Khi mùa hè năm đó đến gần, bộ máy chính phủ lại phải tăng tốc để tiến hành 3 nhiệm vụ lớn, một là thương thuyết với Quốc hội về một ngân sách cân đối, hai là tổ chức Hội nghị thượng đỉnh về kinh tế ở Denver, bang Colorado và ba làội nghị thượng đỉnh tại Madrid về sự mở rộng đang còn nhiều tranh cãi của tổ chức NATO.
Một trong những bài học quan trọng nhất mà tôi học được trong những năm làm Đệ nhất Phu nhân là công việc của đất nước và chính sách của các quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào mối quan hệ cá nhân giữa các nhà lãnh đạo. Thậm chí các nước có hệ ý thức trái ngược nhau vẫn có thể thỏa thuận và liên minh với nhau nếu lãnh đạo các nước này hiểu và tin tưởng lẫn nhau. Tuy nhiên, mối quan hệ ngoại giao như thế cần phải luôn được củng cố bằng nhưng cuộc gặp gỡ thân mật giữa các nhà lãnh đạo, đó chính là lý do của những chuyến viếng thăm nước ngoài của Tổng thống, Phó Tổng thống và cả tôi.
Hội nghị thượng đỉnh G-7 - hội nghị hàng năm của các nước. công nghiệp phát triển trên thế giới như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nhật, Ý và Canada - ngày càng có vai trò to lớn về mặt kinh tế lẫn chính trị. Nước Nga đã được mời tham dự với tư cách khách mời tại hội nghị thượng đỉnh G7 kỳ trước, tuy nhiên, vào năm 1997 khi đến lượt nước Mỹ tổ chức hội nghị ở Denver, Borris Yeltsin đã kêu gọi sự ủng hộ để nước Nga được tham gia đầy đủ như một thành viên chính thức.
Bộ trưởng Tài chính của nhiều nước thành viên đã chống đối ý kiến trên ngay từ đầu vì cho rằng nước Nga vẫn còn yếu về mặt kinh tế, vẫn còn phụ thuộc vào sự viện trợ của G7 và các tổ chức tài chính quốc tế, và thường chống lại những cải cách cần thiết để đạt được sự thịnh vượng lâu dài. Tuy nhiên, Tổng thống Clinton và các nhà lãnh đạo quen biết đều cho rằng việc ủng hộ Tổng thống Yeltsin là cần thiết vì nó sẽ gửi một thông điệp đầy ý nghĩa đến nhân dân Nga về những lợi ích tích cực của sự hợp tác với Mỹ, châu Âu và Nhật Bản. Vì thế, Nga đã được mời tham dự và Hội nghị Denver vào tháng 6 được gọ"Thượng đỉnh 8 nước", và sau đó hội nghị chính thức được đổi tên thành G8.
Bill đã rất quyết tâm đưa Yeltsin vào vòng trong cùng với các nhà lãnh đạo thế giới. Chiến lược này nhằm củng cố địa vị của Yeltsin ở Nga, vì ông ấy được coi như là như niềm hy vọng lớn nhất về nền dân chủ của nước Nga và là người có thể thuyết phục nhân dân Nga chấp nhận sự mở rộng của NATO ở Đông Âu. Madeleinc Albright và Strobe Talbotr, Thứ trưởng Ngoại giao và là một chuyên gia về vấn đề nước Nga, là những tác giả chính của chiến lược này trong bộ máy chính phủ. Madeleine làm việc không mệt mỏi để thuyết phục và đưa nước Nga vào quỹ đạo của các nước phương Tây, từ đó bà có cái biệt danh tiếng Nga là "Người Đàn Bà Thép".
Vào những ngày đầu thời kỳ Bill làm Tổng thống, tôi đã đặt vấn đề về giá trị của các chuyến viếng thăm nhà nước trong đó những người đàn ông chủ yếu tham dự các cuộc họp, còn các phu nhân thì tham gia các chuyến tham quan những di tích văn hóa do nước chủ nhà tổ chức. Giờ đây, tôi đã hiểu ra rằng để củng cố những mối quan hệ tốt với vợ chồng các nhà lãnh đạo các nước thì luôn cần có những cuộc tiếp xúc thân mật. Tôi cũng nhận thấy rằng trong số những người đồng nhiệm với tôi có nhiều người rất thú vị và một số người đó có thể trở thành bạn tốt.
