều cảm tình với phong trào sinh viên những năm 1960. Tôi đã có những cuộc gặp mặt hàng tuần với bà trong tư cách là Chủ tịch Hội Sinh viên và câu hỏi thường xuyên bà dành cho tôi giống như một câu nói của Freud: "Các bạn muốn gì, các cô gái?” Nói cho công bằng với bà thì đa số chúng tôi cũng không biết mình muốn gì. Chúng tôi bị mắc kẹt giữa một quá khứ lỗi thời và một tương lai bấp bênh. Chúng tôi thường tỏ ra không tôn trọng, mỉa mai và tự cho là mình đúng trong các nhận xét đánh giá về người lớn và giới lãnh đạo. Vì vậy, khi Eldie tuyên bố với bà Hiệu trưởng Adams là cô đại diện cho một nhóm sinh viên muốn có một phát ngôn viên của sinh viên thì phản ứng tiêu cực ban đầu của bà không có gì đáng ngạc nhiên. Thế là Eldie gia tăng áp lực bằng cách tuyên bố rằng nếu yêu cầu bị từ chối thì đích thân cô sẽ nỗ lực tổ chức việc chống lại buổi lễ ra trường. Eldie còn nói thêm là cô tin ông của mình sẽ tham gia việc này. Khi Eldie báo rằng cả hai phe đã sẵn sàng lâm chiến, tôi đi gặp bà Hiệu trưởng Adams tại một căn nhà nhỏ của bà bên bờ hồ Waban.

Khi tôi hỏi bà: "Sự thật thì sự phản đối của nhà trường là gì?”, bà trả lời: "Việc này chưa có tiền lệ". Tôi nói: "Vậy thì chúng ta thử làm xem". Bà hỏi lại: "Tôi muốn biết họ đề nghị ai đại diện phát biểu?” Thế là tôi trả lời "Vâng, họ đề nghị tôi phát biểu”. Bà nói: "Để tôi suy nghĩ thêm". Cuối cùng thì bà Hiệu trưởng Adams đã chấp thuận yêu cầu.

Sự hồ hởi của bạn bè về phần phát biểu của tôi làm tôi lo lắng vì tôi chưa có ý tưởng gì để thể hiện đúng bốn năm học sôi động của chúng tôi tại Trường Wellesley và là lời tiễn đưa bằng hữu vào một tương lai bất định.

Trong suốt năm thứ ba và năm thứ tư đại học, Johanna Branson và tôi sống trên lầu ba của ký túc xá Davis, trong một căn phòng rộng rãi nhìn ra bờ hồ Waban. Tôi đã có nhiều thời gian ngồi trên giường nhìn ra ngoài cửa sổ, ngắm mặt hồ tĩnh lặng và lo lắng về đủ mọi chuyện, từ các mối quan hệ trong cuộc sống, đức tin đến những phong trào chống đối, phản chiến. Giờ đây, khi nghĩ về tất cả những điều bản thân mình và bạn bè đã trải qua trong suốt bốn năm, tôi lại tự hỏi làm thế nào tôi có thể đánh giá đúng về quãng thời gian chúng tôi đã cùng chia ngọt sẻ bùi với nhau. May mắn là các bạn cùng lớp của tôi đã kéo đến phòng, để lại các bài thơ và lời nói, hài hước bình phẩm về cuộc hành trình mà chúng tôi cùng chia sẻ trong thời gian qua, góp ý các cử chỉ, tư thế có thể gây ấn tượng và xúc động. Nancy "Anne" Scheibner, một sinh viên nghiêm túc ngành tôn giáo đã viết một bài thơ dài thể hiện tư tưởng của chúng tôi. Tôi dành hàng tiếng đồng hồ để nói với mọi người về những điều mà họ muốn tôi phát ngôn và cũng mất nhiều tiếng đồng hồ để làm rõ hơn đủ thứ lời khuyên linh tinh và mâu thuẫn mà mình tiếp nhận.

Tôi đi ăn tối cùng với một nhóm bạn và gia đình họ vào đêm trước ngày lễ tốt nghiệp và tình cờ gặp Eldie Acheson và gia đình cô. Cô giới thiệu tôi với người ông của mình: "Ông à, đây là người sẽ phát biểu vào ngày mai". Ông Acheson nóÔng rất trông đợi được nghe những lời phát biểu của cháu”. Tôi cảm thấy rất bối rối. Tôi còn chưa chắc về những điều mình sẽ nói và tôi vội vã quay về ký túc xá để thức trắng một đêm - đêm cuối cùng của tôi ở trường đại học.

