CON ĐƯỜNG THỨ BA

Hồi Ký Hillary Clinton Và Chính Trường Nước Mỹ

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 50 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Con Đường Thứ Ba

❊ ❊ ❊

Vào cuối năm 1997, tôi đến thăm tòa nhà Chequers, dinh thự miền quê chính thức của Thủ tướng Anh theo lời mời của Thủ tướng và Phu nhân để tham dự một cuộc họp thân mật giữa các chính khách của Anh và Mỹ. Thủ tướng và Phu nhân mời tôi tham quan tòa nhà. Thật tuyệt vời, tôi được tận mắt nhìn những di vật như chiếc vòng của Nữ hoàng Elizabeth đệ nhất, xem chiếc bàn mà Napoleon từng sử dụng ở đảo Sant Helena, hành trình bí mật của Cromwell, phòng giam (tên gọi này có từ khi Phu nhân Mary Gray bị nhốt 2 năm ở đó vào những năm đầu thế kỷ 16 vì tội kết hôn mà không được phép của vua. Chúng nằm trong số những di tích lịch sử của một tòa lâu đài oai vệ có từ thế kỷ 16 với những vết nứt, những góc xó, những hành lang hẹp, những cầu thang hình trôn ốc mà một Thủ tướng Anh vẫn đang sống tại đó.

Thủ tướng Tony Blair lên cầm quyền chỉ mới 6 tháng trước trên nền tảng nhưng ý tưởng tiến bộ, rằng ông sẽ canh tân tư duy truyền thống của Đảng Lao động về những vấn đề xã hội và kinh tế. Sau khi nhậm chức, ông luôn tin tưởng Bill vì những khích lệ mà ông và Đảng của ông đã nhận được trong việc đưa ra một hướng đi khác, khi mà Vương quốc Anh và châu Âu đang phải đối mặt với những thử thách của quá trình toàn cầu hóa và vấn đề an ninh kinh tế và chính trị.

Tony và Cherie Blair lúc đó cũng đang tập trung vào những vấn đề mà tôi và Bill đã suy tính trong nhiều năm qua. Lần đầu tiên tôi khám phá ra sự tương đồng về chính trị giữa hai bên khi Tony đang còn là lãnh đạo Đảng Lao động. Một người bạn chung của chúng tôi, Sid Blumenthal, một phóng viên người Mỹ và là tác giả của nhiều tập sách chuyên viết về tình hình chính trị của Mỹ và Anh, khuyên chúng tôi nên hợp tác với nhau. Sid là bạn thân của Bill và tôi đã nhiều năm, và tôi luôn đánh giá cao những phân tích sắc sảo của anh về tình hình chính trị. Vào năm 1997, anh ấy bắt đầu làm việc cho Nhà Trắng, vợ anh là Jackie, một nhà tổ chức kinh nghiệm và có uy tín tham gia bộ máy chính phủ từ năm 1996.

"Ông bà và vợ chồng Blair là những người bạn tâm giao về chính trị", Sid nói với tôi, "Các ông bà cần phải gặp nhau."

Năm 1996, khi Sid và Jackie tổ chức chiêu đãi Tony tại nhà, họ cũng mời tôi đến tham dự. Tôi gặp Blair tại bàn khai vị và nói chuyện trong suốt 30 phút chỉ toàn về chính trị và các chính sách nhà nước của hai quốc gia Anh, Mỹ. Ngay lập tức tôi nhận ra rằng quả thật chúng tôi rất hợp nhau. Ngài Thủ tướng cũng đang cố tìm những sáng kiếnho những mỹ từ tự do xưa cũ, những giả định và những vị trí với hy vọng tìm ra đường lối mới đẩy mạnh sự phát triển kinh tế, tự do hóa con người và công bằng xã hội trong xu hướng toàn cầu hóa thông tin hiện nay.

Cho dù với tên gọi nào: Dân chủ mới, Lao động mới, Đường lối thứ ba hoặc Trung tâm sống còn, Bill Clinton và Tony Blair vẫn cùng chung quan điểm về chính trị. Vấn đề mà mỗi nước đang đối mặt là làm thế nào củng cố thêm sức mạnh cho phong trào tiến bộ vốn đã chìm lắng trong những năm 70 và 80, tạo điều kiện cho chủ nghĩa Reagan xuất hiện ở Mỹ và chủ nghĩa Thatcher ở Anh.

Đảng Cộng hòa ở Mỹ đã là bậc thầy trong việc dấy lên làn sóng ngầm những tư tưởng bảo thủ sau khi Thượng nghị sĩ Barry Goldwater bị Lyndon B. Johnson đánh bại trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1964. Bị sốc do mất đi nhiều quyền lợi, nhiều trùm tỉ phú của Đảng Cộng hòa bắt tay vào chiến lược gieo rắc những học thuyết chính trị bảo thủ, thậm chí cực hữu để phát triển và đẩy mạnh các chính sách riêng, nhằm tiến xa hơn trên chính trường. Họ tài trợ cho các nhà tư tưởng, đài thọ cho các hội nghị, hội thảo chuyên đề và phát triển các kênh thông tin đại chúng để truyền bá các quan niệm và ý tưởng của họ.

Vào năm 1980, họ bắt đầu tài trợ cho các chiến lược quảng bá về chính trị thông qua ủy ban Tuyên truyền Chính trị Bảo thủ Quốc gia (NCPAC) là một trong những tổ chức chính trị đầu tiên sử đụng thông tin đại chúng như một phương tiện để tuyên truyền đối nghịch. Thông qua thư từ và quảng cáo trên truyền hình, NCPAC phá vỡ một điều cấm kỵ đã được thừa nhận trong các cuộc bầu cử địa phương và quốc gia: đã tấn công các hồ sơ và vị trí của các đối thủ một cách cay độc cũng như không ngừng theo dõi các ứng cử viên Đảng Dân chủ.

Đây là điều tăm tối nhất của nh hữu Cộng hòa, nhưng nhờ đó mà họ đã giành được quyền lực với một khuôn mặt công khai khác hẳn : Ronald Reagan rám nắng và tự tin. Reagan đã hai lần thắng cử vào chức vụ Tổng thống trong thập niên 1980 và Đảng Cộng hòa đã giành được những thắng lợi quan trọng trong Quốc hội. Tôi hoài nghi hiệu quả của chiến dịch bôi nhọ đối phương ngay lần đầu tiên chứng kiến vào những năm 80 lúc Bill tái ứng cử chức Thống đốc bang. Nhưng tôi đã sai. Chiến dịch bôi nhọ đối phương mà mọi người có vẻ không ưa lại tỏ ra hiệu quả đến nỗi cả hai phe đều sử dụng nó, mặc dù Đảng Cộng hòa và các nhóm lợi ích liên minh với họ áp dụng nó có hiệu quả hơn là Đảng Dân chủ. Đa số các ứng viên đều nghĩ rằng không có cách nào hơn là phải phản ứng trả đũa, nhưng việc đưa ra những thông tin sai và bóp méo sự thật của chiến lược bôi nhọ đã làm mất lòng tin của công chúng không chỉ đối với các ứng viên mà còn đối với cả hệ thống chính trị.

