NỖI NIỀM IM LẶNG

Hồi Ký Hillary Clinton Và Chính Trường Nước Mỹ

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 50 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Nỗi Niềm Im Lặng

❊ ❊ ❊

Vào một buổi chiều lạnh lẽo cuối tháng Ba năm 1995, tôi thực hiện chuyến công du dài ngày đầu tiên ra nước ngoài mà không có Tổng thống đi cùng. Bốn mươi mốt hành khách ngồi kín trên một chiếc máy bay phản lực loại cũ của chính phủ, cất cánh từ Căn cứ Không quân Andrews, thực hiện chuyến đi dài 12 ngày thăm chính thức năm quốc gia ở Nam Á. Tháp tùng theo tôi có nhân viên Nhà Trắng, các phụ tá Bộ Ngoại giao, báo đài, các nhân viên An ninh, Jan Piercy - bạn tôi ở Wellesley và là Giám đốc Điều hành Ngân hàng Thế giới ở Mỹ - và hơn hết là Chelsea. May mắn là chuyến đi trùng với kỳ nghỉ xuân ở trường của con bé. Nó chỉ mới 15 tuổi và đã ra dáng một thiếu nữ chín chự tin. Tôi muốn chia sẻ một vài trong số những chuyến phiêu lưu thời thơ ấu của con bé và muốn chứng kiến phản ứng của nó với thế giới đặc biệt mà chúng tôi sắp đến, nhìn ngắm thế giới ấy qua đôi mắt của con bé cũng như của chính tôi.

Sau chuyến bay dài 17 tiếng, chúng tôi hạ cánh ở Islamabad, Pakistan, vào một đêm khuya mưa to gió lớn. Nhân viên Bộ Ngoại Giao đã đề nghị tôi thăm tiểu lục địa nhằm nhấn mạnh cam kết của chính phủ đối với khu vực này, bởi vì cả Tổng thống lẫn Phó Tổng thống đều không thể sớm đến đây. Chuyến viếng thăm của tôi mang ý nghĩa chứng minh rằng phần thế giới bất ổn định và mang tính chiến lược này quan trọng đối với nước Mỹ, và cũng để đảm bảo cho các nhà lãnh đạo ở khắp Nam Á rằng Bill ủng hộ nỗ lực của họ trong việc tăng cường nền dân chủ, mở rộng thị trường tự do, thúc đẩy tự do và nhân quyền, kể cả những quyền của phụ nữ. Sự hiện diện của tôi hôm nay tại khu vực này được xem như là dấu hiệu của sự quan tâm và là lời cam kết.

Mặc dù chúng tôi chỉ lưu lại mỗi nước trong thời gian ngắn, nhưng tôi vẫn muốn gặp gỡ càng nhiều phụ nữ càng tốt để nhấn mạnh mối tương quan giữa tiến bộ của nữ giới với tình hình kinh tế xã hội của một quốc gia. Nhưng vấn đề về phát triển đã thu hút tôi ngay từ những năm tháng tôi cùng với Bill làm đại diện cho người nghèo, cho các cộng đồng nông thôn ở Arkansas, nhưng đây là lần tiếp xúc nghiêm túc đầu tiên của tôi với thế giới của các nước đang phát triển. Tôi đã chuẩn bị từ đầu tháng Ba, khi tôi đến Copenhagen, Đan Mạch, để đại diện cho nước Mỹ tại Cuộc họp Thượng đinh Thế giới Liên hiệp quốc về Phát triển Xã hội. Hội nghị này đã nhấn mạnh niềm tin của tôi rằng các cá nhân và các cộng đồng trên toàn thế giới đã liên kết với nhau nhiều hơn và phụ thuộc lẫn nhau nhiều hơn bất kỳ thời điểm nào trong lịch sử nhân lo rằng nước Mỹ sẽ bị tác động bởi sự đói nghèo, bệnh tật và sự phát triển của nhân dân các nước cách xa gần nửa địa cầu.

Người Trung Quốc có một câu nói từ xa xưa, rằng phụ nữ nắm giữ một nửa bầu trời, nhưng hầu hết trên khắp thế giới, phụ nữ thực sự nắm hơn một nửa. Phụ nữ có phần lớn trách nhiệm đối với sự thịnh vượng của gia đình họ. Tuy nhiên công việc của họ thường không được nền kinh tế chính thống công nhận và cũng không được gia đình họ đánh giá cao. Có thể nhìn thấy rõ ràng nhưng bất công này ở Nam Á, nơi có hơn nửa tỉ người sống trong cảnh vô cùng nghèo nàn - phần đông là phụ nữ và trẻ em. Những phụ nữ nghèo bị áp bức và phân biệt đối xử, không được tiếp cận hệ thống giáo dục và chăm sóc y tế và là nạn nhân của nền văn hóa phong kiến. Luật pháp thường làm ngơ cho những tội đánh đập vợ, đốt cô dâu (vì có quá ít của hồi môn - ND), giết trẻ sơ sinh gái. Trong một số cộng đồng, phụ nữ bị cưỡng bức lại có thể bị tống giam vì tội ngoại tình. Mặc dù người phụ nữ phải chịu đựng những thành kiến truyền thống như vậy nhưng vẫn có những dấu hiệu thay đổi xuyên suốt tiểu lục địa Ấn Độ, tại những trường dạy dỗ những em gái và trong các chương trình cho vay vốn làm ăn nhỏ mà nhờ đó, phụ nữ có cơ hội tiếp cận được các khoản tín dụng, giúp họ có thể tự kiếm sống.

Chính phủ Mỹ đã hỗ trợ nhiều dự án thành công nhưng đa số các chính khách mới của Đảng Cộng hòa tại Thượng nghị viện và Hạ nghị viện cứ chăm chăm đòi cắt giảm phần lớn viện trợ nước ngoài vốn chỉ chiếm dưới 1% ngân sách liên bang. Từ lâu, tôi đã ủng hộ Cơ quan về Phát triển Quốc tế của Mỹ - USAID - và hy vọng sử dụng thế mạnh của các phương tiện truyền thông đi cùng theo Đệ nhất Phu nhân để chứng minh ảnh hưởng hữu hình của các chương trình do Mỹ tài trợ ở các nước đang phát triển. Việc cắt giảm viện trợ này chẳng những gây khó khăn cho tình cảnh vốn đã khốn cùng của phụ nữ mà còn mâu thuẫn với các chiến lược đã chứng tỏ là có lợi cho những nước nghèo cũng như cho nước Mỹ. Nếu phụ nữ và trẻ em phải gánh chịu những thiệt thòi và nền kinh tế của nước họ bị đình đốn trì trệ, thì cuối cùng sẽ làm yếu đi các thị trường tiềm năng của các sản phẩm Mỹ. Và khi phụ nữ trở thành nạn nhân, sự ổn định của các gia đình, cộng đồng và quốc gia bị xói mòn; điều này sẽ hủy hoại triển vọng về nền dân chủ và sự thịnh vượng toàn cầu.

Bạo lực và sự bất ổn định bao phủ khắp những đất nước mà tôi dự kiến đến thăm. Chỉ ba tuần trước khi chúng tôi đến Pakistan, những người Hồi giáo quá khích đã phục kích và giết chết hai người trên chiếc xe tải chở những nhân viên lãnh sự quán Mỹ ở Karachi. Và Ramzi Yousef - một trong những kẻ chủ mưu chính trong vụ đánh bom Trung tâm Thương mại Thế giới năm 1993 đã bị bắt tại Pakistan và bị dẫn độ về Mỹ để xét xử.

Cơ quan An ninh lo lắng và có lẽ muốn tôi giới hạn chuyến đi - chỉ tới những cơ quan chính phủ và những khu nghỉ biệt lập. Họ đã rất ngạc nhiên về việc Bộ Ngoại giao Mỹ muốn đưa tôi đến những điểm nóng trên thế giới - những nơi đang xảy ra các cuộc xung đột khiến cho việc bảo đảm an ninh cho những cuộc viếng thăm của Tổng thống hoặc Phó Tổng thống trở nên khó khăn. Mục đích của chuyến đi thăm của tôi là gặp gỡ cả phụ nữ nông thôn lẫn thành thị. Tôi đã loại bỏ những lịch trình không cần thiết và vào những ngôi làng có nhiều người đang sinh sống. Các nhóm tiền trạm và các Chuyên gia an ninh đã lập kế hoạch rất cẩn thận cho những điểm dừng chân và tôi đau lòng nhận ra rằng các nước chủ nhà và các đại sứ quán của chúng tôi đã phải khó khăn vất vả đến thế nào khi thu xếp những chuyến đi không theo lịch trình như vậy. Những nỗ lực của họ vì tôi khiến cho tôi cảm thấy mình c nhiều hơn, phải làm cho chuyến đi của mình đạt được càng nhiều kết quả càng tốt.

