Ngày 25 tháng 1, Bill mời tôi cùng hai vị khách nữa dùng cơm trưa tại phòng nghiên cứu nhỏ của Tổng thống nằm gần Phòng Bầu Dục. Đó là Carol Rasco, người cố vấn mới đặc trách về chính sách đối nội của Nhà Trắng, từng phục vụ chính quyền của Bill hồi còn ở Arkansas và người bạn cũ của chúng tôi - Ira Magaziner, một nhà tư vấn kinh doanh thành đạt, cũng là người đã thực hiện đề tài nghiên cứu mang tính đột phá về các chi phí chăm sóc y tế.
Với dáng người cao, gầy nhom và dễ mến, Ira rất hay lo lắng ngay cả những lúc tình hình tốt đẹp. Vào ngày hôm đó, ông ấy dường như rất băn khoăn. Trong vài giờ đồng hồ, Bill đã lên kế hoạch công bố thành lập một lực lượng đặc nhiệm phụ trách về chăm sóc y tế và thông báo rằng nhóm này sẽ lập ra các quy chế pháp lý cho việc cải cách trong 100 ngày đầu tiên của anh trên cương vị Tổng thống. Một vài nhân viên Nhà Trắng biết rằng Bill đã yêu cầu tôi làm chủ tịch của lực lượng đặc nhiệm này và Ira sẽ điều hành các hoạt động hàng ngày với tư cách là cố vấn cao cấp của Tổng thống về vấn đề chính sách và lập kế hoạch. Ira biết công việc mới của mình chỉ mười ngày trước khi nhậm chức. Bill muốn tiếp cận với ông cuộc cải cách hệ thống chăm sóc y tế từ một góc độ mới, còn Ira, với sự thông minh và sức sáng tạo của mình, ông lại có sở trường tìm tòi những phương pháp sáng tạo khi nhìn vào vấn đề. Ông cũng tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực tư nhân khi còn làm chủ một doanh nghiệp tư vấn ở bang Rhode Island và đã từng tư vấn cho các công ty đa quốc gia những cách thức đề đạt được năng suất và khả năng sinh lãi cao.
Sau khi những người phục vụ mang thức ăn từ Phòng ăn của Nhà Trắng đến cho chúng tôi, ông Ira cho biết những thông tin rất đáng lo ngại: một số cựu binh ở Điện Capitol cảnh báo ông rằng lịch trình soạn thảo dự luật cải cách hệ thống chăm sóc y tế trong 100 ngày của chúng tôi là không thực tế. Tuy nhiên, thắng lợi trong cuộc bầu cử của ông Harri Wofford, tân Thượng nghị sĩ của Đảng Dân chủ từ bang Pennsylvania, đã cổ vũ động viên chúng tôi rất nhiều. Ông Harris Woffrod cũng là người tham gia vận động cho chương trình hành động về chăm sóc y tế, và thường tuyên bố trước đám đông rằng: "Nếu tội phạm có quyền có luật sư, thì những người dân lao động Mỹ có quyền có bác sĩ". Nhưng ông Ira lại có những thông tin khác.
Ira không đụng đến phần sandwich của mình, ông nói: "Họ nghĩ chúng ta sẽ bị tiêu diệt. Chúng ta cần ít nhất là 4 đến 5 năm để lập một kế hoạch trọn gói có thể được Quốc hội thông qua."
Tôi đáp lại: "Một vài người bạn của tôi cũng nói vậy". Tôi quan tâm về vấn đề này trong một thời gian rất dài, cả trước khi Bill và tôi cùng tham gia chính trường, và tôi tin rằng việc tiếp cận với một hệ thống chăm sóc y tế có chất lượng và chi phí hợp lý là quyền lợi cần phải được bảo đảm của các công dân Mỹ. Tôi biết là Ira cũng nhận thấy như vậy. Điều này giải thích lý do tại sao tôi không gào lên và bỏ chạy ra khỏi phòng khi lần đầu tiên B đề cập đến ý tưởng tôi làm lãnh đạo cho một lực lượng đặc nhiệm và làm việc với ông Ira theo sáng kiến mang dấu ấn của Chính phủ Clinton. Vào ngày hôm ấy, sự lạc quan bất tận và quyết tâm của Bill đã khiến tôi ngồi yên trên ghế của mình. Bill nói: "Tôi cũng nghe thấy điều đó. Nhưng chúng ta phải cố gắng. chúng ta phải làm cho công cuộc cải cách đi vào hoạt động".
Có nhiều lý do rất thuyết phục để thúc đẩy mọi việc tiến về phía trước. Vào thời điểm Bill trở thành Tống thống, 37 triệu người dân Mỹ, hầu hết trong số họ là nhân dân lao động và con cái của họ, đều không được bảo hiểm. Họ không thể tiếp cận được với hệ thống chăm sóc y tế cho đến khi lâm vào tình trạng khủng hoảng sức khỏe. Ngay cả với những chứng bệnh thông thường họ cũng chen nhau đến một phòng cấp cứu, nơi chi phí chăm sóc đắt nhất, hoặc họ gần như phá sản khi cố gắng thanh toán chi phí cấp cứu y khoa bằng tiền của chính họ. Đầu thập niên 1990, mỗi tháng có một trăm nghìn người Mỹ mất chế độ bảo hiểm y tế và hai triệu người bị mất chế độ bảo hiểm tạm thời do họ thay đổi công việc. Những doanh nghiệp nhỏ không thể nào đăng ký bảo hiểm y tế cho nhân viên bởi vì chi phí trả cho việc chăm sóc y tế quá lớn. Và chất lượng chăm sóc y tế cũng bị ảnh hưởng theo: trong nỗ lực kiểm soát các khoản chi phí, các công ty bảo hiểm thường từ chối hoặc trì hoãn thanh toán cho các khoản điều trị do các bác sĩ chỉ định, nhằm phục vụ cho mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp.
Việc tăng các chi phí chăm sóc y tế đang hủy hoại nền kinh tế quốc gia, làm suy yếu năng lực cạnh tranh của nước Mỹ, làm giảm sút mức lương công nhân, gây gia tăng tình trạng phá sản tư nhân và dẫn đến tình trạng lạm phát thâm hụt ngân sách chính phủ. Ở góc độ quốc gia, chúng ta đang chi tiêu nhiều hơn vào việc chăm sóc y tế - chiếm 14% GDP của cả nước - nhiều hơn bất kỳ quốc gia công nghiệp nào khác. Năm 1992, 45 tỉ đôla trong chi phí chăm sóc y tế được dùng vào các khoản chi quản lý, hơn là vào việc trả cho bác sĩ, y tá, bệnh viện, bệnh xá hoặc cơ sở chăm sóc y tế khác để bệnh nhân được chăm sóc trực tiếp.
