Ngay sau khi chúng tôi trở về từ châu Âu, Bill đề nghị đưa tôi tiếp tục một chuyến hành trình khác - lần này về quê hương của anh.
Bill đón tôi tại phi trường ở thành phố Little Rock vào một buổi sáng mùa hè rực rỡ cuối tháng Sáu. Anh lái xe chở tôi đi qua các con phố có những dãy nhà theo kiến trúc thời Victoria, đi ngang qua Dinh Thống đốc và toà nhà Quốc hội tiểu bang, được xây giống với tòa nhà Quốc hWashington. Chúng tôi đi qua Thung lũng Arkansas River với những hàng cây mộc lan sà thấp và đi vào vùng núi Ouachita, dừng chân tham quan và ghé lại các cửa hàng đồng quê để Bill giới thiệu với tôi về những người và nơi chốn mà anh ấy yêu thích. Khi trời chạng vạng tối, chúng tôi đã đến được vùng Hot Springs của tiểu bang Arkansas.
Khi tôi và Bill gặp nhau lần đầu, anh ấy đã dành hàng giờ kể cho tôi nghe về Hot Springs - nơi được tạo thành từ các dòng suối nước nóng lưu huỳnh - mà người thổ dân da đỏ đã tắm ở đây hàng thế kỷ. Anh kể rằng Hernando De Soto đã "khám phá" ra nó vào năm 1541 và tin tưởng rằng con suối nước nóng là cội nguồn của tuổi trẻ. Các trường ngựa đua thuần chủng cùng với tệ nạn đỏ đen đã thu hút nhiều vị khách giang hồ như Babe Ruth, Al Capone và Minnesota Fats. Khi Bill lớn lên, nhiều nhà hàng trong thị trấn đã có các máy chơi game và các hộp đêm ở đấy có đầy đủ những nghệ sĩ biểu diễn nổi tiếng của thập niên 1950 như Peggy Lee, Tony Bennett, Liberace và Patti Page. Bộ trưởng Tư pháp Robert Kennedy đã đóng cửa các hoạt động đỏ đen bất hợp pháp, làm suy giảm hoạt động kinh doanh của các khách sạn lớn, nhà hàng và nhà tắm công cộng trên đại lộ Central. Tuy nhiên thành phố đã ngày càng thịnh vượng hơn khi càng có nhiều người hưu trí phát hiện ra thời tiết ôn hòa của nơi này, các hồ nước, rừng cây, vẻ đẹp thiên nhiên và đặc biệt là tính tình phóng khoáng của cư dân ở đây.
Khu Hot Springs chính là môi trường sống quen thuộc của bà Virginia Cassidy Blythe Clinton Dwire Kelley. Mẹ của Bill sinh ra ở vùng Bodcaw, Arkansas và lớn lên ở vùng Hope lân cận về phía tây nam 80 dặm. Trong suốt Thế chiến thứ hai, bà học trường điều dưỡng ở Louisiana và đây là nơi bà đã gặp người chồng đầu tiên, William Jefferson Blythe. Sau chiến tranh, họ dời nhà đến Chicago và sống ở North Side, không xa nơi bố mẹ tôi đang ở. Khi Virginia mang thai Bill, bà quay về nhà ở Hope để chờ sinh con. Chồng của bà lái xe xuống thăm bà thì bị tử nạn tại Missouri vào tháng 5/1946. Virginia trở thành góa phụ khi mới 23 tuổi và Bill được hạ sinh vào ngày 19/8/1946. Bà quyết định lên thành phố New Orleans để học ngành điều dưỡng gây mê bởi vì bà biết mình có thế kiếm thêm tiền bằng công việc này để lo cho bản thân và đứa con trai mới sinh của mình. Bà để Bill cho bố mẹ mình chăm sóc. Khi bà lấy được bằng chuyên khoa, bà đã quay về Hope để hành nghề.
Vào năm 1950, bà lập gia đình với Roger Clinton, một nhà buôn bán ô tô thích rượu chè và cùng với ông dời nhà đến sống ở vùng Hot Springs vào năm 1953. Tình trạng rượu chè của ông chồng thứ hai ngày càng trở nên tệ hại hơn và ông rất vũ phu. Vào năm mười lăm tuổi, Bill đã đủ lớn để ngăn không cho người bố dượng đánh đập mẹ mình, ít ra khi Bill có mặt. Anh ấy cũng cố gắng trông nom cậu em trai Roger, nhỏ hơn mình 10 tuổi. Bà Virginia lại một lần nữa góa bụa vào năm 1967 khi Roger Clinton chết sau một thời gian dài chống chọi với căn bệnh ung thư.
Tôi đã gặp Virginia khi bà ghé thăm Bill vào mùa xuân 1972. Lúc ấy, cả hai chúng tôi rất lúng túng. Trước khi bà Virginia đến, tôi đã cắt ngắn mái tóc của mình (trông rất xấu) để tiết kiệm tiền. Tôi không trang điểm và luôn mặc quần jeans, áo sơ mi. Tôi không phải là Hoa hậu Arkansas và dĩ nhiên không phải là loại phụ nữ mà Virginia mong con mình yêu. Dù có bất kỳ chuyện gì khác xảy ra trong đời, Virginia luôn thức dậy sớm, gắn đôi mi giả của bà, đánh son đỏ chói và bước đi khệnh khạng ra ngoài cửa. Phong cách của tôi làm bà thất vọng và bà cũng không thích các ý tưởng lạ lùng của một con nhỏ Yankee như tôi.
Với người chồng thứ ba của Virginia là Jeff Dwire, tôi có dịp tiếp xúc dễ chịu hơn. Ông đã trở thành một đồng minh ủng hộ tôi. Ông làm chủ một tiệm sửa sắc đẹp và cư xử với Virginia y như một nữ hoàng. Ông rất tử tế với tôi ngay từ ngày đầu tiên gặp mặt và khuyến khích tôi tiếp tục nỗ lực xây dựng mối quan hệ với mẹ của Bill. Jeff bảo tôi hãy kiên nhẫn thêm một khoảng thời gian rồi bà sẽ hồi tâm.
“Ồ, đừng lo về Virginia", ông ấy bảo tôi. "Bà ấy chỉ cần quen được với ý tưởng của cô. Thật là khó khăn để làm cho hai người phụ nữ mạnh mẽ có thể hòa hợp."
Cuối cùng thì Virginia và tôi đã biết tôn trọng các khác biệt của nhau, và đã phát triển được một mối quan hệ sâu sắc. Chúng tôi cảm nhận được rằng điều chúng tôi cùng nhau san sẻ thì quan trọng hơn cái mà chúng tôi không có vì chúng tôi cùng yêu mến một người đàn ông.
