Những lời Chia tay của Bill tại Belfast: "Mong tinh thần hòa bình và thiện chí của ngày Giáng sinh sẽ được nuôi dưỡng và phát triển hơn trong mỗi người chúng ta” đã không đến được Washington, nơi mà cuộc chiến giữa các đảng phái vẫn tiếp diễn ngay trong mùa lễ. Vũ hội hàng năm dành cho các thành viên Quốc hội do Nhà Trắng chủ trì vào ngày 5 tháng 12 mà các thành viên tham dự lại chính là những người đang tranh cãi với Bill về ngân sách và cũng chính những người này đã và đang chất hàng đống trát hầu tòa trong văn phòng của chúng tôi. Vậy mà, lần này họ lại nóng lòng đứng xếp hàng dài trong Phòng Tiếp tân Ngoại giao để được chụp hình với chúng tôi. Dĩ nhiên là Bill vẫn nồng nhiệt chào đón họ. Chỉ đến ngày hôm sau, Tổng thống mới tỏ rõ cho những người lãnh đạo Đảng Cộng hòa thấy sự cứng rắn của mình khi phủ quyết dự luật ngân sách mang tính hòa giải đã tranh cãi bảy năm nay mà phe Cộng hòa đưa ra cho năm tài chính 1996.
Đảng Cộng hòa đã đề nghị cắt giảm một cách không thương xót các ngân sách về giáo dục, bảo vệ môi trường và những chương trình giúp đỡ phụ nữ, trẻ em và người lớn tuổi nghèo khó, bao gồm cả Chương trình Hỗ trợ Y tế (Medicaid) và Chăm sóc Sức khỏe (Medicare). Bill đã ký phủ quyết dự luật cắt giảm ngân sách này bằng chính cây viết mà 30 năm trước, Lyndon Johnson đã dùng để ký thông qua lMedicare. Bill chỉ ra rằng "Hai tương lai rất khác biệt của nước Mỹ đang bị đe dọa. Anh biết rằng Đảng Cộng hòa sẽ không đủ số phiếu cần thiết để bác bỏ quyền phủ quyết của Tổng thống và anh đã thuyết phục họ nhượng bộ để cùng thương thuyết với Chính phủ nhằm vượt qua tình trạng bế tắc. Nhưng những thành viên cách mạng mới của Gingrich đã không chịu từ bỏ cuộc đấu tranh hệ tư tưởng của mình nhằm tước đoạt quyền lực của Chính phủ liên bang.
Vào nửa đêm ngày 16 tháng 12, quyền chi tiêu của Chính phủ lại một lần nữa hết hiệu lực. Lần này, Chính phủ bị đóng cửa "một phần” - một vài nhân viên liên bang được cho nghỉ phép hay làm việc không lương cho đến khi Chính phủ mở cửa trở lại. Việc này đã đẩy nhiều người vào tình trạng khó khăn thật sự đặc biệt trong suốt những ngày lễ. Và trước khi Quốc hội nghỉ họp trước kỳ nghỉ Giáng sinh vào ngày 22 tháng 12, phe Cộng hòa của Gingrich đã thể hiện rõ ràng hơn sự nhẫn tâm bằng cách đệ trình một dự luật cải cách triệt để vấn đề an sinh xã hội và nếu được thông qua, nó sẽ đẩy hàng triệu phụ nữ và trẻ nhỏ nghèo khổ rơi vào tình trạng hiểm nguy hơn.
Từ khi chiến dịch tranh cử Tổng thống bắt đầu, các nhân viên của Bill đã từng tranh luận về việc cải cách an sinh xã hội, lúc đó Bill hứa sẽ "thay đổi chế độ an sinh xã hội cũ”. Tôi đồng ý rằng hệ thống đó đã không phù hợp và cần được điều chỉnh, nhưng tôi cũng đã khẳng địnhh rằng chúng tôi chỉ ủng hộ hình thức cải cách nào có thể giúp tạo ra một mạng lưới đủ an toàn để có thể khuyến khích những người nhận trợ cấp xã hội đi làm việc trở lại. Tôi cũng thường xuyên tranh luận với chồng tôi và các nhân viên chịu trách nhiệm cải cách về vấn đề này. Cho dù áp dụng bất kỳ hình thức cải cách nào đi nữa, chúng ta cũng phải giữ lại Chương trình Hỗ trợ Y tế và phải cung cấp dịch vụ chăm sóc trẻ em cho những ngư̖phụ nữ đang đi làm. Mặc dù không can dự vào những cuộc tranh luận công khai trước công chúng nhưng tôi vẫn luôn tích cực tham gia vào các cuộc thảo luận nội bộ của Chính phủ. Tôi nói rõ với Bill và các cố vấn về chính sách thuộc Dinh Tây của anh ấy rằng tôi sẽ công khai phản đối nếu như họ thỏa hiệp với dự luật bần tiện của Đảng Cộng hòa - một dự luật có thể làm phương hại đến phụ nữ và trẻ em. Tôi hiểu rằng Bill đang trong tình thế tiến thoái lưỡng nan và tôi muốn tạo ảnh hưởng đến quyết định của anh ấy. Các nhân viên của Bill và của tôi đã cùng làm việc với nhau và chúng tôi đã thực sự tiến bộ trong việc phản biện lại dự luật của Đảng Cộng hòa. Tổng thống đã phủ quyết dự luật an sinh xã hội của Đảng Cộng hòa như đã hứa.
