Bill và tôi sử dụng ngày cuối cùng của cuộc vận động tranh cử khắp đất nước với lòng hăng hái mãnh liệt để giành những lá phiếu, lúc nào cũng dốc hết sức mình và không dám coi thường một điều gì cho đến khi cuộc bỏ phiếu trôi qua, theo như cách nói của Bill là cho đến giây phút cuối cùng. Từng giờ từng phút, tâm trạng của mọi người trên chiếc Air Force One trở nên nhẹ nhàng dần vì chúng tôi tự tin cảm thấy Bill sẽ trở thành vị Tổng thống thuộc Đảng Dân chủ đầu tiên tại chức hai nhiệm kỳ kể từ thời Tổng thống Franklin Roosevelt. Vào đêm trước ngày bầu cử, Bill, Chelsea và tôi đã hứng khởi đến không ngủ được. Nước Mỹ đang sôi sục giữa một bầu không khí say sưa, hồi hộp đến ngây người vào thời điểm đó, và ở một nơi nào đó trên bầu trời Missouri, vào giữa đêm khuya, Chelsea đang hướng dẫn những người tùy tùng của chúng tôi thể hiện màn kịch bất ngờ Macarena (tất cả chúng tôi trông giống như những người cắm trại đang xua đuổi một đàn muỗi). Khi Mike McCurry, thư ký báo chí của Tổng thống, tóm lược cho giới báo chí về những hoạt động ở phần trước của máy bay, ông ta cẩn thận tường thuật rằng viên tổng tư lệnh đã khiêu vũ "theo một phong cách Tổng thống". Mãi đến sau 2 giờ sáng, chúng tôi mới bắt đầu đáp xuống Little Rock.
Không còn nghi ngờ gì nữa, chúng tôi sẽ bỏ phiếu và chờ đợi kết quả ở Arkansas, nơi chúng tôi đã từng bắt đầu cuộc hành trình vào Nhà Trắng. Chúng tôi trú chân tại một khách sạn trong khu vực trung tâm, nghỉ ngơi và đi thăm viếng gia đình cùng các bạn bè. Hàng ngàn người đã tụ tập sẵn tại Little Rock, mong chờ buổi lễ ăn mừng chiến thắng khi cuộc bỏ phiếu hoàn tất. Chúng tôi tránh mặt mọi người trừ việc phải đến điểm bầu cử và dùng bữa trưa do Thượng nghị sĩ David Pryor chủ trì, Pryor sẽ về hưu vào năm đó.
Chúng tôi cảm thấy mình thật diễm phúc khi được vây quanh bằng những khuôn mặt thân quen, sống giữa sự hỗ trợ dào dạt của mọi người trong thành phố quê nhà. Nhưng đâu đó vẫn có một chút không khí luyến tiếc vấn vương bởi mọi người đều biết đây sẽ là nhiệm kỳ cuối cùng của Bill. Một Tổng thống chỉ có thể phục vụ hai nhiệm kỳ mà thôi. Có một điều gì đó thật sâu lắng diễn ra bên trong đám đông đang hớn hở vui mừng. Trong buổi cơm trưa, Thượng nghị sĩ Pryor gợi nhắc đến một luật sư độc lập đã mở văn phòng bên kia Little Rock hai năm trước và vẫn chưa kết thúc cuộc điều tra của mình. "Tôi nghĩ tràng pháo tay lớn nhất mà các bạn có thể được ở Arkansas là hãy nói rằng: Chúng ta hãy chấm dứt cuộc bầu cử này và để cho Ken Starr về nhà", ông ấy nói. Cuộc điều tra, ông ấy chỉ ra, đã "hủy hoại nhiều cuộc đời, làm cho nhiều người phải khánh kiệt... Chúng ta cảm thấy đã đến lúc họ phải để chúng ta tiếp tục".
Khi chúng tôi được tin rằng Bill đã chiến thắng trong cuộc bầu cử với 8% số phiếu cao hơn đối thủ, tôi cảm thấy đó không chỉ là một chiến thắng của Tổng thống, đó là một minh chứng của nhân dân Mỹ. Họ cho thấy cuộc bầu cử này là bầu cho tất cả những điều họ quan tâm - việc làm, gia đình, nhà ở, nền kinh tế - chứ không chỉ cho những thù hằn chính trị và những vụ xì- căng-đan giả tạo. Thông điệp của chúng tôi đã vượt khỏi bầu không khí u ám ở Washington và đến với cử tri. Câu khẩu hiệu của cuộc vận động năm 1992 - "Đó là nền kinh tế, ngốc ạ" - vẫn còn tác dụng, nhưng có thêm sự nhấn mạnh mới vào những gì mà nền kinh tế đang hồi phục có thể thực hiện để cải thiện cuộc sống của tất cả người Mỹ. Chúng tôi đã nhận ra rằng những mối quan tâm cá nhân của mọi người có thể trở thành những vấn đề chính trị nếu họ dùng chính tiếng nói và lá phiếu của mình để thể hiện những điều đó.
Những ngày bầu cử thật khốn khổ bởi mọi người không thể làm gì ngoài việc chờ đợi. Để khuây khỏa, tôi rủ vài người bạn cùng ăn trưa tại Doe's Eat Palace, một nhà hàng chuyên bán các món nướng, vốn là nguồn kinh doanh phụ của nhà Doe huyền thoại tại Greenville, Mississippi. Sau bữa cơm trưa, tôi quyết định lái xe về nhà mẹ ở khu Hillcrest tại Little Rock. Tôi đã nài ép Don Flynll, người đứng đầu đội cận vệ, để anh ta chấp nhận cho tôi làm điều này. Don ngồi kế bên tôi trên suốt đoạn đường và tôi nhận thấy những khớp ngón tay của Don trắng bệch khi chúng tôi đến nơi. Từ đó đến nay tôi không lái xe nữa.
S đêm, tiếp theo bài phát biểu chấp nhận thất bại của Dole, Bill và tôi tay trong tay, cùng với nhà Gore, bước ra khỏi Old State House, tòa nhà đầu tiên của Quốc hội Arkansas và là nơi cuộc vận động tranh cử của Bill bắt đầu vào ngày 3 tháng 10 năm 1991.
Tôi nhìn thấy những khuôn mặt bạn bè và người ủng hộ trong một đám đông lớn, và tôi nhớ lại lần đần tiên mình đã đến thăm Old State House, vào tháng 1 năm 1977, nơi chúng tôi chiêu đãi những quan khách đến chứng kiến lễ tuyên thệ nhậm chức Bộ trưởng Tư pháp Arkansas của Bill. Tôi mang ơn mọi người dân Arkansas, những người đã cho tôi rất nhiều thứ trong suốt những năm qua, và tôi cảm nhận được tình cảm sâu lắng nhất của Bill khi anh ấy nói: "Tôi cảm ơn nhân dân của quê hương xứ sở mến yêu của mình. Đêm nay, đây là nơi duy nhất trên thế giới này tôi muốn ở lại. Trước tòa nhà Quốc hội cổ kính đã chứng kiến bao điều trong cuộc đời tôi cũng như lịch sử của tiểu bang chúng ta, tôi cảm ơn các bạn đã ở bên cạnh tôi, cho đến giờ phút này, và chưa bao giờ bỏ cuộc, vì biết rằng chúng ta có thể làm được nhiều thứ hơn nữa".
Bill có cơ hội để "xây nhịp cầu bước vào thế kỷ 21", còn tôi sẽ làm hết sức để giúp anh ấy. Quá trình vừa học vừa làm trong suốt nhiệm kỳ đầu đã dạy tôi cách sử dụng vai trò của mình hiệu quả hơn, cả trước công chúng lẫn sau hậu trường. Tôi đã chuyển từ một vai trò công khai rõ rệt là người cố vấn về vấn đề y tế cho Bill, tuyên thệ trước Quốc hội, đọc các bài diễn văn, đi khắp đất nước và gặp gỡ các nhà lãnh đạo lưỡng viện sang một vai trờ riêng tư hơn, nhưng cũng tích cực không kém, trong suốt hai năm sau cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào năm 1994.
Tôi đã bắt đầu làm việc ở Nhà Trắng và cùng với các quan chức hành pháp bảo vệ các chương trình, các hoạt động sống còn về y tế, giáo dục... mà Đảng Cộng hòa công kích. Tôi đã trải qua hai năm giúp các cố vấn hàng đầu của Tổng thống cải thiện bản sửa đổi điều luật về chế độ phúc lợi xã hội và ngăn chặn sự cắt giảm liên quan đến các quyền lợi về luật pháp, các hoạt động nghệ thuật, giáo dục, y tế (Medicare và Medicaid). Trong nỗ lực không ngừng nhằm cải tạo chính sách chăm sóc sức khỏe, tôi đã vận động hành lang các đảng viên Dân chủ và Cộng hòa ở Điện Capitol để khởi xướng một chương trình toàn diện cung cấp vắc-xin với giá thấp hoặc miễn phí cho trẻ em.