Cái vòng khủng khiếp tăng chi phí, giảm bảo hiểm là kết quả của việc tăng số lượng người dân không có bảo hiểm. Họ ít khi có đủ khá năng thanh toán các khoản chi phí y khoa bằng tiền túi của mình, vì thế bác sĩ và bệnh viện phải gánh lấy chi phí điều trị. Đến lượt bác sĩ và bệnh viện phải tăng giá để bù đắp cho những khoản chi phí chăm sóc cho những bệnh nhân không được bảo hiểm hoặc không thể trả viện phí, đó là lý do tại sao mà những viên thuốc aspirin trị giá 2 đô la và những cái nạng cho người tàn tật trị giá đến 2.400 đô la thỉnh thoảng lại xuất hiện trên các hóa đơn viện phí. Những công ty bảo hiểm, do đương đầu với việc phải chịu chi phí cho bác sĩ và bệnh viện cao hơn nên họ bắt đầu cắt bớt nội dung bảo hiểm đồng thời tăng phí bảo hiểm, tăng các khoản mà bảo hiểm có các khấu trừ và các khoản đồng thanh toán cho những người được bảo hiểm. Do phí bảo hiểm tăng nên số công ty sẵn sàng hoặc có thể đóng bảo hiểm cho công nhân của mình cũng trở nên ít hơn, vì vậy sẽ có nhiều người không được hưởng chế độ bảo hiểm nữa. Và cái vòng luẩn quẩn đó lại tiếp tục.
Việc giải quyết những vấn đề này rất quan trọng đối với sự sống của hàng chục triệu dân Mỹ và cả đất nước nói chung. Nhưng chúng ta đều biết nó đang trở thành một trận chiến đầy khó khăn gian khổ. Gần trọn thế kỷ 20, các đời tổng chống đã cố gắng cải cách hệ thống chăm sóc y tế của đất nước và đạt được những thành tựu nhất định. Gần một thế kỷ trước Tổng thống Theodore Roosevelt và các nhà lãnh đạo Đảng Cấp tiến nằm trong số những người đầu tiên đề nghị thực hiện chế độ bảo hiểm y tế toàn bộ. Năm 1935, Tổng thống Franklin D. Roosevelt hình dung hệ thống bảo hiểm y t quốc gia giống như một phần bổ sung cho Chính sách An sinh Xã hội, nền tảng của Chính sách Kinh tế Xã hội Mới (New Deal). Ý tưởng này không đi tới đâu, phần lớn là do sự phản đối của Hiệp hội Y khoa Mỹ (AMA) - một nhóm vận động hành lang đại diện cho các bác sĩ trong nước - là những người vốn sợ chính phủ can thiệp quá sâu vào nghề nghiệp của họ.
Tổng thống Truman đã đề cập đến lý do cần phải phổ biến rộng rãi hệ thống chăm sóc y tế trong chương trình cải cách xã hội Fair Deal của ông, đồng thời ông cũng đưa điều này vào chiến dịch vận động tranh cử năm 1948. Tổng thống cũng gặp sự phản đối vốn được tổ chức tốt và được tài trợ dồi dào của AMA, Phòng Thương mại Hoa Kỳ và những người phản đối chế độ bảo hiểm y tế về mặt ý thức hệ cản trở. Họ cho rằng chế độ bảo hiểm y tế có liên quan với chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội. Vào lúc đó cũng như bây giờ, những người chống đối cũng tin rằng hệ thống chăm sóc y tế hiện hữu đang hoạt động khá tốt, bất chấp một nghịch lý là nước Mỹ chi tiền vào hệ thống này nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác nhưng lại không cung cấp chế độ bảo hiểm y tế cho mọi người dân. Sau khi thất bại, không vượt qua được phe đối lập, Tống thống Truman đã đề nghị một ý tưởng ôn hòa và thực tế hơn: cung cấp chế độ bảo hiểm y tế cho những người được hưởng chính sách An sinh Xã hội.
Trong suốt những năm 1940 và 1950, các tổ chức công đoàn đã thương lượng những khoản trợ cấp chăm sóc y tế trong các hợp đồng mà họ thương thảo cho công nhân. Giới chủ doanh nghiệp bắt đầu thực hiện trợ cấp y tế cho những nhân viên không phải là công đoàn viên. Điều này dẫn đến tình trạng hệ thống chăm sóc y tế dựa trên chủ doanh nghiệp mà theo đó, phạm vi bảo hiểm ngày càng gắn kết với việc thuê mướn nhân công.
Năm 1965, sáng kiến về Xã hội Vĩ đại (Great Society) của Tổng thống Johnson đã dẫn đến sự hình thành Chương trình Hỗ trợ Y tế (Medicaid), Chương trình Chăm sóc Sức khỏe dành cho người cao tuổi (Medicare). Theo đó, chính quyền liên bang tài trợ bảo hiểm y tế cho hai nhóm đối tượng ít có khả năng tiếp cận với các dịch vụ y tế là nhóm người nghèo và nhóm người cao tuổi. Các chương trình này phục vụ cho 76 triệu người hôm nay. Nỗ lực của Tổng thống Johnson, có được nhờ thắng lợi vang dội của ông trong cuộc bầu cử năm 1964 và số đảng viên Đảng Dân chủ chiếm đa số ở Quốc hội, biểu hiện thành công to lớn nhất trong vấn đề chăm sóc y tế ở thế kỷ 20 và thể hiện việc hiện thực hóa mục tiêu của Tổng thống Truman.