Bill về nhà ở Arkansas và xin đi dạy tại trường Đại học Luật Arkansas ở Fayetreville. Tôi dời đến Cambridge, Massachusetts để làm việc cho Marian Wright Edelman tại một Quỹ Bảo vệ Trẻ em (CDF) mới được sáng lập. Tôi thuê tầng thượng của một căn nhà cổ, ở đấy lần đầu tiên tôi sống một mình. Tôi thích công việc này: được đi lại nhiều nơi và đối mặt với các vấn đề liên quan đến trẻ em và thiếu niên trên khắp đất nước. Ở Nam Carolina, tôi đã giúp điều tra về sự việc các trẻ em tuổi vị thành niên bị tống giam trong các nhà tù dành cho người lớn. Một số em tuổi 14, 15 mà tôi phỏng vấn bị tống giam vì các vi phạm nhỏ nhặt. Một số em khác đúng là những tội phạm nghiêm trọng. Dù trong trường hợp nào đi nữa thì cũng không nên bắt chúng giam chung với các tội phạm người lớn sừng sỏ có thể làm hại hoặc xúi giục chúng trở thành tội phạm thật sự. Tổ chức CDF nỗ lực cách ly các trẻ vị thành niên ra khỏi các trại giam không phù hợp trên, bảo vệ các em và bảo đảm sự xét xử diễn ra nhanh chóng hơn.
Ở thành phố New Bedford, Massachusetts, tôi gõ cửa từng nhà để cố gắng xác định nguồn thông tin thống kê đang gặp khó khăn. Tại tổ chức CDF, chúng tôi đưa ra các con số thống kê về trẻ em trong độ tuổi đi học và đối chiếu những con số này với số đăng ký học. Chúng tôi thường phát hiện có những chênh lệch đáng kể, và muốn xác định xem những trẻ em thuộc diện nghi vấn này đang ở đây. Việc gõ cửa từng nhà rất hồi hộp và đau lòng. Tôi đã tìm thấy những đứa bé không đi học do các khuyết tật thể chất như mù, điếc. Tôi cũng phát hiện nhiều em đến tuổi đi học lại phải ở nhà, phải trông nom các em cho bố mẹ đi làm. Bên hàng hiên phía sau một ngôi nhà, kề bên hàng xóm là những ngư dân Mỹ gốc Bồ Đào Nha, tôi đã gặp một cô gái ngồi trên chiếc xe lăn. Cô bé đã nói với tôi là em rất mong muốn được đến trường nhưng biết là không thể bởi vì cô bé không đi được.
Chúng tôi đã đệ trình các kết quả của chuyến khảo sát lên Quốc hội. Hai năm sau, trước sự thúc giục của tổ chức CDF và các nhà hoạt động ủng hộ nhiệt thành khác, Quốc hội đã thông qua Đạo luật Giáo dục dành cho tất cá trẻ em bị khuyết tật, quy định rằng các trẻ em bị các khuyết tật về thể chất, tinh thần và học vấn phải được giáo dục trong hệ thống trường công lập.
Mặc dù hài lòng với công việc của mình nhưng tôi cảm thấy cô đơn và rất nhớ Bill. Tôi đăng ký tham gia kỳ thi sát hạch để được hành nghề luật sư tại hai nơi Arkansas và Washington DC. vào mùa hè nhưng trái tim vẫn hướng về Arkansas. Khi biết rằng tôi đã đậu ở Arkansas và rớt ở Washington DC., tôi nghĩ rằng có lẽ kết quả kiểm tra đã cho tôi biết được đôi điều. Tôi đã tiêu mất một phần lớn lương vào hóa đơn điện thoại để trò chuyện với Bill và rất sung sướng khi Bill đến thăm tôi nhận dịp lễ Tạ ơn. Chúng tôi đã cùng nhau thám hiểm Boston và nói chuyện về tương lai của hai đứa.
Bill bảo tôi là anh thích dạy học và thích sống trong một căn nhà thuê ở vùng ngoại ô Fayetteville, một thị trấn êm đềm và thanh bình gần khu trường đại học . Tuy nhiên lĩnh vực chính trị lại giục giã và anh đang cố gắng tìm ra một ứng viên để tranh cử với John Paul Hammerschmidt, Nghị sĩ Đảng Cộng hòa duy nhất của Arkansas. ã không tìm ra một chính khách Đảng Dân chủ nào khác ở vùng tây bắc Arkansas sẵn sàng tranh cử với vị nghị sĩ được mến mộ đã làm bốn nhiệm kỳ này, và tôi cho rằng anh ấy bắt đầu xem xét đến việc đích thân bước vào cuộc đua tranh này. Nếu anh quyết định làm điều đó thì tôi không chắc là việc đó sẽ có ý nghĩa gì với chúng tôi. Chúng tôi đồng ý là tôi sẽ xuống Arkansas sau mùa Giáng sinh năm 1973 để có thể cố gắng hình dung chúng tôi đang hướng đến đâu. Trước khi tôi đến Arkansas vào dịp năm mới thì Bill đã quyết định tranh cử vào Quốc hội. Anh tin rằng Đảng Cộng hòa có thể bị tổn thương do vụ tai tiếng Watergate và tin rằng thậm chí ngay cả những nghị sĩ bảo thủ tầm cỡ cũng có thể bị tổn thương. Anh ấy rất háo hức với thách thức này và bắt đầu tập hợp cho chiến dịch tranh cử của mình.