Ở Denver, tôi đã mời các Đệ nhất Phu nhân đi tham quan cảnh đẹp trên một chuyến xe lửa đến khu trượt tuyết Winter Park, sau đó ăn trưa và ngắm cảnh từ trên đỉnh núi vùng Colorado. Mãi đến lúc đó tôi mới biết Cherie Blair, phu nhân của Thủ tướng mới nhậm chức ở Anh là Tony Blair nhưng lập tức tôi rất mến bà ấy. Tôi đã biết hầu hết các vị phu nhân khác từ những hội nghị trước đó, và tôi rất mừng thấy rằng bà Naina Yeltsin đã phát huy tốt vai trò của mình từ sau khi chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên vào năm 1993 tại Toko. Bà ấy đã từng là một kỹ sư xây dựng làm việc trong hệ thống cấp nước, sau đó bị đẩy vào dòng xoáy của hệ thống chính trị nước Nga. Ngay từ ban đầu, bà đã tỏ ra rất có cá tính và hiểu biết rất sâu sắc về trẻ em và nhu cầu sức khỏe của chúng. Năm 1995, tôi đã giúp bà duy trì được khoản trợ cấp về bột dinh dưỡng mà nước Nga đang cần để điều trị cho các trẻ em bị chứng bệnh PKU, một căn bệnh di truyền liên quan đến hệ thần kinh trung ương.
Bà Aline Chrétien - phu nhân của ông Jean, Thủ tướng Canada năm 1993 - là một người rất thông minh, có óc quan sát tinh tế và rất quý phái. Tôi rất ấn tượng bởi tính kỷ luật và hăng hái chấp nhận thử thách mới của bà. Suốt thời gian 8 năm quen biết nhau, bà ấy đã nghiên cứu và chơi đàn piano rất tuyệt vời. Bà ấy cũng biết cách pha trò. Chúng tôi đã có nhiều thời gian cùng nhau chơi trượt tuyết trên dòng sông băng quanh Ottawa vào năm 1995. Bà Kamiko Hashimoto của Nhật Bản, một người rất sinh động và hiếu kỳ đã để lại nhiều ấn tượng đẹp. Bà Flavia Prodi của Ý là một học giả uyên bác và nghiêm túc, luôn cố diễn giải hệ thống chính trị nước Ý, một hệ thống mà dường như liên tục thay đổi trong khi nền văn hóa và xã hội Ý thì vẫn không có gì mới qua các đời Tổng thống.
Xe lửa vòng vèo qua những cảnh quan tươi đẹp có những người dân địa phương chào đón ở hai bên đường ray, giơ cao những bảng hiệu chào mừng các vị khách quý. Sau đó, khi tôi đang đứng ở cửa toa tàu cuối bỗng có hai người thanh niên không biết từ đâu xuất hiện, họ cúi xuống, tụt quần ra và giơ mông vào mặt chúng tôi. Lúc đó tôi thực sự sốc nặng, nhưng sau đó tôi chỉ biết gượng cười và đó là một kỷ niệm không được tôn trọng mà tôi không thể nào quên trong chuyến tham quan của mình.
Mặc dù các cuộc hội nghị tại Denver thường rất nghiêm túc và căng thắng, chúng tôi vẫn luôn cố tạo không khí thư giãn cho mọi người bằng các hoạt động giao lưu được tổ chức vào buổi tối. Để nhắc nhở tới vùng một thời được gọi là miền Tây hoang dã này, buổi dạ yến chính được tổ chức theo chủ đề biên cương, có rắn chuông và trâu nước, một cuộc đua ngựa nhỏ cùng với phần trình diễn của một băng nhạc đồng quê và nhạc viễn tây. Quà của Bill dành cho các vị khách mới là những đôi giày ống. Thủ tướng Ryutaro Hashimoto của Nhật và Jean Chrétien của Canada rất thích thú với món quà này bằng cách vén cả ống quần lên để khoe những đôi giầy khi họ tới dự tiệc.
Cùng dự tiệc là một nghi thức quan trọng trong ngoại giao và đôi lúc trở thành những trò tiểu xảo. Đêm trước ngày hội nghị diễn ra ở Denver, Madeleine Albright đã mời người đồng nhiệm phía Nga là ông Yevgeny Primakov đi ăn tối ở một nhà hàng địa phương. Bà đã chiêu đãi món đặc sản của vùng đó là món "con hàu núi", một tên gọi lịch sự của món "ngọc dương bò chiên giòn". Tôi đã phải trấn an các đấng làm chồng rằng những món như thế sẽ không có mặt trong thực đơn mời khách của tôi.
Bất cứ khi nào chúng tôi đi ra nước ngoài, Bộ Ngoại giao đều đưa cho chúng tôi nhưng bảng dữ liệu về những quốc gia chúng tôi sẽ đến, cùng với những chỉ dẫn bổ ích về nghi thức ngoại giao. Thỉnh thoảng chúng tôi được cảnh báo về những thức ăn lạ mà chúng tôi sẽ được phục vụ và cách từ chối các món ăn như thế nào để không làm mất lòng nước chủ nhà. Một cựu quan chức ngoại giao chỉ cho tôi rằng nên xoay vòng thức ăn trên đĩa để kích thích mọi người ăn ngon miệng, một tiểu xảo ngay đến trẻ lên năm cũng biết. Tuy nhiên, chẳng có quyển sách về thuật giao tiếp nào dạy tôi cách thức ăn tối với Tổng thống Boris Yeltsin.