Dự tính cho nhiệm kỳ hai của Bill, tôi có ý định phát biểu công khai để giúp việc định hình những chính sách của Nhà Trắng về các vấn đề ảnh hưởng đến phụ nữ, trẻ em và gia đình. Mặc dù rất nhiều người có điều kiện vật chất tốt hơn trong nền kinh tế phát triển của chúng ta, gia đình nói chung đang bị áp lực nặng nề. Hố ngăn cách giàu nghèo ngày càng rộng. Tôi muốn đảm bảo một mạng lưới an toàn xã hội - về chăm sóc sức khỏe, giáo dục, hưu trí, tiền lương và công ăn việc làm - mà hiện đang có nguy cơ bị tước đoạt vì người dân trở nên ít có khả năng thích nghi trước những thay đổi của cuộc cách mạng kỹ thuật và văn hóa tiêu dùng toàn cầu. Tôi đã cùng làm việc với Bill trong suốt chiến dịch vận động tranh cử năm 1996 nhằm thúc đẩy các vấn đề như chính sách nghỉ phép vì chuyện gia đình, trợ cấp vay vốn cho sinh viên, chăm sóc sức khỏe trẻ em và người già, cùng với việc nâng cao mức lương tối thiểu. Công chúng đã nhìn nhận tài năng lãnh đạo của Bill qua cuộc bầu cử và chúng tôi có thể tập trung vào những nỗ lực cải thiện đời sống của người dân. Việc Đảng Cộng hòa to tiếng chế giễu chính quyền quốc gia là nhằm làm suy giảm niềm tin của dân chúng vào hiệu quả của các chương trình liên bang vốn đã được thừa nhận rộng rãi như chương trình An sinh Xã hội, Medicare và giáo dục cộng đồng. Thông qua sáng kiến "Cải tổ chính quyền" do Phó Tổng thống Gore lãnh đạo, bộ máy chính quyền liên bang đã được tinh giản rất nhiều soTổng thống Kennedy. Tôi hiểu rằng mọi vai trò của Liên bang đều phải tỏ ra có hiệu quả rõ rệt, thí dụ như việc bổ sung thêm nhiều cảnh sát trên đường phố hoặc có thêm nhiều giáo viên trong lớp học. Có nghĩa là phải lắng nghe dân chúng.
Vào năm 1994, tôi đã vận động Bộ Lao động tiến hành một cuộc nghiên cứu lớn chưa từng có về lao động nữ. Có tên gọi "Tầm quan trọng của lực lượng lao động nữ", cuộc nghiên cứu phản ánh những lo lắng của hàng triệu nữ lao động, những người chiếm đến gần phân nửa lực lượng lao động của nước Mỹ. Không kể đến thu nhập và bản chất công việc, phụ nữ có hai mối quan tâm hàng đầu: dịch vụ chăm sóc trẻ em tốt và hợp túi tiền; cân bằng được mối liên quan giữa công việc và đời sống gia đình. Trong quá trình nuôi dạy Chelsea, tôi đã nhờ đến sự giúp đỡ của các bạn bè, gia đình và rất nhiều người giúp việc để chăm sóc nhà cửa khi Bill và tôi bận công tác. Hầu hết các bậc cha mẹ không có may mắn như thế.
Tôi gặp những phụ nữ tham dự vào cuộc nghiên cứu để tìm hiểu thêm về cuộc sống của họ. Một bà mẹ trong hoàn cảnh nuôi con một mình đến từ thành phố New York mô tả điều quan trọng sống còn trong cuộc sống thường nhật của mình: "Mọi thứ đều được lên kế hoạch giờ giấc cụ thể". Chị phác thảo thời khóa biểu hàng ngày của mình như sau: thức dậy lúc 6 giờ sáng, sửa soạn mọi thứ để đi làm, chuẩn bị bữa sáng, cho mèo ăn và đánh thức đứa con trai 9 tuổi, tranh thủ ủi áo quần trong lúc con chuẩn bị đi học; dắt con đến trường rồi đến sở làm cho đến 5 giờ chiều, rồi đón con từ lớp học ngoài giờ. Làm bữa tối, làm việc nhà, thanh toán các hóa đơn và dọn dẹp nhà cửa rồi đi ngủ. Chị tự hào về việc mình có thể hỗ trợ gia đình và đã phấn đấu thăng tiến từ một nhân viên kế toán bán thời gian thành một thư ký điều hành toàn thời gian, tuy lịch làm việc khá nặng nhọc. Như một y tá về hồi sức 37 tuổi ở Sante Fe nói với tôi: "Chúng tôi vừa phải làm vợ, làm mẹ, và làm một nhân viên chuyên nghiệp, và cuối cùng là được làm chính bản thân mình, nhưng chăm sóc bản thân là thứ sau cùng mà chúng tôi nghĩ đến".
Các bà mẹ ở New York rất biết ơn chương trình học ngoài giờ của tổ chức Police Athletic League. Các cảnh sát địa phương cho tôi biết họ ủng hộ những chương trình như vậy bởi vì họ hiểu rằng nếu một bậc phụ huynh bận việc công sở muốn giữ cho con mình tránh khỏi những điều phiền toái, thì cần có một môi trường an toàn, hiệu quả sau những giờ học ở trường. Thế mà nhiều bậc cha mẹ không có khả năng lo được cho con cái họ những chương trình sau giờ học tử tế hoặc các dịch vụ chăm sóc hiệu quả dành cho các cháu bé chưa đến tuổi đi học. Chỉ một số ít các sở làm có chế độ hay hỗ trợ việc chăm sóc trẻ; những điểm giữ trẻ thường từ chối không nhận các đứa trẻ bệnh tật và hầu hết các nơi này đều tính phí cao đối với các trường hợp đến đón con trễ. Một người mẹ ở Boston cho tôi biết thỉnh thoảng bà phải làm việc cả trong giờ nghỉ trưa để có thể đón đứa con 3 tuổi của mình ở nhà trẻ đúng giờ vào buổi chiều. Tình trạng của bà cũng là một khó khăn chung. Một trợ lý phó tổng giám đốc ngân hàng mà tôi gặp ở Atlanta đã nói rằng: "Tôi gần như dẫm chết những người khách bộ hành khi cố chạy đến trung tâm giữ trẻ cho đúng giờ, vì không muốn tốn chi phí do đón con trễ sau 6 giờ chiều”. Một vị thẩm phán liên bang và cũng là một người mẹ giải thích: "Tôi là một luật sư trong khi tất cả các cộng sự có vợ đều là những bà nội trợ. Họ không phải lo lắng đến chuyện đón con hay đi lấy đồ giặt ủi". Điều này nghe giống như chuyện Albert Jenner đã nói với tôi vào năm 1974 khi tôi nói mình muốn trở thành một luật sư tòa án - ông ấy đã khuyên tôi không nên vì tôi không có được một người vợ như những nam luật sư.
Năm 1994, giáo sư David Hamburg, chủ tịch tập đoàn Carnegie khuyến khích tôi hãy vai trò Đệ nhất Phu nhân của mình để chỉ ra những khiếm khuyết của việc chăm sóc trẻ em ở Mỹ và kêu gọi liên bang hỗ trợ nhiều hơn cho các bậc cha mẹ phải làm việc. Trong suốt cuộc tranh luận về việc cải tổ chính sách phúc lợi năm 1996, tôi đã nhấn mạnh rằng chính quyền vẫn tiếp tục tạo điều kiện cho mọi người được hưởng chế độ chăm sóc trẻ em và xem đó là vấn đề thiết yếu trong việc giúp đỡ các bà mẹ nghèo từ bỏ cuộc sống nhờ vào phúc lợi để đi làm. Sau đó, tôi đã mở rộng phạm vi thông điệp của mình khi các kết quả nghiên cứu mới nhất cho thấy vai trò quan trọng của việc kích thích sự phát triển não trẻ em vào nhưng năm đầu đời. Vấn đề là tìm hiểu xem làm thế nào để ứng dụng kết quả nghiên cứu này vào chế độ chăm sóc trẻ và qua đó giúp gia tăng sự phát triển của trẻ em trong những năm đầu đời. Tôi ủng hộ chương trình cải tiến, Reach Out and Read, một chương trình khuyến khích các bác sĩ "kê toa" cho người lớn phải đọc truyện cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ mới biết đi. Tôi đã gặp gỡ nhiều chuyên gia về lĩnh vực chăm sóc trẻ em, các luật sư hoặc tổ chức hỗ trợ trẻ em và đi vòng quanh đất nước để xem xét những phương thức khác nhau, nhằm cải thiện chất lượng của việc chăm sóc trẻ em cũng như khắc phục những thiếu sót của các chương trình chăm sóc trẻ em hiện tại dành cho các bậc cha mẹ đang đi làm. ở Miami, tôi gặp những lãnh đạo doanh nghiệp và bàn về trách nhiệm của các doanh nghiệp đối với việc chăm sóc trẻ em, và tiếp theo đó chúng tôi đã tổ chức một buổi lễ tại Nhà Trắng nhằm nêu bật các chương trình đã thành công của nhiều doanh nghiệp khác nhau. Tại một căn cứ thủy quân ở Quantico, bang Virgina, tôi đã đến thăm một trong số các trung tâm chăm sóc trẻ em tốt nhất của quân đội Mỹ dành cho các gia đình quân nhân mà tôi hy vọng sẽ có thể lấy làm ví dụ điển hình để áp dụng cho toàn xã hội.