Cuối cùng những người thuộc phe Cộng hòa phải chịu trách nhiệm cho cả tình trạng bế tắc ngân sách và những lần đóng cửa của Chính phủ. Việc Đảng Cộng hòa ngày càng nhận được ít điểm ủng hộ của dân chúng cũng dẫn đến tình trạng rạn nứt trong mật trận thống nhất của Đảng này. Đến tháng Giêng Thượng nghị sĩ Bob Dole, có vẻ vì lo xa cho chiến dịch tranh cử Tổng thống của mình ở bang New Hampshire nên bắt đầu thỏa hiệp với Chính phủ. Chiến lược "chơi xỏ" của Gingrich đối với Bill đã thất bại và tôi cảm thấy thật nhẹ nhõm vì chúng tôi đã có thể mở cửa Chính phủ và mời các nhân viên trở về làm việc. Điều quan trọng hơn cả là Bill đã thắng thế.
Chỉ có ba điều khoản nhỏ trong Thỏa ước Gingrich được thông qua tại kỳ họp thứ hai của Quốc hội thứ 104 vào ngày 3 tháng 1 năm 1996. Bill đã phủ quyết 11 điều và đã thành công trong việc ngăn chặn được các khoản cắt giảm tai hại đối với Chương trình Medicare và Medicaid. Anh cũng đã cứu sống các chương trình mà Đảng Cộng hòa đã đưa lên thớt như các dịch vụ AmeriCorps và Trợ giúp Luật pháp. Vào khoảng cuối tháng, hai bên đã đi đến một thỏa thuận chung về ngân sách và mở cửa Chính phủ trở lại.
Ủy ban Ngân hàng Thượng viện là cơ quan duy nhất không bị ảnh hưởng bởi những lần đóng cửa Chính phủ vì công việc của họ được xem là "thiết yếu”. Không bị gián đoạn, Ủy ban này đã không ngừng triệu tập những người bạn, luật sư và trợ lý của chúng tôi lên văn phòng Quốc hội để truy tìm các bằng chứng sai phạm. Trong khi đó, các bệnh viện tại bang Virginia lân cận lại bị cấm điều trị hầu hết các bệnh nhân và các nhân viên chính phủ khác thì bị cho nghỉ không lương.
Vào ngày 29 tháng 11, trong khi chúng tôi đang ở châu Âu thì nhân chứng chủ chốt của Đảng Cộng hòa, L. Jean Lewis, bị Nghị sĩ Paul Sarbanes của bang Maryland và luật sư thuộc Đảng Dân chủ của Ủy ban D'Amato, Richard Ben-Veniste, thẩm vấn chéo. Lewis là nhân viên RTC, người đã cùng FBI và viên chưởng lý ở Little Rock lập hồ sơ về vụ chuyển thông tin phạm tội vào tháng 8 năm 1992. Số người bị tình nghi không chỉ có McDouglas mà còn bao gồm tất cả những ai đã đóng góp vào quỹ do McDouglas lập cho Bill ở Madison Guaranty vào năm 1985. Cô ta đã đưa cả Bill và tôi vào danh sách những nhân chứng thích hợp. Ben-Veniste buộc tội Lewis đã có thành kiến chính trị đối với chúng tôi vì cô ta đã đệ trình thông tin này ngay trước cuộc bầu cử năm 1992 để tác động đến kết quả bầu cử. Theo báo cáo cuối cùng về vụ Whitewater xuất bản năm 2002, chính những người của Chính phủ Bush và Bộ Tư pháp đã khuyến khích cho các nỗ lực nhằm đẩy chúng tôi vào một cuộc điều tra hình sự trước kỳ bầu cử.
Để phản bác lời chứng của Lewis trước Ủy ban Ngân hàng, Ben-Veniste đã thẩm vấn chéo Lewis một cách quyết liệt. Họ cho rằng Lewis đã nói dối về việc tình cờ thu âm được cuộc đối thoại của cô với một nhân viên RTC khi người này viếng thăm văn phòng của cô tại thành phố Kansas. Ben-Veniste buộc Lewis tuyên thệ rằng cô ta đã không có bất kỳ thành kiến chính trị nào đối với Bill và chưa bao giờ gọi anh ấyẻ nói dối trong khi bản thân Lewis là một thành viên bảo thủ của Đảng Cộng hòa. Sau đó, ông ta đã trình một lá thư mà chính cô ta đã viết lời cáo buộc Bill vào năm 1992. Những người thuộc Đảng Dân chủ cũng đưa ra bằng chứng về việc Lewis đã cố tình tung ra thị trường những cái áo thun có in những thông điệp mang tính phê phán cả tôi lẫn Bill. Trước khi buổi thẩm vấn kết thúc, Lewis đã ngã quỵ và phải nhờ sự trợ giúp từ phòng dự thính.
Công chúng không được nghe nhiều về chuyện này trong tiến trình phát triển của hài kịch Whitewater. Trong số các kênh truyền hình chỉ có đài C-SPAN đưa tin chi tiết về sự xuất hiện của Lewis. Nhiều ngày sau biến cố về việc làm chứng thất bại đáng nhớ đó, tờ The New York Times lại tiếp tục tạo lòng tin vào những lời cáo buộc không có cơ sở của Lewis và nhắc đến cô ta như một nhân chứng sáng chói. Không nản lòng trước những sự kiện đó, Ủy ban D'Amato tiếp tục điều tra mối liên hệ của tôi với những khoản vay và tiết kiệm của McDouglas. Theo quy định, cuộc điều tra của Ken Starr phải được giữ tuyệt mật nhưng người của ông ta đã chứng tỏ khả năng tuyệt vời trong việc cố tình làm rò rỉ thông tin cho giới truyền thông.