Được hỗ trợ tài chính từ nguồn đóng góp lương của các công nhân, chương trình Chăm sóc Sức khỏe đã giảm bớt gánh nặng cho những người trên 65 tuổi bằng cách giúp họ tiếp cận được với các dịch vụ khám bác sĩ và bệnh viện. Mặc dù chương trình Chăm sóc Sức khỏe không hỗ trợ các loại thuốc được bác sĩ kê đơn - mà đáng lẽ là nên như vậy - nhưng nó vẫn là một dịch vụ rất quan trọng và phổ biến đối với những người cao tuổi, đồng thời các chi phí quản lý của chương trình này thấp hơn rất nhiều so với những chi phí của các công ty bảo hiếm y tế đưa ra. Chương trình Hỗ trợ Y tế thanh toán chi phí chăm sóc cho những người nghèo khổ nhất và những người tàn tật. Chương trình này được đồng trợ vốn từ chính phủ liên bang và chính quyền từng bang, do bang quản lý theo các quy định của liên bang. Chương trình này dễ bị tác động bởi yếu tố chính trị hơn. Chương trình Chăm sóc Sức khỏe vì người nghèo có ít sức mạnh chính trị hơn người cao tuổi. Chương trình Hỗ trợ Y tế đã trở thành điều may mắn bất ngờ đối với nhiều người dân Mỹ, đặc biệt là đối với trẻ em và phụ nữ mang thai.
Tổng thống Nixon đã nhc động của các khoản chi phí về chăm sóc y tế đối với nền kinh tế và ông đã đề xuất một hệ thống chăm sóc y tế phổ quát dựa trên cái gọi là "sự ủy quyền thuê mướn nhân công": tất cả các chủ doanh nghiệp sẽ phải thanh toán những khoản trợ cấp có giới hạn cho nhân viên của mình. Mặc dù có khoảng 20 đề xuất khác nhau về vấn đề chăm sóc y tế được đưa ra trước Quốc hội trong suốt thời gian điều hành của Tổng thống Nixon, nhưng không có đề xuất nào mang tính phổ quát nhận được đa số phiếu thuận của một ủy ban Quốc hội mãi cho đến gần 20 năm sau, năm 1994.
Các đời Tống thống Ford và Carter - một vị thuộc Đảng Cộng hòa, người kia thuộc Đảng Dân chủ - cũng theo đuổi công cuộc cải cách hệ thống chăm sóc y tế trong những năm 1970 nhưng họ lại bị vướng vào những cản trở về mặt chính trị giống như nhau và cuộc cải cách của họ bị đình lại trong gần hết thế kỷ 20. Qua nhiều thập niên, nền công nghiệp bảo hiểm y tế đã dần tăng trưởng và trở nên mạnh mẽ. Nhiều công ty bảo hiểm phản đối việc cung cấp bảo hiểm phổ quát vì họ sợ điều đó có thể hạn chế khoản tiền mà họ có thể tính phí và hạn chế khả năng gạt bỏ những bệnh nhân có độ rủi ro cao. Một vài công ty cho rằng việc cung cấp bảo hiếm cho đại đa số dân chúng nghe giống như hồi chuông cáo chung cho lĩnh vực bảo hiểm tư nhân.
Những sự kiện xảy ra trong lịch sử có chiều hướng chống lại Bill vì thái độ đối với vấn đề cải cách hệ thống chăm sóc y tế rất khác nhau, thậm chí giữa những đảng viên Đảng Dân chủ. Như một chuyên gia cho rằng những ý kiến này là "ảnh hưởng thần học" và do vậy không hiểu được những lý lẽ, chứng cứ hoặc tranh luận. Nhưng Bill cảm thấy anh phải cho công chúng và Quốc hội thấy rằng anh có một quyết tâm chính trị để tiến về phía trước và giữ đúng lời hứa khi tranh cử là sẽ có hành động ngay đối với vấn đề chăm sóc y tế. Công cuộc không chỉ là một chính sách công tuyệt vời giúp cho hàng triệu người dân Mỹ mà còn gắn bó chặt chẽ với việc làm giảm thâm hụt ngân sách.
Tôi chia sẻ những mối lo ngại sâu sắc của Bill về nền kinh tế đất nước và sự thiếu tinh thần trách nhiệm về tài chính trong suốt 12 năm qua, dưới thời Tổng thống Reagan và Bush. Những dự báo về thâm hụt ngân sách gần đây của Chính quyền Bush đã che giấu vấn đề thâm hụt trong thực tế bằng cách đánh giá quá thấp ảnh hưởng của một nền kinh tế trì trệ, ảnh hưởng của các chi phí về chăm sóc y tế và việc chi tiêu của liên bang vào những khoản tiết kiệm và các khoản cho vay cứu trợ tài chính. Những chi phí này góp phần làm gia tăng thâm hụt dự kiến lên đến 387 tỉ đô la trong hơn 4 năm - cao hơn đáng kể so với con số ước tính khi Tổng thống Bush rời khỏi Nhà Trắng. Nhưng ngoài mối lo ngại về vấn đề ngân sách, tôi tin rằng việc cải cách hệ thống chăm sóc y tế có thể làm giảm bớt nỗi thống khổ của người dân lao động trên khắp đất nước giàu đẹp của chúng ta. Là Phu nhân của một Thống đốc bang, và hiện là Phu nhân một Tổng thống, tôi không phải lo lắng về việc không tiếp cận được với hệ thống chăm sóc sức khỏe cho gia đình mình. Nhưng tôi không nghĩ là những người khác cũng có thể tiếp cận được một hệ thống như thế.
Những kinh nghiệm của tôi khi còn làm việc trong Ủy ban phụ trách Bệnh viện Nhi Arkansas và chủ tịch lực lượng đặc nhiệm của bang về chăm sóc y tế ở vùng nông thôn đã giúp tôi hiểu được những vấn đề tồn tại trong hệ thống chăm sóc y tế của chúng ta. Chúng bao gồm những khía cạnh chính trị tế nhị của vấn đề cải cách và những tình huống khó xử về vấn đề tài chính mà những gia đình gặp phải do họ "quá giàu” để có thể được hưởng chế độ trợ giúp người nghèo của chương trình Hỗ trợ Y tế nhưng lại "quá nghèo" để có thể thanh toán được các khoản chăm sóc y tế của chính mình. Trong những năm 1980, tôi đã đi khắp bang vòng quanh nước Mỹ trong suốt chiến dịch vận động tranh cử tống thống. Tôi đã gặp nhiều người Mỹ khiến tôi càng tin rằng chúng tôi phải sửa chữa lại những sai sót của hệ thống chăm sóc y tế. Lời cam kết của Bill về việc thực hiện cuộc cải cách đã thể hiện niềm hy vọng lớn nhất của chúng tôi là đảm bảo cho hàng triệu phụ nữ và đàn ông lao động vất vả có được một chế độ chăm sóc y tế mà họ xứng đáng được hưởng.