Nước Mỹ và nước Anh là hai hệ thống chính trị khác nhau, có những phương pháp vận động tranh cử khác nhau, tuy nhiên, tôi và Bill chia sẻ với Blair cùng một cuộc đấu tranh để phát huy những tư tưởng tiến bộ hơn trong công chúng. Thành công của Bill trong cuộc tranh cử là nhờ vào sự kết hợp khả năng về chính trị của anh ấy, việc nhận ra rằng Đảng Dân chủ đã trở nên lạc hậu và những phương thuốc chữa trị mà anh ấy đưa ra. Đảng này đã lãnh đạo đất nước trải qua Thời kỳ suy thoái, Thế chiến thứ hai, chiến tranh lạnh và cuộc cách mạng dân quyền. Giờ đây, các lãnh đạo đảng cần suy xét lại làm cách nào để biến các tư tưởng cốt lõi của đảng thành những giải pháp hiện đại cho những thách thức an ninh toàn cầu mà chúng ta phải đối mặt khi bước vào thế kỷ 21, cho sự thay đổi mô thức làm việc và sinh hoạt gia đình của lối sống Mỹ. Bill đã cố gắng đưa Đảng Dân chủ thoát ra khỏi cái mà anh gọi là "hệ thống chính trị đóng băng trong quá khứ", trong đó cánh hữu chống cánh tả, phe tự do chống phe bảo thủ, người chủmâu thuẫn quyền lợi với người lao động, tăng trưởng kinh tế hủy hoại môi trường, phe ủng hộ chính phủ chống phe đối nghịch... - để tạo ra một "trung tâm năng động". Làm việc với Hội đồng Lãnh đạo Đảng Dân chủ, với người sáng lập và lãnh đạo hội đồng - ông Al From - và với những người khác nữa, Bill trở thành một trong các đảng viên Dân chủ đầu tiên từ thập niên 1980 đã đưa ra một triết lý mới cho Đảng Dân chủ và tổ chức đảng chung quanh một tầm nhìn hiện đại về cách thức hoạt động của chính quyền. Họ ủng hộ mối liên kết với thành phần tư nhân, với công dân để thúc đẩy các cơ hội kinh tế, trách nhiệm cá nhân và một ý thức lớn lao hơn về một cộng đồng chung.

Trong nỗ lực cải tổ Đảng Lao động, Blair cũng đưa ra những chủ đề tương tự ở bên kia bờ Đại Tây Dương. Tôi nhớ mình có mặt ở Luân Đôn cuối những năm 1980 và xem tivi tường thuật Hội nghị chính trị thường niên của Đảng Lao động. Tôi thấy ngạc nhiên khi có quá nhiều đại biểu dùng những từ "comrades" để gọi nhau, một giọng điệu cũ rích của một thời quá khứ đầy tai tiếng đã qua. Sau gần hai thập niên Đảng Bảo thủ nắm quyền, Blair nổi lên vào thập niên 1990 như một gương mặt mới nhiệt tình và năng động của Đảng Lao động. Sau khi được bầu làm Thủ tướng vào tháng 5 năm 1997, Blair ngỏ lời mời Bill đến thăm chính thức Luân Đôn và ở đó, chúng tôi đã trò chuyện với nhau hầu như không dứt.

Tony và Cherie đều là luật sư tập sự và gặp nhau khi cùng làm thư ký cho một hội luật gia nổi tiếng ở Anh. Khi Blair lên làm Thủ tướng vào năm 1997 thì họ đã có với nhau 3 người con. Cherie vẫn tiếp tục theo đuổi sự nghiệp luật sư của mình, từ xử lý các vụ kiện hình sự phức tạp đến việc đại diện cho thân chủ khi ra Tòa Nhân quyền châu Âu. Năm 1995, cô ấy được phong là luật sư của nữ hoàng (QC) - một vinh dự thật to lớn. Và từ1;n nay cô ấy giữ chức vụ thẩm phán. Tôi ngưỡng mộ cách Cherie theo đuổi sự nghiệp của mình, thậm chí có những trường hợp cô ấy phải đối chất với Chính phủ. Cherie chuyên xử lý các vụ việc pháp lý liên quan đến tranh chấp lao động. Nhiều khách hàng của cô ấy thật đáng để người ta chú ý hay thậm chí là đáng để mọi người tranh cãi. Năm 1998, Cherie đứng ra đại diện cho một công nhân đồng tính đang làm cho hãng đường sắt quốc gia để đòi công bằng về quyền lợi như các công nhân bình thường khác. Tôi không thể tưởng tượng nổi liệu một Đệ nhất Phu nhân như tôi có thể đứng ra kiện chính phủ Mỹ trong những vụ việc tương tự như thế.

Với tư cách Phu nhân tân Thủ tướng, Cherie phải gánh thêm áp lực nặng nề từ phía công chúng nhưng cô ấy cũng không thuê thêm nhân viên phụ tá ngoại trừ hai nhân viên sắp xếp lịch làm việc và công việc văn thư làm việc bán thời gian. Dù sao thì vai trò của một Phu nhân Thủ tướng vẫn ít mang tính biểu tượng hơn là một Đệ nhất Phu nhân vì Nữ hoàng hay các thành viên khác của hoàng gia thường phải thực hiện nhiều hoạt động mang tính nghi lễ hơn. Khi tôi và Cherie gặp nhau, cô rất thích nói về cách sắp xếp công việc của mình. Tôi động viên cô hãy cố gắng là chính mình tuy tôi biết rằng điều này không dễ chút nào đối với những con người của công chúng. Tôi cũng động viên cô ấy nên đi theo thiên hướng của mình để dạy dỗ các con, đừng cho chúng bị ảnh hướng nhiều bởi những lời tâng bốc của báo chí. Cherie đã từng có một kỷ niệm bất ngờ với giới báo chí là vào thời gian sau khi Blair đắc cử Thủ tướng, một buổi sáng sớm cô ấy bước ra trước cổng nhà riêng để nhận hoa tặng qua đường bưu điện thì bị chụp ảnh lén trong khi đang mặc bộ đồ ngủ.

Khi Cherie, Tony, Bill và tôi cùng thưởng thức bữa tối và trò chuyện rôm rả tại nhà hàng Le Pont de la Tour, gần ngọn Tháp Luân Đôn trên dòng sông Thames, chúng tôi chia sẻ các ý tưởngvấn đề giáo dục và phúc lợi, mối quan tâm về tác động lan tỏa rộng của truyền thông. Trong buổi ăn tối hôm đó, chúng tôi quyết định sẽ bắt đầu một cuộc thảo luận giữa các cố vấn của chúng tôi để tìm ra những ý tưởng và chiến lược chung.

Việc tổ chức cuộc họp mặt lần đầu tiên mất hết nhiều tháng do có sự phản đối từ phía các quan chức ở cả hai nước. Hội đồng An ninh Quốc gia và Bộ Ngoại giao Anh lo rằng việc này sẽ làm phật lòng các quốc gia va các chính phủ thân hữu khác khi tổ chức các cuộc họp chỉ bao gồm hai nước Anh và Mỹ. Và tôi đưa ra lý lẽ phản bác rằng nếu mối quan hệ được cho là đặc biệt giữa Anh-Mỹ chỉ mang ý nghĩa song phương thì việc tổ chức các cuộc họp không chính thức giữa hai nước sẽ không làm phiền lòng các nước đồng minh khác. Bill và tôi vẫn giữ vững lập trường vì chúng tôi biết rằng mỗi nước sẽ học hỏi được từ nước kia và tạo ra một môi trường chính trị tích cực. Tuy nhiên, chúng tôi cũng sẽ không cứng nhắc. Để hạn chế bớt sự chú ý, Bill sẽ không tham gia cuộc họp đầu tiên mà Tony muốn tổ chức tại Chequers. Chúng tôi cũng quyết định chỉ tập trung vào các vấn đề trong nước, chỉ lướt qua các vấn đề quan trọng trong chính sách đối ngoại giữa hai nước tại cuộc họp song phương và nhận ra rằng trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, các chính sách quốc gia cũng có một ảnh hưởng quốc tế đáng kể.

Danh sách sau cùng về những đại biểu người Mỹ tham gia gồm: Melanne; Al From; Sid Blumenthal, lúc đó đang làm trợ lý cho Tổng thống; Andrew Cuomo, Bộ trưởng Bộ Gia cư và Phát triển Đô thị; Larry Summers, Thứ trưởng Bộ Tài chính; Frank Raines, Giám đốc Ban quản lý ngân sách; cố vấn kiêm người viết diễn văn Don Baer và giáo sư Joesph Nye đến từ Trường quản lý hành chính Kennedy thuộc Đại học Harvard. Blair đã mời Hiệu trưởng Trường Kinh tế Luân Đôn Anthony Giddens và các thành viên chính phủ của ông gồm Gordon Brown - Bộ trưởng Tài chính, Peter Mandelson - Bộ trưởng Không bộ, Nữ công tước Margaret Jay - Phó chủ tịch Viện Nguyên lão (Thượng viện), David Miliband - Giám đốc Chính sách.