Khoảng cuối năm 1995, Dick Morris đã đến gặp tôi với một thông tin thật kỳ lạ. Ông ta nói tôi sắp sửa bị tố cáo về tội gì chưa được xác định và "những người thân cận của Starr" cho rằng tôi sẽ chấp nhận lời cáo buộc đó và yêu cầu Bill phải ân xá cho tôi trước khi phiên xử diễn ra. Tôi nghĩ Morris đang thăm dò giúp những khách hàng Đảng Dân chủ hay bạn bè của ông ta, vì thế tôi đã trả lời hết sức thận trọng: "Hãy bảo người của ông nói với người của Starr rằng mặc dù tôi không làm điều gì sai trái nhưng tôi luôn ý thức rõ một công tố viên có thể kiện ngay cả một ổ bánh sandwich kẹp jambon nếu anh ta muốn, theo cách nói bất hủ của Edward Bennett Williams. Và nếu Starr muốn kiện, tôi sẽ không bao giờ xin lỗi. Tôi sẽ đi thẳng đến tvà sẽ lột cái mặt nạ dối trá của ông ta."
"Bà có chắc là muốn tôi nói như thế không", Morris hỏi tôi.
"Chắc từng từ một", tôi đáp.
Trong bối cảnh ầm ĩ về chuyện ngân sách và đóng cửa Chính phủ, một tiến triển quan trọng của cuộc điều tra Whitewater đã trôi qua mà không ai để ý: cuối cùng thì những kết quả báo cáo của RTC về vụ Whitewater được công bố đến công chúng ngay trước lễ Giáng sinh. Báo cáo độc lập này đã chứng thực cho luận điểm chúng tôi. Bill và tôi không hề liên quan gì đến việc đầu tư của Whitewater và không phải chịu bất kỳ trách nhiệm pháp lý nào về sự sụp đổ của Madison Guaranty. Sau khi thẩm vấn 47 nhân chứng, lập hơn 200.000 tài liệu và chi 3,6 triệu đô la, những thanh tra của RTC không tìm thấy bằng chứng nào về những sai phạm của chúng tôi cũng như bất kỳ cơ sở thật sự nào về xì-căng-đan Whitewater.
Cũng giống như vụ làm chứng bất tín của Lewis, báo cáo này được đưa tin rất ít trên các phương tiện truyền thông. Tờ US Today không nhắc đến nó một chút nào; tờ The Washington Post giấu nó giữa đoạn hai của một câu chuyện trang bìa về trát đòi hầu tòa Whitewater và tờ The New York Times chỉ in một vài đoạn của bản báo cáo. Đảng Cộng hòa đã gạt bỏ cuộc điều tra RTC vì cho rằng nó quá hạn hẹp và tiếp tục các phiên tòa khác của họ.
Tôi cảm thấy rất phấn khích khi nghe tin này lúc gặp David Kendall tại Nhà Trắng vào sớm ngày 4 tháng 1 năm 1996 trong một cuộc họp định kỳ. David luôn cố gắng làm cho buổi họp nhẹ nhàng bằng cách photo những bài châm biếm chính trị mà anh thích nhất hoặc cắt những câu chuyện lá cải kinh khủng nhất, chẳng hạn như "Hillary hạ sinh em bé ngoài hành tinh" hay bất kỳ những gì mà báo giới có thể tưởng tượng ra trong tuần đó.
Chúng tôi gặp nhau tại Phòng Gia đình, giữa phòng ngủ chính và Phòng Bầu Dục Vàng trên tầng hai của tòa nhà. Gia đình Bush và gia đình Reagan đã từng dùng phòng này để thư giãn và xem tivi còn Harry Trunan và Franklin Roosevelt đã từng dùng phòng này làm phòng ngủ. Riêng Bill và tôi bài trí lại căn phòng với một tivi và một bàn chơi bài, một trường kỷ và một ghế bành. Chúng tôi họp được nửa chừng thì một nhân viên gõ cửa phòng và đưa cho David một tin nhắn, anh ấy gấp nó lại và đút vào túi. Khi chúng tôi nói chuyện xong, David rời căn phòng.
Buổi sáng hôm sau David gọi điện và yêu cầu được gặp tôi.
"Có chuyện gì đó đã xảy ra", anh ta nói.
David giải trình tin nhắn hôm qua là của Carolyn Huber, cô ấy muốn anh ghé qua văn phòng của cô ở Dinh Đông sau khi họp với tôi. Carolyn là phụ tá thâm niên của chúng tôi ở Arkansas, cô đến Washington để xử lý thư từ cá nhân cũng như sắp xếp và lưu giữ các giấy tờ cá nhân của chúng tôi - mọi thứ từ học bạ cũ, những bức hình nghỉ mát đến những bài diễn văn chính - hiện được đựng trong hàng trăm thùng giấy để khắp tòa nhà và một kho chứa đặc biệt của Nhà Trắng tại Maryland. David thường nhờ Carolyn tìm kiếm các tài liệu mà các luật sư độc lập yêu cầu và trong suốt mấy tháng qua cô đã xem hàng ngàn trang tài liệu trong các thùng giấy và hồ sơ.