Bill, Ira, Carol và tôi bước ra khỏi Phòng Bầu Dục, đi ngang qua bức tượng bán thân Tổng thống Abraham Lincoln do Augustus Saint-Gaudens sáng tác và băng qua hành lang hẹp dẫn đến Phòng Roosevelt, nơi có đông đảo các Bộ trưởng trong nội các, quan chức cao cấp của Nhà Trắng cùng các nhà báo đang đợi để thực hiện một việc mà theo như lịch trình chính thức đã liệt kê là "họp lực lượng đặc nhiệm".
Bước vào Phòng Roosevelt là bạn đang quay trở ngược lại với lịch sử nước Mỹ. Bạn sẽ bị vây quanh bởi những biểu ngữ của từng chiến dịch quân sự của Mỹ và những lá cờ của mỗi đơn vị thuộc Lực lượng Vũ trang Hoa Kỳ, những bức chân dung của các Tổng thống Theodore, Franklin Roosevelt và huy chương Giải thưởng Nobel về Hòa bình mà Tổng thống Theodore Roosevelt đã đoạt được vào năm 1906 vì đã làm trung gian hòa giải cho cuộc Chiến tranh Nga - Nhật. Trong suốt thời gian chúng tôi ở Nhà Trắng, tôi đã thêm vào một bức tượng bán thân bằng đồng - tượng bà Eleanor Roosevelt với tư cách là một thành viên "nhà Roosevelt" - để những đóng góp của bà cũng được công nhận trong căn phòng mang họ Roosevelt.
Trong căn phòng lịch sử này, Bin tuyên bố rằng chính quyền của anh sẽ đệ trình một kế hoạch cải cách hệ thống chăm sóc y tế cho Quốc hội trong vòng 100 ngày - một kế hoạch "sẽ thực hiện những biện pháp mạnh để kiểm soát các chi phí chăm sóc y tế ở Mỹ và bắt đầu đưa hệ thống chăm sóc y tế đến với mọi người dân Mỹ có nhu cầu
Tiếp sau đó, anh thông báo rằng tôi sẽ chủ trì một Lực lượng đặc nhiệm mới thành lập của Tổng thống về vấn đề Cải cách Hệ thống Chăm sóc Y tế Quốc gia, gồm có các Bộ trưởng Y tế, Tài chính, Quốc phòng, Bộ Thương mại và Bộ Lao động, các Giám đốc Hiệp hội Cựu Chiến binh và Giám đốc Văn phòng Quản lý Ngân sách cùng các quan chức cao cấp khác của Nhà Trắng. Bill giải thích là tôi sẽ làm việc với Ira, nội các và những người khác để thực hiện những vấn đề mà anh ấy đã vạch ra trong chiến dịch tranh cử và trong bài diễn văn nhậm chức của mình. "Chúng ta sắp phải thực hiện những lựa chọn khắc nghiệt để có thể kiểm soát các khoản chi phí chăm sóc y tế... và để cung cấp hệ thống chăm sóc y tế cho tất cả mọi người", anh nói, "Tôi rất cảm kích, không chỉ vì Hillary đã đồng ý chủ trì lực lượng đặc nhiệm, mà còn vì cô ấy sẽ luôn chia sẻ lòng nhiệt huyết hăng hái, điều mà tôi hy vọng nhìn thấy ở các bạn".
Ngọn lửa nhiệt huyết ấy đã lan tỏa khắp mọi nơi. Lời tuyên bố của anh làm mọi người trong Nhà Trắng và các cơ quan liên bang ngạc nhiên. Một vài nhân viên của Bill nghĩ rằng tôi sẽ được bổ nhiệm làm cố vấn về chính sách đối nội (dù Bill và tôi chưa từng thảo luận về vấn đề này). Những người khác cho rằng tôi sẽ đảm nhận vấn đề giáo dục hoặc về sức khỏe của trẻ em, phần lớn là bởi vì tôi có nhiều kinh nghiệm trong những lĩnh vực này. Lẽ ra chúng tôi nên nói cho mọi người biết nhưng nhưng thông tin nhạy cảm nội bộ đang rò rỉ ra ngoài Nhà Trắng, vì thế Bill muốn tự mình truyền đạt thông tin và trả lời câu hỏi đầu tiên được nêu ra.
Nhiều phụ tá trong Nhà Trắng cho rằng đó là một ý tưởng tuyệt vời. Một số phụ tá chủ chốt của Bill hoàn toàn tán thành ý tưởng này, trong đó có Robert Rubin, Chủ tịch Hội đồng Kinh tế Quốc gia và sau đó làm Bộ trưởng Tài chính. Là một trong những người tôi quý mến nhất trong chính phủ, ông Rubin rất thông minh và gặt hái được nhiều thành công, tuy nhiên ông cũng là người rất khiêm tốn. Sau này, ông thường đùa về khả năng chính trị đặc biệt nhạy bén của mình: ông không bao giờ nghĩ rằng việc bổ nhiệm tôi sẽ gây ra những hiệu ứng khó chịu gay gắt về mặt chính trị đến như vậy. Tôi cũng cảm thấy ngạc nhiên vì phản ứng này.
Vài người bạn của chúng tôi đã nhẹ nhàng cảnh báo chúng tôi về những khó khăn còn nằm ở phía trước. Ông Mario Cuomo, lúc đó là Thống đốc bang New York, trong chuyến đến thăm Nhà Trắng đã hỏi tôi: "Bà đã làm gì khiến cho ông nhà phải bực bội thế ?"
"Ý ông là sao ?"
"À”, ông Mario trả lời, "ông ấy sẽ rất buồn khi có điều gì đó buộc bà phải chịu trách nhiệm về cái công việc chẳng mang lại lợi lộc gì như vậy".
Tôi nghe những lời cảnh báo nhưng tôi hoàn toàn không nhận thức được tính chất nghiêm trọng của vấn đề mà chúng tôi đang đối mặt. Công việc của tôi ở bang Arkansas vốn là điều hành lực lượng đặc nhiệm về chăm sóc y tế ở khu vực nông thôn và điều hành Ủy ban Tiêu chuẩn Giáo dục Arkansas. Không thể so được với quy mô của việc cải cách hệ thống y tế, nhưng cả hai công việc này đều được đánh giá là thành công cũng như đã khiến cho tôi trở nên phấn khởi và tràn đầy hy vọng khi tôi đảm nhận thử thách mới này. Khó khăn lớn nhất có vẻ như chính là thời hạn chót mà Bill đã thông báo cho mọi người biết. Anh ấy đã giành được chiến thắng khó khăn trong một cuộc đua ba vòng với 43% số phiếu và anh càng không thể để mất sức mạnh chính trị của mình khi bắt đầu chính quyền mới. Ông James Carville, một người bạn - người cố vấn và cũng là một trong những bộ óc mưuược tài ba nhất trên chính trường Mỹ, đã cảnh báo Bill rằng: "Chúng ta càng cho những kẻ bảo thủ có nhiều thời gian tổ chức lực lượng thì họ lại càng có thể dàn xếp chống đối lại kế hoạch của ông và họ càng có nhiều cơ hội để phá vỡ kế hoạch đó".