Tôi rất quý trọng ông Yeltsin và tôi cũng xem ông ấy như một người anh hùng thật sự, người đã hai lần cứu nền dân chủ của nước Nga : lần thứ nhất khi ông leo lên xe tăng ảng trường Đỏ vào năm 1991 và tuyên bố trước công chúng bất chấp cuộc đảo chính quân sự lúc đó và vào năm 1993, khi một phe đảng thuộc quân đội âm mưu lật đổ Nhà Trắng ở Nga mà Yeltsin vẫn giữ vững lập trường đấu tranh cho nền dân chủ, ông đã được Bill và các vị lãnh đạo khác khắp thế giới ủng hộ. Theo cách riêng của mình, ông ấy cũng là một người đồng hành thú vị. Ông có một trái tim vĩ đại và có thể luôn làm tôi vui cười. Tất nhiên, ông nổi tiếng là người tính khí thất thường và như thường thấy, ông rất thích uống rượu.
Trong các bữa tiệc tối trang trọng, tôi thường ngồi giữa Yeltsin với Bill và bà Naina ngồi cạnh Bill. Boris không nói tiếng Anh nhưng có một người phiên dịch ngồi phía sau chúng tôi sẽ chuyển tải ý kiến của ông đến Bill và tôi với cùng một giọng nói trầm, khàn và ngữ điệu như của Boris. Boris ăn rất ít. Cứ mỗi khi người ta bưng lên món ăn mới, ông ấy lại đẩy thức ăn ra xa hoặc không để ý đến bằng cách tiếp tục kể chuyện cho chúng tôi nghe. Đôi khi chính món ăn cũng đã là một câu chuyện.
Vào tháng 9 năm 1994, khi được Yeltsin chiêu đãi tại đại sứ quán Nga mới khai trương ở Washington, Bill và tôi ngồi trên bục cao cùng tham dự với rất đông các giới quyền lực đến từ Washington cũng như các quan chức Nga và Mỹ. Đột nhiên Yeltsin ra hiệu cho Bill và tôi nghiêng người về phía ông ấy. Ông nói "Heel-lary, Beel ! Hãy nhìn những người đang ngồi dưới kia. Ông bà có biết họ đang nghĩ gì không? Tất cả họ đều nghĩ rằng "làm sao mà Boris và Bill được ngồi trên đó mà không phải là chúng ta?”. Đây quả là một lời nhận định xác đáng. Thật sự, Yeltsin thông minh hơn một vài đối thủ của ông từng nghĩ, và qua những lời xì xầm từ điện Kremlin đến Bộ Ngoại giao, ông nhận thức rõ rằng ông chưa được chấp nhận và chưa được đánh bóng đúng mức. Ông ấy cũng biết rằng một số trong những người đó không đồng tình với tính cởi mở của soi mói vào nguồn gốc Arkansas của anh ấy. Chúng tôi cười và cầm nĩa lên định gắp thức ăn, nhưng Yeltsin lại tiếp tục, ông cười ha hả và quay sang ngài Tổng thống Mỹ và nói: "Tôi có cuộc chiêu đãi dành cho ngài, Bill ạ!".
Cả một con lợn quay đặt trên bàn ăn trước mặt chúng tôi. Chỉ cần xoáy chiếc dao ăn, Yeltsin đã cắt được cái tai lợn và đưa cho chồng tôi. Ông ta lấy chiếc tai còn lại cho mình, đưa lên miệng và cắn một miếng, ra hiệu cho Tổng thống làm theo.
Ông vừa nói "Chúc mừng" vừa giơ lên miếng tai heo còn lại như thể đang uống một ly rượu sâm banh ngon tuyệt.
Thật tuyệt vời là Bill Chnton có một dạ dày thép. Khả năng ăn uống đa dạng là một trong những khả năng hữu ích cho sự nghiệp chính trị của anh. Toi không nói cho Yeltsin nghe nhưng ông ấy biết điều này và rất thích trêu chọc tôi. Và thật sự may mắn cho tôi vào lúc đó vì con lợn chỉ có hai chiếc tai.
Nhiều năm sau đó cho đến khi Yeltsin và Bill sắp hết nhiệm kỳ trong chính phủ, chúng tôi còn được cùng nhau tham dự bữa tối sau cùng tại điện Kremlin. Nó được tố chức ở Phòng Thánh Catherine, một trong những nhà ăn lộng lẫy nhất trong cung điện cổ kính này. Gần nửa bữa ăn, Yeltsin quay sang nói với tôi bằng một giọng ồm ồm bí ẩn rằng "Heel-lary! Tôi sẽ rất nhớ bà. Tôi treo bức ảnh của bà trong văn phòng của mình và ngắm nó mỗi ngày". Khi đó trong mắt ông ấy hiện lên một niềm vui tinh quái.
"Ồ, cảm ơn Boris", tôi nói. "Tôi hy vọng chúng ta vẫn thường xuyên liên lạc với nhau."
"Phải lắm, phu nhân phải đến thăm tôi, bà phải hứa đấy!"
"Tôi hy vọng một ngày nào đó tôi lại đến thăm ngài , Boris
Ông ấy nói: "Thật tuyệt, còn bây giờ tôi sẽ dành cho bà một sự chiêu đãi đặc biệt vào tối nay, Hillary ạ!".