Tôi rời Washington vào ngày 30 tháng 10, trạm dừng chân đầu tiên của tôi là Dublin và Belfast. Vị tân Thủ tướng Cộng hòa Ireland, ông Bertie Ahern tố chức một bữa tiệc chiêu đãi tại đền Thánh Patrick ở cung điện Dublin. Là một chính khách tao nhã và hiểu biết sâu rộng, Ahern chứng tỏ được mình là một Thủ tướng giỏi và rất ủng hộ tiến trình hòa bình. Ông ly hôn vợ đã nhiều năm và có quan hệ lâu dài với một phụ nữ đáng yêu và năng động là Celia Larkin. Mối quan hệ này là một trong những bí mật công cộng, ai cũng biết nhưng không ai công khai nói ra. Ông Bertie nhân cơ hội tôi đến thăm để công khai hóa nó. Khi Đại sứ Jean Kennedy Smith cùng tôi bước lên sân khấu để chào quan khách, ông Bertie và cô Celia cũng bước lên theo. Báo chí Ireland sửng sốt như bị điện giật. Khi tôi và Bertie ngưng phát biểu thì họ lao tới các máy điện thoại và máy vi tính. Sau này Susan Garrity, phóng viên thường trú báo Irish Times tại Washington - người đi cùng với tôi để tường thuật về chuyến công cán - kể cho tôi biết rằng cô đã nghe một nhà báo thét vào ống nghe điện thoại: "Tôi đã bảo với anh rằng ông ấy đưa tình nhân của mình lên khán đài đứng cạnh Đệ nhất phu nhân. Anh có thể nào tin đó là sự thật không ? Đúng thế đấy!".

Tin tức động trời này chẳng ảnh hưởng gì đến sự nghiệp chính trị của Ahern, ông đã tái đắc cử vào năm 2002. Nó cũng không phải là chủ đề bàn tán tại bữa dạ tiệc thân mật mà sau đó Bertie, Celia và tôi cùng tham dự với một vài người bạn Ireland. mà tôi rất thích như là Seamus, Marie Heaney và Frank McCourt tác giả của quyển Angela’s Ashes.

Sáng hôm sau, tôi bay đến Belfast để thực hiện một bài diễn thuyết đầu tiên tưởng nhớ bà Joyce McCartan tại Đại học Ulster. Tôi nói về sự cống hiến không mệt mỏi của Joyce cho nền hòa bình và công nhận những người phụ nữ như bà, bất ch những mất mát bản thân, đã đóng góp vào sự hiểu biết ngày càng lớn lao giữa các truyền thống khác nhau trong suốt những giai đoạn khó khăn và hiện đang giữ một vai trò trong tiến trình hòa bình. Tôi rất ngưỡng mộ Monica McWilliams và Pearl Sager - những người đại diện cho phong trào liên minh phụ nữ tại buổi nói chuyện do cựu Thượng nghị sĩ George Mitchell chủ trì theo như chỉ định của Tổng thống Bill.

Trong chuyến đi này, tôi đã trực tiếp chứng kiến tầm quan trọng của các mối liên hệ đang diễn ra giữa Thiên Chúa giáo và đạo Tin Lành tại một hội nghị bàn tròn dành cho các đại biểu thanh niên hai cộng đồng được tổ chức tại tòa nhà Waterfront - một công trình kỷ niệm tinh thần lạc quan về tương lai của Belfast. Những hội nghị kiểu này hỗ trợ tiến trình hòa bình và đưa thanh niên xích lại gần nhau hơn. Họ sống ở những nơi khác nhau và đi học đều đặn một cách nghiêm túc tại các trường dòng. Tôi sẽ mãi nhớ những gì mà một cậu sinh viên đã nói với tôi khi tôi hỏi cậu ta nghĩ cần làm thế nào để có một nền hòa bình lâu dài. Cậu ta nói rằng "Chúng tôi cần được đào tạo cùng nhau cũng như các bạn sinh viên ở Mỹ”.

Nguyên nhân của việc tôi ủng hộ nâng cấp hệ thống trường công theo tiêu chuẩn cao hơn và hiệu quả hơn, chống lại hoạt động làm suy yếu hệ thống trường công thông qua việc thu tiền là vì hệ thống này mang những đứa trẻ thuộc mọi chủng tộc, tôn giáo và hoàn cảnh xuất thân đến gần nhau hơn, đồng thời định hình và duy trì nền dân chủ đa nguyên của chúng tôi. Rất ít quốc gia trên thế giới có thể phát huy lợi ích của nền giáo dục đa chủng tộc như thế. Khi xã hội phát triển ngày càng đa dạng thì điều cực kỳ quan trọng là trẻ em phải được học tập cùng nhau, học cách chấp nhận và tôn trọng những sự khác biệt để củng cố tính nhân đạo chung của con người.

Cùng tham dự hội nghị ở Belfast có Majorie "Mo" Mowlam Tổng thư ký của Tony Blair phụ trách khu vực Bắc Ireland. Thời gian qua, "Mo" vừa kết thúc việc điều trị một khối u lành tính ở vùng đầu làm cho cô ấy rụng nhiều tóc. Cô phải mang tóc giả và sau đó cô hỏi tôi có phiền không nếu cô ấy cởi tóc giả ra. Cô vẫn thường làm thế ngay cả trong các cuộc họp chính thức, để lộ cái đầu hói với vài sợi tóc vàng loe hoe. Tôi thầm nghĩ có lẽ cô ấy nên cắt bỏ hết phần tóc còn lại vì lúc đó trông cô sẽ ấn tượng hơn và cô cũng không cần đội tóc giả trong tư cách đại sứ hòa bình. Và mọi người sẽ thấy rằng Mo là một phụ nữ coi trọng cá tính hơn là ngoại hình. Dù sao, Mo đã trở thành một người bạn mà tôi rất quý mến.

Tôi đáp chuyến bay từ Belfast đi Luân Đôn, rồi lái xe 40 dặm về hướng bắc đến Buckinghamshire, nơi tòa nhà Chequers tọa lạc trên diện tích 1000 mẫu ở vùng ngoại ô nước Anh. Khuôn viên tòa nhà được bao quanh bởi những con đường lát đá và một khu vườn được chăm chút kỹ. Một cánh cổng chính rất to là lối vào khu trang viên lát bằng gạch đỏ dùng làm nơi nghỉ ngơi cuối tuần của thủ tướng từ năm 1921, khi dinh cơ này được giao lại cho chính phủ Anh. Tony đón tôi ở trước cổng tòa nhà trong bộ jeans xanh và nụ cười rạng rỡ đặc trưng của ông ấy.

Vào buổi tối hôm đó, gia đình Blair, Melane và tôi cùng thưởng thức một bữa dạ tiệc thân mật kéo dài đến khuya, ngay cạnh chiếc lò sưởi lớn xây bằng đá tại dinh thự Great Hall, chúng tôi thảo luận rất sôi nổi về hàng loạt vấn đề, từ chuyện Yeltsin và nội các của ông, chuyện nước Pháp đối mặt với Iran và Iraq đến việc Mỹ tham gia vào chiến sự ở Bosnia. Chúng tôi cũng thảo luận về cái mà Tony gọi là "suy nhược cơ thể" đang lan tràn trong cuộc sống hiện thời, và mối liên hệ giữa niềm tin tôn giáo và các hoạt động xã hội. Cả hai chúng tôi đều xây dựng niềm tin chính trị của mình từ gốc rễ đức tin và chính gốc rễ đó đã hun đúc nên sự dấn thân của chúng tôi trong công tác xã hội. Tôi nói về lời nguyện thề của John Wesley mà tôi luôn ghi nhớ như in lần thề nguyện trước đức tin của Hội Giám lý - "Hãy sống và làm càng nhiều việc tốt mỗi ngày bằng hết khả năng của mình" và bàn về cái mà các nhà thần học gọi là "luật nhân quả".