Tôi triệu tập hai cuộc hội nghị tại Nhà Trắng, hội nghị đầu tiên là Tìm hiểu và Phát triển Giai đoạn Tuổi thơ và cuộc hội nghị về vấn đề Chăm sóc Trẻ em. Chúng tôi tập hợp các chuyên gia, luật sư, lãnh đạo doanh nghiệp và nhà chính trị để tập trung sự chú ý của quốc gia vào những vấn đề cấp bách trong đời sống gia đình và phác thảo những sáng kiến của liên bang nhằm mang đến cho những người làm cha mẹ đang đi làm sự hỗ trợ mà họ cần để có thể vừa là những nhân viên hiệu quả vừa là những phụ huynh có trách nhiệm. Các nhân viên của tôi tiếp tục làm việc mật thiết với các vị cố vấn chính sách quốc nội của Tổng thống để triển khai và phát triển những chính sách đột phá mà Bill đã công bố trong Thông điệp Liên bang năm 1998. Tôi rất tự hào rằng nhà nước đã đầu tư 20 tỉ đôla vào việc cải thiện chế độ chăm sóc trẻ em trong vòng năm năm tiếp theo. Ngân quỹ sẽ được dùng để giúp những gia đình có thu nhập thấp được hưởng chương trình chăm sóc trẻ em và các hoạt động sau giờ học dành cho các trẻ em lớn hơn, cũng như mở rộng Head Start và ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp và các viện đại học đã đầu tư vào chương trình chăm sóc trẻ em. Ngân quỹ Early Learning được thành lập nhằm hỗ trợ tài chính cho các tiểu bang và cộng đồng trong nỗ lực phát triển chất lượng của các cơ sở chăm sóc trẻ em, tiết giám tỉ lệ số trẻ trên một nhân viên chăm sóc và gia tăng số lượng những đơn vị chăm sóc trẻ có giấy phép. Tôi làm việc cật lực để chương trình chăm sóc trẻ sau giờ học được khả thi hơn, và vào năm 1998, chính quyền đã giới thiệu chương trình Những Trung tâm Học tập Cộng đồng Thế kỷ 21, cho phép gia tăng thêm cơ hội sau giờ học hoặc vào mùa hè cho gần 1,3 triệu trẻ em. Chương trình chăm sóc trẻ em sau giờ học đã giúp bọn trẻ ngày càng tiến bộ ở các môn tập đọc và làm toán; đồng thời làm giảm tính bạo lực và tình trạng nghiện ma túy, giúp các bậc phụ huynh cảm thấy an tâm hơn.
Tôi tiếp tục xúc tiến các sáng kiến đối nội thông qua các buổi ra mắt công chúng, thuyết trình, gặp gỡ và trao đổi bằng điện thoại với những thành viên Quốc hội cũng như các tổ chức bên ngoài. Sau thời gian 8 năm, các nhân viên đối nội tài năng của tôi - Shirley Sagawa, Jennifer Klein, Nicole Rabner, Neera Tanden, Ann O'leary, Heather Howard và Ruby Shamir - đã trở nên vô giá. Bill và tôi cũng triệu tập những cuộc họp chiến lược tại Nhà Trắng bàn về vấn đề làm thế nào để hạn chế các nội dung truyền thông mang tính bạo lực ảnh hưởng đến trẻ em, phát triển giáo dục đối với các học sinh gốc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha - nhóm trẻ có tỉ lệ bỏ học cao - mở rộng cơ hội làm việc và học tập cho trẻ vị thành niên Mỹ.
Phần đầu tiên của bản pháp chế mà Bill đã ký thành luật vào năm 1993 là Đạo luật Nghỉ phép Điều trị và Việc gia đình, do Thượng nghị sĩ thuộc Đảng Dân chủ Christopher Dodd bang Connecticut đề nghị. Đạo luật này cho phép hàng triệu người lao động được phép nghỉ 12 tuần không lương khi có vấn đề gia đình khẩn cấp hoặc để chăm sóc người nhà ốm đau mà không sợ bị mất việc. Hàng triệu người Mỹ đã tận dụng được sự bảo vệ từ luật pháp này và khám phá ra điểm khác biệt sâu sắc mà nó đã mang lại cho cuộc sống của họ. Một phụ nữ ở bang Colorado viết cho tôi rằng chồng của chị vừa mất vì chứng sung huyết và nghẽn mạch máu tim sau vài năm bệnh tật. Với đạo luật này, chị được quyền nghỉ phép và nhiều lần đưa chồng đến bác sĩ, ra vào bệnh viện và an ủi chồng đến phút cuối. Khi trải qua những tháng nguy kịch cuối đời của chồng mình, chị không cần phải lo lắng vì sợ thất nghiệp sau khi chồng qua đời.
Tôi thúc giục các nhân viên của mình tìm thêm nhiều ý tưởng khác để cải thiện luật pháp. Chứng tôi đã làm việc với Bộ Lao động, Sở Quản lý Nhân sự và Hiệp hội Quốc gia về Phụ nữ và Gia đình để chỉnh sửa chính sách nghỉ phép để điều trị và lo chuyện gia đình giúp công nhân có thể sử dụng đến 12 tuần nghỉ do bệnh tật và được trả lương trong khi chăm sóc cho người thân bị ốm đau. Tôi hy vọng hệ thống liên bang này có thể trở thành mô hình trên khắp quốc gia và tôi đề nghị một quy đ̔ các tiểu bang sử dụng hệ thống bảo hiểm thất nghiệp của mình chi trả chế độ nghỉ phép có lương cho những người mới làm cha mẹ. Có ít nhất mười sáu cơ quan lập pháp xem xét đến vấn đề này khi chính quyền Bush bác bỏ quy định đó, ngăn cản con đường dẫn đến sự ủng hộ dành cho những người mới làm cha mẹ.
Bản đề nghị sửa đổi về luật phá sản được trình bày tại Quốc hội có nguy cơ làm suy giảm sự hỗ trợ về vấn đề trẻ em và hôn nhân mà nhiều phụ nữ lệ thuộc vào. Con số những người Mỹ nộp đơn xin phá sản đã tăng đến 400% trong vòng 20 năm, là một thống kê gây sửng sốt với các dấu hiệu quan trọng về tính ổn định của nền kinh tế quốc gia. Liệu có phải ngày càng có nhiều người Mỹ chỉ đơn giản lợi dụng sự phá sản như một công cụ tài chính có tính toán trước để thoát khỏi các núi nợ cá nhân? Liệu có phải sự gia tăng này là do ngành công nghiệp ngân hàng và thẻ tín dụng vô trách nhiệm đã thu hút, chấp thuận cấp thẻ cho những người không đủ điều kiện? Hay tại vì những người Mỹ có trách nhiệm đang phải đối diện với những chi tiêu cá nhân mà họ không thể tự kiểm soát, như là các hóa đơn y tế không được bảo hiềm chi trả? Cách trả lời của những chính trị gia sẽ định hướng cho các giải pháp danh sách mà họ ủng hộ. Những chính trị gia tin rằng ngành tín dụng phải chịu trách nhiệm phần lớn cho khoản nợ nần đang gia tăng của dân Mỹ, thì ủng hộ cho những giải pháp hạn chế các phương thức thu nhận một cách ồ ạt nhưng khách hàng có nguy cơ nợ cao. Những chính trị gia cho rằng những người đang sử dụng hệ thống này để trốn nợ thì hiển nhiên sẽ ủng hộ cho những giải pháp gây khó khăn hơn cho việc tuyên bố phá sản hoặc sẽ giới hạn số lượng nợ được chiếu cố trong các trường hợp phá sản.
Tôi phát hiện ra một điều mà người ta đã bỏ sót trong cuộc tranh luận này. Đó là điều gì sẽ xảy đến với những phụ nữ và trẻ em đang phụ thuộc vào những khoản tiền trợ cấp nuôi con và gia đình do pháp luật quy định nhưng nay bỗng nhiên lại không được nhận nữa. Hàng trăm ngàn trường hợp phá sản đã khiến cho phụ nữ phải ra tòa nhằm cố gắng giành lại tiền trợ cấp nuôi con và gia đình đã bị tước đoạt bởi những ông bố vô công rồi nghề và những người chồng cũ tuyên bố phá sản. Tôi nhận thấy rằng những thay đổi trong điều luật phá sản có ảnh hưởng sâu sắc đến phụ nữ và gia đình. Trong các trường hợp phá sản, những công ty tín dụng muốn các hóa đơn tín dụng chưa thanh toán cũng được ưu tiên ngang với các nghĩa vụ hỗ trợ trẻ em và hôn nhân gia đình. Điều này có nghĩa là một phụ nữ đơn độc sẽ phải cạnh tranh với Visa hay MasterCard để có được khoản trợ cấp nuôi con theo luật định. Tôi tin rằng những nghĩa vụ hỗ trợ trẻ em phải được ưu tiên trước nhất và việc cải cách luật phá sản phải được cân bằng, đòi hỏi thêm trách nhiệm từ phía những người mắc nợ lẫn chủ nợ. Năm 1998, tôi ủng hộ quyết định của Tổng thống phủ quyết một điều luật ưu ái cho ngành tín dụng hơn là người tiêu dùng, và sau đó tôi đã làm việc với các thành viên Quốc hội để tăng cường những hình thức bảo vệ người tiêu dùng và thêm vào đó các điều khoản bảo vệ phụ nữ và gia đình của họ. Ở Thượng viện, một trong số các biện pháp đầu tiên mà tôi đệ trình đã gia tăng sự bảo vệ đối với phụ nữ và trẻ em.