"Cái gì thế ?", tôi hỏi.
"Tôi không thể nói cho bà biết trước, bà cứ chờ rồi sẽ biết."
Chúng tôi thưởng thức hết món này đến món khác, nâng hết cốc rượu này đến cốc khác và cuối cùng, ngay khi chuẩn bị dùng món tráng miệng, người phục vụ lúc này đem đến món xúp nóng đặt trước mặt chúng tôi.
"Hillary, đây là món đặc biệt dành riêng cho bà!", Boris vừa nói vừa hít một hơi dài như đang thưởng thức mùi vị cay nồng của món ăn: "Ừm, ngon đấy".
Tôi vừa cầm nĩa vừa hỏi ông ấy "Món gì thế ?"
Ông dừng lại trong chốc lát một cách trịnh trọng và nói "Mõm nai Bắc Mỹ đấy !"
Và quả đúng như thế, nguyên hình dáng chiếc mõm nai nổi giữa lớp nước hầm thịt. Hình dạng của nó trông giống như những sợi dây chun đã mất hết độ co giãn, tôi cứ xoay vòng thức ăn cho đến khi người phục vụ mang nó đi. Tôi đã thử qua nhiều món lạ vì công việc ngoại giao, nhưng tôi thật sự không thể thưởng thức được món đó.
Hội nghị Denver đã kết thúc thành công, tuy nhiên, việc xây dựng quan hệ tốt đẹp với nước Nga là điều cần phải tiến hành lâu dài cho đến hội nghị thượng đỉnh của NATO ở Madrid vào tháng Bảy. Bill và tôi đã làm một chuyến đến châu Âu vài ngày trước khi hội nghị diễn ra để viếng thăm đảo Majorca tuộc Địa Trung Hải theo lời mời của Vua Juan Carlos I và Hoàng hậu Sofia của Tây Ban Nha. Ở đó chúng tôi đã gặp Chelsea và bạn thân nhất của cháu, Nickie Davison. Bọn trẻ đang đi du lịch.
Tôi luôn mong được đến thăm Vua Carlos và Hoàng hậu Sofia, những người bạn vĩ đại, nồng nhiệt, thực tế, dí dỏm và luôn lôi cuốn người khác. Vào năm 1993, chúng tôi đã gặp Vua, Hoàng hậu cùng Thái tử Felipe, lúc đó đang học ở trường Đại học Georgetown tại thủ đô Washington. Tôi rất ngưỡng mộ vị vua dũng cảm này trong việc chống chủ nghĩa phát xít tại nước ông. Ông đã là lãnh tụ của đất nước khi mới 37 tuổi, sau khi Franco qua đời vào năm 1975, và ngay sau đó ông tuyên bố kế hoạch tái lập nền dân chủ ở Tây Ban Nha. Vào năm 1981, một tay ông phá vỡ âm mưu chiếm Quốc hội của quân đội khi xuất hiện trên truyền hình để lên án người cầm đầu vụ đảo chính và ra lệnh cho quân đội quay về doanh trại. Trước khi trở thành hoàng hậu, Sofia là Công chúa Hy Lạp, học ngành y tá khoa nhi và là một phụ nữ quyến rũ và vẹn toàn như người chồng của mình. Bà là một phụ nữ nhân hậu, là người đầu tiên khởi xướng các chương trình tín dụng nhỏ nhiều năm trước khi mọi người nghe nói về ý niệm ấy.
Chúng tôi tiếp tục đến Madrid dự hội nghị thượng đỉnh của các nước thành viên NATO. Thủ tướng Tây Ban Nha, ông Jose Maria Aznar và phu nhân, bà Ann Botella, đã tổ chức một dạ tiệc tại dinh thự Moncloa, nơi gia đình thủ tướng cư ngụ, để chiêu đãi các nhà lãnh đạo NATO và phu nhân. Cam kết mở rộng NATO của Bill cuối cùng cũng đã thành hiện thực sau khi Ba Lan, Hungary và Cộng hòa Czech được đề nghị gia nhập tổ chức này. Đêm tiếp theo, Vua và Hoàng hậu lại tổ chức một bữa tối trịnh trọng tại cung điện với phong cách tân cổ điển ở trung tâm thành phố Madrid nhằm chúc mừng sự phát triển lịch sử của tổ chức này. Chúng tôi nhìn thấy cung điện này lần đầu tiên năm 1995 khi được Vua và Hoàng hậu chiêu đãi một bữa tối thân mật. Điều thú vị thật diễn ra sau bữa tiệc khi Vua Carlos có nhã ý đưa chúng tôi đi tham quan cung điện. Đức Vua thú nhận rằng ông không biết trước có những gì trong mỗi căn phòng nên ông đã bịa ra các câu chuyện vui để kể cho mọi người khi mở cửa từng căn phòng. Sau đó, mọi người cùng nhau nói chuyện phiếm thật vui. Cả Vua và Hoàng hậu đều có óc hài hước và vui nhất là khi Bill và Vua Carlos cùng quan sát chiếc bàn ăn dài nhất mà tôi từng thấy (như thể nó dành cho 100 khách mời) và bàn tán về giải thưởng dành cho người nào chạy đến và trượt trên bàn nhanh nhất. Đã hai năm trôi qua, giờ đây, chiếc bàn này cũng dùng chiêu đãi các vị nguyên thủ quốc gia đến từ các nước trên toàn châu Âu trong một bữa tiệc trịnh trọng.