Sáng hôm sau, các thành viên còn lại trong danh sách tham dự của Mỹ và Anh đã có mặt đầy đủ. Cùng ngồi thưởng thức cà phê trên tầng hai của tòa nhà Great Parlor, chúng tôi thảo luận về những chính sách hỗ trợ các hộ gia đình thực hiện chức năng đầu tiên của họ là nuôi con, cũng như những chính sách giáo dục và việc làm.

Sau buổi thảo luận, chúng tôi đi dạo quanh khu vườn, nhìn ngắm đồng cỏ xanh tươi trải dài tận chân trời. Vào cuối mùa thu, khí hậu ở nước Anh thường âm u và ẩm ướt, tuy nhiên, ngày hôm ấy bầu trời lại rất trong xanh và đầy ánh nắng làm cho quang cảnh xung quanh thật rực rỡ. Tôi nhìn ra phía bụi mận gai và các luống hoa hồng được chăm chút cẩn thận và chợt nhận ra rằng tòa Chequers tuy được canh gác cẩn thận nhưng không hề có một bức tường rào cụ thể nào hoặc bất cứ dấu hiệu nào cho thấy đây là nơi cư ngụ bí mật của các thành viên chính phủ.

Vào bữa ăn tối hôm đó, tôi ngồi cạnh bên Tony Giddens - một học giả nổi tiếng với nhiều tác phẩm chuyên viết về Con đường thứ ba. Giddens nói với tôi rằng khi lịch sử đẫm máu của thế kỷ 20 được viết lên thì trong đó việc nâng cao vị trí cho phụ nữ là một mốc mới trong lịch sử, cũng tầm cỡ như sự tiến bộ vượt bậc về khoa học công nghệ và công cuộc phòng thủ thành công cũng như sự tăng trưởng của nền dân chủ Tây phương.

Ngay khi tôi quay về Mỹ thì Sid và tôi truyền đạt lại toàn bộ các sự kiện cho Bill và tôi đề nghị anh ấy hãy tiếp tục quá trình tiến hành các cuộc họp theo đường lối mới. Và anh ấy đã thực hiện. Bill đã tổ chức một cuộc họp tại Phòng Xanh của Nhà Trắng suốt thời gian Thủ tướng Anh Tony Blair vng thăm chính thức nước Mỹ vào năm 1998 và tổ chức các hội nghị tiếp theo tại Đại học New York vào năm 1998 bao gồm các nhà lãnh đạo khác có cùng quan điểm như Tổng thống Ý - ông Romano Prodi và Thủ tướng Thụy Điển - ông Goran Persson và tổ chức hội nghị với Thủ tướng Đức - ông Gerhard Schroeder, Thủ tướng Ý- ông Massimo D'Alema và Tổng thống Brazil - ông Fernando Henrique Cardoso tại Florence vào tháng 11 năm 1999.

Các hội nghị theo đường lối mới này giới thiệu một phương cách mới để chính phủ đàm phán với các đồng minh truyền thống của Mỹ và chúng tôi nghĩ rằng ít có đồng minh nào tốt hơn nước Ý. Bill và tôi đã đến thăm thành phố Tuscany và thành phố Venice của nước Ý vào năm 1987 cùng với đoàn các thống đốc bang và tôi rất mong có dịp quay lại đó. Năm 1994, chúng tôi đến Naples dự hội nghị thượng đỉnh G-7 do Thủ tướng Silvio Berlusconi chủ trì. Tôi đã thực hiện được mong ước của cuộc đời mình là khám phá nền văn hóa nghệ thuật xứ Napoli, thăm đền Pompeii, Ravello và bãi biển Amalfi tuyệt đẹp. Tôi ước gì được nán lại đó lâu hơn hay chí ít là được quay lại đó ngay bây giờ. Tương tự, khi chúng tôi viếng thăm chính thức thủ đô Rome, tôi tận hưởng từng giây từng phút. Và tôi vui mừng khi Florence được chọn là nơi đăng cai hội nghị Con đường thứ ba, được phối hợp tổ chức bởi Đại học New York dưới sự chủ trì của John Sexton, khi ấy là Hiệu trưởng Trường Luật còn nay là Chủ tịch của đại học này.

Những chuyến viếng thăm nước Ý tạo cơ hội cho tôi có thời gian đàm luận với một loạt các Thủ tướng từ Berlusconi, Prodi, D'Alema và Carlo Ciampi, tất cả đều là những đồng minh tốt, đặc biệt là trong vấn đề Bosnia, Kosovo và sự mở rộng NATO.

Ở Palermo, Sicily, tôi tham dự một chương trình huấn luyện về khả năng lãnh đạo của Diễn đàn Tiếng nói sống còn và phát biểu ở nhà hát Opera mới được phục hồi trong một hội nghị do Leoluca Orlando, trưởng thành phố Palermo chủ trì. Orlando tin rằng văn hóa có sức mạnh thay đổi cuộc sống và xã hội. Ông đã lãnh đạo một chiến dịch tiến hành từ cơ sở đế giành lại Palermo từ tay mafia. Ông tổ chức cho học sinh "phụ trách" các tượng đài mà chúng sẽ chăm sóc, coi đó là phương thức tập cho chúng thuần thục với những giá trị của tinh thần trách nhiệm công dân và học hỏi sự tử tế. Ông thường xuyên nói chuyện với các tu sĩ và lãnh đạo doanh nghiệp để khích lệ họ chung tay với ông tiêu diệt sự thống trị của nỗi sợ hãi mà người dân đang phải chịu đựng. Cuối cùng, sau hàng loạt vụ công chức nhà nước bị ám sát một cách dã man, những người phụ nữ ở Palermo đã nhận thức được. Họ treo trên cửa sổ những tấm ra trải giường với dòng khẩu hiệu in đậm: "BASTA - Hãy ngừng tay”. Việc biểu hiện tập thể sức mạnh của họ, kết hợp với những cuộc tuần hành rộng rãi đã làm nổi sóng cuộc chiến đấu lâu dài của người dân Sicily chống lại mafia.

Phương pháp điều hành sáng tạo của Orlando là một tấm gương sống về cách mà Con đường thứ ba giải quyết vấn đề, nó đã mang đến cho người dân sự giải thoát khỏi nỗi sợ hãi và bạo lực. Sẵn sàng tiếp thu những ý tưởng nhằm cải thiện đời sống nhân dân là dấu hiệu của một sự lãnh đạo tốt, tuy nhiên đôi khi người lãnh đạo cũng cần được khích lệ, đặc biệt là khi họ lãnh đạo những nền dân chủ mới, đang nỗ lực vận dụng lần đầu tiên các nguyên tắc về bình đẳng và tự chủ. Chính phủ Mỹ nghĩ rằng những cuộc viếng thăm cấp cao là rất quan trọng trong nỗ lực của chúng tôi nhằm thắt chặt mối quan hệ ngoại giao với các nền dân chủ còn non trẻ. Và đó là lý do tôi phải bay đến Kazakhstan, Kyrgyzstan, Uzbekistan, Ukraine và Nga - cụ thể là Siberia, một trong những nơi hẻo lánh xa xôi mà tôi chưa bao giờ đặt chân tới. Mặc dù vậy, tôi phải đến đó trước hết - một nơi căng thẳng hơn người ta tưởng nhiều.

Và tiếp đó, tôi đi cùng với Kelly, Melanne và Karren Finney - thư ký phụ trách báo chí cho tôi, một phụ nữ trẻ cao ráo, tính hài hước với sức khỏe dẻo đai. Chúng tôi xuất phát từ sân bay Căn cứ Không quân Andrews vào tối Chú nhật ngày 9 tháng 11 trên một chiếc máy bay Boeing 707 từng là chuyên cơ của Tổng thống Mỹ. Máy bay cất cánh được 10 phút, lúc đó tôi đang xem quyển sách hướng dẫn tóm tắt về Kazakhstan - trạm dừng đầu tiên của chuyến đi hôm đó, bỗng một nhân viên phi công nói khẽ với tôi rằng chuyến bay phải quay lại điểm xuất phát do một trong các động cơ máy bay gặp sự cố. Tôi không quá lo lắng vì tôi biết rằng những chiếc máy bay loại này vẫn bay tốt cho dù chỉ còn 3 trong 4 động cơ hoạt động. Và tôi rất tin tưởng ở các phi công của lực lượng không quân, họ là những phi công giỏi nhất thế giới. Rồi tôi tiếp tục đọc sách.