Khi mặt trời mọc trên Đồi Margalla, lần đầu tiên tôi nhìn thấy Islamabad. Một thành phố với những đại lộ rộng rãi được quy hoạch giữa sự bao bọc của những ngọn núi thấp xanh xanh. Có thể nói nơi đây là một điển hình của những thủ phủ vươn mình mạnh mẽ sau khi giành được độc lập. Đó là sự kết hợp của một quần thể kiến trúc hiện đại vào những năm giữa thế kỷ này với những dự án tái trồng rừng, được xây dựng trên mảnh đất trung lập với sự quan tâm chu đáo và trợ giúp của nước ngoài. Thoạt đầu, tôi không cảm nhận được rằng tôi đã ở trên mảnh đất vùng Nam Á. Nhưng ý nghĩ đó tan biến đi ngay khi tôi đến thăm xã giao bà Begum Nasreen Leghari, Phu nhân Tổng thống Pakistan - Farooq Ahmad Khan Leghari.

Phu nhân Leghari trang phục thanh lịch, nói tiếng Anh rất tuyệt vời với âm sắc nhẹ nhàng của người Anh. Phu nhân đã phải sống trong điều kiện biệt lập nghiêm ngặt, gọi là "purdah" - tập tục che mạng - một tập tục mà người phụ nữ không được để lộ khuôn mặt trước bất kỳ nam giới nào ngoài những người trong gia đình. Phu nhân phải che mạng kín hoàn toàn vào những dịp hiếm hoi được rời khỏi nhà. Phu nhân cũng không tham dự lễ nhậm chức của chồng mà chỉ xem buổi lễ được phát sóng trên truyền hình. Khi Phu nhân mời tôi đến thăm gia đình ở tầng hai trong dinh tổng thống, tôi chỉ có thể được tháp tùng bởi các nữ phụ tá và nữ nhân viên Cơ quan An ninh.

Phu nhân Leghari liên tiếp hỏi tôi về nước Mỹ. Tôi cũng thật sự hiếu kỳ về cuộc sống của Phu nhân và hỏi liệu chừng Phu nhân có muốn có sự thay đổi cho thế hệ phụ nữ kế tiếp trong gia đình Phu nhân hay không. Tôi biết rằng ái nữ của Phu nhân mới kết hôn có tên trong danh sách khách mời vào buổi đại tiệc ở Lahore mà tôi sẽ tham dự vào tối hôm sau. Tôi cũng đã Phu nhân về điều mâu thuẫn này. Phu nhân đã đáp lời: "Đó là sự chọn lựa của chồng con bé. Nó không còn thuộc gia đình chúng tôi nữa. Vì vậy nó phải làm theo những gì chồng nó chọn lựa". Phu nhân chấp nhận tình trạng và lối sống cởi mở hơn của ái nữ bởi vì con rể của bà muốn vợ mình sống như vậy. Tuy nhiên, con trai của Phu nhân đã chọn cách truyền thống đối với người vợ của mình như Tổng thống đã chọn.

Những điều tương phản ở Pakistan trở nên rõ ràng hơn ở một sự kiện khác. Đó là khi tôi được vinh dự mời dự chiêu đãi vào buổi trưa với nữ Thủ tướng Benazir Bhutto trong một buổi tiệc có nhiều phụ nữ thành đạt. Điều này dường như là sự thay đổi nhanh chóng qua nhiều thế kỷ. Trong số những phụ nữ này có những viện sĩ, những nhà hoạt động, một phi công, một ca sĩ, một giám đốc ngân hàng và một Phó chánh thanh tra cảnh sát. Họ là những người có hoài bão, nghề nghiệp và dĩ nhiên tất cả chúng tôi đều là những người khách của nhà lãnh đạo nữ được bầu chọn của Pakistan.

Benazir Bhutto đang ở tuổi tứ tuần, là một phụ nữ xuất sắc và năng động, được sinh ra trong một gia đình lỗi lạc. Bà đã tốt nghiệp các Trường Đại học danh tiếng như Harvard, Oxford. Thân phụ của bà, Ngài Zulfikar Ali Bhutto, là Thủ tướng thuộc Đảng Dân túy suốt nhưng năm 1970 ở Pakistan. Ngài đã bị truất phế trong một cuộc đảo chính quân đội và bị xử treo cổ. Sau cái chết của cha, Benazir Bhutto đã trải qua nhiều năm bị quản thúc tại gia. Vào cuối thập niên 1980, bà đã nổi bật lên với tư cách là người đứng đầu đảng phái chính trị trước đây của cha mình. Bà Bhutto là nhân vật danh tiếng duy nhất mà tôi ngưỡng mộ khi tôi đứng lẫn trong công chúng và nhìn bà qua hàng rào bảo vệ. Đó là dịp tôi và Chelsea đang tản bộ quanh Luân Đôn trong kỳ nghỉ hè năm 1989. Khi chúng tôi nhìn thấy một đám đông tập trung bên ngoài Khách sạn Ritz, tôi đã hỏi mọi người đang chờ đợi điều gì. Họ đã trả lời là bà Bhutto lưu khách sạn này và bà sắp đến. Tôi và Chelsea chờ cho đến khi đoàn xe hộ tống chạy tới. Chúng tôi ngắm nhìn bà Bhutto với khăn quấn màu vàng, bước ra khỏi chiếc limousine và lướt nhanh vào tiền sảnh khách sạn. Bà thật là duyên dáng, điềm tĩnh và hăng hái.

Năm 1990, Chính phủ của bà đã bị giải tán vì có liên quan đến tham nhũng nhưng Đảng của bà lại chiến thắng trong cuộc tuyển cử vào năm 1993. Pakistan đã liên tiếp gặp khó khăn do sự gia tăng bạo lực và tình trạng vô trật tự, đặc biệt là ở Karachi. Luật pháp và trật tự trở nên suy đồi do tỉ lệ các vụ án mạng giữa các giáo phái và sắc tộc gia tăng. Cũng có nhưng tin đồn lan rộng về sự tham nhũng có liên quan đến những người ủng hộ bà và Asif Zardari, chồng của bà.

Trong buổi tiệc trưa chiêu đãi tôi, Benazir dẫn dắt cuộc thảo luận về những vai trò đang thay đổi của phụ nữ ở đất nước bà và bà đã kể một câu chuyện đùa về địa vị chính trị của chồng mình. Bà nói: "Theo giới truyền thông Pakistan, Ngài Asif Zardari là Thủ tướng không chính thức của đất nước. Nhưng chồng tôi nói với tôi rằng chỉ có Đệ nhất Phu nhân mới hiểu rõ điều đó là không đúng".

Bà Bhutto công nhận những khó khăn của những người phụ nữ đang phá vỡ tập tục truyền thống và đang giữ vai trò lãnh đạo trước công chúng. Bà khéo léo đề cập đến những thử thách cho cả hai chúng tôi - với tôi là nhiệm kỳ ở Nhà Trắng và với bà là tình hình hiện thời. Bà kết luận rằng: "Những người phụ nữ tranh đấu bền bỉ và buộc mình vào lĩnh vực mới thường có kết quả là bị phớt lờ."

Khi họp riêng với Thủ tướng, chúng tôi nói chuyện về cuộc viếng thăm Washington sắp tới của bà vào tháng Tư. Tôi cũng dành thời gian tiếp chuyện với chồng và các con của bà. Bởi vì tôi nghe rằng cuộc hôn nhân của bà và chồng bà là được sắp đặt nên tôi nhận thấy có sự tác động lẫn nhau rất thú vị. Họ nói đùa với nhau khá dễ dàng và dường như thật sự có ảnh hưởng lẫn nhau. Chỉ vài tháng sau chuyến đi của tôi, việc cáo buộc vợ chồng bà tham nhũng trở nên gay gắt hơn. Vào tháng Tám năm 1996, bà Bhutto đưa chồng mình vào nội các. Ngày 5 tháng 11 năm 1996, bà bị lật đổ với lý do rằng chồng bà đã lợi dụng chức vụ của mình để làm giàu cá nhân. Ông bị buộc tội tham nhũng và bị tù. Bà và các con bị đe dọa bắt giam phải từ bỏ đất nước và không thể quay về quê hương.

Tôi không có cách nào để biết liệu những lời buộc tội chống lại vợ chồng bà Bhutto là có cơ sở hay không. Nhưng tôi biết rằng suốt trong thời gian ngắn ở đó, tôi đã bị kéo vào thế giới của những sự tương phản khó hiểu. Nasreen Leghari và Benazir Bhutto cùng xuất thân từ một nền văn hóa. Nhưng Tổng thống Leghari muốn phu nhân của mình theo phong tục đeo mạng che mặt trong khi Ali Bhutto lại gửi ái nữ của mình đến Đại học Harvard. Ở Pakistan, Ấn Độ, Bangladesh và Sri Lanka đã có phụ nữ là những quan chức chính phủ được bầu làm Tổng thống, Thủ tướng. Đó cũng là nhưng đất nước mà phụ nữ không được xem trọng; thậm chí những bé gái sơ sinh có thể bị giết chết hoặc bị bỏ rơi.