Các thành viên Đảng Dân chủ trong Quốc hội cũng đang thúc giục chúng tôi tiến hành nhanh chóng. Một vài ngày sau khi Bill ra tuyên bố, vị Thủ lĩnh phe đa số trong Hạ viện - ông Dick Gephardt - đã yêu cầu gặp tôi. Ở Điện Capitol, ông nổi tiếng vì tính nhạy cảm của người vùng Trung Tây. Ông cũng nổi tiếng vì những hiểu biết sâu sắc của mình trong các vấn đề về ngân sách. Lòng trắc ẩn của ông đối với những người đang gặp hoàn cảnh khó khăn đã phản ánh tính cách con người ông, và sự tận tụy của ông đối với công cuộc cải cách hệ thống chăm sóc y tế đã được thúc đẩy mạnh mẽ bởi cuộc chiến đấu chống căn bệnh ung thư của con trai ông trong giai đoạn đầu phát triển của căn bệnh. Với chức vụ và kinh nghiệm của mình, Gephardt rất có uy tín trong bất kỳ cuộc tranh luận nào về vấn đề chăm sóc y tế tại Nghị viện. Ngày 3 tháng 2, Gephardt và các phụ tá hàng đầu về chăm sóc y tế của ông đã đến khu Dinh Tây ở Nhà Trắng để thảo luận về chiến lược với tôi. Trong một tiếng tiếp sau đó, chúng tôi lắng nghe Gephardt trình bày mối quan ngại của ông về vấn đề cải cách hệ thống chăm sóc y tế. Cuộc họp hôm ấy rất căng thẳng.
Một trong những mối lo của Gephardt là chúng tôi sẽ không thể nào thống nhất được các thành viên thuộc Đảng Dân chủ, họ vốn là những người ít chịu đoàn kết trong những tình huống ổn định bình thường. Việc cải cách hệ thống chăm sóc y tế làm tăng thêm tình trạng phân hóa đang tồn tại. Tôi chợt nghĩ về câu nói đùa của ông cụ Will Roger:
"Anh có phải là một thành viên của bất kỳ đảng phái chính trị có tổ chức nào không
"Không, tôi là người theo Đảng Dân chủ."
Tôi biết là có tình trạng chia rẽ đang tiềm ẩn nhưng tôi hy vọng là Quốc hội do Đảng Dân chủ kiểm soát sẽ tập hợp lại quanh vị Tổng thống là người của Đảng Dân chủ để chứng tỏ điều mà Đảng của họ có thể làm được cho nước Mỹ.
Những thành viên thuộc Đảng Dân chủ bắt đầu phác thảo các mô hình của riêng mình cho cuộc cải cách để có thể gây ảnh hưởng đến các kế hoạch của Tổng thống. Một vài người đề nghị hướng tiếp cận "một người thanh toán", lấy mô hình hệ thống chăm sóc y tế của châu Âu và Canada để thay thế cho hệ thống dựa trên chủ doanh nghiệp hiện tại. Thông qua tiền thu thuế, chính quyền liên bang sẽ trở thành nhà tài trợ duy nhất - hay còn gọi là "một người thanh toán" - cho hầu hết dịch vụ chăm sóc y khoa. Một vài người ủng hộ việc mở rộng dần dần hệ thống Chăm sóc Người cao tuổi để cuối cùng hệ thống này có thể dành cho tất cả những người Mỹ không được bảo hiểm, đối tượng bắt đầu trước tiên là những người nằm trong độ tuổi từ 55 đến 65.
Bill và những người Dân chủ khác bác bỏ kế hoạch "một người thanh toán" cùng các mô hình Chăm sóc Người cao tuổi. Họ thích một hệ thống gần như là tư nhân hơn, gọi là "mô hình cạnh tranh có quản lý". Hệ thống này dựa trên các nguồn lực của thị trường tư nhân để làm giảm các khoản chi phí thông qua cạnh tranh. Chính phủ sẽ có vai trò ít hơn, bao gồm lập ra các tiêu chuẩn cho các kế hoạch trợ cấp trọn gói và giúp tổ chức các tổ hợp thu mua. Các tổ hợp này là những nhóm tư nhân và doanh nghiệp được hình thành chỉ để mua bảo hiểm. Cùng với nhau, họ có thể thương lượng với các công ty bảo hiểm để có được mức lợi ích và mức giá tốt hơn, đồng thời sử dụng đòn bẩy của bảo đảm việc chăm sóc sức khỏe đạt chất lượng cao. Mô hình tốt nhất là Kế hoạch Phúc lợi Y tế cho các công chức Liên bang, đáp ứng nhu cầu bảo hiểm cho 9 triệu công chức liên bang và cung cấp một loạt các lựa chọn bảo hiểm cho các thành viên của mô hình. Giá cả và chất lượng đều do những nhà quản lý Kế hoạch theo dõi.
Bằng mô hình cạnh tranh có quản lý, các bệnh viện và các bác sĩ sẽ không còn phải chịu chi phí điều trị cho những bệnh nhân không nằm trong chương trình vì mọi người sẽ được bảo hiểm thông qua các chương trình Chăm sóc Sức khỏe, Hỗ trợ Y tế, các kế hoạch chăm sóc y tế cho quân đội và cựu chiến binh hoặc một trong các nhóm mua bảo hiểm.
Có lẽ điều quan trọng nhất là hệ thống mô hình cạnh tranh này sẽ cho phép các bệnh nhân được lựa chọn bác sĩ cho mình, một vấn đề mà theo quan điểm của Bill, vốn rất nan giải.