Chúng tôi hạ cánh an toàn xuống sân bay Andrews trên chiếc máy bay chỉ còn 3 động cơ hoạt động và được đón tiếp trong những ánh đèn pha nhấp nháy liên tục của những chiếc xe chữa lửa. Trong lúc các kỹ sư hàng không đang kiểm tra sự cố kỹ thuật thì tôi tranh thủ gọi điện cho Bill thông báo chuyến bay bị hoãn và hy vọng chúng tôi sẽ sớm cất cánh trở lại khi máy móc được sửa xong. Cuối cùng, vài giờ sau chúng tôi biết rằng không thể lên đường trước trưa ngày hôm sau vì vậy chúng tôi phải về nhà lúc nửa đêm. Khi tôi về đến Nhà Trắng thì thấy Bill đang nói chuyện điện thoại với Chelsea, con bé đang nội trú tại trường và vừa xem bản tin "Breaking News" trên trang CNNcom: "Chuyến bay của Đệ nhất Phu nhân bị hoãn lại... nhiên liệu phải vứt bỏ... nhưng mọi người trên máy bay đều an toàn". Mẹ tôi cũng gọi điện đến hỏi thăm vì bà rất lo lắng và muốn nghe tiếng nói của tôi Nhiều bạn bè của tôi gọi đến hỏi thăm khi thấy dòng tít lớn trên tờ The Washington Post CHUYẾN BAY CỦA ĐỆ NHẤT PHU NHÂN BỊ HỦY : CHUYẾN CÔNG DU TRUNG Á BỊ HOÃN. Thông tin báo chí đưa lên rầm rộ như thể tôi vừa phải nhảy dù ra khỏi máy bay vậy.

Hôm sau, chuyến bay tiếp tục sau khi động cơ máy bay đã được sửa chữa xong. Quả thật chuyến bay đó không dành cho những người yếu tim. Chúng tôi đáp xuống một đường băng nhớp nháp không có đèn chiếu sáng, nhìn người ta dùng xẻng xúc tuyết bám trên máy bay, được mời nếm thử đủ loại rượu vodka ở các trạm dừng, mọi lúc mọi nơi. Đó là một trong những chuyến đi nước ngoài có nhiều kỷ niệm khó quên nhất trong suốt thời gian tôi ở tại Nhà Trắng. Đồi núi trập trùng, tươi đẹp một cách bình dị và kỳ lạ, các quốc gia có tên "stan" này là quê hương của Con đường Tơ lụa cổ xưa mà Marco Polo từng đi qua. Những người Kazakh, người Kyrgyz và người Uzbek - vài người vẫn mặc trang phục truyền thống dân tộc - là con cháu của dòng dõi Bộ tộc Vàng, của những chiến binh của Thành Cát Tư Hãn và Đại hãn Kublai. Trong thời hậu Xô viết, họ cố gắng tạo ra một con đường hiện đại giống như Con đường Tơ lụa để các quốc gia và các nền kinh tế của họ có thế tiến vào thế kỷ 21. Mặc dù họ đã bị Nga hóa trong thời kỳ Xô viết nhưng mỗi nước đều bảo lưu được đặc tính dân tộc rõ ràng và một dân số đa dạng đến kinh ngạc.

Kazakhstan là một quốc gia giàu dầu mỏ và khí đốt, có nhiều tiềm năng nâng cao đời sống nhân dân miễn là tệ tham nhũng không bòn rút hết tất cả các nguồn thu nhập của quốc gia. Tôi đến thăm trung tâm sức khỏe phụ nữ do quỹ hỗ trợ nước ngoài của Mỹ tài trợ. Do không có các biện pháp tránh thai nên việc nạo phá thai trở nên phổ biến trong chương trình kế hoạch hóa gia đình dưới thời cộng sản. Chính sách của chính quyền Clinton là làm cho nạn phá thai ngày càng giảm dần, trở nên an toàn và hợp pháp hơn. Chúng tôi khuyến cáo các bà mẹ không nên nạo phá thai và hạn chế các căn bệnh lây qua đường tình dục thông qua chương trình hỗ trợ kế hoạch hóa gia đình và chăm sóc sức khỏe sinh sản. Chính sách này trái ngược với quy định cấm trên phạm vi toàn cầu đã được Tổng thống Reagan ban hành và được áp dụng tiếp bởi Tổng thống Bush (cha), sau đó được bãi bỏ bởi chính quyền Bill vào ngay hôm sau ngày anh nhậm chức Tổng thống (về sau được tái lập bởi Tổng thống George W. Bush (con - ND). Việc tái tục chương trình hỗ trợ của Mỹ bắt đầu phát huy hiệu lực. Các bác sĩ của bệnh viện Almaty cho biết tỉ lệ phá thai và chết trong khi sinh con ngày càng giảm dần, một bằng chứng cho thấy chính sách thực tiễn của chúng tôi về sức khỏe sinh sản có hiệu quả hơn chính sách chống nạo phá thai của Đảng Cộng hòa.

Tôi biết rằng nước Kyrgyzstan - vùng núi tiếp giáp phía đông nam của Kazakhstan - cần viện trợ thuốc men. Làm việc với Richard Morningstar - cố vấn đặc biệt của Tổng thống về chương trình hỗ trợ các quốc gia mới độc lập thuộc Liên bang Xô viết cũ, tôi sắp xếp đưa đến một số khoản trợ giúp nhân đạo - khoảng 2 triệu đô la thuốc tây, dụng cụ y khoa và quần áo.

Đến thủ đô Tashkent của Uzbekistan, tôi gặp ngay Tổng thống Islam Karimov - cựa đảng viên Đảng Cộng sản - một người nổi tiếng độc tài nay quay sang ngưỡng mộ chồng tôi. Ông ấy hỏi tôi rằng làm thế nào mà Bill giữ được quyền lực Tổng thống của mình mà vẫn sống gần gũi với mọi người. Karimov, cũng như thủ lĩnh của các quốc gia mới độc lập khác, chưa có nhiều kinh nghiệm điều hành nền dân chủ. Chưa có một chương trình đào tạo nào cho các nhà lãnh đạo này về "những thói quen của con tim", chính thức và không chính thức, tiềm ẩn sau cái lý thuyết và thực tế áp dụng dân chủ.

Và có một cuộc đấu tranh đang diễn ra nhằm giành lấy trái tim và khối óc của những giáo dân đạo Hồi trên khắp vùng Trung Á. Kanmov bị các nước phương Tây phê phán về việc đã nặng tay với Hồi giáo chính thống, nhưng theo ông thì họ là những phần tử kích động chính trị. Ông mong muốn nuôi dưỡng sự khoan dung giữa các tôn giáo, tôi biết được điều này khi đến thăm khu giáo đường Do Thái mới mở cửa trở lại trong một con hẻm ở Bukhara, một trong những thị trấn buôn bán cổ xưa trên lộ trình giao thương của Con đường Tơ lụa. Tôi gặp một giáo sĩ Do Thái, một người hoạt động như một OB-GYN. Ông đã giải thích làm thế nào mà những tàn dư của cộng đồng người Do Thái thịnh vượng một thời, tính từ thời Diaspora sau khi đền thánh ở Jerusalem bị phá hủy vào năm 70 sau Công nguyên, lại sống sót được dưới thời Mông Cổ và Liên bang Xô viết, để ngày nay được chính quyền Karimov chấp nhận và bảo vệ.