Tôi muốn biết thế hệ phụ nữ trí thức của Pakistan trong tương lai sẽ trở thành những người có danh phận gì. Ngày hôm sau, tôi và Chelsea đã gặp vài người trong số họ ở Trường Cao đẳng Nữ sinh Islamabad, Trường Phổ thông Trung học Benazir Bhutto. Đa số những mối quan tâm của họ rất gần gũi với một người mẹ có một đứa con gái đang trưởng thành, rất hiếu kỳ và dám nghĩ dám làm như tôi. Họ lo lắng về cách thức họ có thể làm thay đổi xã hội, và ở đâu thì họ có thể hòa nhập xã hội với tư cách là phụ nữ được giáo dục tốt. Một cô gái nói rằng: "Bạn sẽ không bao giờ tìm thấy một người đàn ông lý tưởng. Bạn sẽ phải thực tế nhiều hơn". Lời nói của cô gái đọng mãi trong tâm trí tôi. Cô gái ấy tuộc về một nền văn hóa mà ở đó hiếm khi phụ nữ được quyền lựa chọn trong hôn nhân. Vì vậy, tuy có những hiểu biết đầy đủ về một xã hội hiện đại, cô vẫn có một sự chọn lựa không chắc chắn như nhiều phụ nữ khác trên thế giới.

Tôi tiếp tục cuộc đối thoại về sự chọn lựa của phụ nữ khi đến thăm Trường Đại học Khoa học Quản trị Lahore. Nơi đây, nhiều phụ nữ đang theo học ngành kinh doanh. Chương trình này một phần được sự hỗ trợ của những người Mỹ gốc Pakistan. Họ là những người hiểu rằng nền kinh tế và mức sống ở Pakistan sẽ không bao giờ tiến bộ nếu phụ nữ không được đến trường và không có vai trò chủ động. Không ai nghi ngờ sự thành công của những người Nam Á đang định cư ở Mỹ. Họ đã làm ăn kinh doanh phát đạt và gặt hái thành tựu cả trong các lĩnh vực khoa học.

Sự thành công của họ trên đất nước chúng tôi đã minh chứng cho tầm quan trọng của một chính phủ trong sạch và hoạt động hiệu quả; minh chứng cho tầm quan trọng của một thị trường tự do, một xã hội ghi nhận giá trị của mỗi cá nhân bao gồm cả nữ giới; minh chứng cho một nền văn hóa bao dung cho tất cả các truyền thống tôn giáo; cho một môi trường không có bạo lực và chiến tranh.

Không một quốc gia nào ở Nam Á đạt được những điều kiện này. Cả nam giới và nữ giới, nhưng người lẽ ra có thể đóng góp cho sự tiến bộ của đất nước họ thì lại đang đóng góp xây dựng đất nước của chúng tôi. Ví dụ, Sri Lanka - là đất nước tôi kết thúc chuyến đi của mình - có tỉ lệ biết đọc biết viết cao ở cả nam cũng như nữ nhưng quốc gia này trước đó đã sống trong khủng bố nhiều năm do sự nổi loạn của nhóm du kích Những Con Hổ Tamil theo đạo Hindu chống lại chính phủ và đa số người dân là người Sinhalese theo đạo Phật. Chiến dịch khủng bố không ngừng đã hủy hoạiềm năng phát triển kinh tế và đầu tư của nước ngoài.

Trước khi chúng tôi rời khỏi thủ đô Islamabad, Chelsea và tôi trân trọng viếng ngôi đền Hồi giáo Faisal được người dân Saudi xây dựng. Ngôi đền được đặt tên của cựu Quốc vương Saudi và là một trong những ngôi đền lớn nhất thế giới. Với những cái tháp cao hơn 9m và vòm mái che hùng vĩ, ngôi đền hiện đại này là một trong số hơn 1.500 ngôi đền do chính phủ và những cư dân Saudi xây dựng trên cả sáu đại lục. Chúng tôi tháo giày và đi chân trần khắp những phòng nguyện to lớn và những sân được thiết kế để đủ sức chứa đến hàng trăm ngàn tín đồ. Chelsea hỏi người hướng dẫn những câu hỏi sâu sắc vì đã được học ở trường về lịch sử và văn hóa đạo Hồi. Giống như cuốn Thánh Kinh đạo Thiên Chúa, cuốn Kinh Coran cho nhiều lời giảng khác nhau. Hầu hết những lời giảng này đều thúc đẩy sự cùng tồn tại hòa bình giữa những người khác tôn giáo nhưng một số, như Wahhabism, thì không. Wahhabism là một nhánh Saudi bảo thủ cực đoan của đạo Hồi đang chiêu dụ tín đồ trên khắp thế giới. Trong khi tôi tôn trọng giáo lý cơ bản của đạo Hồi thì Wahhabism làm tôi lo lắng bởi vì nó là một hình thức của trào lưu bạo lực đang lan rộng rất nhanh. Trào lưu này hoàn toàn bài trừ phụ nữ ra khỏi xã hội, khuyến khích sự kỳ thị tôn giáo. Và với xu thế cực đoan của nó, chúng ta đã có bài học về Osama bin Laden, với chủ trương khủng bố và bạo động.

Ngày hôm sau tôi đến thăm Đại sứ quán đế nói chuyện với các nhân viên Pakistan và Mỹ. Họ là những người bàng hoàng vì vụ thảm sát đồng nghiệp của mình ở Karachi gần đây. Tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn về sự dũng cảm phục vụ đất nước của họ cũng như xác nhận với họ rằng sự phục vụ của họ thật là cao quý và được Tổng thống và hàng triệu công dân Mỹ đánh giá cao, cho dù trong Quốc hội vẫn còn có những ý kiến của những người theo chủ nghĩa biệt lập. Đây không phải là sự đối chứng mong manh đối với những Nghị sĩ Đảng Cộng hòa đã khoác lác rằng họ không có giấy thông hành, chưa bao giờ đi ra khỏi đất nước và đã lập kế hoạch giảm bớt ngân sách của Bộ Ngoại giao. Tôi cũng muốn cám ơn nhân viên Đại sứ quán về tất cả những việc họ đã làm cho chuyến đi của tôi. Theo quan điểm của họ, phần đáng mong chờ nhất trong chuyến viếng thăm của một vị khách VIP là khoảnh khắc chiếc máy bay ngoại giao cất cánh và họ có thể tổ chức một bữa tiệc "xả láng" để tự thưởng công. Tôi đã nói đùa rằng có lẽ tôi chỉ giả vờ ra đi nhưng sau đó sẽ bí mật quay về để chúc mừng họ.

Được bảo vệ an ninh đặc biệt, chúng tôi bay đến Lahore, thủ phủ bang Punjab. Chính phủ Pakistan đã quá lo sợ về một sự cố bất ngờ đến nỗi họ đã bố trí hàng trăm binh lính dọc suốt con đường từ sân bay. Không giống thủ đô Islamabad hiện đại, Lahore là một thành phố cổ xưa với kiến trúc kiểu Mông Cổ rực rỡ. Nhiều con đường bị cấm đi lại và thành phố vốn khá đông đúc trở nên thưa vắng như được giảm bớt dân số. Trên đường đi, chúng tôi nhìn thấy những tấm vải nhiều màu sắc được treo trên dây phơi quần áo đế che những căn nhà ổ chuột dọc theo xa lộ. Ở vài chỗ tấm vải bị rơi xuống, chúng tôi nhìn thấy những đứa trẻ gầy ốm và những chú chó trơ xương đang bò quanh các đống rác.

Chúng tôi lái xe về một ngôi làng được xem là tiến bộ, mặc dầu ở đó không có điện, bởi vì ở ngôi làng này có một phòng khám y tế và một ngôi trường dạy cho các bé gái. Phòng khám là một tòa nhà được xây bằng các khối bê tông, nhân sự chỉ có một ít bác sĩ và kỹ thuật viên chịu trách nhiệm chăm sóc sức khỏe cho một khu vực dân cư gồm 150.000 người. Tập thể y bác sĩ thật anh hùng vì họ đã phải nỗ lực hết mình trong tình hình thiếu hụt nhiều nguồn trang thiết bị trọng yếu. Chúng tôi mang đến những tặng phẩm y khoa và nhu yếu phẩm như đã cố gắng làm ở bất kỳ nơi nào chúng tôi ghé thăm. Hầu hết các bệnh nhân là phụ nữ và trẻ em. Họ ngồi yên lặng trên những chiếc ghế dài tựa vào tường, dường như rất ngạc nhiên khi nhìn thấy nhiều người Mỹ trong ngôi làng nhỏ bé của mình. Tuy vậy họ tử tế cho phép tôi và Chelsea bồng những đứa trẻ và phỏng vấn họ qua một người phiên dịch.