Tôi được biết về tuyên bố của Washington là John Doar đã được Ủy ban Tư pháp Hạ viện chọn để tiến hành xem xét các nghi vấn tố cáo đế luận tội Nixon. Chúng tôi đã gặp Doar tại Yale khi ông còn làm "thẩm phán" trong một vụ xét xử theo dạng mô phỏng vào mùa xuân 1973. Với tư cách là Chủ nhiệm Luật sư Đoàn, Bill và tôi chịu trách nhiệm giám sát một vụ xét xử giả định theo quy định trong chương trình học và Doar được cử làm thẩm phán xét xử. Đó là mẫu người cứng rắn: một luật sư trầm tính, cao kều đến từ Wisconsin đã từng làm việc trong Bộ Tư pháp của Kennedy để giúp kết thúc tình trạng phân biệt chủng tộc ở miền Nam. Ông đã đưa ra tranh luận một số các vụ xử về quyền cử tri quan trọng nhất của chính phủ tại tòa án liên bang và ông đã làm việc ngay tại vùng đất Mississippi và Alabama trong suốt các giai đoạn bạo lực những năm 60. Ở thành phố Jackson của bang Mississippi ông đã đứng giữa một bên là những người phản đối đang giận dữ và một bên là cảnh sát vũ trang để ngăn chặn một vụ thảm sát có thể xảy ra. Tôi rất ngưỡng mộ sự dũng cảm và phương pháp dụng luật có tổ chức và nghiêm túc
Một ngày nọ khi tôi đang ngồi uống cà phê với Bill trong bếp của anh thì điện thoại reo vang. Chính Doar đã đề nghị Bill tham gia vào nhóm luận tội mà ông đang tổ chức. Ông bảo Bill là ông đã yêu cầu Burke Marshall, người bạn và đồng nghiệp vong niên từ Vụ Dân quyền của Bộ Tư pháp thời Kennedy tiến cử một số luật sư trẻ làm việc trong vụ điều trần. Tên của Bill đã được ghi ngay đầu danh sách cùng với ba người bạn cùng lớp khác tại Yale là Michael Conway, Rufus Cornier và Hillary Rodham. Bill bảo Doar là anh đã quyết định ra tranh cử vào Quốc hội nhưng anh nghĩ các người khác trong danh sách có thể sẵn sàng tham gia. Doar nói là ông ấy sẽ gọi tôi kế tiếp. Ông ấy đề nghị cho tôi một vị trí, giải thích là công việc này sẽ nhận lương ít ỏi nhưng giờ làm việc thì nhiều và hầu hết công việc sẽ vất vả và tẻ nhạt. Chính là do lời đề nghị này của họ mà tôi không thể nào từ chối. Tôi không thể tưởng tượng một sứ mạng nào quan trọng hơn sự kiện này trong lịch sứ Hoa Kỳ. Bill cũng rất phấn khởi và cả hai chúng tôi đều nhẹ nhõm vì có thể trì hoãn bàn tính chuyện riêng của bọn tôi thêm một thời gian nữa. Với sự chúc lành của Mariah, tôi gói ghém túi xách và dời từ Cambridge vào một căn phòng trống tại căn hộ ở Washington của Sara Ehrman. Tôi đang trên con đường đến một trong những trải nghiệm quan trọng và mạnh mẽ nhất trong cuộc đời của mình.
Bốn mươi bốn luật sư tham gia vào quá trình luận tội làm việc bảy ngày một tuần, cố thủ trong một Nhà khách cũ của Quốc hội trên Đồi Capitol đối diện với các tòa nhà làm việc của Hạ viện ở phía đông nam Washington. Tôi lúc đó 26 tuổi, luôn ngưỡng mộ, thán phục các đồng sự tôi được làm chung và chịu ấn tượng mạnh bởi sứ mạng lịch sử mà chúng tôi thực hiện.
Mặc dù Doar chỉ đạo các nhân viên làm việc nhưng có hai nhóm luật sư: một nhóm được Chủ tịch Ủy ban Tư pháp là Nghị sĩ Đảng Dân chủ Peter Rodino của bang New Jersey chỉ đ̔ dưới sự lựa chọn của Doar. Nghị sĩ Edward Hutchison của bang Michigan phe Cộng hòa chỉ định nhóm luật sư thứ hai do Albert Jenner cầm đầu, đây là một luật sư huyền thoại của hãng luật Jenner & Block có trụ sở ở Chicago. Dưới sự lãnh đạo của Doar, các luật sư nhiều kinh nghiệm tập trung vào mọi lĩnh vực điều tra. Một trong số họ là Beenard Nussbaum, trợ lý Bộ trưởng Tư pháp đến từ New York. Một luật sư khác là Joe Woods, một luật sư đến từ California với một phong cách khô khan và những tiêu chuẩn tỉ mỉ, giám sát công việc của tôi về các vấn đề thủ tục và hiến pháp. Bob Sack, một luật sư có lối văn phong hoa mỹ thường làm cho những giây phút căng thẳng của chúng tôi trở nên sôi động nhờ lối chơi chữ và ca cẩm khôi hài của mình, sau này được Bill bổ nhiệm làm thẩm phán liên bang. Tuy nhiên, đa số chúng tôi đều là những người trẻ và nhiệt huyết mới tốt nghiệp trường luật, sẵn sàng làm việc 24 tiếng một ngày trong những văn phòng tạm thời, xem tài liệu, nghiên cứu và rà băng ghi âm.
Bill Weld, Đảng Cộng hòa, sau này làm Thống đốc bang Massachusetts, làm việc với tôi trong nhóm chuyên trách về hiến pháp. Fred Altschuler, một chuyên gia siêu hạng về pháp lý đến từ California đề nghị tôi giúp ông phân tích cấu trúc báo cáo của các nhân viên Nhà Trắng để xác định xem các quyết định nào có khả năng được thực hiện. Tôi ngồi cùng phòng với Tom Bell, một luật sư đến từ một công ty gia đình của Doar ở New Richmond, Wisconsin. Tôi và Tom cùng nhau thức khuya vật lộn với các điểm tinh tế về các diễn giải pháp lý. Tuy vậy chúng tôi cũng rất vui và cười đùa nhiều. Anh ta không tỏ ra quá trịnh trọng và cũng không cho tôi làm như vậy.
Andrew Johnson là vị Tổng thống duy nhất trước đó bị luận tội và trong trường hợp này, đa số sử gia đồng ý rằng Quốc hội đã sử dụng sai trách nhiệm lập pháp thiêng liêng của mình cho những mục đích chính trị đảng phái. Dagmar Hamilton, một luật sư và giáo sư tại Trường Đại học Texas đã nghiên cứu các trường hợp luận tội của người Anh; tôi đảm tráchường hợp ở Mỹ. Doar cam kết sẽ tiến hành một quy trình mà công chúng và lịch sử sẽ đánh giá là công bằng và không thiên vị, cho dù kết quả có như thế nào đi nữa. Joe Woods và tôi soạn thảo các quy định về quy trình thực hiện nhằm đệ trình lên Ủy ban Tư pháp Quốc hội. Tôi tháp tùng theo Doar và Woods đến dự một cuộc họp công khai của Ủy ban và ngồi cùng với họ tại bàn luật sư trong khi Doar trình bày các quy trình mà ông muốn các thành viên Ủy ban chấp thuận.