Khi anh đến văn phòng, cô đưa cho anh một tập hồ sơ. David nhanh chóng nhận ra những giấy tờ đó: một bản in bằng máy tính năm 1992 liệt kê đầy đủ các công việc pháp lý mà tôi và đồng nghiệp ở Hãng Luật Rose đã thực hiện cho vụ Madison Guaranty vào thời điểm 1985 - 1986. Mặc dù những bản kê hóa đơn của vụ Madison Guaranty đã được đính kèm trong trát đòi hầu tòa của Special Counsel, nhưng nơi hợp lý để tìm thấy những bản kê này lẽ ra phải là trong những tủ hồ sơ của HãngRose và ở Madison Guaranty. Tôi và David không ngạc nhiên vì những hồ sơ này bị thất lạc mặc dù chúng tôi đã lo lắng không biết chúng sẽ xuất hiện ở đâu, vì tôi chắc chắn rằng chúng sẽ giúp tôi nhớ lại những công việc pháp lý ít ỏi mà tôi đã làm. Tôi thật sự nhẹ nhõm vì cuối cùng đã tìm thấy chúng.
"Chúng đã biến đâu không biết?", tôi hỏi anh ta.
"Tôi không biết", David nói. "Carolyn đang sắp xếp một thùng hồ sơ thì tìm thấy chúng. Cô ấy đã báo cho tôi biết ngay khi nhận ra chúng."
"Điều này có ý nghĩa gì?", tôi hỏi.
“Vâng, tin tốt là chúng ta đã tìm thấy chúng. Tin xấu là báo giới và các công tố viên sẽ có dịp loạn lên một lần nữa."
Và họ đã làm điều đó. William Safire, người viết diễn văn cho Nixon trước đây, đã gọi tôi là "kẻ nói dối bẩm sinh" trong bài báo của anh ta trên tờ The New York Times. Hình của tôi xuất hiện trên trang bìa của tờ Newsweek với tựa đề THẦN THÁNH HAY TỘI ĐỒ? Và người ta lại nói về chuyện trát đòi hầu tòa của bồi thẩm đoàn và có thể là một bản cáo trạng trong vụ thanh tra Whitewater.
Sau đó chúng tôi kết luận, bản copy danh sách hóa đơn này có lẽ được làm trong suốt thời chiến dịch tranh cử năm 1992 để giúp các nhân viên chiến dịch tranh cử của Bill và Hãng Luật Rose trả lời những cân hỏi của giới truyền thông về vụ Madison Guaranty, Jim McDougal và Whitewater. Vince Foster, người xử lý các thắc mắc lúc đó đã ghi chú nguệch ngoạc lên các tài liệu này. Tôi tin tưởng rằng chúng sẽ chứng thực cho những gì tôi đã nói, rằng những việc tôi làm cho những khoản vay và tiết kiệm của McDougal cách đây nhiều năm trời là vô cùng nhỏ, kịp thời và đã được đền bù.
Ngày 9 tháng 1 năm 1996, với sự giúp đỡ tận tình của các nhân viên phục vụ Nhà Trắng, Phòng Xanh đã được sửa đổi thành một phòng thu hình tạm thời cho cuộc phỏng vấn của tôi với Barbara Walters. Các nhân viên kỹ thuật cho chạy cáp dọc theo sàn nhà và chuẩn bị các trang thiết bị làm cho căn phòng tràn ngập ánh sáng màu vàng thật nhẹ nhàng và vui mắt đến nỗi bức tượng của Benjamin Franklin trên lò sưởi cũng rạng ngời trẻ trung hơn. Tôi nói chuyện thân mật với Barbara trong khi đội quay phim đang điều chỉnh âm thanh và ánh sáng.
Cuộc phỏng vấn vào ngày 9 tháng 1 năm 1996 này đã được lên lịch từ rất lâu trước đó để quáng cáo cho quyển sách It Takes a Village vào đêm trước ngày phát hành. Giờ đây, tôi hy vọng Barbara, một người mà tôi rất thích và khâm phục, đã chuẩn bị sẵn những câu hỏi lý thú. Đây không phải là cách tốt nhất để kích hoạt cuộc du hành giới thiệu quyển sách qua 11 thành phố, nhưng tôi luôn đón nhận cơ hội này để được đáp lại hàng loạt những lời tố cáo nóng hổi nhất. Khi camera bắt đầu quay, cô ấy đã vào thẳng vấn đề.
"Bà Clinton, bà đã trở thành vấn đề thay vì quyến sách mới của bà. Làm sao bà lại để mình rơi vào tình trạng rối rắm này, khi người ta đang nghi ngờ về uy tín của bà?”
"Ồ, tôi tự hỏi mình mỗi ngày, Barbara ạ", tôi nói, "bởi vì điều đó thật sự làm tôi bất ngờ và bối rối. Nhưng trong bốn năm qua cứ mỗi khi người ta đặt câu hỏi thì chúng tôi trả lời và cứ trả lời hết các câu hỏi này thì lại có những câu hỏi khác nữa và chúng tôi lại tiếp tục cố gắng hết sức để trả lời chúng".
"Bà có đau khổ không?"
"Đôi khi tôi cảm thấy một chút đau khổ, một chút buồn r một chút giận dữ, khó chịu. Tôi nghĩ điều đó là tự nhiên. Nhưng tôi biết đó là phần tất yếu của công việc mà chúng tôi đang làm và cố gắng đi đến cùng."
Khi Barbara Walters hỏi tôi về những hồ sơ bị thất lạc, tôi nói : "Bà biết không, tháng trước người ta như bị phỏng lửa vì hồ sơ bị thất lạc và họ nghĩ rằng một ai đó tiêu hủy chúng. Bây giờ hồ sơ được tìm thấy và họ lại như ăn phải vôi. Nhưng tôi mừng là đã tìm thấy những hồ sơ đó. Tôi ước chúng tôi có thể tìm thấy chúng một hay hai năm trước, vì chúng sẽ giúp chứng thực những gì chúng tôi nói ngay từ đầu. Tôi đã làm việc mỗi giờ một tuần trong suốt 15 tháng. Việc đó quả thật chẳng tốn nhiều công sức".