Sau khi chúng tôi kết thúc nhiệm vụ chính thức, Sofia và Juan Carlos đưa Bill, Chelsea và tôi về thăm cung điện Alhambra ở Granada. Trước đây, khi Bill và tôi bắt đầu hẹn hò lần đầu tiên, anh ấy nói với tôi rằng cảnh đẹp thiên nhiên tuyệt nhất anh ấy từng chứng kiến là cảnh mặt trời lặn ở Grand Canyon và cảnh đẹp nhân tạo tuyệt nhất là cung điện Alhambra nằm trong ánh hào quang lúc hoàng hôn khi mặt trời đang xuống dần trên đồng bằng Granada. Khi tôi kể chuyện này cho Vua Carlos, ông nói rằng tôi nên trực tiếp ngắm cảnh ấy. Chúng tôi đi tham quan lâu đài và ăn tối tại một tòa nhà cổ kính nhìn ra tòa lâu đài lộng lẫy. Chúng tôi ngắm nhìn cảnh mặt trời xuống dần, phủ lên các bức tường của tòa lâu đài một màu hồng bạc. Trong lúc nán lại trước khi trời tối chúng tôi thấy những tia sáng chiếu ra từ cung điện làm cho nó thêm lộng lẫy.
Sau bữa tối hôm đó, tôi quyết định bay đến thành phố Vienna, ở đó tôi sẽ là người phát ngôn chính của một diễn đàn với tên gọi "Những tiếng nói sống còn - Phụ nữ của nền dân chủ". Diễn đàn này được khởi xướng và tổ chức bởi Swanee Hunt, đại sứ của Mỹ tại Áo và sau đó được duy trì bởi Melanne Verveer. Cuộc họp mặt của cả ngàn phụ nữ nổi tiếng khắp châu Âu tại đây là sự khai trương chính thức "Những tiếng nói sống còn của nền dân chủ" của chính phủ Mỹ.
Tôi hết lòng ủng hộ chương trình này, đây là một nỗ lực cụ thể của chính phủ trong việc đưa các vấn đề của phụ nữ vào chính sách đối ngoại. Khi phát triển đến Bắc Kinh, sáng kiến "Những tiếng nói sống còn" đã tập hợp được những đại diện của chính phủ Mỹ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc tế nhằm thúc đẩy sự tiến bộ cho phụ nữ ở ba lĩnh vực chủ yếu : xây dựng dân chủ, tăng cường kinh tế và đấu tranh cho hòa bình.
Ở rất nhiều quốc gia, phụ nữ vẫn không có quyền tham gia chính trị, không có thu nhập riêng hoặc tài sản riêng và không được bảo vệ trước nạn ngược đãi và bạo hành. Nhờ có sự giúp đỡ của Liên hiệp quốc, Ngân hàng Thế giới, Liên minh châu Âu, Ngân hàng Liên bang Mỹ và các tổ chức khác nên diễn đàn "Những tiếng nói sống còn" đã cung cấp sự hỗ trợ kỹ thuật, tổ chức các hội thảo về kỹ năng và tạo cơ hội cho phụ nữ liên kết với nhau, giúp cho họ công cụ và tài nguyên mà họ cần có để nâng cao xã hội dân sự, kinh tế thị trường và tham gia chính trị ở quốc gia của mình. Tôi cho rằng mối quan tâm về chính trị và sự phát triển cá nhân đã bị bỏ qua trong những lời lẽ hoa mỹ có tính chất ngoại giao của chúng ta khi bàn về dân chủ và kinh tế thị trường tự do. Phụ nữ và trẻ em còn phải hứng chịu đau khổ một cách phi lý trong quá trình chuyển đổi từ chủ nghĩa cộng sản sang chủ nghĩa tư bản và nền dân chủ bởi vì họ không còn dựa vào thu nhập cố định với nền giáo dục miễn phí và dịch vụ y tế do nhà nước chi trả phổ biến trong nền kinh tế bao cấp. "Những tiếng nói sống còn" khuyến khích phụ nữ tham gia kinh doanh ở các khu vực rất khác nhau như Nam Phi và các quốc gia thuộc biển Baltic, ủng hộ những nổ lực đưa phụ nữ tham gia hoạt động chính trị ở Kuwait, miền Bắc Ireland và kêu gọi phụ nữ chiến đấu chống lại nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em ở Nga và Ukraina. Thông qua sự hợp tácu quả và phi lợi nhuận, diễn đàn này đang tiếp tục sự nghiệp giáo dục và đào tạo cho phụ nữ trên khắp thế giới, trong số đó có nhiều người trở thành những lãnh tụ chính trị trên đất nước của họ.