Căn cứ vào việc có nhiều biện pháp tiếp cận cải cách hệ thống chăm sóc y tế, Gephardt bảo với chúng tôi rằng tình cảm của những người ở Quốc hội là rất sâu sắc và mãnh liệt. Chỉ mới tuần trước ông ấy tổ chức một cuộc họp bàn về chăm sóc y tế tại văn phòng Hạ viện. Trong cuộc họp, có hai thành viên Quốc hội tranh cãi kịch liệt đến mức họ sắp sửa dùng vũ lực với nhau. Gephardt nhấn mạnh rằng niềm hy vọng lớn nhất của chúng tôi là gắn kèm cải cách hệ thống chăm sóc y tế với một dự luật về ngân sách có tên gọi là Đạo luật Thỏa hiệp Ngân sách, thường được Quốc hội bỏ phiếu biểu quyết vào cuối mùa xuân. "Thỏa hiệp" nghĩa là kết hợp nhiều loại ngân sách của Quốc hội và các quyết định về thuế má vào trong một dự luật có thể được chấp thuận hoặc không chấp thuận bằng đa số phiếu tối thiểu trong Thượng viện mà không sợ bị đối thủ dùng thủ thuật cản trở tiến trình thông qua dự luật. Việc cản trở sự thông qua một dự luật vốn là một chiến thu thường được sử dụng để loại bỏ các vấn đề tư pháp còn gây nhiều tranh cãi, nó đòi hỏi phải có 60 phiếu bầu mới có thể phá vỡ được việc thông qua dự luật. Nhiều vấn đề ngân sách, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến chính sách thuế, thường phức tạp đến nỗi các cuộc tranh luận đều có thể tạo những trói buộc bất tận cho toàn bộ các tiến trình khác ở cả Hạ lẫn Thượng viện. Khi đó, thỏa hiệp là một việc cần thiết - giúp giải tỏa bế tắc. Gephardt đề nghị sử dụng công cụ này bằng một cách thức chưa từng có tiền lệ : xây dựng luật pháp cho những thay đổi chủ yếu trong chính sách xã hội của Mỹ.
Gephardt chắc chắn rằng những người thuộc Đảng Cộng hòa ở Thượng viện sẽ cản trở bất kỳ kế hoạch chăm sóc y tế trọn gói nào do chúng tôi đề xuất. Ông ấy cũng biết là những thành viên Đảng Dân chủ trong Thượng viện sẽ gặp khó khăn trong việc tập hợp cho được 60 phiếu ủng hộ để ngăn chặn điều đó, căn cứ vào việc phe Dân chủ chỉ nắm giữ được 56 phiếu lợi thế so với 44 phiếu của phe Cộng hòa. Vì vậy, chiến lược của Gephardt là nhằm phá vỡ ý định của nhưng kẻ định cản trở việc thông qua kế hoạch cải cách y tế ở Nghị viện bằng cách đặt cuộc cải cách này trong một kế hoạch thỏa hiệp ngân sách trọn gói. Việc thông qua dự luật cần đa số phiếu tối thiểu, và nếu cần thiết thì Phó Tổng thống Gore có thể bỏ thêm lá phiếu quyết định thứ 51.
Ira và tôi hiểu rằng nhóm đặc trách về kinh tế của Bill trong Nhà Trắng muốn bác bỏ chiến lược thỏa hiệp ngân sách bao gồm cả chăm sóc y tế bởi vì điều đó có thể gây rắc rối cho những cố gắng của chính quyền trong việc giảm thâm hụt ngân sách và trong kế hoạch kinh tế. Chúng tôi kết thúc cuộc họp, rồi tôi dẫn Gephardt tới thẳng Phòng Bầu Dục để trình bày kế hoạch của ông ta trực tiếp với Bill. Những lập luận của Gephardt đã thuyết phục được Bill nên anh ấy yêu cầu Ira và tôi thăm d ý kiến này với các lãnh đạo Thượng viện.
Nắm được những đề xuất của Gephardt và được Bill động viên, ngày hôm sau, tôi và Ira đến Điện Capitol để gặp vị Thủ lĩnh phe đa số George Mitchell tại phòng làm việc của ông ở Tòa nhà Trụ sở Quốc hội. Đây là chuyến đầu tiên trong hàng trăm chuyến đi của tôi gặp các thành viên Quốc hội trong quá trình thực hiện cải cách hệ thống chăm sóc y tế. Phong thái ăn nói nhẹ nhàng của Mitchell trái ngược với cách thức lãnh đạo cứng rắn của ông đối với phe Dân chủ trong Thượng viện. Tôi tôn trọng ý kiến của ông và ông đồng tình với quan điểm của Gephardt. Kế hoạch chăm sóc y tế sẽ không thể nào được thông qua nếu nó không phải là một phần của công cụ thỏa hiệp. Michell cũng lo lắng về Ủy ban Tài chính Thượng viện - nơi có quyền lực pháp lý xem xét nhiều khía cạnh luật pháp của vấn đề chăm sóc y tế. Ông ấy đặc biệt lo lắng là vị Chủ tịch Ủy ban Daniel Patrick Moynihan bang New York - vốn là một cựu chiến binh Đảng Dân chủ và là người nghi ngờ cuộc cải cách chăm sóc y tế - sẽ có phản ứng không hay đối với kế hoạch cải cách này. Chủ tịch Moynihan là một trí thức lớn đồng thời cũng là một học giả - ông dạy môn xã hội học tại Đại học Harvard trước khi vào Thượng viện - ông cũng là một chuyên gia về các vấn đề đói nghèo và gia đình. Ông muốn Tổng thống và Quốc hội xem xét cải cách về phúc lợi xã hội trước. Ông không hài lòng khi Bill công bố về mục tiêu xây dựng quy chế pháp lý cho cải cách chăm sóc y tế trong 100 ngày và ông cũng cho mọi người biết thái độ phản đối của mình.