Chưa có các rò rỉ gì từ cuộc điều tra của chúng tôi nên giới báo chí truyền thông cố săn tìm bất kỳ một mẩu tin nào có thể thu hút công chúng để tường thuật. Do phụ nữ khá hiểm trong môi trường này nên sự hiện diện của họ được xem là những thông tin đáng giá. Vấn đề duy nhất mà tôi gặp phải khi một phóng viên hỏi tôi cảm nghĩ thế nào khi được trở thành một nhân vật giống "Jill Wine Volner trong vụ Điều tra Luận tội". Chúng tôi đã xem các phương nện truyền thông nói về cô Jill Wine Volner, một luật sư trẻ làm việc tại văn phòng Công tố viên Đặc biệt Leon Jaworski. Volner đã tiến hành việc thẩm vấn chéo đáng nhớ về Rose Mary Woods, thư ký riêng của Nixon về vụ thất lạc đoạn băng cực kỳ quan trọng dài 18 phút rưỡi. Các kỹ năng pháp lý và sự hấp dẫn của Volner đã trở thành đề tài của nhiều câu chuyện.
John Doar rất dị ứng với cánh báo chí. Ông ban hành một chính sách nghiêm ngặt về tính bảo mật tuyệt đối, thậm chí giữ bí mật họ tên. Ông khuyến cáo chúng tôi không được viết nhật ký, phải bỏ các loại rác giấy tờ nhạy cảm vào các thùng rác được chỉ định, không bao giờ được nói về công việc bên ngoài tòa nhà, không được gây sự chú ý đối với bản thân và tránh các hoạt động xã hội dưới mọi hình thức (giá sử nếu chúng tôi có thời gian). Ông biết rằng thận trọng là phương cách duy nhất để đạt được một quy trình công bằng và có giá trị. Khi ông nghe về tay phóng viên hỏi câu hỏi so sánh tôi với Volner, tôi biết là mình sẽ không bao giờ được tiếp xúc với giới một lần nữa.
Sau khi làm việc về các quy trình, tôi tiếp tục chuyển sang nghiên cứu các cơ sở pháp lý để buộc tội và đã viết một bản báo cáo dài tóm tắt các kết luận của tôi về những điều đã làm và chưa làm - cấu thành một bản luận tội. Những năm sau này, tôi đọc lại bản báo cáo đó và vẫn còn đồng ý với các đánh giá về các loại hình "Trọng Tội và Khinh Tội" là khung Hiến pháp nhằm để luận tội.
Từ tốn và chắc chắn, nhóm luật sư của Doar đã tập hợp các chứng cớ dẫn đến vụ xét xử bắt buộc đối với Richard Nixon. Là một trong những luật sư khắt khe, kỹ tính nhất mà tôi từng được làm việc, Doar nhấn mạnh rằng không ai được rút ra kết luận cho đến khi tất cả các sự kiện được đánh giá. Vào những ngày đó, trước màn hình máy tính cá nhân, ông đã chỉ dẫn chúng tôi cách sử dụng các phiếu ghi mục lục để truy tìm các dữ kiện giống như cách thức mà ông đã áp dụng trong các vụ xét xử dân quyền của mình. Chúng tôi đánh máy từng dữ kiện vào một phiếu - ngày của bản ghi nhớ, chủ đề cuộc họp - và đối chiếu với các dữ kiện khác. Sau đó, chúng tôi tìm kiểm các chi tiết giống nhau. Vào cuối cuộc điều tra luận tội, chúng tôi đã biên soạn hơn 500 ngàn phiếu ghi mục lục.
Công việc của chúng tôi tăng tốc sau khi nhận được các cuộn băng ghi âm được đưa ra tòa từ đại bồi thẩm đoàn Watergate. Doar yêu cầu một số chúng tôi nghe băng để hiểu thêm về chúng. Thật là một công việc khó nhọc: phải ngồi một mình trong một căn phòng không có cửa sổ cố gắng tìm hiểu, lượm lặt các ngữ cảnh và ý nghĩa của chúng. Và sau đó, có một cuốn băng mà tôi gọi là "Băng chủ của các cuộn băng". Trong cuốn băng này Richard Nixon tự ghi lại các cuộn băng trước đó mà ông ấy đã thực hiện về mình và thảo luận điều mà ông nghe trên băng với các tham mưu của mình. Ông ấy đã đánh giá và lý giải những điều đã nói trước đây để phủ nhận hoặc giảm thiểu sự dính líu của mình trong các nỗ lực của Nhà Trắng nhằm qua mặt Luật pháp và Hiến pháp. Tôi đã nghe ông nói đại loại như "ý của tôi khi tôi nói rằng..." hoặc "Đây là điều mà thật ra tôi đang cố gắng diễn đạt...”. Thật là kỳ lạ khi nghe những lời diễn tập của Nixon để bao biện cho ông ấy.
Vào ngày 19 tháng 7 năm 1974, Doar trình bày bản đề xuất những điểm luận tội nhằm cụ thể hóa các cáo buộc chống lại. Ủy ban Tư pháp Thượng viện chấp thuận ba điểm buộc tội là lạm dụng quyền lực, cản trở công lý và coi thường Quốc hội. Các lời buộc tội Nixon bao gồm việc mua chuộc các nhân chứng để họ im lặng hoặc tác động vào các chứng cứ của họ, sử dụng sai Cơ quan Thuế vụ để thu thập các chứng từ hồ sơ thuế của các công dân, chỉ đạo FBI và cơ quan mật vụ theo dõi nhân dân Mỹ, và duy trì một đơn vị điều tra bí mật trong Văn phòng tổng thống. Cả hai đảng đều bỏ phiếu đối với những lời luận tội này để đảm bảo lòng tin của cả Quốc hội và công chúng Mỹ. Sau đó vào ngày 5 tháng 8 , Nhà Trắng đã cho công bố các bản ghi chép cuộn băng ngày 23 tháng 6 năm 1972 thường được gọi là "Bằng chứng quyết định", qua đó đã vạch trần việc Nixon đã chấp thuận việc che giấu số tiền được Ủy ban tái tranh cử của ông sử dụng cho các mục đích bất hợp pháp.
Nixon từ chức vào ngày 9 tháng 8 năm 1974, để lại cho quốc gia một sự bàng hoàng và chia rẽ trong cuộc bỏ phiếu ở Hạ viện và khó khăn cho Thượng viện. Quá trình buộc tội Nixon vào năm 1974 đã buộc một tổng thống phải từ nhiệm và là một chiến thắng của Hiến pháp và hệ thống luật pháp của Hoa Kỳ. Sức mạnh to lớn của các Ủy ban Quốc hội và các công tố viên chí công, vô tư và đúng với Hiến pháp khi biết sử dụng chúng làm vũ khí.
Thế là tôi lại không có việc làm. Nhóm luật sư gắn bó của chúng tôi đgặp gỡ nhau trong bữa ăn tối cuối cùng trước khi chúng tôi lại tỏa đi khắp bốn phương trời. Mọi người nói chuyện rất hồ hởi về các hoạch định của mình trong tương lai. Tôi thì còn chưa quyết định và khi Bert Jenner hỏi tôi muốn làm gì, tôi nói mình muốn trở thành một luật sư tòa án giống như anh. Anh ấy bảo tôi là không thể làm được.