Bố mẹ tôi rất vui mừng về việc chứng kiến có con gái tốt nghiệp nhưng mẹ tôi lại đang không được khỏe lắm. Bác sĩ đã kê thuốc hạ huyết áp và khuyên bà không được đi xa. Do đó, rất tiếc là mẹ tôi đã không thể đến và bố tôi lúc ấy cũng không muốn đi một mình.

Nhưng khi tôi báo cho bố mẹ là mình sẽ phát biểu trong buổi lễ thì bố tôi quyết định phải đi dự lễ. Và với phong cách rất đặc trưng của dòng họ Rodham, ông đáp máy bay đến Boston vào khuya đêm hôm trước lễ tốt nghiệp, ở trọ gần phi trường, đi xe đến trường đại học dự lễ tốt nghiệp, ghé Wellesley Inn ăn trưa với một số người bạn của tôi cùng người thân của họ và sau đó về thẳng nhà. Điều mà tôi cảm kích là ông đã ở bên tôi tại lễ tốt nghiệp, giúp tôi nguôi ngoai nỗi buồn về việc vắng mặt của mẹ. Xét về nhiều mặt thì giây phút này không những rất có ý nghĩa cho tôi mà còn rất quan trọng đối với bà.

Buổi sáng lễ tốt nghiệp ngày 31 tháng 5 năm 1969 là một ngày đẹp trời. Chúng tôi tập trung tại Academic Quadrangle để bắt đầu buổi lễ trên bãi cỏ giữa thư viện và giáo đường của trường. Bà Hiệu trưởng Adams hỏi là tôi sẽ nói gì và tôi nói với bà là tôi vẫn đang nghiền ngẫm ý tưởng. Bà giới thiệu tôi với Thượng nghị sĩ Edward Brooke, người phát biểu chính thức tại buổi lễ và cũng là Thượng nghị sĩ duy nhất đại diện cho người Mỹ gốc Phi mà tôi đã tham gia ủng hộ trong cuộc vận động năm 1966, khi tôi còn là một hội viên trẻ của Đảng Cộng hòa. Sau khi thức suốt đêm cố gắng ráp nối các ý tưởng phát biểu trong một bài viết chungmuốn bạc cả đầu và trông rất lôi thôi, thậm chí còn tệ hơn nữa khi phải lỉnh kỉnh đội mũ tốt nghiệp. Những bức ảnh của tôi ngày hôm đó xấu khủng khiếp.

Diễn văn của Thượng nghị sĩ Brooke thừa nhận là "đất nước chúng ta đang có những vấn đề xã hội nóng bỏng và chia rẽ sâu sắc trong chặng đường phát triển” và "đất nước cần huy động mọi năng lực ưu tú của toàn thể công dân, đặc biệt là thế hệ trẻ tài năng, để chữa lành các vết thương đó”. Ông cũng lên tiếng chỉ trích cái ông gọi là "sự phản đối do bị lôi kéo". Vào thời điểm đó thì bài diễn văn nghe có vẻ như bảo vệ các chính sách của Tổng thống Nixon vì những gì nó không đề cập chứ không phải vì nội dung. Tôi lắng nghe một cách vô vọng chờ ông thừa nhận những trăn trở day dứt và những câu hỏi cay đắng của rất nhiều thanh niên Mỹ về định hướng của đất nước. Tôi đợi nghe diễn văn đề cập đến Việt Nam hoặc về dân quyền, về Mục sư King hoặc Thượng nghị sĩ Kennedy, hai người anh hùng mới ngã xuống. Vị Thượng nghị sĩ dường như không đi được vào tâm lý của khán giả: bốn trăm nữ trí thức trẻ với nhiều trăn trở; thắc mắc. Lời nói của ông nhắm vào một Trường Wellesley hoàn toàn khác, một trường học tồn tại trước giai đoạn đầy nhưng biến chuyển của thập niên 1960.