Cuối cùng thì lịch làm việc căng thẳng của chúng tôi cũng giãn ra để chúng tôi về nghỉ hè ở Martha's Vineyard vào tháng Tám. Đấy là nơi chúng tôi luôn được thư giãn và thoải mái. Một bữa nọ, Bill đã thuyết phục được tôi cùng chơi một ván golf sau khi chân anh ấy đã bình phục và có thể quay lại với trò tiêu khiển yêu thích. Thật ra, tôi không thích trò chơi này và chơi rất tệ. Tôi đồng quan điểm với Mark Twain khi cho rằng "Golf là bài tập đi bộ bị phá hỏng".
Ác cảm của tôi đối với môn thể thao này bắt nguồn từ một sự kiện diễn ra vào mùa hè năm tôi học lớp tám. Vào lúc đó, tôi chỉ còn cách nói rằng đi chơi golf vào buổi trưa thì tôi mới có thể thuyết phục mẹ để hẹn hò với bạn trai cùng trường. Tôi bị cận và dĩ nhiên là không thích đeo kiếng vì sợ xấu, tôi chẳng nhìn thấy quả banh gôn nên tôi đánh vào bất cứ vật gì màu trắng. Và tôi bạt mạnh vào quả bóng làm nó tan thành trăm mảnh vụn văng tung tóe. Thật ra lúc đó tôi không ngờ mình đã đánh mạnh vào một cái nấm trắng to. Hai khóa học đánh golf chuyên nghiệp và cặp kính sát tròng vẫn không giúp tôi chơi khá hơn. Tôi thích đọc sách, bơi lội và lướt sóng trong khi Bill thích chơi golf cùng với Vernon Jordan và các bạn thân khác của anh ấy.
Vào những ngày cuối tuần cuối tháng Tám, Bill và tôi đang dự một đêm dạ hội tại bãi biển thì bỗng nhiên một nhân viên ghé vào tai Bill thì thầm điều gì đó. Tôi đứng ở đằng xa quan sát và thấy vẻ lo lắng của Bill. Sau đó tôi cũng nghe tin này: Công nương Diana mất trong một vụ tai nạn xe hơi kinh hoàng ở Paris. Giống như tất cả mọi người khác vào lúc ấy, chúng tôi thật sự rất sốc.
Chúng tôi rời khỏi bữa tiệc và lập tọi cho ngài tân đại sứ Mỹ tại nước Pháp là ông Felix Rohatyn, người kế vị bà Pamela Harriman sau cái chết đột ngột của bà cách đây một năm. Chúng tôi thức suốt đêm để gọi điện đến Luân Đôn và Paris để hỏi xem chuyện gì đã xảy ra. Thật không thể nào tin được rằng một người phụ nữ xinh đẹp, đầy sức sống và nghị lực như Diana lại ra đi đột ngột đến như vậy.
Lần sau cùng tôi được gặp Diana là cách đó hai tháng. Tại Nhà Trắng, Diana đã nói chuyện say mê và thông tuệ về hai sự nghiệp chính của mình là nghiêm cấm việc sử dụng mìn sát thương và giáo dục mọi người về HIVAIDS. Bà trông có vẻ tự tin hơn từ sau khi chia tay Thái tử Charles và tôi có cảm nhận rằng cuối cùng thì bà ấy cũng đã trở về với chính mình. Chúng tôi nói chuyện về chuyến đi sắp tới của bà đến Thái Lan để giáo dục về AIDS và đến châu Phi để phá bỏ mìn. Bà ấy nói rằng bà hy vọng sau này các con trai bà sẽ học ở Mỹ và tôi hứa sẽ giúp bà và các cháu làm việc đó. Bà luôn sống hướng về tương lai và điều đó khiến cho cái chết đột ngột của bà càng thêm bi thảm.
Sáng sớm hôm sau, tôi nhận được một cuộc gọi từ đại diện gia đình Công nương Diana mời tôi đến dự lễ tang ở Luân Đôn. Tôi rất vinh dự. Trong suốt thời gian lễ tang tại tu viện Westminster, tôi ngồi cạnh gia đình Blair và các thành viên của hoàng gia, tim tôi nhói đau khi nhìn các con của bà, những đứa con mà Công nương hết lòng yêu thương. Ngôi thánh đường tôn nghiêm nơi cách đây 44 năm, mẹ chồng của Diana được tấn phong Nữ hoàng chật cứng người và hơn một triệu dân tụ tập ngoài đường phố để theo dõi tang lễ qua hệ thống truyền thông công cộng. Hàng trăm triệu người trên khắp thế giới theo dõi qua truyền hình. Khi em trai của Diana là Charles đọc điếu văn, ông đã có ý chê trách cách cư xử của hoàng gia đối với chị mình và tôi nghe được những tràng vỗ tay ủng hộ của đám đông đang theo dõi tang lễ bên ngoài nhà thờ. Dường như có tiếng sấm xa xa vụt qu đám đông và nổ ầm ầm ngoài đường phố, ngoài cửa tu viện và đổ dồn xuống chính diện thánh đường. Những người trong khu thánh lễ dường như hóa đá khi nghe tiếng hoan hô vang dội bên ngoài. Elton John chơi bản nhạc A candle the Wind với lời mới nói về cuộc đời mong manh, ngắn ngủi của công nương.