Lúc đầu, tôi khó chịu với lập trường của ông nhưng tôi bắt đầu hiểu ra. Bill và tôi đã cùng chia sẻ lời cam kết của Thượng nghi sĩ Moynihan về cải cách phúc lợi xã hội nhưng Bill và nhóm đặc trách về kinh tế của anh tin rằng chính phủ sẽ không bao giờ kiểm soát được vấn đề thâm hụt ngân sách liên bang trừ phi chi phí chăm sóc y tế giảm xuống. Họ kết luận rằngi cách chăm sóc y tế là cấp thiết đối với chính sách kinh tế của anh và rằng vấn đề phúc lợi xã hội có thể xem xét sau. Thượng nghị sĩ Moynihan biết trước rằng vấn đề chăm sóc y tế sẽ gặp khó khăn khi thông qua Ủy ban của ông. Ông biết là sẽ phải chịu trách nhiệm hướng dẫn kế hoạch kích thích kinh tế trọn gói của Bill thông qua Ủy ban Tài chính và qua cửa Nghị viện. Bản thân điều đó đòi hỏi cần phải có kỹ năng và đòn bẩy chính trị rất đặc biệt. Một vài đảng viên Đảng Cộng hòa đã công khai các kế hoạch bỏ phiếu chống lại điều đó, cho dù kế hoạch của Bill có những nội dung gì đi chăng nữa. Trong khi đó, chúng tôi lại cần phải thuyết phục thêm một vài đảng viên Đảng Dân chủ, đặc biệt là nếu kế hoạch trọn gói của Bill có liên quan đến việc tăng thuế.
Chúng tôi rời văn phòng của Mitchell và nhận thức rõ ràng hơn về những điều mà chúng tôi cần phải làm, đặc biệt là nhằm vào vấn đề thỏa hiệp. Hiện giờ chúng tôi phải thuyết phục nhóm đặc trách về kinh tế của Bill, nhất là ông Leon Panetta, Giám đốc Văn phòng Quản lý Ngân sách, rằng việc bao gồm kế hoạch Cải cách chăm sóc y tế trong đạo luật thỏa hiệp ngân sách sẽ có lợi cho toàn bộ chiến lược kinh tế mà Tổng thống đang theo đuổi, chứ không phải là không quan tâm đến kế hoạch làm giảm thâm hụt ngân sách nữa. Chỉ mình Bill có nhiều vốn liếng về chính trị để giải quyết vấn đề và anh ấy phải sử dụng lợi thế đó để làm giảm tình trạng thâm hụt ngân sách xuống - một trong những lời hứa quan trọng khi tranh cử của anh. Một vài nơi ở khu vực Dinh Tây cho rằng sự tập trung của Bill vào vấn đề chăm sóc y tế sẽ làm cho người dân Mỹ không chú ý đến ý tưởng về vấn đề kinh tế của anh nữa và làm cho tình hình chính trị trở nên rối ren.
Chúng tôi cũng phải thuyết phục Thượng nghị sĩ Robert C. Byrd của bang West Virginia rằng cải cách chăm sóc y tế nằm ở vấn đề thỏa hiệp. Là Chủ tịch Ủy ban Phân bổ Ngân sách của đảng viên Đảng Dân chủ, ông Byrd đã làm việc tại Thượng viện được 34 năm tính đến thời điểm đó. Với mái tóc bạc và vẻ trang nghiêm, ông là một sử gia không chính thức của Thượng viện, một thiên tài của Quốc hội, nổi tiếng là một vị tướng quân trong bóng tối và làm kinh ngạc các đồng nghiệp bằng những lời ông trích dẫn từ các tác phẩm kinh điển. Ông cũng là một người xử sự đúng mực và rất chặt chẽ về các quy định thủ tục. Ông đã đề ra một rào cản về thủ tục gọi là "quy luật Byrd" nhằm đảm bảo rằng các vấn đề nằm trong Đạo luật Thỏa hiệp Ngân sách đều phù hợp với quy định pháp luật về ngân sách và thuế. Theo quan điểm của ông, Đảng Dân chủ sẽ dần dần trở nên suy yếu nếu việc thỏa hiệp bị làm cho rối rắm bằng những dự luật ít liên quan tới việc thông qua ngân sách của quốc gia. Người ta có thể cho rằng vấn đề chăm sóc y tế là một dự luật về ngân sách, bởi vì nó ảnh hưởng đến các chương trình chi tiêu, thuế các loại và các chương trình hành động. Nhưng nếu Thượng nghị sĩ Byrd nghĩ khác thì chúng tôi cần phải từ bỏ quy luật của ông để cho phép kế hoạch này trở thành một công cụ thỏa hiệp.
Dần dần, tôi hiểu được ngọn núi mà chúng tôi đang leo lên dốc đứng biết chừng nào. Khi quốc gia không bị một cuộc khủng hoảng dữ dội nào giống như một đợt suy thoái chẳng hạn thì việc thông qua hoặc là kế hoạch về kinh tế hoặc là kế hoạch về chăm sóc y tế đều gặp khó khăn. Việc thông qua cả hai kế hoạch dường như là điều không thể thực hiện được. Cải cách chăm sóc y tế có thể thiết yếu đối với việc tăng trưởng kinh tế về lâu dài, nhưng tôi không biết thể chế chính trị này có thế tiếp nhận được bao nhiêu thay đổi cùng một lúc.
Các mục tiêu của chúng tôi đều rất đơn giản: chúng tôi cần một kế hoạch giải quyết mọi vấn đề của hệ thống chăm sóc y tế hơn là một kế hoạch chỉ giải quyết qua loa vài vấn đề bên ngoài. Chúng tôi muốn một quy trình xem xét nhiều ý kiến khác nhau và cho phép có những cuộc tranh luận và thảo luận lành mạnh. Và chúng tôi cũng muốn tôn trọng triệt để những mong muốn của Quốc hội càng nhiều càng tốt.
Gần như là ngay lập tức, chúng tôi đã gây ra sự rối loạn. Bill đã giao cho Ira nhiệm vụ thiết lập quy trình cải cách hệ thống chăm sóc y tế, điều mà hóa ra lại trở thành một gánh nặng bất công đối với những người không ở tại Washington. Ngoài Lực lượng Đặc nhiệm của Tổng thống, trong đó có cả tôi, các Bộ trưởng trong nội các và các quan chức Nhà Trắng khác, Ira đã tổ chức một nhóm làm việc đông đảo bao gồm các chuyên gia được chia thành các đội để có thể xem xét mọi khía cạnh của vấn đề chăm sóc y tế. Nhóm này, bao gồm khoảng 600 người thuộc các cơ quan chính phủ, Quốc hội và các nhóm đặc trách về chăm sóc y tế khác nhau, có cả các bác sĩ, y tá, các lãnh đạo bệnh viện, các nhà kinh tế học và những người khác. Tất cả họ đều đặn họp với Ira để tranh luận và xem xét từng phần kế hoạch cụ thể một cách chi tiết. Nhóm này đông đến nỗi một vài thành viên đã kết luận rằng họ không phải đang ở trung tâm của tổ chức nhóm, nơi mà các công việc thực sự đang được tiến hành. Một vài người nản lòng và không đến dự họp nữa. Những người khác chỉ quan tâm trong phạm vi hẹp phần việc của mình hơn là đầu tư công sức cho kết quả của toàn bộ kế hoạch. Tóm lại, nỗ lực tập trung càng nhiều người và càng nhiều quan điểm càng tốt - trên nguyên tắc thì đó là một ý tưởng hay - cuối cùng đã làm cho vị thế của chúng tôi trở nên yếu đi thay vì mạnh lên.