Tôi nghĩ Eldie thật biết nhìn xa trông rộng khi biết rằng những bài diễn văn như thế sẽ là một nỗi thất vọng lớn sau bốn năm trời mà sinh viên chúng tôi và cả nước Mỹ đã trải qua. Do đó tôi lấy hơi thật sâu và bắt đầu bảo vệ "nhiệm vụ không thể nào thiếu được là phê bình và phản đối mang tính xây dựng". Diễn giải bài thơ của Anne Scheibner mà tôi trích dẫn vào phút cuối, rồi nêu lên rằng "thách thức hiện nay là thực hiện các hoạt động chính trị như là một nghệ thuật biến cái dường như không thể thành có thể"

Tôi đã nói về khoảng cách giữa các kỳ vọng mà lớp tôi nung nấu khi đến trường học tập với thực tế mà chúng tôi đã trải qua. Hầu hết chúng tôi đều đến từ những môi trường được bảo bọc, và những sự kiện có tính cá nhân lẫn xã hội đã đặt ra cho chúng tôi những câu hỏi về thực tế cuộc sống của mình thời kỳ trước khi là sinh viên. Bốn năm học ở trường là một sự trải nghiệm khác hẳn các kinh nghiệm của thế hệ cha mẹ chúng tôi, không phải là các thách thức bên ngoài như cuộc đại khủng hoảng kinh tế hoặc Thế chiến thứ hai như thế hệ của họ. Vì thế, chúng tôi bắt đầu đưa ra các câu hỏi, trước tiên về các chính sách của Trường Wellesley, sau đó là các thắc mắc về ý nghĩa của nền giáo dục đại học tổng hợp, về quyền công dân, vai trò phụ nữ, chiến tranh Việt Nam. Tôi biện hộ cho phong trào phản đối bởi vì nó đóng vai trò như "một nỗ lực để trui rèn một bản sắc trong giai đoạn rất đặc biệt này" và đây cũng là một phương cách "hòa đồng với tính nhân bản của chúng ta". Nó là một bộ phận của “truyền thống độc đáo của người dân Mỹ" và “nếu thử nghiệm quyền sống con người không diễn ra được trên đất nước tự do này thì nó sẽ không thể nào xảy ra ở bất kỳ nơi nào khác".

Tôi nhắc lại việc tôi đã hỏi lớp mình về điều mà họ muốn tôi phát ngôn cho họ và câu trả lời của mọi người: "Hãy nóivề niềm tin, hãy nói về việc thiếu niềm tin giữa chúng ta và cách mà chúng ta cảm nhận về nhau. Hãy nói về khủng hoảng niềm tin". Tôi nhận thấy thật là khó khăn để lột tả được cái cảm giác đó, một cảm giác đang ray rứt cả một thế hệ.

Và cuối cùng tôi nói về cuộc đấu tranh để xây dựng một "sự tôn trọng lẫn nhau giữa con người với con người". Tuy nhiên, từ trong những câu chữ phát biểu của tôi đã bộc lộ một nỗiãi mà nhiều người chúng tôi cảm nhận về tương lai của mình. Tôi liên hệ đến một cuộc trò chuyện vào ngày hôm trước với mẹ của một người bạn học cùng lớp "người đã phát biểu thẳng bà không muốn đổi chỗ cho tôi với bất kỳ giá nào. Bà ấy không muốn sống trong thời đại ngày nay và phải nhìn tới tương lai để xem mình sẽ chứng kiến điều gì bởi vì bà sợ". Tôi nói "Sợ hãi luôn ở bên chúng tôi nhưng chúng tôi không có thời gian để bận tâm về nó. Không phải là lúc này."

Như tôi thừa nhận, bài diễn văn là một nỗ lực "để thể hiện những cái gì đó mơ hồ, thậm chí là không thể diễn tả được những điều mà chúng tôi đang cảm nhận". Vì chúng tôi "đang khám phá một thế giới mà không ai trong chúng tôi hiểu được và đang cố gắng tạo ra nó trong một bối cảnh mơ hồ, không chắc chắn". Bài diễn văn này có lẽ không phải là bài nói mạch lạc nhất của tôi nhưng nó đã thể hiện được tâm tư nguyện vọng của lớp tôi, và họ đã đứng dậy vỗ tay một cách nồng nhiệt, một phần theo tôi là nhờ tôi cố gắng giải mã được ý nghĩa của thời đại và vị trí của chúng tôi. Bài phát biểu trên một sân khấu trước hai ngàn người - phản ánh lại thông điệp từ vô số các cuộc nói chuyện, câu hỏi chất vấn, hoài nghi và hy vọng mà mỗi chúng tôi chất chứa cho cái giây phút đó. Bài diễn văn không chỉ đơn thuần thể hiện những nguyện vọng suy nghĩ của các sinh viên tốt nghiệp Wellesley mà còn nói lên tâm tư, nguyện vọng của những phụ nữ và người dân Mỹ về một cuộc sống minh họa rõ nét những thay đổi và lựa chọn mà thế hệ chúng tôi phải đối mặt vào cuối thế kỷ 20.