Một tòa nhà bê tông khác cách phòng khám hàng trăm mét là trường tiểu học dành cho nữ sinh. Dường như việc học hành của chúng chỉ lên tới bậc tiểu học vì trường trung học gần nhất chỉ dành cho các nam sinh. Tôi nói chuyện với một phụ nữ có 10 đứa con: 5 trai, 5 gái. Bà ấy cho 5 đứa con trai theo học trường cấp hai nhưng nhưng đứa con gái không có nơi nào để học vì chúng không thể đi đến trường trung học dành cho nữ ở cách nơi đó rất xa. Bà mong muốn có một ngôi trường cấp hai gần hơn cho nữ sinh. Bà rất cởi mở khi nói về kế hoạch hóa gia đình và bà cũng cho biết rằng nếu biết trước phải đương đầu với bao khó khăn, chật vật như vậy thì sẽ không sinh quá nhiều con. Chúng tôi ghé thăm một gia đình đông đúc nhiều thế hệ ngay phía sau ngôi trường. Đó là một gia đình có những đứa trẻ và những con vật đang bò quanh cái sân nhỏ. Những thành viên lớn tuổi nhất nhà ngồi trên võng theo dõi sự xáo trộn do việc tôi đến thăm gây ra. Trong khi đó, người chủ gia đình đón chào chúng tôi thật nồng ấm và chỉ cho chúng tôi những căn nhà chỉ có một phòng trong khu xóm. Đó là những căn nhà chỉ đủ cho chỗ ăn chỗ ngủ. Các sinh hoạt chung đều diễn ra ngoài trời - nơi các phụ nữ tập hợp lại để chuẩn bị bữa ăn. Hai phụ nữ trẻ chỉ cho Chelsea cách tô mắt bằng phấn đen (còn gọi là phấn côn). Thời trang luôn là mối quan tâm của phụ nữ trên toàn thế giới!

Tôi đã suy nghĩ nhiều về trang phục mà tôi và Chelsea mặc trong chuyến đi này. Chúng tôi muốn được thoải mái và dưới cái nóng của mặt trời, tôi thấy mừng vì mình đã mang theo nón, quần áo vải cotton. Tôi không muốn làm những người ở các cộng đồng này khó chịu khi chúng tôi ghé thăm nhưng tôi cũng cảnh giác không tỏ vẻ hiếu kỳ trước những phong tục phản ánh một nền văn hóa vốn hạn chế cuộc sống và quyền của phụ nữ. Trong chuyến đi lịch sử của bà Jackie Kennedy đến Ấn Độ và Pakistan vào năm 1962, bà đã chụp ảnh với chiếc áo dây không tay và chiếc váy dài đến đầu gối - đó là chưa kể đến việc mặc chiếc sari hở bụng (sari là quốc phục của phụ nữ Ấn Độ). Điều này đã tạo nên một "sự kiện" quốc tế. Kể từ đó, quan điểm của công chúng vùng Nam Á dường như đã trở nên bảo thủ hơn. Chúng tôi đã tham khảo các chuyên gia ở Bộ Ngoại giao và họ đã góp ý về cách chúng tôi nên cư xử để không tự gây khó khăn cho chính mình và không làm nước chủ nhà khó chịu. Các bản dữ kiện tóm lược về vùng Nam Á cảnh báo chúng tôi không nên: ngồi bắt chân chữ ngũ, chỉ tay, ăn bằng tay trái "không sạch sẽ", tiếp xúc cơ thể với người khác phái - ngay cả việc bắt tay.

Tôi phải chắc chắn rằng đã mang theo nhiều khăn quàng dài có thể quấn quanh vai hoặc đầu nếu tôi bước chân vào một ngôi đền Hồi giáo. Tôi đã chú ý cách bà Benazir Bhutto quấn kín mái tóc của bà bằng tấm khăn quàng màu sáng. Bà mặc trang phục địa phương gọi là shalwar kameez - một áo trùm dài phủ lên quần dài rộng, vừa tiện lợi vừa hấp dẫn. Chelsea và tôi quyết định mặc thử y phục này. Để thích ứng với sự vương giả của buổi chiêu đãi tại Pháo đài Lahore đêm hôm đó, tôi đã chọn mặc một shalwar kameez bằng lụa màu đỏ và Chelsea mặc một shalwar kameez màu xanh ngọc - màu này thật hợp với màu mắt của con bé. Thống đốc bang Punjab đã mời hơn 500 khách đến pháo đài xây bằng sa thạch đỏ, từng là đại bản doanh của một vị Hoàng đế thời Trung cổ, nằm trên một ngọn đồi nhìn xuống thành phố lờ mờ sau màn sương. Chúng tôi đến đó vào một buổi tối trời trong xanh và đầy sao, bước xuống xe trong một c trong phim "Nghìn lẻ một đêm". Dưới bầu trời sáng rực pháo hoa, những đoàn nhạc công và vũ công đón chào chúng tôi ở hai bên lối đi trải thảm đỏ. Lạc đà và ngựa được mặc những chiếc áo choàng có gắn trang sức, đeo rọ mõm và quay cuồng theo tiếng sáo. Tôi và Chelsea kinh ngạc siết chặt tay nhau bước vào. Hai tháp canh phong sương vì mưa gió bảo vệ lối đi vào bên trong pháo đài. Nơi đó, trong bầu không khí đầy tinh dầu hoa hồng, có hàng ngàn đèn dầu đang chiếu sáng lấp lánh khắp sân và các lối đi. Ngắm nhìn cô con gái bé nhỏ duyên dáng đột nhiên trưởng thành trong chiếc áo lụa shalwar kameez tôi thầm ước giá mà Bill cũng có mặt tại đây để nhìn con gái của mình.

Buổi chiêu đãi được kết thúc bằng một chuyến đi đến phi trường để bay đến New Delhi. Tôi đã từng mong ước được đến Ấn Độ hồi còn là sinh viên năm thứ nhất, khi bà Margaret Clapp, nguyên chủ tịch Trường Đại học Wellesley rời trường để lãnh đạo trường đại học dành cho nữ giới ở Madurai, Ấn Độ. Trước khi đi bà đã đi khắp ký túc xá của chúng tôi, miêu tả những gì bà sẽ làm. Tôi đã bị tính hiếu kỳ kích thích. Trước khi quyết định theo học ở trường luật, tôi đã nghĩ tới việc đến Ấn Độ để nghiên cứu học hỏi hoặc giảng dạy. Một phần tư thế kỷ sau, đại diện cho nước Mỹ, tôi đã thực hiện chuyến đi đầu tiên của mình đến Ấn Độ. Bill yêu cầu tôi đi bởi vì anh ấy muốn tôi quan sát sự phát triển các mối quan hệ tốt đẹp với Ấn Độ sau 40 năm nước này thực hiện chính sách không liên kết và những quan hệ giữa Ấn Độ với Liên bang Xô viết trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Tôi cũng muốn tự mình nhìn thấy nền dân chủ ở một đất nước đông dân cư như Ấn Độ và học hỏi nhiều hơn về những nỗ lực nền tảng để thúc đẩy sự phát triển và nữ quyền. Tôi thật sự hào hứng về những gì mình đã và đang nhìn thấy được, dù biết rằng thời gian và hành trình của tôi có giới

Ngày đầu tiên, trong lịch trình làm việc đầy kín của tôi có cuộc đi thăm các cô nhi viện của Mẹ Teresa. Đó là những cô nhi viện có số bé gái vượt xa số bé trai bởi vì nhiều gia đình xem con gái không bằng con trai. Mẹ Teresa đang đi nước ngoài nhưng nữ tu Priscilla đã đưa chúng tôi đi một vòng. Những đứa trẻ đang được chăm sóc vươn những cánh tay ra, tôi và Chelsea bồng các bé lên trong khi lắng nghe sơ Priscilla kể về các bé. Một số bé gái sơ sinh đã bị bỏ rơi trên đường phố và số đông hơn thì bị bỏ rơi ở các cô nhi viện bởi chính những người mẹ không chăm sóc chúng nổi hoặc nói rằng cha của chúng không muốn có chúng. Một số bé có đôi chân bị dị tật bẩm sinh hoặc bị hở vòm miệng hay những khuyết tật khác, bị bỏ rơi vì gia đình chúng quá nghèo, không đủ khả năng chạy chữa. Nhiều đứa trẻ trong số này sẽ được những người phương Tây xin nhận làm con nuôi, dù rằng việc xin con nuôi của người dân Ấn Độ đang dần trở nên phổ biến. Sơ Priscilla tươi cười nói với tôi rằng chuyến ghé thăm của tôi đã khiến chính quyền sở tại làm được một điều tuyệt vời là cho tráng nhựa con đường đất dẫn đến cô nhi viện.

Tôi dùng cơm trưa với một nhóm phụ nữ Ấn Độ tại Dinh Roosevelt, là nơi ở của ngài Đại sứ, dự tiệc chiêu đãi buổi tối với Tổng thống Ấn Độ - ngài Shanker Dayal Sharma. Ngày hôm sau, tôi được lên kế hoạch gặp gỡ Thủ tướng PV. Narasimha Rao và điều quan trọng là tôi phải thực hiện ở Ấn Độ những gì đã làm ở Pakistan, nếu không, tôi sẽ làm phiền lòng một trong hai nước vì tôi biết cả hai đều theo dõi sát chuyến đi của tôi.