Barbara không thể hiểu được tại sao những tài liệu đó lại khó tìm đến như vậy.
"Những giấy tờ của bà trên kia trông thế nào?”
"Như là....mớ hỗn độn."
"Thật khó hiểu."
"Nhưng tôi nghĩ mọi người cần hiểu rằng có đến hàng triệu giấy tờ ở Nhà Trắng và hơn hai năm qua, người ta đã tìm kiếm rất kỹ lưỡng."
Thật khó để diễn tả sự mất trật tự mà chúng tôi phải sống từ khi dời về ở Nhà Trắng. Chúng tôi đến đây vào năm 1993, tất cả đồ đạc của chúng tôi được đựng trong các thùng giấy; chủ yếu là vì chúng tôi không sở hữu một căn nhà của riêng mình để có thể cất đồ đạc vào kho Chẳng lâu sau khi dọn vào căn nhà, chúng tôi phát hiện người ta đang nâng cấp những hệ thống điều hòa và lò sưởi của Nhà Trắng cho đạt chuẩn về năng lượng môi trường. Chúng tôi phải nhét các thùng đồ và trong các tủ quần áo và các phòng trống trong khi các công nhân chạy đường ống trên trần nhà và những bức tường. Dường như mỗi tuần chúng tôi đều phải di chuyển các thùng đồ một lần, chỉ nhằm đi trước công việc xây dựng một bước.
Suốt mùa hè 1995, công việc lắp đặt đường ống được thực hiện ở tầng thượng và tầng ba, một khu vực phụ gồm các phòng khách, phòng sưởi nắng, một văn phòng, một phòng tập thể dục, một nhà giặt và nhiều nhà kho. Một trong những nhà kho này được chúng tôi gọi là "phòng sách" với nhiều kệ chất đầy số lượng sách quá tải. Nhà kho này có nhiều cửa dẫn đến nhà giặt, phòng tập thể dục và một hành lang nhỏ mà các nhân viên phục vụ thường dùng. Đó là nơi đông đúc nhất trong tòa nhà với nhiều người đi lại suốt ngày đêm. Chúng tôi cho bố trí những cái bàn trong phòng sách để đặt các thùng giấy tờ và đồ đạc cá nhân mà thường được di chuyển qua lại từ một nhà kho ngoài Nhà Trắng đề kiểm tra và lên danh mục. Phòng này cũng chứa nhiều tủ hồ sơ mà Carolyn Huber đang sắp xếp. Tệ hơn nữa là những cái bàn phải được phủ khăn trải để tránh vữa và bụi đổ xuống từ trần nhà trong suốt thời gian sửa chữa.
Mọi thứ càng thêm mất trật tự vì chúng tôi phải liên tục tìm kiếm tài liệu theo đòi hỏi của các trát tòa. David Kendall yêu cầu chúng tôi bố trí một máy photocopy trong phòng sách để ông và các trợ lý có thể photo các tài liệu trước khi gửi chúng đến Văn phòng Luật sư Độc lập. Và đó là nơi mà mùa hè 1995, Carolyn đã làm chứng rằng cô đã thấy xấp giấy được gấp lại trên một trong số những cái bàn trong phòng sách. Carolyn nghĩ rằng đó là những giấy tờ cũ để lại cho cô ấy sắp xếp. Vì không biết rõ tầm quan trọng của những giấy tờ đó nên Carolyn đã bỏ chúng vào trong một thùng giấy và chiếc thùng này đã được chuyển đến văn phòng của cô ấy cùng với nhiều thùng hồ sơ khác mà cô dự định sắp xếp lại khi có nhiều thời gian hơn. Nhiều tháng sau, khi cô ấy bắt đầu sắp xế lại các giấy tờ, cô mở các tờ giấy ấy ra và phát hiện ra đó là những hồ sơ kiện tụng đã bị thất lạc từ lâu.
Carolyn đã có một hành động đáng biểu dương là gọi David ngay lập tức và báo cho anh biết phát hiện của mình. Để hoàn thành tốt công việc, cô ấy đã phải cố gắng rất nhiều mới có thể đáp ứng được hàng loạt các yêu cầu về giấy tờ và hồ sơ hầu tòa. Tôi không nói chuyện với Carolyn về những hồ sơ kiện tụng hay về cuộc điều tra vì không muốn ảnh hưởng đến việc làm chứng của cô ấy. Nhưng tôi hoàn toàn tin tưởng vào Carolyn và biết rõ sự sơ sót của cô ấy là một lỗi không cố ý và đáng thông cảm.
Ngay lập tức, Ủy ban của Thượng nghị sĩ D’Amato tiến hành việc tìm kiếm chứng cớ về việc cản trở và khai man trong việc tìm thấy những hồ sơ kiện tụng nhưng chẳng bao giờ tìm thấy thứ gì. Ủy ban lập tức xin ngân sách cho thêm hai hay ba tháng để hoàn tất cuộc điều tra - vốn đã hao tốn gần 900.000 đô la tiền đóng thuế của nhân dân. Vài tháng sau, RTC lập một hồ sơ bổ sung khẳng định những bản liệt kê hóa đơn đó, điều này đã ủng hộ lời khai của tôi về những hoạt động pháp lý của mình. Tôi không có lý do gì để giấu chúng và lấy làm tiếc là không tìm thấy chúng sớm hơn.