Tại quảng trường Registan ở Samarkand, Karimov nói với tôi bằng một giọng tự hào rằng ngôi trường Hồi giáo lâu đời Shir Dor Madrassa chuyên dành cho nam sinh, đã hoạt động trở lại và sẽ tiếp tục đào tạo các sinh viên về tư tưởng Hồi giáo truyền thống đã bắt rễ ở Trung Á, đối lập với cách diễn dịch giáo lý Hồi giáo du nhập từ các nước Ả-rập đã biến một số người Uzbek thành những người quá khích và hiếu chiến. Ông mô tả các lực lượng muốn gây bất ổn cho chính quyền của ông và thiết lập nên một nhà nước Hồi giáo giống như chính quyền Taliban, sau đó sẽ cai trị luôn nước láng giềng Afghanistan. Mặc dù khuyến khích việc phục hồi các hoạt động tôn giáo nhưng ông vẫn không chấp nhận các hành vi chống đối chính trị do nước ngoài tài trợ nhưng được ngụy trang bởi quyền tự do tín ngưỡng.

Với tư cách một người Mỹ tham quan Trường Shir Dor Madrassas, tôi cảm thấy khó nghĩ. Sau nhiều năm bị Liên Xô đàn áp, các trường tôn giáo này hoạt động lại và phát triển, nhưng tôi lo ngại vì chúng thiếu cơ hội học tập cho các thiếu nữ và vì sự kiện các trường giáo lý Hồi giáo ở nhiều nơi đã trở thành những nhà xuất khẩu các tư tưởng cực đoan quá khích. Những ngày sau vụ khủng bố 11 tháng 9 năm 2001, tôi lại nhớ trường giáo lý Shir Dor và các trường giáo lý khác mà tôi đã thấy. Ngày nay, tên gọi của các trường này làm người Mỹ liên tưởng đến các trại huấn luyện tẩy não dành cho các phần tử cực đoan và những tên khủng bố tiềm ẩn.

Ở các nước đang phát triển, cơ sở hạ tầng về giáo dục cho trẻ con, cả trai lẫn gái phải được ưu tiên và việc đánh giá đúng vai trò của các trường giáo lý trong thế giới Hồi giáo là rất quan trọng. Ở các nước như Pakistan - nơi mà hệ thống trường công rất khó vào - thì các trường Hồi giáo là giải pháp duy nhất của các bậc phụ huynh nghèo nhưng đầy tham vọng về con trai mình, cho dù việc giáo dục trong các trường giáo lý có thể chỉ là học thuộc lòng chữ Ả-rập hoặc kinh Cô-ran. Trào lưu chính thống mới ở châu Á có thể đã bắt nguồn từ những phong trào Ả-rập và các trường giáo lý. Karimov lo sợ ảnh hưởng ngoại bang này, nên đã cố gắng nuôi dưỡng tư tưởng khoan dung tôn giáo vốn đã là đặc điểm của vùng Trung Á trong quá khứ. Nếu Mỹ tăng việc hỗ trợ các trường công không quá khích này thì có thể chúng ta đã có kết quả là tiết kiệm được nhiều tiền và cứu được nhiều sinh mạng hơn vì tránh được những vụ xung đột và khủng bố.

Tin tức về chuyến viếng thăm của chúng tôi lan nhanh khắp vùng Samarkand. Khi Karimov và tôi rời khỏi một dự án do USAID tài trợ nhằm xúc tiến xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ do phụ nữ địa phương sản xuất, chúng tôi thấy một đám đông tụ tập và các nhân viên cảnh sát đang cố ngăn chặn họ. Tôi nói với Karimov: "Ngài Tổng thống biết không, nếu chồng tôi có mặt tại đây thì ông ấy sẽ đến bắt tay những người đó”.

"Ông ấy thật sẽ làm thế?"

"Vâng, bởi vì trong nền dân chủ thì người dân là chủ mà. Bill sẽ đến bắt tay họ không chỉ để bày tỏ sự thân thiện mà còn là vì anh ấy biết mình đang làm việc cho ai."

"Ừ, vậy thì chúng ta đi."

Trước ngạc nhiên của các sĩ quan phụ tá và lực lượng cảnh sát cũng như đám đông, vị Tổng thống bước đến và bắt tay vài người dân Uzbek.

Tôi quay về Mỹ để tổ chức ăn mừng một chiến thắng lớn về mặt pháp lý, đó là việc ký ban hành Đạo luật về Con nuôi và Gia đình Yên ấm vào ngày 19 tháng 11. Cải cách việc nuôi con nuôi và đẩy mạnh việc chăm sóc con nuôi là một vấn đề quan trọng mà tôi đã quan tâm từ những ngày học tại Trường Luật Yale, nơi lần đầu tiên tôi đại diện cho một người mẹ muốn xin con nuôi.

Trong nhiệm kỳ đầu tiên của Bill, tôi cùng làm việc với Dave Thomas, người sáng lập chuỗi nhà hàng thức ăn nhanh Wendy, một đảng viên vững vàng của Đảng Cộng hòa, cùng nhiều lãnh đạo các tổ chức và quỹ từ thiện khác để đẩy mạnh việc cải cách vấn đề con nuôi. Dave từng là con nuôi và đã cống hiến phần sức lực đáng kể của mình để hợp lý hóa hệ thống chăm sóc con nuôi. Vào thời điểm đó, khoảng 500.000 trẻ em Mỹ đang ở trong tình trạng chờ được xin về làm con nuôi, trong đó khoảng 100.000 em không còn gia đình để quay về, và mỗi năm chỉ có khoảng 20.000 em tìm được gia đình nuôi lâu dài. Tôi hy vọng là quy định mới có thể đẩy nhanh tiến trình giải quyết và xóa bỏ các rào cản về mặt pháp lý đang cản trở việc xin con nuôi.

Deanna Mopin, một cô bé đến từ Kansas, người từ lúc 5 tuổi đã bị đưa vào trại trẻ chờ được làm con nuôi sau khi bị lạm dụng ở ngay trong nhà mình, là một trong những diễn giả hàng đầu tại lễ tổ chức Tháng nhận con nuôi quốc gia tại Nhà Trắng vào năm 1995. Cô kể về cuộc sống chung một mái nhà của mình với 9 đứa trẻ khác tại trung tâm trẻ mồ côi với một tâm trạng vừa e thẹn vừa xấu hổ rằng không ai trong số họ được đi xem phim hay mua sắm áo quần mà không có sự cho phép của "chủ trại" và hai nhân viên công tác xã hội. Lần sau tôi gặp lại Deanna thì cô ấy đã đư̖ận làm con nuôi và đã trở thành một phụ nữ trẻ, tự tin và hạnh phúc.

Nhân viên chính sách đối nội của tôi đã làm việc không mệt mỏi với các quan chức chính phủ và thành viên Quốc hội để thảo ra luật mới xung quanh vấn đề nhận con nuôi, bao gồm cả việc khuyến khích tài chính cho các tiểu bang, nỗ lực hàn gắn các gia đình trong các trường hợp thích hợp, rút ngắn khung thời gian ban hành quyết định cho phép nhận con nuôi, cũng như việc chấm dứt quyền làm cha mẹ nuôi nếu trẻ bị lạm dụng hoặc thiếu sự quan tâm chăm sóc. Việc thông qua bộ luật quan trọng này còn mang tính giáo dục. Chúng tôi học được rằng, khi thương thảo với Quốc hội vốn còn nhiều ý kiến bất đồng, nếu đưa ra những vấn đề cụ thể chúng tôi thường tiến tới nhanh hơn là chỉ đề cập tới những sáng kiến rộng lớn như là chăm sóc sức khỏe hoặc cải cách phúc lợi.

Những thay đổi lớn trong bộ luật liên bang về vấn đề con nuôi sẽ đẩy nhanh việc đưa hàng ngàn trẻ em như Deanna từ các trại trẻ mồ côi vào các gia đình an toàn và lâu dài. Theo tờ The Washington Post, "Bộ luật này thể hiện bước chuyển biến căn bản trong triết lý về phúc lợi xã hội dành cho trẻ em, từ quan điểm cho rằng vấn đề quan trọng nhất là đưa trẻ quay về với cha mẹ ruột, sang quan điểm cho rằng sức khỏe và sự an toàn của trẻ mới là điều có ý nghĩa lớn nhất". Một trong những khía cạnh thành công đáng ngạc nhiên nhất của bộ luật là cơ hội làm việc với Tom DeLay - một trong những lãnh tụ cực kỳ bảo thủ, hiệu quả nhất mà cũng thiên vị nhất của Hạ viện. Tuy nhiên về vấn đề này, ông nhất định ủng hộ. Ông và phu nhân của ông rất quan tâm đến vấn đề con nuôi, và sau khi tôi trở thành Thượng nghị sĩ thì chúng tôi có dịp cùng làm việc chung với nhau.