"Tại sao?”, tôi hỏi.
"Vì cô không bao giờ có vợ."
"Cái đó là nghĩa quái gì thế'"
Bert Jenner giải thích là nếu không có một người vợ chăm sóc tất cả các nhu cầu cá nhân của mình thì bản thân tôi không bao giờ có thể thu xếp được các nhu cầu trong cuộc sống hàng ngày, ví dụ như là đảm bảo rằng tôi mang vớ sạch tại tòa án. Từ đó tôi tự hỏi là có phải Bert Jenner muốn trêu tôi hay muốn ám chỉ với tôi rằng lĩnh vực luật pháp vẫn còn rất khắt khe với phụ nữ. Cuối cùng thì cũng không sao; tôi chọn trái tim thay cho lý trí mình. Tôi sẽ chuyển đến Arkansas.
“Cô có khùng không đấy?", Sara Ehrman nói khi tôi thông báo tin này, "Tại sao cô lại ném tương lai của mình đi như thế?”
Nhớ lại mùa xuân năm đó, tôi đã xin phép Doar đi thăm Bill ở Fayetteville. Ông ấy không thích ý tưởng này nhưng phải miễn cưỡng cho tôi nghỉ phép một tuần. Khi ở Fayetreville, tôi đi cùng với Bill dự buổi dạ tiệc mà ở đó tôi gặp một số các bạn đồng nghiệp ở trường luật của anh ấy trong đó có Wylie Davis, lúc đó là Hiệu trưởng. Khi tôi ra về, Hiệu trưởng Davis đã hỏi tôi là có muốn đi dạy hay không. Khi có ý nghị chuyển đến Arkansas, tôi đã nhớ lại lời mời đó và quyết định nhận lời ông ta. Tôi gọi điện hỏi xem là lời đề nghị vẫn còn mở ngỏ hay không và ông ấy nói là vẫn còn. Tôi hỏi làạy môn gì và ông ấy bảo sẽ cho tôi biết khi tôi đến đó trong vòng khoảng 10 ngày để bắt đầu lớp học.
Quyết định ra đi của tôi đã không hoàn toàn bất ngờ. Bill và tôi đã cân nhắc về tương lai mình kể từ khi chúng tôi bắt đầu hò hẹn. Nếu chúng tôi ở bên nhau thì một người trong chúng tôi phải hy sinh đường công danh. Nhờ có việc kết thúc đột ngột công việc ở Washington, tôi có thời gian và không gian dành cơ hội cho mối quan hệ của chúng tôi và Arkansas. Mặc dù nghi ngại nhưng Sara vẫn đề nghị chở tôi xuống Arkansas. Cứ đi được vài dặm là cô ấy lại hỏi liệu tôi có biết điều tôi đang làm và cứ mỗi lần như vậy tôi đều trả lời: "Không, nhưng dù sao em cũng sẽ biết thôi.”
Đôi khi tôi phải lắng nghe kỹ lòng mình để quyết định điều hợp lý cho bản thân và có thể tự mình đưa ra một số quyết định. Bạn cần phải làm như vậy, đặc biệt là khi bạn bè và gia đình bạn - chưa kể đến công chúng và báo giới - đặt câu hỏi về các lựa chọn và suy xét về các động cơ của bạn. Tôi đã yêu Bill hồi còn ở trường luật và muốn sống bên anh. Tôi biết là mình luôn hạnh phúc hơn khi có anh, và tôi luôn giả định là tôi có thể sống một đời mãn nguyện ở bất cứ nơi đâu. Nếu tôi trưởng thành như vậy thì tôi biết đó là lúc để tôi làm cái điều mà tôi rất sợ phải làm (diễn giải theo lời của Eleanor Roosevelt). Do đó tôi đang đi về một nơi mà tôi chưa bao giờ đến, không có bạn bè, gia đình. Nhưng trái tim tôi mách bảo là tôi đã đi đúng hướng.
Vào một buổi tối nóng nực tháng Tám, ngày mà tôi đến, tôi thấy Bill đang diễn thuyết trong chiến dịch tranh cử trước một đám rất đông khán giả tại quảng trường của thành phố ở Bentonville. Tôi rất ấn tượng. Mặc dù ở vào thế bất lợi, nhưng biết đâu anh có cơ hội. Ngày hôm sau, tôi tham dự buổi tiệc chiêu đãi nhân dịp một khoa luật của trường do Luật sư Đoàn Hạt Washington tổ chức tại khách sạn Holiday. Tôi đã ở Arkansas chưa tới 48 tiếng đồng hồ nhưng tôi đã có công việc. Tôi sẽ dạy môn luật hình sự và công tác bào chữa trong xét xử cũng như điều hành các dự án tìm hiểu về quản lý nhà giam và chương trình thực tập trợ giúp pháp lý. Cả hai lĩnh vực đều yêu cầu tôi giám sát sinh viên trong việc cung cấp các trợ giúp cho người nghèo và những tù nhân. Và tôi đang làm điều mà tôi có thể giúp Bill trong chiến dịch vận động của anh.
Bill Bassett, Chủ nhiệm Luật sư Đoàn đã đưa tôi đi gặp gỡ các luật sư và thẩm phán của địa phương. Ông giới thiệu tôi với Tom Butt, thẩm phán tòa thượng thẩm. Ông nói, "Này ông thẩm phán, đây là một nữ giáo sư luật mới đến. Cô ấy sẽ giảng dạy về luật hình sự và điều hành các chương trình trợ giúp về pháp lý".
"Được" Thẩm phán Butt nhìn tôi săm soi, "Chúng tôi rất vui khi có cô nhưng cô nên biết là tôi không ưa trợ giúp pháp lý và tôi là một "Tên thẩm phán khốn kiếp" (nguyên văn. SOB - Son of Bitch) hơi khó chơi đây".
Tôi cố mỉm cười và nói: "Vâng, tôi cũng rất vui được gặp ông, thưa ngài Thẩm phán". Nhưng tôi tự hỏi là tôi đã dính dáng đến cái quái gì thế này.