Tôi đã đồng ý diễn thuyết về nữ quyền tại Quỹ từ thiện Rajiv Gandhi. Tuy nhiên tôi gặp khó khăn trong khi viết bài diễn văn. Tôi cố gắng tìm một hình ảnh thật phù hợp để diễn tả những gì tôi muốn nói. Vào giờ cơm trưa, bà Mecnakshi Gopinath - Hiệu trưởng Trường Trung học Sri Ram dành cho các "tiểu thư" - giúp cho tôi có được nguồn cảm hứng. Đó là một bài thơ viết tay của nữ sinh Anasuya Sengupta. Bài thơ có tựa đề "Sự im lặng" và được bắt đầu như sau:

Có quá nhiều phụ nữ

Ở rất nhiều quốc gia

Đều có chung ngôn ngữ

Đó là sự lặng thinh...

Bài thơ luôn vương vấn trong tâm trí tôi. Khi chuẩn bị cho bài diễn văn vào khuya hôm đó, tôi đã sử dụng bài thơ này để chuyển tải niềm tin của tôi rằng những vấn đề tác động đến phụ nữ và thiếu nữ không nên bị gạt bỏ như những điều ngoài lề hay những điều "nhẹ nhàng, nhỏ nhặt" mà nên được kết hợp đầy đủ trong các quyết định về chính sách đối nội và đối ngoại. Việc phủ nhận hoặc giảm bớt việc giáo dục và chăm sóc sức khóe cơ bản dành cho phụ nữ là vấn đề nhân quyền. Việc giới hạn sự tham gia của phụ nữ về kinh tế, chính trị, xã hội cũng là vấn đề nhân quyền. Đã quá lâu, tiếng nói của một nửa dân số thế giới đã và đang không được các chính phủ lắng nghe. Tiếng nói của phụ nữ trở thành chủ đề của tôi. Do vậy, cuối cùng tôi quyết định trích dẫn bài thơ của nữ sinh đó để kết thúc bài diễn văn của mình.

Quỹ Rajiv Gandhi được bà Sonia - quả phụ của vị thủ tướng bị ám sát - thành lập và đặt tên bằng tên thủ tướng. Đây cũng là người đã mời tôi nói chuyện. Bà là một phụ nữ sinh ra ở Ý, có giọng nói nhẹ nhàng. Khi cả hai còn là sinh viên Trường Đại học Cambridge ở Anh, bà đã yêu ngài Rajiv - người con trai đẹp trai của nữ cố Tổng thống Indria Gandhi đã kết hôn và chuyển về sống ở Ấn Độ. Theo tôi được biết, trong khi bà Sonia đang rất hạnh phúc với hai người con thì thảm họa ập xuống gia đình bà. Đầu tiên ngài Sanjay - anh chồng của bà, bị chết trong một tai nạn máy bay. Đây là người được nhiều người tin rằng sẽ nối nghiệp chính trị cha mẹ và ông ngoại - ngài Jawaharlal Nehru. Sau đó, năm 1984 bà Indira Gandhi bị chính những nhân viên bảo vệ an ninh của bà ám sát. Rajiv, người thừa kế hợp pháp quyền lãnh đạo Đảng Quốc đại, đã trở thành thủ tướng. Nhưng trong chiến dịch vận động tranh cử năm 1991, ngài Rajiv bị sát hại trong vụ đánh bom tự sát của nhóm du kích Những Con Hổ Tamil - là nhóm đang tiến hành cuộc chiến tranh chống lại chính phủ Sri Lanka và chính phủ Ấn Độ, vì chính phủ Ấn Độ ủng hộ chính phủ Sri Lanka. Từ đó, bà Sonia bị đưa vào đời sống chính trị của Ấn Độ như là một biểu tượng cho sự tiếp nối trong Đảng Quốc đại. Bà đã tìm thấy tiếng nói riêng của mình trong cộng đồng thông qua những việc làm để quên đi những bi kịch của cá nhân.

Vào lúc tôi chuẩn bị diễn thuyết, sự mệt mỏi sau chuyến bay dài và việc mất ngủ hành hạ tôi. Tôi không thể nhìn thấy điều gì trên những trang giấy, nhưng tôi đã kết thúc bằng bài thơ của nữ sinh Anasuya.

Chúng ta lặn lội đi tìm

Chỉ để nói ra được những điều

(Mà có quá nhiều phụ nữ

Ở nhiều nước khác nhau)

Không thể nói nên lời

Tôi lặn lội đi tìm

Chỉ để tìm lãng quênNhững nỗi buồn của bà tôi

Đó là sự lặng im.

Bài thơ đã chạm đến được tình cảm của khán thính giả. Nhiều người trong số họ đã xúc động trước việc tôi đã dựa vào suy nghĩ của một nữ sinh để gợi lên tình trạng của phụ nữ khắp mọi nơi. Anasuya là một nữ sinh đáng yêu, khiêm tốn và có phần rụt rè mặc dầu bài thơ của cô được phổ biến trong quần chúng. Cô nữ sinh đã rất ngạc nhiên khi nhiều phụ nữ trên thế giới quan tâm và hỏi xin bài thơ của cô.

Lời thơ ấy cũng tác động đến các nhà báo Washington đi cùng với tôi. Họ đã hưởng ứng theo cách riêng đối với những gì tôi nói về cuộc sống và quyền của phụ nữ. Sau khi tôi diễn thuyết, các phóng viên hỏi rằng tại sao tôi không đề cập đến những vấn đề này sớm hơn. Tôi hiểu câu hỏi của họ là có lý do, dẫu tôi đã làm việc 25 năm để cải thiện tình trạng và số phận của phụ nữ và trẻ em ở Mỹ. Nhưng tại nơi này, nơi phụ nữ phải trùm kín mặt và những em bé bị bỏ rơi vẫn cùng tồn tại với những nữ thủ tướng, có lẽ tôi đã dễ dàng tiếp cận được vấn đề hơn - cả giới truyền thông cũng vậy. Cải cách việc chăm sóc y tế, nghỉ phép lo việc gia đình, giảm thuế thu nhập hoặc bãi bỏ luật phá thai từng gây tranh cãi trên toàn cầu - tất cả đều là một phần của một chủ đề: trao cho người dân quyền lựa chọn điều gì là đúng cho họ và gia đình họ. Do vậy, việc đi nửa vòng trái đất đã giúp làm cho vấn đề sáng tỏ hơn. Một phần lý do cũng rất đơn giản: các nhà báo được phân công đi cùng tôi cũng là những khán thính giả say sưa. Nhưng cũng đúng sự thật rằng thông điệp từ nước ngoài của tôi chuyển tải ít gợi ý hơn đối với những kiến nghị chính trị của tôi về những chính sách cụ thể nào đó ở quê

Sự thay đổi trong quan hệ của tôi với giới truyền thông là một trong những điều ngạc nhiên thú vị của chuyến đi. Giống như những cựu chiến binh của các đội quân khác nhau đã trải qua chiến tranh, chúng tôi đã bắt đầu cuộc hành trình đầy sự cảnh giác lẫn nhau. Nhưng khi những ngày này trôi qua, chúng tôi bắt đầu nhìn nhau dưới một ánh sáng khác. Và những quy tắc cơ bản của tôi đối với báo chí: tuyệt đối không để bụng những chuyện xảy ra trên máy bay hay trong khách sạn cũng như những điều mà Chelsea nói hoặc làm, lại cho thấy sự hữu ích. Một khi tôi tin rằng các phóng viên vẫn tôn trọng "quy tắc đi đường", tôi cảm thấy dễ chịu và cởi mở hơn với các nhà báo. Điều này cũng giúp các nhà báo và tôi chia sẻ chung những kinh nghiệm, từ việc chúng tôi mải mê nghiên cứu văn hóa nước ngoài cho đến những giây phút thư giãn tại những buổi tiệc tối thân tình giữa những người trong đoàn.

Giới truyền thông, những người trước đây chưa từng giao tiếp với Chelsea, bây giờ đã quan sát được sự tự tin, bình tĩnh của con bé. Có hôm con bé giúp cân trọng lượng những đứa bé suy dinh dưỡng, yếu ớt đến độ chỉ với một cái chạm khẽ chúng cũng nhăn nhó vì đau đớn. Một vài giờ sau đó, con bé dự tiệc chiêu đãi của một vị thủ tướng. Con bé đã biết đặt những câu hỏi hay và đưa ra những lời nhận xét sâu sắc. Và theo tự nhiên, nhiều nhà báo bắt đầu ép tôi cho phép họ trích dẫn lời của con bé. Cuối cùng tôi đã đồng ý sau khi chúng tôi viếng thăm đền Taj Mahal; và con bé nói: "Khi con còn nhỏ, với con đây là hiện thân của một cung điện trong câu chuyện thần tiên. Con xem những bức hình và mơ ràng mình sẽ là một nàng công chúa hoặc một điều tương tự như thế. Nhưng bây giờ con đã ở đây, ngôi đền thật là kỳ vĩ".