Vào ngày trước hôm diễn ra tang lễ Diana, thế giới cũng vừa mất đi một vĩ nhân khi Mẹ Teresa qua đời ở Calcutta. Bỏ qua những sự khác biệt hiển nhiên, mỗi người trong hai phụ nữ này đều có khả năng soi sáng cho những người có cuộc sống nghèo khổ và dễ bị tấn công nhất và họ đã sử dụng danh tiếng của mình theo những cách thức chọn lọc để giúp đỡ người khác. Những bức ảnh đau thương của Diana và Mẹ Teresa cùng nói lên tình thân ái giữa họ và cả hai người cũng từng kể với tôi về lòng mến mộ họ dành cho nhau.
Sau đám tang Diana, tôi quay về trang trại Martha ở đó vài ngày rồi bay đến Calcutta để viếng Mẹ Teresa. Nhà Trắng cử một đoàn đại biểu gồm những người ngưỡng mộ Mẹ Teresa đi cùng với tôi. Trong số họ có Eunice Shriver, dù cô ấy mới vừa bị ốm trước đó. Cô ấy đã không nghe lời khuyên của bác sĩ và vẫn đi theo chúng tôi. Cô ngồi suốt chuyến đi nhưng vẫn cho rằng thoải mái hơn là nằm trên chiếc ghế dài mà tôi dành cho cô ở khoang trước máy bay. Cô vừa đọc kinh vừa lần tràng hạt và cầu nguyện như các giáo dân của Mẹ Teresa ở Mỹ. Tôi thấy thật vinh dự khi đại diện cho Tổng thống và đất nước mình để tôn vinh một người phụ nữ đã làm rung động cả thế giới bằng một niềm tin không gì lay chuyển được và những công việc thực tế bà đã làm.
Chiếc quan tài mở của Mẹ Teresa được đưa đi qua các con đường đông đúc của thành phố Calcutta đến một quảng trường có mái che đầy kín người. Tang lễ kéo dài nhiều giờ đồng hồ vì các nguyên thủ quốc gia và các nhóm đại biểu tôn giáo tuần tự lên dâng vòng hoa trắng trước quan tài tỏ lòng thành kính. Tôi có nhiều thời gian để suy ngẫm về mối quan hệ ngắn ngủi nhưng phong phú của tôi với Mẹ Teresa.
Chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên vào tháng 2 năm 1994 trong Bữa ăn sáng cầu nguyên toàn quốc tại đại sảnh khách sạn Washington. Tôi nhớ, tôi đã ngạc nhiên trước dáng vóc nhỏ nhắn của bà và tôi để ý thấy giữa mùa đông lạnh lẽo mà bà chỉ mang tất dài và giày xăng đan. Bà vừa mới diễn thuyết về chống nạn nạo phá thai và bà muốn nói chuyện với tôi. Mẹ Teresa là người rất thẳng thắn, bà không đồng tình với quan điểm của tôi về quyền lựa chọn của phụ nữ và nói thẳng với tôi như thế. Nhiều năm sau, bà vẫn thường xuyên gửi cho tôi các thông điệp, các bức thư với cùng quan điềm đó. Mẹ Teresa không bao giờ lên lớp hay trách mắng tôi mà lời khuyên nhủ của bà luôn đầy tình yêu thương và lay động lòng người. Tôi kính nể nhất là sự nghiệp đấu tranh của bà chống nạn phá thai ở phụ nữ, tuy nhiên, tôi cho rằng thật là nguy hiểm nếu các nước đều có quyền trừng phạt các phụ nữ hoặc bác sĩ liên quan đến việc phá thai. Tôi cho rằng việc nhà nước kiểm soát sự sinh sản của con người là một sự suy thoái nghiêm trọng và tôi đã từng chứng kiến hậu quả của điều đó ở Trung Quốc và Rumani trong những năm về trước. Tôi cũng không đồng ý với sự chống đối của bà - cũng như của giáo hội Thiên Chúa giáo - đối với vấn đề kế hoạch hóa sinh sản. Tuy nhiên, tôi ủng hộ quyền của người theo đạo được nói lên ý kiến chống đối sự phá thai và cố gắng can ngăn phụ nữ, can ngăn chứ không ép buộc hoặc hình sự hóa, đừng chọn giải pháp phá thai mà hãy sinh con khi đã có bầu.