Sáng hôm sau tôi lên lớp. Tôi chưa bao giờ dạy ở trường luật trước đây và lúc đó tôi trông già hơn đa số sinh viên của mình, tuy vậy trông tôi cũng trẻ hơn một số sinh viên khác. Chỉ có một nữ đồng sự khác của khoa là Elizabeth Osenbaugh, có biệt danh là "Bess" đã trở thành bạn thân của tôi. Chúng tôi đã nói chuyện về các vấn đề trong luật pháp và đời thường, thường kết thúc bằng món bánh sandwich kẹp gà tây với các ổ bánh mì kiểu Đức tại một cửa hàng bán thức ăn gần đấy của Fayetteville. Mặc dù đã ở độổi 70 nhưng Robert Leflar vẫn còn giảng dạy về các mâu thuẫn huyền thoại của bộ môn luật tại Fayetteville và một khóa học nổi tiếng không kém về phần xét xử phúc thẩm tại trường Đại học Luật New York. Ông và vợ mình là Helen xem tôi như bạn và trong suốt mùa hè đầu tiên tôi ở đó, họ đã cho tôi ở trong một ngôi nhà làm bằng gỗ và đá địa phương do Fay Jones, kiến trúc sư đoạt giải Arkansas thiết kế. Tôi đã có những cuộc tranh luận tích cực với Al Witte, người bị gán cho danh hiệu là giáo sư luật khó tính nhất nhưng sự thật dưới cái bề ngoài ấy ông rất hiền. Tôi đánh giá cao sự tử tế của của Milt Copeland là người tôi đã từng chia chung một văn phòng. Tôi cũng rất ngưỡng mộ các phong trào hoạt động và chương trình hỗ trợ học bổng của Mort Gitelman. Ông được xem là chuyên gia về dân quyền.
Ngay khi học kỳ bắt đầu thì chồng của Virginia là Jeff Dwire đột tử vì bệnh tim. Đây là một tổn thất đối với Virginia - người bị góa bụa lần thứ ba - và cũng là một thảm họa đối với người em của Bill - Roger nhỏ hơn anh 10 tuổi - đã phát triển một mối quan hệ thân tình với Jeff. Việc mất mát Jeff gây đau khổ cho tất cả chúng tôi. Virginia đã chịu đựng gian khổ suốt nhiều năm qua. Tôi lấy làm ngạc nhiên về ý chí kiên cường của bà và tôi cũng thấy cá tính này ở Bill, người ngoi lên từ một tuổi thơ khó khăn của mình mà không có bất kỳ sự tự ti nào về bản thân. Nếu có chăng nữa thì đó là các kinh nghiệm đã làm cho anh có được sự đồng cảm và lạc quan hơn. Năng lực và lý tưởng của anh đã thu hút mọi người về phía anh và cho đến khi có những câu chuyện nảy sinh trong suốt chiến dịch tranh cử, rất ít người biết về các hoàn cảnh đau khổ mà anh đã chịu đựng.
Bill quay trở lại chiến dịch tranh cử sau lễ tang Jeffvà tôi đã quen với cuộc sống ở trong một thị trấn đại học nhỏ. Sau những xúc cảm mạnh mẽ ở New Haven và Washington, sự thân thiện, nhịp sống chậm hơn và nét đẹp của thị tấn Fayetteville giống như một liều thuốc bổ đón chào tôi.
Một ngày kia, khi tôi đang đứng xếp hàng tại một siêu thị A&P, một nhân viên thâu ngân nhìn tôi và hỏi "Có phải bà là nữ giáo sư luật mới đến không?” Tôi trả lời là đúng và cô ấy nói là tôi đang dạy một trong những người cháu của cô ấy. Theo như lời nhận xét của nó thì tôi là một người "không tệ". Một lần khác tôi quay số tìm một sinh viên không có mặt tại buổi thảo luận của lớp. Khi tôi nói với nhân viên tổng đài điện thoại tên của học sinh, cô ấy nói "Nó không có ở nhà".
"Xin lỗi”, tôi hỏi lại.
"Cậu ấy đã đi cắm trại", cô thông báo cho tôi.
Trước đây, tôi chưa bao giờ được sống ở một nơi thân thiện, đặc chất miền Nam như thế, và tôi yêu điều đó. Tôi đi xem các trận bóng Arkansas Razorbacks và học nói một số từ lóng địa phương. Khi Bill ở thị trấn thì chúng tôi ở chơi suốt đêm với các người bạn, thưởng thức món thịt nướng và dành những buổi cuối tuần chơi bóng ném tại nhà của Richard Richards, một đồng nghiệp khác ở trường luật. Hoặc chúng tôi cùng nhau tham quan một vòng Charades do Bess Osenbaugh tổ chức.
Carl Whillock, lúc đó là cán bộ quản lý của trường đại học, và cô vợ Margaret xinh xắn sống trong một ngôi nhà màu vàng bên kia đường đối diện với trường luật. Họ là những người đầu nên mời tôi đến thăm nhà và chúng tôi đã nhanh chóng trở thành bạn bè. Margaret bị người chồng đầu tiên của mình bỏ rơi khi sáu đứa con của cô đều chưa đến 10 tuổi. Theo lệ thường thì không người đàn ông nào có thể can đảm đảm đương gánh nặng hôn nhân với một phụ nữ bị ly dị có sáu đứa con bất kể là cô ấy có quyến rũ và lanh đến đâu. Nhưng Carl đã không theo thói thường ấy và anh đã đồng ý tiếp nhận toàn bộ trách nhiệm. Một lần tôi đã giới thiệu Margaret với Eppie Lederer, còn được biết với biệt danh Ann Landers tại Nhà Trắng. "Này bạn, chồng của bạn xứng đáng được phong thánh!", Eppie cứ xuýt xoa hâm mộ sau khi nghe kể về câu chuyện của Margaret. Cô ấy nói đúng.
Ann và Morriss Henry cũng trở thành bạn thân. Ann, là một luật sư rất tích cực trong các hoạt động chính trị và sinh hoạt cộng đồng và là đại diện của Morriss, một Thượng nghị sĩ của tiểu bang. Cô ấy cũng có ba người con và rất quan tâm đến việc học hành, rèn luyện thể thao của chúng. Ann thẳng thắn bày tỏ các ý kiến rất uyên bác của mình và là một người bạn đồng hành tuyệt vời.
Diane đã trở thành người bạn thân nhất của tôi. Giống như tôi, chị ấy cũng là dân xứ khác vì đến từ Washington DC. Chị ấy đã dời đến Fayetteville cùng với người chồng đầu tiên của mình. Chị dạy môn chính trị học tại trường đại học và được xem là một trong những giáo sư ưu tú nhất trong trường. Chúng tôi chơi tennis và trao đổi sách hay cho nhau đọc. Chị ấy viết nhiều về Arkansas và về tình hình chính trị ở miền Nam. Cuốn sách của chị về Hattie Caraway, người phụ nữ đầu tiên được bầu làm Thượng nghi sĩ của Đảng Dân chủ ở Arkansas đã thể hiện niềm tin cháy bóng của chị về vai trò và quyền phụ nữ.