Trao quyền kinh tế cho phụ nữ cũng có nghĩa là tiếp tục cuộc đấu tranh cho chế độ lương bổng tương đương và sự đảm bảo hưu trí. Phụ nữ vẫn chưa được trả công ngang bằng với nam giới, và nhiều lao động nữ không nhận được hoặc nhận mức thu nhập không thích đáng từ lương hưu mà chỉ trông nhờ vào chế độ An sinh Xã hội. Cơ cấu của An sinh Xã hội dựa trên những khái niệm đã lỗi thời, xem phụ nữ là yếu tố lao động phụ trong gia đình , hoặc thậm chí không là gì cả. Số tiền một người được nhận dựa trên những đóng góp mà người đó đã c hiến trong suốt những năm đi làm của mình. Hầu hết phụ nữ đều không chỉ kiếm ít tiền hơn nam giới và thường xuyên không nhận được những khoản trợ cấp hưu riêng, mà còn thường phai làm những công việc bán thời gian thất nghiệp và sống đơn độc trong nhưng năm về hưu vì, tính theo trung bình, họ sống lâu hơn chồng mình. Đối với nhiều phụ nữ lớn tuổi, An sinh Xã hội là tất cả những gì ngăn cách giữa họ và cái nghèo đói khốn khổ. Với quyết tâm bảo toàn khả năng thực thi của mạng lưới an toàn thiết yếu này, tôi chủ trì một cuộc hội thảo tại Hội nghị Nhà Trắng về vấn đề An sinh xã hội vào năm 1998 để tìm hiểu sự phân biệt đối xử bất lợi cho phụ nữ trong cơ cấu của hệ thống.
Phụ nữ và trẻ em cũng phải chịu đựng sự bất công trong hệ thống chăm sóc y tế, vốn là một trong các động cơ ban đầu của tôi khi làm việc về chính sách cải tố. Tôi vận động chính quyền xem xét chấm dứt quy định "buộc về nhà sau khi sinh", mà qua đó các bệnh viện có quyền buộc những bà mẹ mới sinh con về nhà sau 48 tiếng nằm viện. Giờ đây, phụ nữ có thể nằm viện 48 giờ sau khi sinh thường và 96 giờ sau khi sinh mổ.
Xúc động trước cuộc đời của nhà hoạt động xã hội chống AIDS Elizabeth Glaser, tôi cũng bắt đầu tiến hành cải thiện việc xét nghiệm và dán nhãn các thuốc nhi khoa, bao gồm các loại thuốc chữa trị cho những trẻ em bị HIVAIDS. Tôi gặp Elizabeth lần đầu tại một hội nghị của Đảng Dân chủ vào năm 1992, khi cô ấy nghẹn ngào kề cho tôi nghe về việc cô bị nhiễm HIV do truyền máu khi sinh con gái, Ariel, vào năm 1981. Không hề biết mình đã nhiễm bệnh, Elizabeth lây bệnh cho con gái khi cho cháu bú và sau đó là cho con trai, Jake, trong bào thai. Elizabeth cảm thấy thật đau đớn bởi những loại thuốc có thể dùng được với cô thì lại không dành cho con gái và con trai của mình vì chưa có nghiên cứu nào cho thấy chúng an toàn và hiệu quả đối với trẻ em. Cô và chồng, Paul Glaser, đã tuyệt vọng nhìn con gái mình chết vì AIDS ở tuổi lên b
Elizabeth đã biến nỗi đau riêng của mình thành một sứ mệnh thay mặt cho toàn thể các trẻ em bị nhiễm HIVAIDS, sáng lập ra tổ chức Pediatric AIDS Foundation để hỗ trợ và khuyến khích những nghiên cứu nhằm mục đích ngăn chặn và chữa trị các trẻ em bị AIDS. Tôi đã làm việc với Elizabeth cho đến khi cô qua đời năm 1994 để yêu cầu giới chuyên môn phải tiến hành thử nghiệm một cách hợp lý các phương thức điều trị dành cho trẻ em, sau đó tôi vẫn tiếp tục mục tiêu này để tưởng nhớ cô ấy. Bé Jake đã được hưởng những tiến bộ trong việc điều trị và hiện vẫn khỏe.
Trong khi không có một số loại thuốc đặc biệt dành cho những trẻ bệnh quá trầm trọng, những loại thuốc khác vẫn được các bác sĩ kê toa thường xuyên mặc dù họ không thật sự hiểu biết đầy đủ về liều lượng và các tác dụng phụ của chúng. Jen Klein, nhân viên cộng sự của tôi, người có công đầu trong những nỗ lực thành công của Nhà Trắng về việc cải tiến quy trình dán nhãn và thử nghiệm, nắm rất rõ về vấn đề này bởi chính con trai của cô, Jacob, đang phải dùng thuốc điều trị chứng suyễn. Năm 1998, Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA.) quy định các công ty dược phẩm phải thử nghiệm những loại thuốc dùng cho trẻ em, thế nhưng có một vài công ty đâm đơn kiện, và một phiên tòa liên bang đã phán quyết rằng FDA không có thẩm quyền yêu cầu tiến hành thử nghiệm. Là một thượng nghị sĩ, tôi đã làm việc để thông qua một đạo luật cho phép FDA quyền hạn cần thiết để thực hiện những gì mà Elizabeth đã ủng hộ.
Nhờ bài phát biểu của tôi tại Bắc Kinh một năm trước đó, hình ảnh của tôi trên toàn thế giới đã tăng lên và văn phòng của tôi bị tấn công dồn dập với nhưng lời mời thuyết trình và tham dự các hội nghị bàn về những vấn đề có ảnh hưởng đến phụ nữ tại nhiều quốc gia mà chúng tôi đã đến thăm. Trước khi đến c Kinh, trong các chuyến công du nước ngoài, tôi đã đồng hành với Bill đến những nơi thích hợp và tham dự các chương trình nói về hôn nhân gia đình. Vào giữa tháng 11, khi chúng tôi thực hiện các cuộc viếng thăm cấp chính phủ đến Úc, Philippines và Thái Lan, tôi đã sắp xếp để vừa thực hiện được chương trình nghị sự của Bill vừa thực hiện chương trình làm việc của riêng mình. Chúng tôi cũng xếp đặt vài chương trình giải trí thư giãn cần thiết. Trong thời gian ở Úc, chúng tôi đã đến thăm Great Barrier Reef sau khi đã lưu lại Sydney và Canberra. Tại cảng Douglas, Bill công bố sự hỗ trợ của nước Mỹ cho chương trình International Coral Reef Initiative, nhằm ngăn chặn sự xói mòn các rạn san hô trên khắp thế giới, sau đó chúng tôi đón thuyền đến dải đá ngầm ở vùng biển San Hô. Tôi thật sự hồi hộp khi trầm mình xuống làn nước. "Nào, tiến lên đi các bạn!", tôi nói với các nhân viên của mình. "Cuộc sống quá ngắn ngủi để các bạn kịp lo mái tóc mình sẽ bị ướt!".
Việc bơi lội của một Tổng thống cũng không đơn giản chút nào. Những thợ lặn của hải quân và các nhân viên mật vụ đeo chân vịt và mặt nạ bơi vòng quanh chúng tôi trong khi Bill và tôi đang kinh ngạc quan sát một con trai khống lồ và những làn cá đủ màu lao vun vút qua làn nước màu ngọc lam.
Có những khoảnh khắc tuyệt diệu khác trong chuyến đi đó. Bill chơi golf với Greg Norman huyền thoại, "Con cá mập trắng" nổi tiếng nhất nước Úc. Tôi đã đến thăm Nhà hát kịch Opera nổi tiếng thế giới tại Sydney, tại đây tôi đã nói chuyện với những nữ đại biếu của Úc về việc bầu cử Tổng thống, về vấn đề phụ nữ và gia đình mà tôi và Bill rất xem trọng. Một vài nhà phê bình đã gọi vấn đề này là "phụ nữ hóa chính trị” trong khi tôi gọi nó là "tính nhân văn".
Tại một khu bảo tồn thiên nhiên hoang dã, Bill đã có dịp vuốt ve một con gấu koala có tên là Chelsea. Việc anh ấy có thể đến thật gần con v một điều kỳ diệu - hoặc giả là một lúc sơ sểnh may mắn cho anh ấy của các nhân viên tiền trạm. Vì thực tế các nhân viên tiền trạm của Nhà Trắng đã quá nhiệt tình trong việc bảo vệ Tổng thống trước những nguy cơ bị dị ứng trong thời gian thăm viếng ở nước ngoài. Trong chuyến đến thăm dinh thự của ngài Toàn quyền tại Canberra, khi Bill và tôi đang đứng chiêm ngưỡng bãi cỏ mênh mông xanh mướt của tòa nhà cùng với chủ nhân của nó là ngài William và quý bà Deane, thì quý bà Deane quay sang Bill: "Chúng tôi xin lỗi về những con kangaroo", bà nói, "Chúng tôi nghĩ rằng họ đã bắt hết chúng.”