Và thế là mọi chuyện trôi qua. Nhưng các cuộc điều tra và báo chí thì vẫn tiếp tục. Mỗi lần tôi trả lời phỏng vấn của một phát thanh viên hay người dẫn chương trình cho một chương trình nói chuyện buổi sáng để bàn về quyển sách It Takes a Village, tôi lại bị hỏi về những bản liệt kê hóa đơn đó. Thời khắc sáng sủa duy nhất trong tháng là những lúc tôi xuất hiện ở những hiệu sách, trường học, bệnh viện nhi và các chương trình hỗ trợ trẻ em trên khắp đất nước. Ở đó, những đám đông khổng lồ khán thính giả thật nồng nhiệt và thân thiện, đó chính là bằng chứng rõ hơn về sự cách biệt của Washington với phần còn lại của đất nước.
Chính sự cách biệt này là một trong những lý do mà tôi muốn viết quyển sách It Takes a Village. Khi nghĩ đến những áp lực ngày càng tăng mà trẻ em Mỹ phải gánh chịu, tôi cảm thấy choáng về sự vô dụng trong lời nói khoa trương của các phe phái chính trị ở Washington đối với việc giải quyết những vấn đề mà bọn trẻ phải đương đầu.
Niềm tin của tôi vào những gì tốt đẹp nhất cho bọn trẻ và gia đình của chúng không phụ thuộc vào bất kỳ nhóm quan điểm chính trị hay hệ tư tưởng nào và nhiều người mà tôi gặp trong quá trình đi giới thiệu sách đều cảm thấy như vậy. Những người đứng xếp hàng nhiều giờ liền không muốn bàn về những lời vu khống nóng hổi nhất ở thủ đô. Họ muốn nói về những khó khăn trong việc tìm kiếm những nhà trẻ có chất lượng với giá cả phải chăng, những thách thức trong việc nuôi dạy con cái mà thiếu sự giúp đỡ của gia đình, những áp lực trong việc dạy dỗ con cái trong một xã hội mà người ta đề cao những hành vi liều lĩnh và những giá trị méo mó; tầm quan trọng của những ngôi trường tốt và mức học phí đại học vừa phải và một loạt các vấn đề đè nặng trong tâm trí những bậc cha mẹ và những người trưởng thành khác trong một thế giới thay đổi đến chóng mặt như ngày nay. Tôi thật sự xúc động trước những buổi nói chuyện này và hy vọng quyển sách của tôi sẽ thu hút được sự quan tâm của cả nước về những gì tốt nhất mà chúng ta có thể mang lại cho trẻ em Mỹ.
It Takes a Village cung cấp những thông tin về các ý tưởng và chương trình ở cấp độ cộng đồng nhằm cải thiện cuộc sống của trẻ em và gia đình. Thông thường thì một chương rình mẫu trong một cộng đồng không được nhân rộng ở những cộng đồng khác vì thiếu kênh thông tin quảng bá. Vy, một nhóm cha mẹ ở Atlanta phải đến Los Angeles nếu quan tâm đến việc tìm hiểu một chương trình ngoại khóa cải tiến dành cho những thiếu niên có nguy cơ bị xâm hại. Tôi muốn kể lại những nỗ lực thành công của những con người bình thường để mọi người trong cả nước biết đến. Tôi cũng hy vọng mình có thể đóng góp những khoản tiền nhuận bút cho các tổ chức từ thiện vì trẻ em. Cuối cùng, tôi đã đóng góp cho bọn trẻ được gần một triệu đô la.
Chuyến đi giới thiệu quyển sách cũng mang lại cho tôi nhiều khoảnh khắc thú vị. Ở Ann Arbor, Michigan, ngày 17 tháng 1, hàng chục người xuất hiện ở hiệu sách trong trang phục áo thun với dòng chữ "Câu lạc bộ những người hâm mộ Hillary". Ruth và Gene Love, một đôi vợ chồng về hưu từ Silver Spring, Maryland hình thành ý tưởng thành lập câu lạc bộ này từ nhà bếp của họ năm 1992. Đến nay câu lạc bộ đã có hàng trăm thành viên trên khắp đất nước và một vài chi nhánh ở nước ngoài. Gia đình Loves, gọi một cách thân mật, đã trở thành những người bạn tuyệt vời, trước sau như một, và dường như họ biết khi nào thì tôi cần sự hỗ trợ. Họ gửi những người hâm mộ mặc áo thun và mang theo băng rôn chào đón mỗi khi tôi đến.
Ở San Francisco, James Carville mời tôi ăn tối tại một nhà hàng mà ông mới mua. Ông cũng mời một vài người bạn thân nhất của tôi đến dự, chủ yếu là để làm cho tôi vui. Susie Buell, một người bạn vô thần của tôi nói cô không theo dõi hết những bi kịch ở Washington nhưng cô có vài lời để nói với tôi: "Cầu phúc cho tấm lòng của bà". Đó là tất cả những gì mà tôi rất cần nghe.
Trong chuyến đi giới thiệu sách, tôi đã đến nói chuyện tại ngôi trường cũ của tôi, Đại học Wellesley, vào ngày 19 tháng 1 năm 1996 và nghỉ một đêm tại nhà của bà hiệu trưởng tuyệt vời, Diana Chapman Walsh. Ngôi nhà nằm trên bờ hồ Waban, tôi thức dậy sớm, đi dạo dọc theo con đường bao quanh vừa trở về thì David gọi điện báo cho biết Kenneth Starr đã đưa ra một trát đòi hầu tòa, yêu cầu tôi trình diện tại tòa thượng thẩm để làm chứng về vụ những bản kê hóa đơn bị thất lạc. Lần này, Nhà Trắng sẽ không im lặng. Tôi phải ra hầu tòa thượng thẩm một tuần sau đó. Tôi rất bực mình về chuyện này. Tuy nhiên tôi biết mình không được bày tỏ cảm xúc với bất kỳ ai, ngoại trừ Bill và những luật sư của mình.