Trong suốt cuộc tranh luận toàn quốc về việc đất nước có nên thông qua Tu chính Hiến pháp Quyền Bình đẳng, Diane đã tranh luận với một nhà hoạt động cực kỳ bảo thủ là Phyllis Schlafly trước Quốc hội của tiểu bang Arkansas. Tôi đã giúp chị chuẩn bị trong cuộc đối đầu ngay ngày lễ tình yêu năm 1975. Diane đã chiến thắng trong cuộc tranh luận này một cách thuyết phục nhưng cả hai chúng tôi biết rằng liên minh tôn giáo và chính trị chống đối Tu chính ERA (Quyền bình đẳng Nam Nữ) vẫn chưa chịu thua, họ tiếp tục đòi tranh luận hoặc đưa ra các bằng chứng cụ thể.
Diane và tôi thường gặp nhau trong giờ ăn trưa ở Nhà ăn Sinh viên. Chúng tôi thường chọn chiếc bàn kế bên cửa sổ lớn nhìn ra ngoài về phía Đồi Ozark để trò chuyện và tán gẫu. Chị và tôi dành hàng giờ với Ann cùng thư giãn tại hồ bơi ở sân sau của Henry. Họ thích nghe các vụ mà tôi đã xử lý tại hội Trợ giúp Pháp lý và tôi cũng thường hỏi ý kiến của họ về thái độ của một số đối tượng mà tôi đối mặt. Một ngày nọ, Mahlon Gibson - Ủy viên Công tố quận Washington - gọi điện kể cho tôi về một tù nhân nghèo bị kết tội đã hiếp dâm một cô bé 12 tuổi đang rất cần một luật sư bào chữa là nữ. Gibson bảo rằng Thẩm phán tòa hình sự Maupin Cummings đã chỉ định tôi. Tôi nói với Mahlon rằng tôi thật sự cảm thấy không thoải mái khi có một thân chủ như thế, nhưng Mahlon đã nhắc nhở là tôi không được quyền từ chối yêu cầu của thẩm phán. Khi tôi ghé thăm kẻ tình nghi phạm tội hiếp dâm trong nhà tù, tôi mới biết rằng anh ta là một "gã bắt gà" thất học. Công việc của anh ta là thu gom các con gà từ trang trại lớn để đưa đến một nhà máy xử lý tại địa phương. Anh ấy phủ nhận các lời buộc tội mình và khẳng định rằng cô gái, một người bà con xa đã dựng chuyện. Tôi đã tiến hành một cuộc điều tra kỹ lưỡng và có được các bằng chứng đáng tin cậy từ một nhà khoa học nổi tiếng ở New York - tỏ ra nghi ngờ về giá trị của các chứng cứ về mẫu máu và tinh trùng mà phía công tố đã điều tra để chứng minh sự phạm tội của bị cáo trong vụ hiếp dâm. Nhờ có bằng chứng này mà tôi đã đàm phán với bên công tố để bên bị cáo nhận tội là lạm dụng tình dục. Khi tôi xuất hiện cùng với thân chủ của mình trước Thẩm phán Cummings để bào chữa, ông ấy yêu cầu tôi rời khỏi phòng xét xử trong lúc ông thực hiện các kiểm tra cần thiết để xem xét cơ sở sự thật cho lời bào chữa. Tôi nói, "Thưa ngài Thẩm phán, tôi đi được, tôi là luật sư của cậu ta".
Vị Thẩm phán nói "Nhưng tôi không thể nói chuyện về những thứ này trước mặt một phụ nữ".
"Thưa Thẩm phán", tôi trấn an ông, "Đừng nghĩ về tôi bất cứ chuyện gì ngoài việc tôi là một luật sư."
Vị Thẩm phán đã thẩm vẩn bị cáo qua lời khai của anh ta và sau đó kết án anh ta. Ngay sau vụ này, Ann Henry và tôi thảo luận đến việc thành lập đường dây nóng đầu tiên về các vụ hiếp dâm ở Arkansas .
Vài tháng sau trong cuộc sống mới của mình, tôi nhận được một cuộc điện thoại từ một nữ tù nhân trong nhà tù của quận Benton, ở phía bắc của Fayetteville. Cô ấy kể cho tôi về một phụ nữ bị bắt vì can tội gây rối trật tự do đã thuyết giáo trên đường phố ở Bentonville sẽ ra tòa trình diện và vị thẩm phán dự định gửi người phụ nữ này vào bệnh viện tâm thần của bang vì không ai biết có chuyện gì khác liên quan đến cô ta hay không. Nữ tù nhân đề nghị tôi hãy đến càng sớm càng tốt bởi vì cô nghĩ người đàn bà kia không điên mà chỉ ở tình trạng "bề tôi của Đức Chúa Trời."
Khi tôi đến tòa án, tôi đã gặp tù nhân này và người bạn tù có ánh mắt dịu dàng trong chiếc áo dài đến đầu gối, đang ôm trong lòng quyển Kinh Thánh sờn rách. Cô ta giải thích là Đức Chúa Jesus đã gửi cô xuống thuyết giảng ở Bentonville và nói rằng nếu được thả ra cô sẽ tiếp tục quay về tiếp tục sứ mạng của mình. Khi tôi biết được rằng cô đến từ California, tôi thuyết phục vị thẩm phán mua cho cô ta một vé xe buýt về nhà thay vì bắt buộc cô vào bệnh viện tâm thần và tôi cũng đã thuyết phục cô rằng Californiaô hơn ở Arkansas.
Bill đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử chọn ứng viên của Đảng Dân chủ vào Quốc hội với một chút hỗ trợ của bố và em trai Tony của tôi. Họ đã dành ra vài tuần vào tháng Năm để tham gia các công việc tẻ nhạt trong cuộc vận động như dựng panô quảng cáo và trả lời điện thoại. Điều làm tôi ngạc nhiên là một người Cộng hòa bảo thủ như bố tôi lại làm việc cho cuộc tranh cử của Bill, một biểu hiện rõ ràng về lòng mến trọng của bố dành cho anh ấy.
Trước ngày lễ Quốc tế Lao động, chiến dịch tranh cử của Bill đã trở nên nặng ký và phe Cộng hòa bắt đầu chiến dịch phòng thủ bằng một loạt tấn công có tính cá nhân và các trò bẩn thỉu. Đây là lần đầu tiên tôi tiếp cận với hiệu quả tác động của những lời nói dối và các trò mánh khóe trong vận động tranh cử.