Bill tỏ vẻ không hiểu.
"Bà đang nói về điều gì ạ?”, tôi hỏi.
"Ồ, bạn thân mến", bà nói, "Chúng tôi được yêu cầu mang tất cả những con kangaroo ra khỏi khu vực bãi cỏ bởi vì nếu một trong số chúng mà đến gần ngài Tổng thống, nó sẽ gây dị ứng cho ông."
Theo như Bill được biết, anh ấy không dị ứng với loài kangaroo, nhưng một ai đó đã nói như thế, nên yêu cầu bảo vệ Tổng thống đã được đặt lên hàng đầu. Những nhân viên tiền trạm trung thành và tận tụy của chúng tôi đã hết mình giúp đỡ chúng tôi, và tôi thật sự biết ơn những nỗ lực của họ trong việc tiên đoán từng nhu cầu của chúng tôi, nhưng tôi cảm thấy thật khó xử khi mối quan tâm của họ trở thành một đòi hỏi quá đáng đối với tất cả mọi người chung quanh chúng tôi. Tại bữa tiệc tối thết đãi chúng tôi do Tổng thống Francois Mitterand và vợ, bà Danielle, tại điện Elysée ở Paris năm 1994, bà Mitterand đã xin lỗi tôi vì những chiếc bàn trông thật trống trải không có lấy những bông hoa trang trí. "Ý bà là sao ạ?”, tôi hỏi.
"Tôi được báo là ngài Tổng thống dị ứng với hoa
Anh ấy thậm chí còn không dị ứng với việc cắt hoa nữa kia, như anh đã nói với các nhân viên của mình nhiều năm, mà không có kết quả. Thật sự chúng tôi sẽ không làm được điều gì nếu không có những nhân viên tuyệt vời như thế, nhưng thỉnh thoảng chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiều hơn mong đợi!
Cho đến bây giờ thì cứ mỗi lần công du cùng với Tổng thống, tôi lại nhấn mạnh đến những vấn đề có liên quan đến phụ nữ, y tế, giáo dục, nhân quyền, môi trường và những nỗ lực ở cơ sở, thí dụ như là những dự án tín dụng như để khởi động các nền kinh tế. Tôi thường tách khỏi phái đoàn của Bill để gặp những người phụ nữ tại nhà hoặc xưởng làm của họ, đi tham quan các bệnh viện mà nơi đó những phương thức sáng tạo được áp dụng nhằm mở rộng việc chăm sóc sức khỏe cho trẻ em và gia đình, thăm viếng các trường học, đặc biệt là những trường dành cho các em nữ sinh. Tại những nơi này, tôi tìm hiểu về nền văn hóa địa phương và nhấn mạnh quan điểm rằng sự phồn thịnh của một quốc gia liên quan đến nền tảng giáo dục và đời sống tốt đẹp cho những bé gái và phụ nữ.
Trong chuyến viếng thăm đầu tiên đến Philippines năm 1994, Bill và tôi đã đi khắp Corregidor, căn cứ Mỹ đã bị Nhật chiếm đóng trong cuộc Thế chiến thứ hai. Tại đây, Đại tướng Douglas MacArthur bị buộc phải từ bỏ các quần đảo, dù vậy ông đã hứa hẹn "Tôi sẽ quay trở lại". Những người lính Philippines đã chiến đấu dũng cảm bên cạnh người Mỹ, dọn đường cho sự trở lại của MacArthur vào năm 1944. Người dân Philippines đã trải qua nhiều thay đổi to lớn về chính trị trong nhiều thập ký kể từ cuộc Thế chiến thứ hai và vẫn đang trong giai đoạn hồi phục sau ảnh hưởng của hai mươi năm cai trị độc đoán của Ferdinand Marcos. Corazon Aquino - người có chồng bị ám sát vì đã chống đối lại Marcos - đã mở đường khôi phục lại nền dân chủ cho đất nước mình. "Cory" Aquino tranh cử với Marcos vào năm 1986. Marco được tuyên bố là người thắng cuộc, nhưng chiến thắng của ông là nhờ vào thủ đoạn gian lận và biện pháp dọa dẫm. Dân chúng đã phản đối và trục xuất Marcos khỏi cương vị của mình và Aquino đã trở thành Tổng thống, thêm một người phụ nữ nữa đã dấn thân vào con đường chính trị xuất phát từ nỗi mất mát bản thân.
Sau đó Tổng thống Aquino được kế vị bởi Fidel Ramos, một cựu tướng quân được đào tạo tại Học viện quân sự West Point. Ông là người vui tính và hài hước ngay cả khi đang gặp trở ngại trong công việc. Ông cùng vợ, bà Amelita, đã tiếp đãi chúng tôi trong các chuyến đi đến Manila. Tại tiệc chiêu đãi quan khách chính phủ vào năm 1994, ông ấy nhất mực yêu cầu Bill phải chơi kèn saxophone. Trong khi Bill còn ngần ngại, ông đã bố trí một ban nhạc mời Bill lên chơi, với sự đệm đàn piano của bà Ramos. Bà cũng tỏ ra thật vui sướng khi chỉ cho tôi xem một trong số các tủ áo tại dinh Tổng thống cũ chứa đầy những đôi giày của bà Imelda Marcos.
Sau khi nói chuyện tại một cuộc hội nghị có hàng ngàn phụ nữ tham dự đến từ khắp Philippines, tôi rời Manila đến vùng trung du phía bắc Thái Lan và gặp Bill tại Bangkok để tham dự chuyến tham quan chính thức đất nước này. Chúng tôi được Vua Bhumibol Adulyadej và Hoàng hậu Sirikit tiếp đón, dịp này cũng trùng khớp với lễ kỷ niệm 50 năm ngày nhà vua đăng quang.
Bay đến thành phố Chiang Rai, gần biên giới Lào và Miến Điện, tôi có dịp thưởng thức quang cảnh đẹp ngoạn mục của những đồng lúa xanh và những dòng sông uốn lượn bao quanh. Tôi được đón tiếp ngay trên đường băng bởi các nhạc sĩ đánh trống, xập xõa và chơi đàn sah, một nhạc cụ có dây vang lên một thứ âm thanh buồn buồn, lanh lảnh. Những cô gái trong trang phục dân tộc vùng núi vừa nhảy múa vừa giữ thăng bằngài tình những bông hoa và nến buộc trên cổ tay. Tôi đến đúng dịp lễ hội Loy Krathong, đường phố đầy người trẩy hội đang trên đường đến sông Mae Ping để thả xuống nước những bè hoa và nến. Nghi thức cổ truyền này, theo như tôi được kể lại, tượng trưng cho sự chấm dứt những rắc rối trong năm qua và chứa đầy hy vọng cho năm tới.
Niềm hy vọng dạt dào trong nghi lễ này tương phản đến khắc nghiệt với cuộc đời thảm khốc của những cô gái trẻ mà tôi đến thăm sau đó tại trung tâm phục hồi nhân phẩm dành cho các cô gái điếm. Vùng phía bắc Thái Lan này là một phần của "Tam Giác Vàng", tâm điểm buôn bán của đủ mọi thứ : ma túy, hàng lậu và phụ nữ. Tôi được biết là 10% hoặc hơn thế nữa những cô gái trong khu vực này bị ép buộc hành nghề mại dâm. Nhiều người bị bán vào các nhà chứa trước tuổi dậy thì, vì khách mua dâm ưa chuộng những cô gái trẻ, vì tin tưởng một cách sai lầm là những cô gái như thế sẽ không nhiễm bệnh AIDS, một căn bệnh nghề nghiệp của giới bán dâm. Tại Trung tâm New Life ở Chiang Mai, các nhà truyền giáo Mỹ dành cho những người trước đây đã tùng là gái điếm một chỗ trú ẩn an toàn và một cơ hội học nghề để tự nuôi sống bản thân. Tôi gặp một cô bé tại trung tâm, người đã bị ông bố nghiện thuốc phiện đem bán khi lên tám. Sau một vài năm, cô bé này bỏ trốn và trở về nhà - chỉ để bị đem bán trở lại vào nhà chứa. Giờ đây mới 12 tuổi, cô bé đang chết dần vì AIDS tại trung tâm. Da em bọc xương, và tôi bất lực nhìn cô bé khi em đang cố hết sức chắp hai bàn tay nhỏ xíu của mình lại theo kiểu chào truyền thống của Thái Lan khi tôi tiến đến bên em. Tôi quỳ xuống bên chiếc ghế của cô bé, cố nói chuyện với em thông qua một người phiên dịch. Cô bé không còn đủ sức để nói. Tất cả những gì tôi có thể làm là nắm lấy tay em. Cô bé đã chết không lâu sau cuộc viếng thăm của tôi.