Buổi chiều hôm đó, tôi đi bơi lần cuối cùng tại hồ Waban. Thay vì đi ra bãi đất nhỏ bên căn nhà nổi bên hồ, tôi lại quyết định bơi ở khu gần ký túc xá của trường, một khu vực bị cấm bơi. Tôi thay đồ tắm, để lại chiếc quần jeans ngắn, áo sơ mi cộc tay với cặp mắt kính giống như của phi công ở trên bờ. Tôi hoàn toàn không quan tâm đến nhân tình thế sự trên thế giới này khi bơi ra giữa hồ. Tôi lại bị cận thị nên quang cảnh xung quanh tôi giống như một bức tranh theo trường phái ấn tượng. Tôi thích được ở Wellesley và tận hưởng sự thư giãn tuyệt vời suốt bốn mùa nhờ vẻ đẹp tự nhiên của nơi đây. Chuyến bơi là lời tạm biệt với nơi chốn xinh đẹp này. Khi lên bờ, tôi không tìm thấy quần áo và kính mắt của mình.

Cuối cùng, tôi buộc lòng phải hỏi người bảo vệ của trường là ông có thấy mấy thứ đồ đạc của tôi không. Ông nói Hiệu trưởng Adams đã thấy tôi bơi và ra lệnh cho ông tịch thu. Rõ ràng là bà hối hận rằng đã để cho tôi phát biểu. Người ướt sũng, tôi mò mẫm theo ông để lấy tư trang.

Tôi không ngờ bài phát biểu của mình tạo ra sự quan tâm vượt xa khỏi Trường Wellesley. Tôi chỉ mong thể hiện được một cách trung thực những hy vọng, hoài bão của bản thân và các bạn. Sự cổ vũ tích cực của họ làm tôi ấm lòng. Tuy nhiên khi tôi gọi điện về nhà, mẹ tôi bảo rằng bà đã nhận được điện thoại từ các phóng viên và chương trình truyền hình mời tôi tham gia phỏng vấn trên truyền hình. Tôi đã tham gia trong một chương trình phỏng vấn của Irv Kupcinet trên kênh truyền hình địa phương của Chicago. Tạp chí Life cũng giới thiệu tôi cùng với một nhà hoạt động sinh viên tên là Ira Magaziner đã phát biểu trong lớp tốt nghiệp của mình tại Đại học Brown. Mẹ tôi kể rằng dư luận về bài diễn văn của tôi dường như bị phản hóa ra hai hướng - nhóm người hoàn toàn thông cảm "Cô ấy nói cho thế hệ trẻ” và khuynh hướng bài bác tiêu cực "Cô ta nghĩ cô ta là ai?” Những ủng hộ hoặc công kích như thế hóa ra lại là một dự báo cho những điều sắp xảy ra: Tôi chưa bao giờ tốt hay xấu đến mức như những người ủng hộ và các đối thủ của tôi miêu tả.

Thế là tôi có thể thở phào nhẹ nhõm để lên đường đến với những việc làm trong mùa hè ở vùng Alaska, rửa chén bát ở công viên Mt. Mckinley National (bây giờ được gọi là công viên bảo tồn quốc gia Denali) và làm cá ở vùng Valdez trong một xí nghiệp chế biến cá hồi bên bến cảng. Công việc này đòi hỏi tôi phải mang giầy bốt cao đến đầu gối và đứng trong nước đầy máu cá tanh trong khi dùng một cái thìa cạo ruột cá. Khi tôi làm cá không theo kịp tốc độ yêu cầu thì viên đốc công quát mắng phải làm nhanh lên. Sau đó tôi chuyển qua dây chuyền đóng hộp, ở đây tôi cho cá hồi vào hộp để đóng hàng gửi đến các nhà máy chế biến ở ngoài khơi. Tôi chú ý có một số cá trông có vẻ bị ươn. Khi tôi nói việc này cho viên quán lý, ông ta đã sa thải tôi và bảo tôi quay lại vào chiều hôm sau để nhận phần tiền lương đợt cuối. Khi tôi quay lại thì toàn bộ cơ sở chế biến đã đi mất. Trong một chuyến thăm Alaska khi tôi là Đệ nhất Phu nhân, tôi đã hài hước kể cho khán giả nghe rằng trong tất cả công việc mà tôi đã làm, việc làm cá là một chuẩn bị không tồi cho cuộc sống ở Washington.

linton và chính trường nước Mỹ Living history ebook©MotSAch TVE-4u©heoconmtv —★— Nhà xuất bản: NXB Văn Hóa Sài Gòn 2006
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.