Đó là lời nhận xét đáng yêu và ngây thơ, nhưng ngay lập tức tôi ước giá mà tôi đừng mở cánh cửa đó. Và cánh cửa đó thật sự khó được đóng trở lại. Một khi các phóng viên báo viết có được câu phát biểu của con bé thì thư ký về truyền thông của tôi - cô Lisa Caputo - liền bị các phóng viên đài truyền hình gọi điện dồn dập đòi quay phim Chelsea với lời phát biểu đó. Tôi đã phải nhắc nhở mọi người về nguyên tắc cơ bản, để Chelsea trong tình trạng "che kín" (như trang phục "purdah") khi chúng tôi trở về Washington!

Những kỷ niệm sâu sắc nhất của tôi về Ấn Độ không phải là ở Taj Mahal dù nó đẹp mê hồn mà là hai cuộc viếng thăm thành phố Ahmadabad thuộc tiểu bang Gujarat. Cuộc viếng thăm thứ nhất là đến thăm một nơi ở đơn giản theo đạo Hindu của ngài Mahatma Gandhi. Tại đây, ông đã tìm kiếm lối sống ẩn dật trầm tư, tránh xa cuộc đến tranh phiền toái để tạo được một quốc gia Ấn Độ độc lập. Sự nghèo khó và giản dị trong cuộc sống của ông đã nhắc nhở tôi về sự dư dả của mình. Niềm tin của Gandhi vào cuộc đấu tranh không bạo lực chống lại sự áp bức và nhu cầu tổ chức những nhóm đấu tranh lớn hơn để đối lập với các chính sách của chính phủ đã ảnh hưởng đến phong trào nhân quyền ở Mỹ. Điều này đồng thời cũng mang tính chất quyết định đối với chiến dịch của Martin Luther King nhằm chấm dứt sự phân biệt chủng tộc. Ở Ấn Độ, cuộc sống và nguyên tắc về sự tự lực và việc loại bỏ chế độ đẳng cấp của Gandhi đã truyền cảm hứng cho một người phụ nữ xuất sắc, bà Ela Bhatt. Theo gương của Gandhi, bà thành lập Hội Phụ nữ Tự Lập nghiệp (SEWA) vào năm 1971. Bà Liz Moynihan, phu nhân của Thượng nghị sĩ Moynihan - một người vợ phi thường, đã giới thiệu tôi với bà Bhatt và động viên tôi thực hiện cuộc viếng thăm hội SEWA để được chứng kiến những gì mà một phụ nữ quả quyết có thể làm được.

Vừa là công đoàn, vừa là hội phụ nữ, hội SEWA có trên 140.000 thành viên, bao gồm một số phụ nữ nghèo nhất, ít được học nhất và bị xa lánh nhiều nhất ở Ấn Độ. Những phụ nữ này đã bước vào cuộc hôn nhân được sắp đặt trước và sống trong gia đình chồng dưới sự giám sát của mẹ chồng. Một số phụ nữ đã sống với tập tục che mạng cho đến khi chồng mất, tật nguyền hoặc bỏ rơi họ. Họ phải nuôi gia đình. Tất cả đều phải đấu tranh từng ngày để sinh tồn. Hội SEWA cấp một khoản tiền vay nhỏ để giúp họ kiếm được nguồn thu nhập riêng cho mình, hội cũng dạy cho họ biết đọc biết viết ở mức độ cơ bản và huấn luyện về kinh doanh. Bà Ela Bhatt cho tôi thấy những hội SEWA để ghi lại những khoản tiền vay và trả. Qua hệ thống "tài chính vi mô" này, hội SEWA đang cung cấp công việc cho hàng ngàn phụ nữ và làm thay đổi những thái độ thâm căn cố đế về vai trò của phụ nữ.

Cuộc viếng thăm của tôi được loan truyền rộng rãi khắp các ngôi làng ở Gujarat và gần 1.000 phụ nữ đã đến với buổi họp. Một số người đi bộ 9 hoặc 10 tiếng đồng hồ qua các con đường làng nóng bức và đầy bụi. Nước mắt tôi trào dâng khi nhìn thấy họ đợi chờ tôi dưới một cái lều lớn. Với y phục là những chiếc sari màu ngọc bích, màu lục bảo, màu hồng ngọc, trông họ như một cầu vồng nhấp nhô. Họ là những người theo đạo Hồi, đạo Hindu, bao gồm cả đẳng cấp thấp kém nhất. Họ là những người thợ làm diều, đi nhặt phế liệu, bán rau. Và, Chelsea ngồi lẫn vào họ.

Từng người một, những người phụ nữ đứng lên kể cho tôi nghe hội SEWA đã làm thay đổi đời sống của họ như thế nào, không chỉ nhờ một khoản tiền vay nhỏ hay sự giúp đỡ họ nhận được từ SEWA trong việc kinh doanh mà còn vì tình đoàn kết mà họ cảm nhận được từ những phụ nữ đang đấu tranh khác. Một phụ nữ đã chạm đến nỗi lòng của những người ngồi nghe khi bà giải thích rằng bà không còn phải sợ mẹ chồng nữa. Theo nền văn hóa Ấn Độ, mẹ chồng thường kiểm soát khắt khe người con dâu khi đôi vết hôn và chuyển về sống với gia đình chồng. Bà hiện giờ có một quầy bán rau ở chợ, thu nhập của riêng bà đã giúp bà có được sự độc lập. Bà kể thêm rằng bà cũng không còn phải sợ cảnh sát bởi vì một nhóm những người bán hàng được hội SEWA tài trợ đã bảo vệ bà tránh khỏi sự phiền nhiễu của những nhân viên hống hách ở chợ. Nếu nhìn vào những gương mặt rạng rỡ với đôi mắt được đánh phấn côn, những đồ trang sức đeo trên người họ, bạn có thể nhầm về cuộc sống khó khăn của những phụ nữ này.

Cuối cùng, tôi được yêu cầu có lời phát biểu kết thúc. Khi tôi hoàn thành lời nhận xét, Ela Bhatt cầm chiếc mi-crô và thông báo rằng có những phụ nữ muốn bày tỏ với tôi lòng biết ơn của họ về chuyến viếng thăm của tôi. Trong giây phút cảm động, tất cả bắt đầu hát bài hát We Shall Overcome (Chúng ta sẽ vượt qua) bằng tiếng Gujarati. Tôi thật sự được hòa nhập và bay bổng giữa những con người này. Họ là những phụ nữ đang làm việc để vượt qua sự khổ nhọc cũng như việc bị áp bức từ nhiều thế kỷ qua. Với tôi họ là sự khẳng định sống động về tầm quan trọng của nhân quyền.

Ngày hôm sau, tôi vẫn nghĩ về những gương mặt và lời nói của họ khi đang ở trên chuyến bay đến thành phố Kathmandu, thủ đô của Nepal. Thủ đô này nằm giữa dãy Himalaya, trong một thung lũng thấp ở độ cao chỉ hơn 4.200 bộ (khoảng 1.276,8m) bằng với độ cao của thành phố Salt Lake. Vào một ngày trời trong xanh, bạn có thể nhìn thấy bức tranh toàn cảnh về dãy núi được phủ đầy tuyết quanh thành phố.

Phong cảnh Nepal nằm trong số những thắng cảnh đẹp nhất thế giới nhưng những vùng có dân cư của đất nước này thì quá đông người. Chất thải của con người được dùng làm phân bón và nước sạch thì khan hiếm. Tất cả những người Mỹ mà tôi gặp đều có những câu chuyện về việc họ bị đau ốm sau một ời gian ở Nepal, nghe có vẻ như là một nghi thức không thể tránh được. Thành viên Hiệp hội Hòa bình Xanh hướng dẫn tôi mặc chiếc áo thun trên đó liệt kê tất cả những căn bệnh mà họ đã qua khỏi.

Chúng tôi vô cùng cẩn trọng vì chỉ vừa mới hoàn tất một nửa hành trình của chuyến viếng thăm. Và như vậy, chỉ cần một ngày bị ốm là chúng tôi có thể phải hủy bỏ phần hành trình còn lại. Những quan chức sở tại đã giúp chúng tôi thu xếp sự lo lắng này. Ngày đầu tiên ở Nepal, Chelsea đã nói với sự kinh ngạc: "Mẹ ơi, mẹ sẽ không tin những gì mà những nhân viên Cơ quan An ninh đã nói với con. Các cô chú nói rằng hồ nước của khách sạn được thay bằng nước nấu sôi". Tôi không biết rằng đó có phải là sự thật hay không nhưng điều này không làm tôi ngạc nhiên.