Trong một chuyến đến thăm ngôi làng đNương, tôi đã chứng kiến một bằng chứng đáng buồn của kiểu làm kinh tế tự cấp tự túc điều đã dẫn đến cái chết của cô gái trẻ kể trên. Những người hướng dẫn cửa tôi giải thích rằng những nhà có chiếc ăng-ten tivi trên mái là những nhà khá giả hơn - và hầu hết điều đó có nghĩa là họ đã bán một đứa con gái cho nhà chứa. Các gia đình sống trong những túp lều tranh vách đất không có tivi là những nhà đã từ chối hoặc không có con gái để bán. Chuyến đi đã củng cố thêm quyết tâm của tôi làm sao tạo được chiếc cầu nối giữa chính trị toàn cầu với đời sống ở địa phương. Trong buổi gặp gỡ với các đại diện chính quyền Thái Lan và các nhóm phụ nữ, tôi đã bàn về kế hoạch của nhà nước làm sao để dẹp bỏ việc buôn bán phụ nữ, đặc biệt là những cô gái trẻ, vào các đường dây mại dâm ở Bangkok bằng cách tăng cường việc thực thi các điều luật chống mại dâm và những bản án tù nghiêm khắc cho các chủ nhà chứa, khách mua dâm và những gia đình đã bán con cho những đường dây mại dâm. Buôn bán phụ nữ là một sự xâm phạm quyền con người, biến các cô gái và phụ nữ thành nô lệ và làm biến dạng, mất ổn định nền kinh tế của toàn khu vực, giống như việc buôn lậu ma túy đã gây ra. Thái Lan không phải là trường hợp duy nhất. Trong suốt chuyến đi của mình, tôi bắt đầu hiểu việc buôn bán thân xác con người đã trải rộng đến mức nào - đặc biệt là đối với phụ nữ. Ngày nay, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ước tính có khoảng 4 triệu người, thường sống trong cảnh nghèo đói, bị buôn bán mỗi năm. Tôi bắt đầu lên tiếng về sự xâm phạm nhân quyền ghê gớm này và thúc giục chính phủ Mỹ đảm nhận vai trò lãnh đạo toàn cầu trong việc chiến đấu chống lại nó. Tại Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ, trong buổi họp mặt OSCE (Organization for Security and Cooperation in Europe - Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu) năm 1999, tôi tham gia Ủy ban thúc đẩy hành động khẩn cấp toàn cầu. Tôi làm việc với Bộ Ngoại giao và những thành viên Quốc hội vốn cũng quan tâm đến vấn đề này. Đạo luật Bảo vệ Những Nạn nhân của Nạn buôn người được thông qua và năm 2000, giờ đây đã là bộ luật căn bản giúp đỡ những phụ nữ đã bị bán vào Mỹ và hỗ trợ chính quyền và các tổ chức phi chính phủ trong cuộc chiến chống việc buôn người ra nước ngoài.
Chúng tôi trở về Washington vừa kịp dịp lễ Tạ ơn và cùng đến dự một buổi họp mặt gia đình tại khu Trại David. Thành phần khách mới gồm có Harry và Linda, anh trai của Harry, Danny Thomason, người đã biết Bill từ năm 1968 khi ông dạy học tại Hot Springs. Tuyệt vời hơn cả, chúng tôi có thêm hai cháu trai mới, cháu Zachary - con trai của Tony và cháu Tyler - con trai của Roger. Cánh đàn ông chơi golf với nhau mặc cho thời tiết giá lạnh, họ thi đấu với nhau để giành cái mà họ gọi là Cúp Trại David. Chúng tôi dùng bữa và nghỉ ngơi tại Laurel, nơi tôi được bố trí một chiếc tivi màn hình rộng, nhờ thế mà các pha hay trong mọi trận bóng đều có thể nhìn rõ từ mọi góc phòng. Vào bữa cơm tối, chúng tôi hội ý để chọn chương trình phim sẽ xem buổi tối tại nhà hát của khu trại, và nếu có ai phản đối mạnh mẽ thì chúng tôi xem cả hai chương trình cùng một lúc.
Những thành viên của Đảng Cộng hòa mất 9 ghế ở Hạ viện và 2 ghế ở Thượng viện, nhưng họ vẫn kiểm soát cả hai viện của Quốc hội và họ bổ nhiệm nhiều vị trí lãnh đạo cho những lý thuyết gia hơn là những người theo chủ nghĩa thực dụng hay trung dung. Vị chủ tịch mới của Ủy ban Giám sát và Cải tổ Chính phủ trong Hạ viện, dân biểu Dan Burton của bang Indiana, là một nhà lý luận về thuyết đồng phạm hàng đầu của Quốc hội. Ông ta đã được một chút tiếng tăm từ việc bắn vào một quả dưa hấu bằng khẩu súng lục nòng 38 sau vườn sau nhà mình để cố chứng minh rằng Vince Foster bị ám sát.
Một vài nhân vật chủ chốt của Đảng Cộng hòa, bao gồm người lãnh đạo phe đa số trong Thượng viện, Thượng nghị sĩ Trent Lott, đã thề rằng "trách nhiệm" của họ là phải tiếp tục điều tra Chính quyền Clinton. Nhưng vụ Whitewater dường như đã mất động lựượng nghị sĩ D'Amato đã hoãn các phiên chất vấn của mình vào tháng Sáu. Mặc cho vụ chất vấn kéo dài, Kenneth Starr vẫn không moi được bất kỳ mẩu tin chỉ trích nào từ Webb Hubbell, người đang phải ngồi tù 18 tháng trong nhà giam liên bang vì đã gian lận đối với các khách hàng và cộng sự.
Khi lễ nhậm chức nhiệm kỳ hai của Bill đến gần, có một số thay đổi trong thành phần nội các và nhân sự ở Nhà Trắng. Leon Panetta, Chánh vàn phòng của Bill, quyết định quay trở về cuộc sống riêng tư của mình ở California. Erskine Bowles, một doanh nhân ở Bắc Carolina và là người bạn tin cẩn lúc đó làm phó của Leon, sẽ thay thế Leon. Vợ của Erskine là Crandall, một doanh nhân thành đạt và hiểu biết đã từng học chung lớp với tôi ở trường Wellesley. Harold Ickes, người bạn lâu năm đã cùng khởi sự với Bill vào năm 1991 và làm nên một kỳ tích trong việc sắp xếp tổ chức thành phố New York suốt cuộc vận động năm 1992, trở về với công ty luật và tư vấn kinh doanh của ông ấy. Evelyn Lieberman chuyển sang làm lãnh đạo đài Tiếng nói Hoa Kỳ (Voice ofAmerica). George Stephanopoulos thôi việc để giảng dạy và viết hồi ký.
Tôi cũng mất người chánh văn phòng của mình. Maggie muốn trở về với cuộc sống bình thường. Cô ấy chưa bao giờ có ý định sẽ làm lâu hơn một nhiệm kỳ, và tôi hiểu quyết định của cô. Maggie và chồng cô, Bill Barrett, chuyển đến Paris. Tôi thật sự mừng cho cô: Maggie đã tránh khỏi những điều tệ nhất của các vòng xoáy điều tra. Dĩ nhiên, cô ấy không phải là người duy nhất bị cuốn theo cơn lốc, nhưng tôi gặp cô ấy hàng ngày và hiểu rõ thiệt hại mà những năm qua đã gây ra cho cô.
Melanne Verveer trở thành chánh văn phòng mới của tôi. Cô đã bên cạnh tôi gần như suốt các chuyến đi ra nước ngoài và đóng vai trò kích hoạt từ hậu trường cho những hoạt động toàn cầu mà chúng tôi đấu tranh nhằm giúp đào tạo và trang bị cho phụ nữ những vị trí lãnh đạo trong xã hội. Là một người đồng hành tuyệt vời, một sự am hiểu thấu đáo về các vấn đề lập pháp cũng như nhiều mối quan hệ bạn bè trong Quốc hội.
Một vài vị trí nội các được mở ra sau cuộc bầu cử, trong đó có vị trí Ngoại trưởng. Kể từ khi Warren Christopher tuyên bố sẽ nghỉ hưu vào đầu tháng 11, Washington đã mòn mỏi với trò tiên đoán xem ai sẽ là người thay thế ông. Có cả một danh sách những người triển vọng, đính kèm với các cử tri của chính họ. Tôi hy vọng Bill sẽ xem xét chỉ định Madeleine Albright là người phụ nữ đầu tiên đảm nhiệm vai trò Ngoại trưởng. Tôi nghĩ bà ấy đã làm một công việc phi thường tại Liên hiệp quốc và tôi bị ấn tượng bởi những kỹ năng ngoại giao, sự am hiểu về các vấn đề toàn cầu và tính can đảm của bà. Tôi cũng ngưỡng mộ sự thông thạo các ngoại ngữ Pháp, Nga, Czech và Ba Lan của bà, không kể tiếng Anh - bà ấy nói được hơn tôi đến 4 thứ tiếng. Bà đã tán thành sự có mặt sớm của quân đội Mỹ tại Balkan, và dưới nhiều góc độ, cuộc đời bà phản ánh cuộc hành hình của nước Mỹ và châu Âu trong suốt nửa thế kỷ qua. Dường như Madeleine có khả năng đồng cảm từ trong máu thịt với những khao khát tự do của con người muốn được thoát khỏi mọi áp bức và mong mỏi dân chủ.