Trong vòng 5 năm sau khi ban hành Đạo luật về Con nuôi và Gia đình Yên ấm, số trẻ em được nhận làm con nuôi đã tăng hơn gấp đôi, v chỉ tiêu của bộ luật. Tuy nhiên, tôi nhận thấy có gần 20.000 thiếu niên bị "quá tuổi” trong các trại trẻ mồ côi khi chúng tròn 18 tuổi mà vẫn chưa được nhận về các gia đình. Ngay khi chúng phải đối mặt với giai đoạn chuyển đổi quan trọng sang thời kỳ tự lập, chúng không còn được nhận trợ cấp tài chính của liên bang và một phần trong số chúng trở thành dân vô gia cư, không có bảo hiểm và các hỗ trợ cần thiết khác. Trong chuyến đi đến Berkeley, tôi có dịp tiếp xúc với một nhóm thanh niên đến từ Hội thanh niên California - một tổ chức giúp đỡ các trẻ lớn ở các trại trẻ mồ côi và những em vừa quá tuổi 18. Họ nhấn mạnh những khó khăn của quá trình trưởng thành mà không có sự hỗ trợ tình cảm, xã hội và tài chính mà gia đình thường cung cấp. Joy Warren, một nữ sinh viên tốt nghiệp đại học xinh đẹp có mái tóc vàng, đã sống gần trọn tuổi "teen" của mình trong các nhà mở tạm thời nhưng vẫn cố gắng tập trung học hành, cô đã được nhận vào trường UC. Berkeley và tiếp đến là Trường Luật Yale. Joy có hai em gái, một đứa còn ở trại mồ côi, điều này đã buộc Joy phải đảm đương trách nhiệm của một người lớn sớm như thế. Cô ấy trở thành một sinh viên thực tập trong văn phòng của tôi ở Nhà Trắng, phụ tá cho các nhân viên trong việc phát triển các bộ luật mới nhằm chỉ ra các nhu cầu của những thanh niên quá tuổi ở trại mồ côi.

Tôi làm việc với John Chafee - Thượng nghị sĩ của Đảng Cộng hòa bang Rhode Island và Jay Rockefeller - Thượng nghị sĩ của Đảng Dân chủ bang Tây Virginia về vấn đề Luật Con nuôi Độc lập năm 1999, trong đó cho phép thanh niên ngoài lứa tuổi được nhận làm con nuôi vẫn có thể hưởng dịch vụ y tế, các cơ hội đào tạo, huấn luyện nghề và trợ cấp chỗ ở, được tư vấn và các hỗ trợ khác.

Vào tháng Mười năm đó tôi bước qua tuổi 50, mặc dù theo nhiều quyển sách tâm lý thì đây sẽ là giai đoạn khó khăn nhưng tôi thấy rằng chẳng có gì khó hơn việc sống xa Chelsea. Cả ngày lẫn đêm tôi bận rộn với các cuộc họp và sự kiện rồi đến những ngày lễ lạt, nhưng một điều rất lạ là tôi cảm thấy khu vực Nhà Trắng trở nên trống vắng khi không có điệu nhạc phát ra từ phòng ngủ của Chelsea và những tiếng cười đùa của bọn trẻ khi chúng ăn bánh pizza trong Phòng Tắm nắng. Tôi nhớ hình ảnh con bé xoay người khi đi dọc hành lang đến tiền sảnh. Đôi khi tôi bắt gặp Bill đang ngồi trong phòng con bé và nhìn quanh tư lự. Tôi phải thừa nhận rằng vợ chồng tôi đang bước vào một giai đoạn mới trong đời sống gia đình - một bước ngoặt trong cuộc sống mà những người ở lứa tuổi chúng tôi thường gọi là hội chứng cô độc. Chúng tôi càng ngày càng thấy trống vắng. Khi có nhiều thời gian đi đây đi đó, giao lưu ngoài xã hội thì chúng tôi thấy không chịu được khi trở về căn nhà vắng vẻ. Vì thế lúc đó chúng tôi cần phải thay đổi không khí gia đình: chúng tôi quyết định nuôi một con chó.

Từ năm 1990, sau khi con chó cộc Zeke chết đi thì chúng tôi không nuôi con chó cưng nào nữa. Chúng tôi đã rất yêu nó và không muốn thay thế vị trí của nó bằng một con khác. Sau đó một thời gian, Chelsea đem về nhà một con mèo tam thể tên là Socks, nó cùng chúng tôi đến sống ở Nhà Trắng và là con mèo duy nhất ở đó.

Tuy nhiên khi Bill tái đắc cử nhiệm kỳ thứ hai và Chelsea sắp đi học xa nhà thì chúng tôi quyết định sẽ nuôi thêm một con chó. Chúng tôi tham khảo sách về chó kiểng, tôi, Bill và Chelsea cùng nghiên cứu xem nên chọn loại chó nào giữa vô số tranh ảnh và chủng loại chó kiểng. Chelsea muốn nuôi một giống chó nhỏ để có thể dắt nó đi dạo, còn Bill muốn một con chó lớn để chạy đua cùng anh ấy. Chúng tôi cùng bàn bạc và cuối cùng quyết định chọn giống Labrador là loại có kích cỡ và tính cách phù hợp nhất cho gia đình chúng tôi ở Nhà Trắng.

Tôi muốn dành tặng Bill món quà Giáng sinh là chú chó này nên tôi chuẩn bị trước mọi việc. Đầu tháng 12, tôi sắp xếp cho Lab, chú chó ba tháng tuổi lông màu sô-cô-la, gặp vị Tổng thống lần đầu tiên. Chú chó con chạy đến nằm gọn trong vòng tay Bill và họ ngay lập tức trở nên rất thân thiết với nhau. Bấy giờ cần phải đặt một cái tên cho nó. Chúng tôi liệt kê một danh sách rất nhiều tên và lựa chọn. Nhiều người viết thư đến đề nghị chúng tôi tổ chức cuộc thi đặt tên cho con vật cưng này. Hai cái tên mà tôi thấy thích nhất là Arkanpaws và Clin Tin Tin.

Quá trình chọn tên ngày càng trở nên khó khăn, và chúng tôi thấy rằng nên nhanh chóng chọn một cái tên cho chú chó cưng của mình. Cuối cùng chúng tôi chọn được một cái tên mà theo chúng tôi rất đơn giản nhưng quý phái, đó là Buddy.

Buddy là "nick name” của một người chú rất thân của Bill - chú Oren Grisham - một người đã dành hết cuộc đời mình cho công việc nuôi và huấn luyện chó, ông vừa mới mất vào mùa xuân vừa qua. Khi Bill lớn lên ở thành phố Hope thì chú Buddy đã cho Bill chơi với đàn chó săn của chú. Khi Bill càng nói nhiều về chú chó cưng mới này thì anh ấy càng nhớ đến người chú của mình và đó cũng là lý do anh ấy đặt tên cho nó là Buddy. Theo tôi, chỉ có một trục trặc nhỏ là một người quản gia của Nhà Trắng có tên là Buddy Carter. Chúng tôi không muốn ông ấy phiền lòng khi chúng tôi đặt tên cho chú chó của mình trùng tên của ông. Tuy nhiên, khi chúng tôi hỏi ý kiến ông thì ông lại rất vui về điều đó. Thật ra thì dĩ nhiên có sự phân biệt lớn giữa hai cái tên ấy. Một lần ông trêu chúng tôi rằng "Buddy đang gặp rắc rối" khi con chó đang xé ngấu nghiến tờ báo, rồi nói "Buddy kia chứ không phải tôi".

Vài tháng sau, khi con chó được đưa đi thiến thì Buddy Carter bước vào khu ở của chúng tôi, vừa lắc đầu vừa nói lẩm bầm "Hôm nay thật chẳng phải một ngày may mắn của Buddy chút nào".