Trong suốt chuyến viếng thăm xã giao cung điện hoàng gia, tôi được Đức vua Birendra Bỉ Bikram Shad Dev và Hoàng hậu Aishwarya tiếp đón trong một căn phòng có một bộ da hổ rất lớn trải trên sàn. Hoàng hậu - người đã đón tôi ở phi trường - bảo tôi rằng bà rất mong được nói chuyện với tôi. Tôi thật sự hy vọng rằng sẽ có cơ hội để đề cập với bà về vấn đề chăm sóc sức khỏe và nền giáo dục đối với các bé gái. Nhưng Đức vua đã chủ trì những cuộc nói chuyện. Mãi đến gần đây, Đức vua vẫn điều hành một vương quốc về cơ bản là cách ly với thế giới bên ngoài. Bây giờ, đất nước này đang tiến hành sự chuyển tiếp sang một chính thể đại nghị và Đức vua muốn thảo luận về triển vọng hỗ trợ và đầu tư của Mỹ. Nepal cũng đang đối mặt với bạo lực và tình trạng bất ổn ở một số vùng nông thôn do các nhóm du kích theo chủ nghĩa Mao. Tuy nhiên, điều đó không đe dọa Hoàng gia bằng mầm mống "bệnh tật” bên trong cung điện của họ. Thật sự vẫn khó chấp nhận rằng chỉ một vài năm sau đó Đức vua, Hoàng hậu cùng tám thành viên khác trong Hoàng gia bị bắn chết ngay trong Cung điện. Theo các báo cáo chính thức, tên sát nhân đó chính là Thái tử - ngư̖ã quá tức giận vì không được phép kết hôn với người mà Thái tử yêu.

Sáng hôm sau, Chelsea và tôi đi dạo trên những ngọn đồi quanh thành phố. Người dân đứng trên lề đường xem chúng tôi đi qua. Một cô bé có đôi mắt sáng khoảng 10 hoặc 11 tuổi đi theo chúng tôi. Cô bé bập bõm nói tiếng Anh, chủ yếu là gọi tên một số nơi như "Thành phố New York" hoặc "California" và chúng thường được kết thúc bằng một tính từ, chẳng hạn như "to lớn" hoặc "hạnh phúc". Sau đó cỗ bé gật gật đầu và cười như thể chúng tôi là những người bạn đã có cuộc đối thoại dài. Cô bé hoàn toàn lôi cuốn tôi. Càng lên cao, tôi càng thấy rõ cách mỗi centimet vuông đất được sử dụng cho một mục đích nào đó - nhà cửa, trang trại, đường phố, hoặc thiền viện rải rác trên các sườn đồi. Tôi nghe tiếng chuông ngân vang từ những thiền viện gần đó và nhìn thấy những lá cờ đang phấp phới từ những bờ thành thiền viện. Khi chúng tôi đi bộ về nơi đỗ xe, bố của cô bé đang chờ cô bé. Tôi được biết là tuy không được đi học, nhưng cô bé đã tích góp được vốn tiếng Anh bằng cách đi theo các du khách. Tôi ngỏ lời khen ngợi với ông bố về sự thông minh và tính hiếu kỳ của cô bé, nhưng tôi lo rằng tôi không thể nói cho ông hiểu được. Mặc dầu tôi biết rằng tiền không phải là cách thể hiện sự biết ơn và quan tâm một cách đầy đủ nhưng tôi muốn bố cô hiểu tôi đánh giá cao cô bé. Tôi hy vọng tư chất thông minh và sự tháo vát của cô bé - điều có lẽ làm tăng thêm "tầm vóc” của cô bé trong gia đình - sẽ khuyến khích gia đình họ xem xét sự lựa chọn một cuộc sống khác cho cô bé. Đến bây giờ tôi vẫn thường tự hỏi cô bé ấy đã có cuộc sống như thế nào.

Cuối buổi sáng hôm đó, chúng tôi viếng thăm phòng khám dành cho phụ nữ được những phụ nữ Mỹ đang sống ở Nepal thành lập. Nepal là một trong những nước có tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh và sản phụ cao nhất thế giới. Ởepal, cứ mỗi 100.000 ca sinh đẻ thì có 830 ca tử vong, so với tỉ lệ bình quân của thế giới là 400 ca, ở Mỹ là 7 ca. Các phòng khám này là kết quả sự hợp tác giữa USAID, tô chức Cứu lấy Trẻ em (Save the Children) và chính phủ Nepal. Họ đã tận dụng việc tiếp cận kỹ thuật thấp và dễ phổ biến để thực hiện các biện pháp chăm sóc phòng ngừa, và đã thiết lập một chương trình cưng cấp "bộ đồ dùng lúc lâm bồn tại nhà" cho các sản phụ và bà đỡ. Bộ đồ dùng bao gồm một tấm nhựa, một bánh xà phòng, một ít rượu, sáp và một lưỡi dao cạo ở Nepal, tấm nhựa dành cho sản phụ nằm, bánh xà phòng dành cho bà đỡ rửa sạch tay và bộ dụng cụ đỡ đẻ của bà, sợi dây thắt rốn và lưỡi dao cạo sạch để cắt rốn - điều này có thể làm nên sự khác biệt giữa sự sống và cái chết đối với người mẹ và đứa trẻ sơ sinh.

Tại điểm dừng chân ở Công viên Quốc gia Chitwan của Hoàng gia nằm ở phía nam Nepal, Chelsea và tôi đã cưỡi voi. Thực tình nếu tôi không biết tôi sắp được chụp hình cho con cháu thì tôi sẽ mặc quần jeans. Nhưng thay vào đó, tôi đã mặc một áo sơ mi kaki, váy và đội nón rơm - như y phục cho một "Cái nhìn của châu Phi". Bức ảnh chụp Chelsea và tôi đã tỏa sáng khắp thế giới cho thấy một hình ảnh mẹ-con thật hạnh phúc. Sau đó, khi chúng tôi trở về Washington, James Carville nhận xét: "Phu nhân yêu thích chuyến đi chứ ? Phu nhân mất hai năm cố gắng làm cho mọi người được chăm sóc y tế tốt hơn mà họ thì cố giết Phu nhân. Còn khi Phu nhân cùng Chelsea cưỡi voi thì họ lại yêu Phu nhân!".

Bangladesh, đất nước có mật độ dân số dày nhất thế giới, đã cho thấy sự tương phản giàu - nghèo gay gắt nhất mà tôi chứng kiến ở Nam Á. Nhìn qua cửa sổ phòng khách sạn ở Dhaka, tôi có thể thấy một hàng rào gỗ chạy giữa một bên những cái lán và những đống rác, còn bên kia là hồ bơi và những căn nhà nhỏ, nơi du khách chúng tôi có thể tận hưởng việc bơi lội và nhâm nhi ly nước. Điều này giống như nhìn vào một máy chiếu hình đôi về nền kinh tế toàn cầu. Tại đây, các nhà chức trách không cần cố gắng che giấu sự nghèo túng cơ cực đằng sau những tấm áo đầy màu sắc. Thành phố đầy người sống chen chúc, là nơi có số người sống trên một mét vuông cao hơn so với bất kỳ nơi đâu mà tôi biết. Tất cả đều di chuyển trong những chiếc xe hơi nhỏ gây tắc nghẽn đường phố hoặc đi thành đám đông tràn ngập các con đường. Tôi đã kinh ngạc tột độ khi thấy xe hơi đi sát vào nhóm người. Việc đi bộ dưới cái nóng và độ ẩm ở đây giống như chúng ta đang bước vào một phòng tắm hơi. Nhưng đây lại là một đất nước khác mà từ lâu tôi đã muốn đi thăm vì đây là quê hương của hai dự án được quốc tế công nhận - đó là Trung tâm Quốc tế Nghiên cứu Bệnh Thổ tả ( International Center for Diarrheal Disease Research- ICDDRB) ở Dhaka, Bangladesh và Ngân hàng Grameen - một đơn vị tiên phong trong chương trình cho vay các khoản tín dụng nhỏ. Chương trình ICDDRB là một ví dụ điển hình cho kết quả tích cực có được từ sự trợ giúp của nước ngoài. Bệnh kiết lỵ là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong, đặc biệt là đối với trẻ em, ở những nơi thiếu nguồn nước sạch trên thế giới. Chương trình ICDDRB phát triển một phương pháp trị liệu được gọi là "liệu pháp uống bù nước” (ORT), một giải pháp sử dụng nguồn "dược liệu” được chế tạo chủ yếu từ muối, đường và nước. Giải pháp này dễ dàng thực hiện và giúp cứu được mạng sống của hàng triệu trẻ em. Giải pháp rẻ tiền và đơn giản này đến nay đã được xem là một trong những tiến bộ y khoa quan trọng của thế kỷ và bệnh viện đi tiên phong thực hiện giải pháp này được Mỹ hỗ trợ. Thành công của phương pháp ORT cũng là một hình mẫu cho việc chữa trị y khoa với chi phí thấp và công nghệ thấp được phát triển ở các nước và hiện nay có thể được thực hiện ở Mỹ.