Một số nhân vật trong ban hoạch định chính sách ngoại giao của Washington đang cố vận động cho người mà họ đề bạt và lập tức một chiến dịch âm thầm chống lại Madeleine được bắt đầu: bà ấy quá ngạo mạn, hay công kích, chưa sẵn sàng, và lãnh đạo của một số quốc gia không thích thương thuyết với một phụ nữ. Sau đó một bài viết xuất hiện trên tờ The Washington Post vào tháng 11 năm 1996, tuyên bố rằng Nhà Trắng xem bà ấy chỉ là một ứng cứ viên "hàng hai". Nhằm phá hoại sự bổ nhiệm bà, một trong các đối thủ đã đưa ra thủ đoạn lôi kéo sự chú ý của mọi người vào những phẩm chất của Madeleine. Giờ đây việc bổ nhiệm bà cần phải được xem xét nghiêm chỉnh
Tôi chưa bao giờ nói với Madeleine về việc đề cử bà, và ngay cả những nhân viên thân cận nhất của tôi cũng không biết là tôi đề nghị Bill đưa tên bà ấy vào danh sách cần xem xét. Ngoài chồng mình ra, người duy nhất mà tôi thảo luận về sự bổ nhiệm này là Pamela Harriman, đại sứ tại Pháp. Vài ngày sau khi bài viết đăng trên tờ The Washington Post, Pamela đến thăm tôi tại Nhà Trắng.
Mặc cho 4 năm sống tại Pháp trong vai trò đại sứ nước Mỹ, cô ấy vẫn gắn bó với xã hội Washington và những câu chuyện lớn nhỏ nơi đây. Bây giờ thì cô ấy có vẻ rất thích thú vì tò mò về Madeleine Albright.
"Tôi đã nói với tất cả mọi người", cô ấy nói theo âm điệu phảng phất kiểu Anh, "Bà biết không, một số người thật sự nghĩ rằng Madeleinc sẽ được bổ nhiệm Ngoại trưởng."
"Thật không?"
"Phải, bà nghĩ thế nào?”, cô ấy hỏi tôi.
"À, tôi sẽ không ngạc nhiên nếu điều đó xảy ra.”
"Bà không ư?"
"Không, tôi nghĩ là bà ấy đã làm việc rất xuất sắc, và thiết nghĩ mọi thứ đều bình đẳng : để một người phụ nữ đảm nhận vị trí ấy cũng tốt thôi."
"À, à, tôi không biết. Tôi không chắc nữa. Cũng còn có rất nhiều người tài năng muốn đạt được vị trí này", Pamela lưu ý.
"Tôi biết là có, nhưng tôi sẽ đứng về phía Madeleine nếu tôi là cô."
Tôi biết đề nghị của tôi chỉ là một trong nhiều lựa chọn mà Bill hướng đến. Và khi anh quyết định thì đó là quyết định của chính anh ấy. Vì thế tôi lắng nghe khi anh nghiền ngẫm vấn đề, thỉnh thoảng chỉ xen vào bằng một vài nhận xét hay câu hỏi. Khi Bill hỏi tôi về Madeleine, tôi nói không ai hơn bà ấy trong việc ủng hộ những chính sách của anh, trình bày và thuyết phục mọi người về những chính sách ấy. Tôi cũng nói thêm rằng việc bổ nhiệm bà sẽ khiến cho phái nữ lấy làm tự hào. Tôi vẫn không chắc Bill sẽ chọn Madeleine cho đến khi anh ấy gọi cho Madeleine vào ngày 5 tháng 12 năm 1996, yêu cầu bà ấy đảm trách chức Ngoại trưởng. Tôi đã rất vui. Sau lời công bố của Tổng thống, Pamela Harriman gởi cho tôi một mẩu tin nói rằng: "Tôi luôn tin chắc là bà và Madeleine sẽ thắng".
Madeleine trở thành người phụ nữ đầu tiên trong lịch sử giữ vị trí này, và ít nhất trong suốt nhiệm kỳ của mình, những quyền lợi và nhu cầu của phụ nữ đã được xem là một phần tất yếu trong chính sách ngoại giao của nước Mỹ. Bà ấy đã nêu rõ điều đó khi chủ trì một buổi lễ nhân ngày Quốc tế Phụ nữ tại Bộ Ngoại giao năm 1997. Tôi rất vinh dự cùng đứng chung trên khán đài với bà ấy khi cùng thảo luận về tầm quan trọng của nữ quyền đối với sự tiến bộ của thế giới. Tôi đã phản đối mạnh mẽ những luật lệ dã man của Taliban ở Afghanistan. Tôi tin rằng nước Mỹ sẽ không công nhận chính quyền của họ vì sự đàn áp của họ đối với phụ nữ, các doanh nghiệp Mỹ cũng không nên ký kết các hợp đồng xây dựng đường ống dẫn dầu hay thành lập bất kỳ một hãng xưởng buôn bán nào với họ.
Trong lễ nhậm chức nhiệm kỳ hai, tôi được thư giãn nhiều hơn và tham dự vào các chương trình mà không phải lo mình có thể ngủ gật tại chỗ. Đồng thời, mọi thứ cũng bớt phần hứng thú lẫn lo lắng như đã từng trải qua vào năm 1993. Dĩ nhiên, giới của chúng ta giờ đã thay đổi rất nhiều. Tôi có cảm giác mình đang bước vào một chương mới của cuộc đời như thép nung trong lửa: cứng rắn hơn nhưng cũng dẻo dai và bền bỉ hơn. Bill đã trưởng thành trong cương vị Tổng thống của mình, điều này đã mang đến cho anh một tính cách trang trọng thể hiện ở nét mặt và trong ánh mắt của anh ấy. Bill chỉ mới năm mươi tuổi; thế nhưng mái tóc của anh đã gần như bạc trắng hoàn toàn, và lần đầu tiên trong cuộc đời, anh ấy nhìn lại tuổi tác của chính mình. Thế nhưng, anh vẫn giữ được nụ cười trai trẻ, tài hóm hỉnh sắc bén và một tinh thần lạc quan dễ tác động đến mọi người chung quanh - tất cả mọi thứ đã khiến tôi phải lòng anh ấy hai mươi lăm năm trước. Tôi vẫn tươi tỉnh lên mỗi khi anh bước vào phòng và vẫn cảm thấy mình đang ngưỡng mộ khuôn mặt điển trai của anh. Chúng tôi chia sẻ với nhau niềm tin không đổi vào tầm quan trọng của sự nghiệp phục vụ công chúng, và chúng tôi là những người bạn tốt nhất của nhau. Ngay cả khi cùng chia sẻ những khó khăn, chúng tôi vẫn có thể làm cho nhau mỉm cười. Điều đó, tôi tin chắc, sẽ giúp chúng tôi vượt qua 4 năm tiếp theo ở Nhà Trắng.
Tôi không còn giống hệt người đã mặc chiếc áo dạ tiệc màu xanh violet năm 1993. Mà thực ra, tôi không còn có thể mặc vừa chiếc áo đó sau 4 năm với chế độ ăn uống ở Nhà Trắng. Và tôi đã già đi không chỉ vì nhiều tuổi hơn mà còn vì mái tóc vàng hơn. Giới báo chí vẫn theo sát những thay đổi của tôi về kiểu tóc, nhưng cuối cùng thì họ cũng nhường bước. Tôi đã trở thành bạn của nhà thiết kế Ocar de la Renta và người vợ lộng lẫy của ông, Annette, sau khi chúng tôi gặp nhau lần đầu tại buổi tiệc khánh thành Kennedy Center Honors do Bill và tôi đã chủ trì tại Nhà Trắng vào năm 1993. Hôm đó tôi mặc chiếc áo do ông ấy thiết kế; khi ông cùng Aunette bước qua khu vực đón khách và nhìn thấy chiếc váy, ông cho tôi biết ông rất tự hào và đề nghị được trợ giúp tôi trong vấn đề trang phục. Tôi thích những kiểu thiết kế tao nhã và sang trọng của ông, và đã làm cho tôi một chiếc áo dạ tiệc bằng vải tuyn vàng thêu hoa văn thật tuyệt vời cùng với một chiếc áo choàng không tay đi kèm bằng sa-tanh dùng trong phần hai của buổi dạ vũ ngày lễ nhậm chức. Tôi cũng mặc một trong số các bộ trang phục bằng len màu san hô cùng với một chiếc áo khoác đi kèm trong lễ tuyên thệ. Trong buổi giải lao truyền thống, theo lời khuyên nhiệt tình của Oscar, tôi đã không đội nón. Chỉ có một lời phê bình duy nhất về trang phục mà tôi nhận được ngày hôm đó là về cây trâm tôi đã sử dụng để cài lên áo khoác, vốn hoàn toàn là do ý tôi quyết định. Tôi thích những cây trâm cài áo!