Chú chó xinh xắn nhanh chóng hòa nhập vào cuộc sống hàng ngày của chồng tôi. Nó ngủ vo tròn dưới chân anh trong Phòng Bầu Dục và nó thức rất khuya để canh gác. Cả hai rất vui khi ở cùng nhau bởi vì Buddy có nhiều tính cách giống như Bill. Buddy yêu thương mọi người, có một tính cách r lạc quan, vui vẻ và có khả năng tập trung cao độ một cách phi thường. Buddy mê nhất là hai thứ: thức ăn và banh tennis. Những lúc rượt đuổi quả banh trông nó rất cuồng nhiệt. Nếu không bắt nó dừng lại thì nó sẽ đuổi theo tới cùng để đem quả banh về cho bằng được. Sau khi thức dậy, nó sẽ đòi ăn tối và thức trông nhà.

Buddy nhanh chóng trở thành trung tâm chú ý của cả nhà, điều này là một trở ngại đối với Socks. Nhiều năm qua Socks đã quen được mọi người quan tâm. Một trong những tấm ảnh yêu thích nhất cửa tôi là tấm chụp Socks đang bị vây quanh bởi nhóm phóng viên săn ảnh ở bên ngoài Tòa nhà Thống đốc bang Arkansas trước khi chúng tôi chuyển đến Washington. Thật không may là Socks không thích Buddy. Chúng tôi luôn cố gắng hòa giải và tạo sự thân thiện giữa chúng. Nhưng nếu chúng tôi để chúng ở một mình cùng nhau trong phòng thì không tránh khỏi cảnh Socks uốn cong người gầm gừ Buddy, còn Buddy cũng sẵn sàng rượt đuổi con mèo dưới gầm chiếc trường kỷ. Với cặp móng vuốt bị cắt cùn nhưng Socks không bao giờ bỏ qua bất cứ cơ hội nào để tấn công Buddy và một lần nó đã đá mạnh vào mũi con chó. Cả hai đều có nhiều fan hâm mộ và nhận được rất nhiều thư, hầu hết từ các trẻ em gửi đến bày tỏ sự yêu thích với chúng. Sự thật là tôi đã phải lập những hộp thư riêng biệt cho chúng ở dịch vụ US. Soldiers' và Airmen's Home để trả lời thư của chúng. Năm 1998, tôi đã công bố một số thư gửi đến đề Soks thân mến, Buddy thân mến và phần tiền thu được trao cho Quỹ Công viên Quốc gia, tổ chức từ thiện gây quỹ ủng hộ hệ thống công viên quốc gia.

Giáng sinh đã đến rồi đi mà chúng tôi chẳng hay. Và chúng tôi phải đi đến Hilton Head, bang Nam Carolina để tham gia Renaissance Weekend với 1.500 người gồm bà con và bạn bè.

Tôi mong được gặp lại bạn bè và rất vui về cuộc hội ngộ. Tuy nhiên, tôi cần nghỉ ngơi và tôi cũng náo nức về chuyến đi 4 ngày đến thành phố Saint Thomas đảo Virgin thuộc Mỹ dự kiến ngay sau Tết. Chúng tôi đã đến hòn đảo xinh đẹp trên biển Caribbe này vào năm ngoái và nghỉ lại tại một khách sạn nhìn ra vịnh Magens. Năm nay chúng tôi lại quay về địa điểm cũ và dắt theo Buddy.

Chúng tôi hạ cánh tại một sân bay nhỏ ở thủ phủ Charlotte Amalie, lái xe dọc những con đường cong hình vòng cung một bên là núi với những hàng cây dừa và xoài xanh tươi để đến khu nghỉ mát nằm tách biệt ở phía bắc hòn đảo. Không khí ấm áp và những cơn gió nhẹ của vùng nhiệt đới như chào đón du khách khu nhà nghỉ nằm trên ngọn đồi có những bậc thang lượn vòng dần xuống eo biển nhỏ nhắn phía dưới. Lực lượng bảo vệ mật có trụ sở ở bên cạnh và đội bảo vệ bờ biển đã xua thuyền bè ra khỏi cái vịnh nhỏ để tăng cường an ninh và cả sự riêng tư cho gia đình Tổng thống. Chúng tôi nhìn ra xa ngoài khơi và chẳng thấy dấu hiệu gì của sự sống. Quả là một nơi thật ấn tượng và rất thanh bình.

Giống như những lần đi nghỉ trước, Bill, Chelsea và tôi vẫn giải trí với những trò chơi quen thuộc: chúng tôi chơi bài và chơi trò đố chữ, ghép hình 1.000 miếng. Chúng tôi mang theo nhiều sách để đọc, trao đổi cho nhau và cùng bàn luận trong những bữa ăn thân mật gia đình. Khi thì chúng tôi đi bơi, đi dạo, chạy bộ, đi xe đạp cùng nhau. Bill thường chơi golf bất cứ lúc nào có thể và thường thì những dịp chúng tôi đi nghỉ cũng là vào mùa bóng rổ hay mùa bóng chày nên phòng của chúng tôi không thể thiếu chiếc tivi. Tuy nhiên, chúng tôi không bao giờ ở một mình vì lực lượng bảo vệ mật luôn ở sát bên và đội ngũ phục vụ tháp tùng Tổng thống luôn sẵn sàng phục vụ món ăn hoặc dọn dẹp, mọi lúc mọi nơi. Và dĩ nhiên, nhiều nhân viên cần thiết khác như: bác sĩ, y tá, lực lượng quân sự hỗ trợ, nhân viên báo chí và cố vấn an ninh luôn bên cạnh chúng tôi. Tuy nhiên, chúng tôi đã quen với việc có người hộ tống, họ tôn trọng sự riêng tư của chúng tôi. Nhưng những tay săn ảnh thì không như th̓

Một buổi trưa vào giữa chuyến đi hôm đó, Bill và tôi mặc đồ bơi và chuẩn bị xuống biển tắm. Một tay săn ảnh thuộc hãng tin AFP của Pháp đã núp sẵn trong bụi cây tại bãi tắm công cộng gần vịnh mà chúng tôi không hề hay biết. Hắn ta chắc phải dùng một loại ống kính tê-lê cực xa vì ngay hôm sau bức ảnh chụp chúng tôi khiêu vũ trên biển đã được đưa lên báo khắp thế giới. Mike McCurry, thư ký phụ trách báo chí của Nhà Trắng đã rất tức giận về việc xâm phạm đời tư này và "việc một phóng viên lại núp trong bụi cây và chụp ảnh lén như thế" theo như lời phát biểu trước báo chí. Rõ ràng sự việc này đặt lại vấn đề an ninh cũng như sự riêng tư. Nếu hắn có thể đến gần để chụp ảnh lén với ống kính tê-lê như thế thì hắn cũng có thể bắn bằng một khẩu súng có ống ngắm được. Nhưng Bill thì không tỏ ra thất vọng mà ngược lại anh ấy còn thích bức ảnh.

Có một cuộc tranh cãi trong giới báo chí về việc liệu tay săn ảnh đó có vi phạm đạo đức nghề nghiệp báo chí và xâm phạm sự riêng tư vì những lợi ích đê hèn của anh ta hay không. Điều đó dẫn đến việc một số phóng viên đồn đoán rằng chúng tôi đã dựng cảnh với hy vọng hình ảnh âu yếm của chúng tôi sẽ được ghi hình lại.

Tôi đã phát biểu trong một cuộc phỏng vấn trên radio sau đó một vài tuần rằng, "Tôi không nghĩ là có bất kỳ một người phụ nữ tuổi 50 nào lại mặc áo tắm để chụp hình - mà lại đứng quay lưng về phía ống kính như thế".

Có thể đó là những người có thân hình đẹp dù nhìn ở góc độ nào như là Cher, Jane Fonda hay Tina Turner. Nhưng không phải là tôi.

linton và chính trường nước Mỹ Living history ebook©MotSAch TVE-4u©heoconmtv —★— Nhà xuất bản: NXB Văn Hóa Sài Gòn 2006
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.