Ngày 24 tháng 2, chúng tôi bị một cú choáng váng mà không ai trong chúng tôi tiên liệu trước. Ba nhóm có liên quan đến vấn đề chăm sóc y tế đã kiện lực lượng đặc nhiệm về cơ cấu tổ chức của lực lượng này, họ khiếu nại rằng do tôi không phải là nhân viên chính phủ (Đệ nhất Phu nhân không được hưởng lương), về mặt tôi không được phép lãnh đạo hoặc thậm chí tham gia vào các cuộc họp kín của lực lượng đặc nhiệm. Những nhóm này dựa vào một quy định pháp luật mơ hồ của liên bang - được đặt ra nhằm ngăn chặn những lợi ích cá nhân có thể ngầm gây ảnh hưởng đến việc ra quyết định của chính phủ và tước mất quyền được biết thông tin của công chúng. Chắc chắn là không có bí mật nào về hàng trăm người đang tham gia vào tiến trình cải cách này, nhưng báo chí - những người vốn không được mời đến dự các cuộc họp - đã chí trích gay gắt vấn đề. Những người kiện cáo nại rằng, nếu tôi được phép dự các cuộc họp, thì những điều luật minh bạch của chính phủ cũng cần phải quy định là các cuộc họp kín được mở rộng cho những người ngoài tham dự, kể cả giới truyền thông báo chí. Đó là một nước cờ chính trị khéo léo nhằm phá vỡ các kế hoạch về chăm sóc y tế của chúng tôi và nhằm gieo ấn tượng trong lòng dân chúng và với giới truyền thông rằng chúng tôi đang tiến hành những cuộc họp "bí mật".
Ngay sau đó, chúng tôi nhận được nhiều tin tức xấu hơn, lần này là từ Thượng nghị sĩ Byrd. Mỗi phái viên thuộc Đảng Dân chủ mà chúng tôi biết được, kể cả Tổng thống, đã yêu cầu ông ta cho phép việc cải cách hệ thống chăm sóc y tế trở thành công cụ thỏa hiệp. Nhưng vào ngày 11 tháng 3, khi gặp Tổng thống trên điện thoại, vị Thượng nghị sĩ này đã nói rằng ông ta phản đối các cơ sở về mặt thủ tục của cuộc cải cách và rằng "quy luật Byrd" sẽ không bị bỏ đi. Thượng viện được phép tranh luận về những dự luật thỏa hiệp chỉ trong 20 giờ, đây là điều mà ông ta cho là không đủ thời gian cho kế hoạch cải cách hệ thống chăm sóc y tế trọn gói có tầm quan trọng như vậy. Ông ta bảo với Bill rằng vấn đề này quá phức tạp để có thể thỏa hiệp. Nhìn lại vấn đề và căn cứ vào công việc của tôi tại Thượng viện, tôi đồng ý với đánh giá của ông ta. Vào lúc đó thì đây là một thất bại về chính trị buộc chúng tôi phải tái tập trung vào chiến lược của mình và tìm ra cách thức để cho cuộc cải cách chăm sóc y tế qua được các quy trình pháp lý bình thường. Chúng tôi gấp rút tổ chức ngay các cuộc họp với các thành viên Thượng và Hạ viện để xác định rõ ràng các yếu tố cụ thể của kế hoạch mà chúng tôi sẽ trình cho Quốc hội. Chúng tôi không nhận thấy rằng ý kiến của Byrd về vấn đề thỏa hiệp là lá cờ đỏ phản đối khổng lồ. Chúng tôi đang cố gắng xúc tiến quá nhanh một dự luật mà về cơ bản sẽ làm thay đổi chính sách kinh tế - xã hội của Mỹ trong những năm sắp tới. Và chúng tôi đang bị thua trên trường đua.
Trong hoàn cảnh này, cùng với các cuộc tranh luận đa dạng của Bill về vấn đề đồng giới trong quân đội và việc anh bổ nhiệm chức vụ Bộ trưởng Tư pháp, chúng tôi đã tận hưởng bất kỳ thành công nào đến với mình trên con đường đang đi. Vào giữa tháng Ba, Hạ viện đã thông qua kế hoạch kích thích nền kinh tế của Bill và tôi cùng các nhân viên quyết định tổ chức một bữa tiệc kỷ niệm nhỏ. Ngày 19 tháng 3, khoảng 20 người chúng tôi tụ họp lại dùng bữa tiệc trưa ở Phòng ăn dành cho Nhân viên Nhà Trắng. Căn phòng này có những bức tường bằng ván sồi, những vật kỷ niệm đáng nhớ về lực lượng Hải quân và những cái ghế đệm bằng da - một căn phòng được bài trí hoàn hảo thích hợp cho những cuộc đàm đạo cá nhân và là nơi chúng tôi có thể tụ tập cười đùa thoải mái. Mọi người tạo cơ hội hiếm hoi cho tôi được xõa tóc ra với sự giúp đỡ của các nhân viên phụ tá tin cẩn và tôi được nói thật những suy nghĩ của mình về bất kỳ đề tài nào đang bàn luận. Từ khoảnh khắc tôi đặt chân vào căn phòng, tôi có thể cảm nhận được là tâm trạng mình đang trở nên nhẹ nhõm và tâm trí tôi lần đầu tiên được thư thái sau nhiều ngày.
Bữa tiệc trưa bắt đầu và chúng tôi chia sẻ với nhau những câu chuyện về những ngày tháng đầu tiên của mình ở Nhà Trắng. Rồi tôi trông thấy Carolyn Huber bước vào phònglà một trong những trợ lý lâu năm của tôi ở bang Arkansas - người đã cùng chúng tôi đến Washington. Carolyn bước tới chỗ tôi ngồi, cúi xuống thì thầm vào tai tôi: "Thân phụ của Bà bị đột quỵ. Ông ấy đang ở trong bệnh viện".