Thế nhưng tôi lại có một phê bình cho chính mình. Cô con gái Chelsea sắp 17 tuổi của chúng tôi phủ kín trong một chiếc áo khoác dài ngang gối bước xuống cầu thang và tôi không nhìn thấy trang phục bên trong cho đến khi chúng tôi đều đã sẵn sàng để rời Nhà Trắng. Tôi nhìn thoáng qua chiếc váy ngắn và yêu cầu con gái cho xem bộ đồ mà cháu mặc bên trong. Cháu mở áo khoác và nhiếp ảnh gia Diana Walker, người đang thực hiện nhiệm vụ chụp những khoảnh khắc phía sau hậu trường cho tờ Times đã nhìn thấy nét mặt của tôi. Đã quá muộn để Chelsea kịp thay đồ - và có thể con bé cũng sẽ không thay nếu tôi có yêu cầu. Khi Chelsea bước ra vỉa hè không áo khoác, mọi người đổ dồn sự chú ý vào nó, thế nhưng Chelsea chỉ mỉm cười vẫy chào và đứng thẳng đầy tự tin. Nhưng con bé đã lúng túng hơn và cả kém hài hước suốt bữa tiệc trưa ngày hôm ấy tại Capitol.
Đảng Cộng hòa điều khiển Quốc hội, vì thế họ quyết định sắp xếp chỗ ngồi trong buổi tiệc trưa truyền thống của Quốc hội. Có thế đó là ý kiến của một ai đó muốn trêu chọc khi sắp tôi ngồi cạnh Newt Gingrich và đặt Chelsea ngồi giữa người phụ trách tổ chức của Đảng Cộng hòa - Tom DeLay - và vị Thượng nghị sĩ già lão hay pha trò đến từ Nam Carolina, Strom Thurmond. DeLay, người thường nói tất cả những điều kinh khủng về của Chelsea, đã tỏ ra rất nhã nhặn và Chelsea cũng đáp trả tương tự. Ông ta nói về việc con gái của mình đã làm việc trong văn phòng của mình ra sao và tầm quan trọng của việc gia đình tham gia vào đời sống xã hội. Và ông đề nghị đưa Chelsea đi một vòng quanh Capitol.
Strom Thurmond cũng nói chuyện xã giao. "Cháu có biết vì sao ta sống lâu như thế này không?”, ông hỏi Chelsea. Thurmond đã 95 tuổi. Ông là người phục vụ trong quân ngũ cao tuổi nhất đã từng nhảy dù vào phía sau chiến tuyến Normandy ngay trước Ngày D (Ngày quân Anh-Mỹ đổ bộ lên miền Bắc nước Pháp 6/6/1944 - ND) và đã cưới hai cựu hoàng hậu xinh đẹp. Bốn người con của Nghị sĩ cũng đã ở lứa tuổi sáu mươi và bảy mươi. "Hãy tập hít đất! Hít đất một tay thôi", ông khuyên Chelsea. "Và đừng bao giờ ăn món gì to hơn một quả trứng. Ông ăn sáu bữa một ngày, mỗi bữa chỉ to bằng một quả trứng!"
Chelsea gật đầu lịch sự và dùng món rau trộn của mình. Một món ăn khác được dọn đến.
"Ta nghĩ cháu thật xinh đẹp, giống như là mẹ cháu vậy", Thượng nghị sĩ nói với vẻ lịch thiệp của giọng điệu miền Nam ngọt ngào.
Tới giữa bữa ăn, ông ngẫu hứng làm thơ "Cháu thật là xinh đẹp như mẹ mình. Bà ấy thật xinh đẹp và cháu cũng thế. Phải, cháu cũng thế. Cháu thật xinh đẹp không khác chi mẹ của mình".
Đến khi món trang miệng được dọn ra, Thurmond nói "Ta tin rằng cháu xinh đẹp hơn cả mẹ của mình. Phải, đúng vậy và nếu như ta trẻ lại 70 tuổi, ta sẽ tán tỉnh cháu!".
Những câu chuyện bên bàn ăn của tôi lại không được phong phú như của Chelsea. Newt Gingrich dường như tỏ ra nín lặng. Tôi đã nhẫn nại suốt bữa ăn với ông ta, nói về những vấn đề vô thưởng vô phạt theo kiểu Mẹ ông thế nào? Khỏe, cảm ơn. C mẹ của bà ? Đó là khoảng thời gian không được tốt đẹp cho Gingrich.
Mặc dù đã chiến thắng trong cuộc tái cử chức Chủ tịch Hạ viện, ông ta đã đánh mất sự yêu mến của dân chúng trong cả nước và sự hậu thuẫn trong Hạ viện. Gần đây ông cũng bị Ủy ban Tư cách Hạ viện tra hỏi về những sự sa ngã đạo đức. Bị kết tội sử dụng sai nguyên tắc các tổ chức miễn thuế để tài trợ cho các hoạt động thuyết trình về chính trị và lừa dối Ủy ban về ngân quỹ, Gingrich cho đó là một sai lầm không cố ý và đổ lỗi cho người luật sư của mình. Ủy ban phát hiện ra ông ta đã đệ trình những báo cáo sai lạc và gây nhiều thắc mắc về mười ba sự kiện trong suốt công tác điều tra. Ông ta bị phạt và khiển trách. Tôi e rằng những vấn đề của Gingrich tại Hạ viện có thể cản trở ông ta kéo dài những cuộc điều tra vụ Whitewater. Nhưng thực tế, tôi vẫn không thể xua đi nỗi sợ hãi mà tôi đã cảm thấy từ buổi lễ tuyên thệ trưa hôm ấy.
Ngày hôm đó trời có vẻ hơi lạnh và u ám và bầu không khí trước Rotunda dường như trở nên băng giá hơn. Theo truyền thống Chánh án Tòa án Tối cao điều hành lễ tuyên thệ chính thức đối với mỗi tân Tổng thống, nhưng cả Bill lẫn tôi đều không thích ý nghĩ phải chia sẻ một khoảnh khắc quan trọng như thế với William Rehnquist, người đã xem thường chúng tôi và các quan điểm chính trị của chúng tôi. Khởi đầu sự nghiệp khi còn là một viên thư ký cho chánh án Robert Jackson, Rehnquist đã viết một thư nội bộ ủng hộ mạnh mẽ phán quyết phản biệt sắc tộc năm 1896, một vụ tố tụng gọi là Plessy v. Ferguson, vốn đã làm sáng tỏ chủ nghĩa "phân biệt nhưng bình đẳng". Ông ta tán thành một điều luật của bang Texas cho phép những cuộc bầu cử thượng cấp chỉ dành cho người da trắng. "Đã đến lúc Tòa án phải đối diện với một thực tế là những người da trắng ở miền Nam không thích người da màu”, ông ta đã viết như thế vào năm 1952. Và vào năm 1964, t những lời khai đã được tuyên thệ, Rehnquist ra sức thử thách năng lực của những cử tri da đen tại các cuộc bầu cử bang Arizona. Vào năm 1970, trong vai trò trợ lý Bộ trưởng Tư pháp của Richard Nixon, ông ta đã đề nghị một điều khoản bổ sung hiến pháp nhằm hạn chế và cản trở việc thực thi điều luật mang tính bước ngoặt Brown v. Board of Education - một điều luật nhằm xóa bỏ sự phân biệt chủng tộc trong trường học vào năm 1954. Kể từ khi được trở thành thành viên của Tòa án do Nixon đề cử vào năm 1971, ông ta nhất định quay ngược tiến trình phát triển của Tòa án trở lại vấn đề sắc tộc rồi đến phạm vi trên toàn đất nước. Ông ta là người duy nhất bỏ phiếu, thí dụ, ủng hộ tình trạng miễn thuế liên bang cho Trường Đại học Bob Jones, vốn ngăn cấm những quan hệ khác màu da và có một chính sách trục xuất dựa trên cơ sở đó. Ông ta không cần che giấu các mối quan hệ với những người cực kỳ bảo thủ vốn luôn tìm cách làm suy giảm quyền hạn Tổng thống của Bill kể từ lễ nhậm chức đầu tiên. Điều này càng trở nên rõ ràng hơn trước mắt công luận qua trường hợp tranh cử có nhiều tranh chấp giữa Bush và Gore sau này - vị trí Chánh án Tòa án Tối cao vẫn không ngăn cản được nhiệt tình bè phái và ý thức hệ của ông.
Tôi đề nghị Bill nên mời một trong hai người mà anh ấy bổ nhiệm, quan tòa Ruth Bader Ginsburg hoặc quan tòa Stephen Breyer, tiến hành nghi lễ tuyên thệ. Thế nhưng yếu tố truyền thống đã được anh đặt lên hàng đầu. Bài phát biểu nhậm chức của anh ấy, sau hết, cũng đã nói đến đề tài hòa giải và hàn gắn và đặc biệt là nói đến "sự chia cắt chủng tộc" như một "vấn đề đáng lên án muôn thuở của nước Mỹ". Bill đã kêu gọi "người dân Mỹ "hãy hun đúc nên những mối dây ràng buộc giúp mọi người gắn bó với nhau".
Khi đã đến lúc, Chelsea và tôi cùng nâng giữ quyển Kinh Thánh mà Bill đặt bàn tay trái của anh lên đó, trong khi giơ cao bàn tay phải để tuyên thệ. Khi Rehnquist chấm dứt nghi thức, Bill nhoàngười đến và bắt tay vị Chánh án Tòa án Tối cao.
"Chúc may mắn", Rehnquist nói mà không một nụ cười. Có một điều gì đó trong giọng nói của ông ta khiến tôi nghĩ chúng tôi sẽ cần đến sự may mắn ấy.