Melanne đã nài nỉ được đi với tôi vì cô ấy biết chuyến đi giới thiệu sách sẽ rất khó khăn vì nhưng áp lực thường xuyên từ việc phỏng vấn của báo giới. Hành động vì tình bạn này làm hao tổn không chỉ về tài chính mà còn về tinh thần của cô ấy. Melanne đã phải cùng tôi vượt qua những thời điểm khó khăn và phải tự lo phần chi phí của riêng mình. Ngày hôm đó ở Wellesley là một thời điểm đặc biệt khó khăn đối với tôi vì tôi không thể nói cho Melanne biết chuyện gì đang xảy ra. Nhưng cô ấy rất nhạy bén, đã nhận ra tâm trạng lo âu của tôi và giúp đỡ tôi rất nhiều. Tôi sẽ không bao giờ quên lòng tốt và sự trung thành của cô ấy.
Tôi trở về Nhà Trắng với tâm trạng chán nản và bối rối, lo lắng liệu sự kiện này có làm hỏng uy tín còn lại của tôi và ảnh hưởng đến ngôi vị Tổng thống của Bill hay không. Bill thật sự lo lắng cho tôi. Anh ấy bảo rất tiếc không bảo vệ được tôi khỏi tất cả những rắc rối này.
Chelsea cũng lo lắng cho tôi. Con bé theo dõi sát diễn biến của cuộc điều tra, đôi lúc còn nhiều hơn tôi mong đợi. Con bé muốn bảo vệ và làm an lòng mẹ y hệt như tôi muốn che chở cho nó. Thoạt đầu tôi cố gắng tránh cho con bé khỏi phải lo lắng vì những gì mẹ nó trải qua nhưng cuối cùng, tôi nhận thấy con gái mình đã lớn khôn và nó sẽ cảm thấy tốt hơn khi biết tâm trạng của mẹ.
Bill đã khôn ngoan hơn Đảng Cộng hòa trong những lần đóng cửa của Chính phủ nhưng thành công về mặt chính trị này của anh cũng không thể bảo vệ chúng tôi tránh khỏi bị lạm dụng thủ tục pháp lý. Anh cảm thấy bất lực trước Starr và liên minh của ông ta. Giận dữ không phải là trạng thái tâm lý tốt trước một buổi ra hầu tòa. Là một luật sư, điều đó giúp tôi ít nhiều vì tôi hiểu rõ được thủ tục pháp lý. Nhưng tôi không thể ăn ngon ngủ yên trong một tuần trước phiên tòa. Tôi đã sụt gần 5 kg và đó không phải là kết quả của một chế độ ăn kiêng mà tôi mong muốn. Mặc dù tôi không gặp khó khăn trong việc cho lời khai - vì chỉ cần đơn giản và thẳng thắn - nhưng tôi phải tập trung hơn để kiểm soát sự giận dữ trong suốt phiên tòa. Những thành viên bồi thẩm đoàn đang làm vai trò công dân của họ. Họ đáng được nhận sự tôn trọng của tôi, ngay cả khi những luật sư của Starr không đáng được như vậy.
David đã tranh cãi gay gắt với các công tố viên của Starr rằng việc mời tôi ra hầu tòa là phi lý và là một sự lạm dụng về thủ tục pháp lý. Tôi có thể được thẩm vấn riêng trước tòa như trước đây, thậm chí qua băng thu hình. Nhưng Starr đã nài nỉ triệu tập tôi trước trụ sở tòa án. Một trong những mục đích của ông ta là làm bẽ mặt tôi trước công chúng nhưng tôi kiên quyết không để ông ấy làm nhụt ý chí của mình. Có lẽ tôi là Đệ nhất Phu nhân đầu tiên ra làm chứng trước tòa nhưng tôi sẽ làm chuyện đó theo cách của mình. David bảo tôi rằng chúng tôi có thể tránh những phóng viên ảnh và những đội quay phim truyền hình bên ngoài trụ sở tòa án bằng cách lái xe limousine của Sở Mật vụ vào chỗ đỗ xe ở tầng hầm và đi thang máy lên lầu ba. Tôi đã từ chối đề nghị đó. Hành động lẻn vào trong tòa nhà làm cho tôi có cảm giác như mình đang cố che đậy điều gì đó.
Khi xe của tôi dừng lại trước tòa án liên bang khu vực Columbia lúc 1 giờ 45 của buổi chiều lạnh lẽo ngày 26 tháng 1 năm 1996, tôi bước xuống xe, mỉm cư̖vẫy chào đám đông rồi bước vào bên trong trụ sở tòa án liên bang. Tôi biết tôi phải giấu cảm xúc thật của mình về Starr và trò kiện tụng phi lý của ông ta. Suốt cả tuần tôi đã chuẩn bị tâm lý và tinh thần cho khoảnh khắc này. Tôi tự nhủ mình, hãy hít thở thật sâu và cầu Chúa phù hộ. Khi tôi chuẩn bị bước vào phòng bồi thẩm đoàn, tôi vẫy vẫy những luật sư chăm chỉ của mình và nói: "Chào! Tạm biệt, tôi đi gặp đội hành quyết đây!".