Khi Tổng thống Nixon ở Fayetteville nhân dịp có trận bóng chày giữa Texas và Arkansas, một thanh niên đã trèo lên cây để phản đối cuộc Chiến tranh Việt Nam và phản đối sự hiện diện của Nixon tại trường đại học. Năm năm sau, các đối thủ chính trị của Bill đã tung tin rằng Bill chính là chàng trai đó. Họ không ngờ là vào thời điểm ấy, Bill đang học ở Oxford, Anh Quốc, cách xa đến bốn ngàn dặm. Nhiều năm sau này, tôi vẫn tình cờ gặp những người tin vào lời cáo buộc đó.
Một trong những gói thư của Bill gửi cho cử tri đã không được gửi đi và sau đó, hàng kiện bưu thiếp đã được phát hiện bị giấu sau một bưu điện. Chúng tôi có báo các vụ phá hoại khác nhưng cuối cùng chẳng có trò bẩn thỉu nào bị lôi ra ánh sáng. Kết thúc ngày bầu cử vào tháng 11, Bill đã thua 6.000 phiếu trong tổng số trên 170.000 phiếu, với tỉ lệ 48%-52%. Một lúc lâu sau nửa đêm, khi Bill, Virginia, Roger và tôi rời căn nhà nhỏ dùng làm trụ sở cho chiến dịch tranh cử thì điện thoại reo lên. Tôi bắt máy, nghĩ rằng có lẽ đó là một người bạn hoặc một người ủng hộ nào đó gọi đến để bày tỏ sự thông cảm. Nhưng một ai đó đã hét to vào điện thoại: "Tao rất vui là cái thằng Bill Clinton cộng sản thích bọn da màu chó chết đã thua cuộc." Và sau đó là gác máy. Tôi không biết còn lời cổ vũ nào tệ hơn thế nữa không! Đó là một câu hỏi mà tôi luôn trăn trở nhiều lần trong những năm sau này.
Vào cuối năm học, tôi quyết định thực hiện một chuyến đi dài quay về Chicago và Bờ biển phía Đông để thăm lại bạn bè và những người đã mời tôi làm việc. Tôi vẫn còn không chắc sẽ làm gì cho cuộc sống của mình. Trên đường ra phi trường, Bill và tôi đi ngang qua một ngôi nhà gạch gần trường đại học phía trước có tấm bảng hiệu "Nhà Bán". Tôi tình cờ nói căn nhà nhỏ đó trông rất dễ thương và sau đó quên bẵng đi. Sau vài tuần du lịch và suy nghĩ, tôi quyết định trở về với Bill và cuộc sống của mình ở Arkansas. Khi Bill đón tôi, anh ấy hỏi: "Em còn nhớ căn nhà em thích không? Em yêu à, anh đã mua nó rồi, nên giờ thì em nên cưới anh đi vì anh không thể sống trong ngôi nhà đó một mình.”
Bill hãnh diện lái xe theo đường dẫn vào căn nhà và giục tôi vào trong. Căn nhà có một cổng vòm lõm vào, một phòng sinh hoạt có trần xà theo phong cách nhà thờ, một lò sưởi, một cửa sổ lớn, một phòng ngủ khá lớn và một nhà bếp còn nhiều thứ phải làm. Bill cũng đã mua một cái giường sắt cổ có hoa văn chạm trổ tại một cửa hàng đồ cổ ở địa phương. Anh cũng kịp đến siêu thị Wal-Mart vác về một mớ khăn trải giường.
Lần này thì tôi nói: "Vâng, anh yêu.”
Chúng tôi làm lễ cưới trong căn phòng khách vào ngày 11 tháng 10 năm 1975 với sự chứng kiến của Mục sư Nixon thuộc Hội Giám lý tại địa phương và vợ của ông là Freddiười đã làm việc trong cuộc vận động tranh cử của Bill. Có mặt tại lễ cưới có bố mẹ và các cậu em của tôi, có Virginia và Roger, Johanna Branson, Besty Johnson Ebeling, nay đã lập gia đình với người bạn học cùng lớp thời trung học là Tom, có FH. Martin là người đã phụ trách công tác tài chính cho chiến dịch tranh cử của Bill vào năm 1974 cùng với vợ mình là Myrna, có Marie Clinton, cháu của Bill, có Dick Atkinson, một người bạn ở Trường Luật Yale đã dạy chung với chúng tôi trong khoa luật, có Bess Osenbaugh và Patty Howe, một người bạn thân từ nhỏ của John ở vùng Hot Springs. Tôi mặc một chiếc áo dài kiểu Victoria bằng vải mu-sơ- lin có viền đăng ten mà tôi đã cùng mẹ đi mua vào tối hôm trước. Tôi đi vào phòng trong vòng tay của bố mình và mục sư nói "Ai đồng ý dâng tặng người phụ nữ này?". Tất cả chúng tôi đều nhìn vào bố tôi mong đợi câu trả lời. Nhưng ông không chịu nói. Cuối cùng Mục sư Nixon phải nói: "Ông Rodham, ông hãy lùi lại nào.”
Sau lễ cưới, Ann và Morriss Henry tổ chức một buổi tiệc chiêu đãi ở trong sân lớn sau nhà nơi mà hàng trăm bạn bè tụ tập để chung vui cùng chúng tôi.
Sau tất cả những điều đã xảy ra, tôi thường tự hỏi vì sao Bill và tôi lại vẫn chung sống với nhau. Đây không phải là câu hỏi tôi hoan nghênh nhưng với dư luận bên ngoài về cuộc sống của chúng tôi thì tôi biết câu hỏi này sẽ được hỏi đi hỏi lại nhiều lần. Điều mà tôi có thể giải thích là một tình yêu đã tồn tại hàng thập kỷ và đã trưởng thành qua các trải nghiệm mà chúng tôi chia sẻ cùng nhau về việc nuôi dạy một cô con gái, tổ chức tang lễ chôn cất bố mẹ của chúng tôi, chăm nom cho gia đình, có một cuộc sống xứng đáng với bạn bè, một niềm tin chung và một cam kết tự nguyện phục vụ tổ quốc. Nhưng trên tất cả tôi biết là không ai hiểu tôi hơn Bill và không ai có thể làm tôi cười theo cách mà Bill đã làm. Thậm chí sau những năm tháng này, anh ấy vẫn là một trong những người năng động, mạnh mẽ và thú vị nhất mà tôi từng được gặp. Bill Clinton và tôi đã mở đầu câu chuyện làm quen vào mùa xuân năm 1971 và hơn 30 năm sau chúng tôi vẫn còn nói chuyện say mê với nhau.