Lần đầu tiên tôi biết về Ngân hàng Grameen cách đây hơn mười năm khi Bill và tôi mời người thành lập ngân hàng, bác sĩ Muhammad Yunus, đến Little Rock để thảo luận những cách thức mà chương trình cho vay khoản tín dụng nhỏ có thể giúp đỡ một. số cộng đồng nghèo nhất ở nông thôn Arkansas. Ngân hàng Garmeen cung cấp những khoản vay đến từng phụ nữ nghèo - những người không thể nào tiếp cận được với các khoản tín dụng thông thường.. Với khoản vay trung bình chừng 50 đô la, phụ nữ bắt đầu việc kinh doanh nhỏ của mình như may vá, dệt và làm nông, giúp họ cùng gia đình thoát khỏi đói nghèo. Những phụ nữ này không chỉ chứng tỏ rằng những rủi ro tín dụng khi cho họ vay là thấp nhất - bằng chứng là tỉ lệ thu hồi được các khoản vay của Ngân hàng Grameen lên đến 98% - mà họ còn là những người tiết kiệm rất giỏi: với khuynh hướng tái đầu tư lợi nhuận của mình vào công việc kinh doanh của gia đình. Tôi đã giúp thiết lập một ngân hàng phát triển và những nhóm cho vay vốn kinh doanh nhỏ ở Arkansas. Và tôi muốn đẩy mạnh chương trình này trên khắp nước Mỹ, theo hình mẫu thành công của Yunus và Ngân hàng Grameen. Họ đã cung cấp hoặc tạo sự giúp đỡ dễ dàng cho những chương trình tương tự trên khắp thế giới; phân bổ 3,7 tỷ đô la dưới dạng các khoản cho vay không cần thế chấp cho 2,4 triệu người tại hơn 41 nghìn ngôi làng của Bangladesh và ở những nơi khác.

Nhưng sự chiến thắng trong việc giúp đỡ những phụ nữ không có đất đai tạo được cuộc sống no đủ đã làm cho Ngân hàng Grameen trở thành mục tiêu của những người theo trào lưu chính thống đạo Hồi. Hai ngày trước khi chúng tôi đến Dhaka, khoảng 2.000 người cực đoan đã diễu hành ở thủ đô, lên án những tổ chức trợ giúp ngoại đạo. Họ buộc tội những tổ chức này lôi cuốn phụ nữ coi thường kinh Coran. Trong những tháng trước chuyến viếng thăm của chúng tôi, nhiều ngân hàng và trường học trong làng dành cho nữ giới đã bị thiêu hủy, và một nữ văn sĩ xuất sắc của Bangladesh đã nhận được lời đe dọa sẽ bị giết chết.

Một trong những vấn đề an ninh khó khăn nhất là bạn không biết làm thế nào để nhận ra được khoảnh khắc thật s nguy hiểm. Cơ quan An ninh đã nhận được tin tức ám chỉ rằng một nhóm người quá khích có lẽ cố gắng làm gián đoạn chuyến viếng thăm của tôi. Khi tôi ra ngoài khu vực thủ đô để đến thăm hai ngôi làng ở vùng tây nam Bangladesh trên một máy bay vận tải C-130 của Không lực Mỹ, một lần nữa, chúng tôi bị báo động phải hết sức cảnh giác. Ở làng Jessore, chúng tôi viếng thăm một trường tiểu học, nơi chính phủ thí điểm một chương trình mà theo đó các gia đình được thưởng tiền và thực phẩm nếu họ cho phép con gái mình đi học. Điều này có vẻ giống như là một cách khích lệ mới lạ, trước tiên nhằm thuyết phục các gia đình đưa con gái đến trường và sau đó là để các cháu tiếp tục theo đuổi việc học. Chúng tôi có mặt tại ngôi trường nằm giữa cánh đồng trống, và tôi vào các lớp học nói chuyện với các bé gái cùng các thầy cô giáo. Trong khi đang nói chuyện với các học sinh, tôi chú ý một cuộc náo động ở bên ngoài và nhìn thấy các nhân viên an ninh đang chạy quanh. Hàng ngàn dân làng bỗng bất ngờ xuất hiện, tụ tập dưới bầu không khí ngột ngạt, túm tụm từ 10 đến 20 người trên mỗi một ngọn đồi nhỏ xa xa tầm mắt của tôi. Chúng tôi không biết họ từ đâu đến hoặc họ muốn gì. Chúng tôi không bao giờ biết được điều đó bởi vì các nhân viên an ninh đã đưa chứng tôi rời khỏi nơi đó vì họ sợ không thề kiểm soát được đám đông này.

Chuyến đến thăm Ngân hàng Grameen ở làng Mashihata xứng đáng để chúng tôi chiến đấu với những đám đông và đoạn đường dằn xóc, kéo dài. Tôi được mời đến thăm hai làng - một làng Hindu và một làng đạo Hồi - nhưng tôi không thể nào xoay xở được vì lịch trình làm việc của mình nên chỉ thăm một làng Hindu là làng Mashihata. Đáng chú ý là những phụ nữ Hồi giáo đã quyết định đến làng Hindu để gặp chúng tôi.

“Swagatam, Hillary, swagatam, Chelsea!” những đứa trẻ nói bằng ngôn ngữ Băng-gan, "Chào mừng bà Hillary, chào mừng Chelsea !". Người bạn cũ của tôi - Muhammad Yunus đã ở đó để chào đón tôi, với những mẫu quần áo mà một số phụ nữ đã sản xuất từ số vốn vay của họ. Cả Chelsea và tôi đều mặc những bộ đồ tương tự như vậy, do ông Yunus gửi đến khách sạn cho chúng tôi. Ông rất vui sướng vì điều đó. Ông nói một vài điều nghe giống như chủ đề mà tôi đang phát triển trong những bài diễn thuyết của mình.

"Phụ nữ có tiềm năng", ông nói, "và việc tiếp cận với các khoản vay không chỉ là một cách hiệu quả để chiến đấu chống đói nghèo, mà nó còn là quyền cơ bản của con người".

Tôi ngồi dưới nhà sạp lợp mái, vây xung quanh là những phụ nữ Hindu và phụ nữ đạo Hồi. Họ kể cho tôi nghe tất cả đã đến với nhau như thế nào, bất chấp những người theo Hồi giáo chính thống cực đoan. Tôi đã bảo với họ rằng tôi có mặt ở đây để lắng nghe họ và để học hỏi.

Một người phụ nữ đạo Hồi đứng dậy và nói: "Chúng tôi chán ngấy những giáo sĩ Hồi giáo, họ luôn làm mọi cách để kìm hãm phụ nữ" .

Tôi hỏi họ đang đương đầu với những khó khăn gì, cô ấy trả lời: "Họ dọa, cấm chúng tôi vay tiền của ngân hàng. Họ bảo với chúng tôi là người của ngân hàng sẽ đánh cắp con cái chúng tôi. Tôi nói với họ hãy để chúng tôi yên. Chúng tôi đang cố gắng giúp con cái mình có được cuộc sống tốt đẹp hơn".

Những người phụ nữ đã hỏi tôi nhiều câu hỏi để cố gắng liên hệ những kinh nghiệm của tôi với của họ. Một người hỏi: "Bà có nuôi gia súc trong nhà không?”

Tôi vừa trả lời vừa cười với giới báo chí đang đi cùng với tôi, những người mà vào thời điểm đó giống như những thành viên của một đại gia đình: "Không có. Trừ khi cô tính đến mấy tay đáng ghét trong phòng họp báo".

Những người Mỹ cười phá lên còn những người Bangladesh trầm tư nghĩ về ý nghĩa câu châm biếm của tôi.

"Bà có tự mình kiếm sống không?” một người phụ nữ có một chấm đỏ trang điểm, gọi là teep, ở giữa hai chân mày, dấu hiệu truyền thống cho thấy là cô đã lập gia đình.

"Tôi không tự kiếm sống vì hiện giờ chồng tôi là Tổng thống", tôi nói, tự hỏi làm thế nào để giải thích được những điều mà tôi đang làm. Tôi kể với họ rằng tôi đã từng kiếm được nhiều tiền hơn cả chồng tôi và tôi dự định sẽ tự kiếm thu nhập cho mình trở lại.

Những đứa trẻ ở làng diễn một vở kịch cho chúng tôi xem, và một vài người phụ nữ đến gần Chelsea và tôi để chỉ cho chúng tôi cách đeo nhưng teep trang trí và cách thức quấn sari. Tôi ngạc nhiên bởi tinh thần tích cực của những người dân mà tôi đã gặp tại ngôi làng cô lập, nghèo nàn, những người đã sống trong hoàn cảnh không có điện thắp sáng, không có nước sạch. Họ sống bằng hy vọng, một phần nhờ vào Ngân hàng Grameen.

Tôi không phải là người duy nhất cảm động vì những người phụ nữ ở làng. Một trong những nhà báo Mỹ đứng gần tôi, sau khi lắng nghe cuộc thảo luận đã nghiêng người và thì thầm: "Ở đây không ai nói lên niềm im lặng".

linton và chính trường nước Mỹ Living history ebook©MotSAch TVE-4u©heoconmtv —★— Nhà xuất bản: NXB Văn Hóa Sài Gòn 2006
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.