Bồi thẩm đoàn họp mặt trong phòng xử án lớn trên lầu ba. Theo những thủ tục liên bang về bồi thẩm đoàn, nhân chứng không được phép đi cùng luật sư của mình vào phòng bồi thẩm. Tôi phải tự xoay xở. Chỉ có hai trong số 23 bồi thẩm viên vắng mặt - mười người là nữ và hầu hết là người Mỹ gốc Phi. Dường như họ khá là tiêu biểu cho nơi mà họ làm việc. Tất cả tám phụ tá của Starr đều trông giống hệt ông ta.
Starr để cho một trong những phụ tá của mình phụ trách phần thẩm vấn trong khi ông ta ngồi ở bàn công tố viên và nhìn tôi chằm chằm. Tôi trả lời tất cả các cân hỏi - lại thật nhiều câu hỏi. Tôi đang ở ngoài hành lang trong lúc giải lao thì một bồi thẩm viên đến và yêu cầu tôi cho chữ ký vào quyển It Takes a Village của anh ta. Tôi nhìn thấy David đang nhe răng cười, rồi tôi ký tên vào quyển sách. Sau đó, tôi được biết viên bồi thẩm ấy đã bị sa thải sau một cuộc điều tra về "sự kiện" đó.
Phiên tòa chấm dứt sau bốn giờ đồng hồ. Trong phòng bên, tôi đã nhanh chóng thuật lại sự việc cho các luật sư của mình, David, Nicole Seligman, Jack Quinn, viên luật sư mới của Nhà Trắng và Jane Sherbume. Chúng tôi bàn về những gì mà tôi sẽ nói với các phóng viên, những người đang nóng lòng chờ tôi. Khi đi về phía lối ra, tôi đi ngang qua các văn phòng và để ý thấy mọi người vẫn còn ở đó: Nhiều người cố nán lại để có thể vẫy tay hay nói điều gì đó để động viên tôi.
Khi tôi bước ra ngoài thì trời đã tối, tuy vậy, tôi vẫn đồng ý trả lời một số câu hỏi ngắn của giới truyền thông. Họ muốn biết cảm xúc của tôi.
"Quả là một ngày dài", tôi nói.
"Lẽ ra bà phải ở một nơi khác trong ngày hôm nay."
"Ồ, khoảng một triệu nơi khác thì đúng hơn."
Khi họ hỏi về những hồ sơ kiện tụng bị thất lạc, tôi bảo họ "cũng giống như mọi người, tôi muốn biết câu trả lời làm thế nào những tài liệu đó lại xuất hiện sau từng ấy năm. Tôi cố gắng hết sức mình để giúp đỡ cuộc điều tra.”
Tôi vẫy chào và lên xe trở về Nhà Trắng. Khi tôi bước vào Phòng khách Ngoại giao, Bill và Chelsea đang đợi tôi, ôm chầm lấy tôi và hỏi thật nhiều về mọi chuyện. Tôi nói rằng tôi mừng vì mọi chuyện đã qua.
Ngày hôm sau trên mặt báo tràn ngập hình ảnh chiếc áo len đen thêu mà tôi mặc ngày hôm đó. Một phóng viên đã lưu ý đến “hình ảnh một con rồng vàng được thêu trên nền đen" của chiếc áo. Điều này gợi cho các bình luận viên Beltway ngẫm nghĩ về ý nghĩa biểu trưng của hình ảnh đó: "Đó có phải là vật tổ? Tôi là một phụ nữ rồng?". Nhà Trắng buộc phải tuyên bố rằng miếng đính trang trí trên áo khoác do Connie Fails, một người bạn ở Little Rock, thiết kế, nó không có một ý nghĩa gì đặc biệt: đó chỉ là một mẫu trang trí trừu tượng mà một nhà báo thời trang đã viết "trông nó giống như một miếng trang trí nghệ thuật mài vỏ sò”. Văn phòng báo chí của tôi nhắc các phóng viên nhớ lại việc cái áo đã được tôi mặc suốt các chương trình khai mạc năm 1993 và không ai bình luận gì về nó nhưng đ cũng không chấm dứt được việc huyên thuyên về chiếc áo. Một phóng viên nhận xét "Cái áo đã biến thành một cuộc kiểm tra Rorschach về chính trị của Washington". Không sai tí nào.
Tối hôm sau, tôi buộc phải có mặt tại buổi ăn tối của Câu lạc bộ Alfalfa, một trong những nghi thức của Washington. Câu lạc bộ này nhóm họp chỉ với một mục đích: tổ chức một buổi bổ nhiệm Tổng thống giả định tại một buổi ăn tối trịnh trọng thường niên. Tôi ngồi trên bục cùng với chồng và một bộ sậu gồm các bộ trưởng nội các và các thẩm phán tòa án tối cao trong phòng tiệc của khách sạn Capital Hilton. Người được bổ nhiệm làm Tổng thống giả định của năm nay là Colin Powell. Ông ta phải đứng dậy chào mừng quý khách danh dự có mặt và đọc diễn văn "Thưa quý ông, quý bà, những thành viên cực đoan của Đảng Cộng hòa, những thành viên Đảng Dân chủ và những người tầm thường khác, những vị khách bị mời ra hầu tòa". Tôi cho là ông ta muốn nói đến tôi. Tôi giơ tay lên và cười khi Powell mỉm cười một cách ranh mãnh với tôi. Khi Powell hoàn thành bài diễn văn, một trong những cố vấn hàng đầu của Bill đi về phía tôi và thì thầm: "Trường hợp của bà quá là chuyện nhỏ trừ phi bà phải ra làm chứng trước bồi thẩm đoàn ít nhất năm lần như tôi" .