Cho dù chúng tôi không bao giờ nhất trí với nhau về vấn đề nạo phá thai và sinh đẻ có kế hoạch nhưng Mẹ Teresa và tôi vẫn có nhiều ý kiến chung trên nhiều khía cạnh khác, kể cả tầm quan trọng của việc chấp nhận sinh con để rồi cho làm con nuôi. Chúng tôi đều tin rằng việc chấp nhận sinh những đứa con dù không mong đợi vẫnốt hơn việc nạo phá thai. Vào lần đầu gặp nhau bà đã nói cho tôi nghe về những mái ấm dành cho trẻ mồ côi ở Ấn Độ và mời chúng tôi cùng giúp bà lập nên các cơ sở tương tự ở thủ đô Washington để các trẻ sơ sinh bị bỏ rơi được chăm sóc cho đến khi chúng được nhận làm con nuôi.
Khi tôi đồng ý hỗ trợ chương trình này, Mẹ Teresa càng hăng hái vận động thêm các tổ chức khác. Nếu cảm thấy công việc từ thiện bị trì hoãn, bà liền viết thư hỏi tôi xem chúng tôi đã tiến đến đâu. Bà phái người đến thúc giục tôi tiến hành. Bà gọi điện cho tôi từ Việt Nam, bà gọi điện cho tôi từ Ấn Độ, cũng chỉ cùng một câu hỏi: "Bao giờ tôi mới có các nhà mở cho trẻ em mồ côi?”
Việc thành lập nhà mở cho trẻ bị bỏ rơi ở thủ đô Washington diễn ra khó khăn hơn tôi tưởng. Nhà Trắng cũng không dễ dàng vượt qua thói quan liêu của cơ quan quản lý cư trú và các quan chức trong hệ thống dịch vụ dân sinh. Cuối cũng vào tháng 6 năm 1995, khu nhà mở của Mẹ Teresa dành cho trẻ mồ côi cũng được lập nên ở vùng ngoại ô an ninh, xinh đẹp gần thủ đô Washington. Mẹ Teresa đã bay từ Calcutta đến cùng tôi khai trương khu nhà mở. Như một đứa trẻ hạnh phúc, bà ấy nắm chặt tay tôi trong bàn tay nhỏ nhắn nhưng mạnh mẽ của bà, kéo tôi lên cầu thang để xem căn phòng chăm sóc trẻ vừa mới sơn xong cùng với hàng xe nôi có mui dành sẵn cho trẻ. Dường như không có trở ngại nào ngăn được lòng nhiệt huyết của bà. Và ngay lúc đó tôi đã hiểu được vì sao vị nữ tu sĩ giản dị này có thể huy động các quốc gia thực hiện theo ý chí của mình.
Quy mô ảnh hưởng của bà được bộc lộ đầy đủ trên quảng trường ở Calcutta khi các Tổng thống, các Chủ tịch đều quỳ trước chiếc quan tài chưa đóng kín. Tôi có thể hình dung bà ở trên cao đang nhìn xuống quang cảnh này và tự hỏi làm thế nào bà có thể điều khiển tất cả những người đang c để giúp đỡ người nghèo ở tất cả các quốc gia mà họ đại diện đến đưa tang ngày hôm ấy.
Mẹ Teresa đã để lại một di sản vô cùng to lớn cùng với một người kế vị là Sơ Nirmala, một thành viên của Giáo đoàn Tình thương đã nhiều năm làm việc cùng với Mẹ Teresa. Sau đám tang, Sơ Nirmala mời tôi đến thăm viện trẻ mồ côi ở Calcutta và ngỏ ý muốn gặp riêng tôi tại Mother House - trụ sở chính của dòng tu này. Khi tôi đến, Sơ Nirmala dẫn tôi vào một căn phòng quét vôi trắng giản dị, được thắp sáng bằng nhiều dãy nến đặt sát tường. Khi mắt tôi đã quen với bóng tối, tôi nhìn thấy chiếc quan tài đóng kín của Mẹ Teresa đã được đưa về đây, nơi quê hương của bà, nơi bà sống mãi mãi. Các nữ tu sĩ đứng thành vòng tròn quanh chiếc quan tài của Mẹ và cầu nguyện trong im lặng, lúc đó Sơ Nirmala cũng yêu cầu tôi cùng cầu nguyện cho Mẹ. Tôi thoáng giật mình, lưỡng lự, bất chợt thấy như mình thất lễ. Rồi tôi cúi đầu xuống và thầm cảm ơn Chúa đã ban cho tôi ân huệ được biết đến người phụ nữ nhỏ bé nhưng đầy nghị lực và vô cùng thánh thiện này khi bà còn sống trên trái đất. Tôi tin chắc lúc này ở trên thiên đường, bà cũng đang nhìn theo khi mỗi người chúng ta đang cố gắng hoàn thành, bằng cách riêng của mình, lời khuyên bảo của bà là hãy yêu thương Chúa và yêu thương nhau.
Vào trung tuần tháng Chín, việc mà tôi lo lắng suốt nhiều năm qua cũng đã đến: Chelsea chuyến tới California để học Trường Stanford. Để nguôi ngoai niềm lo lắng về đoạn đời ngọt ngào lẫn đắng cay này, tôi bỏ cả tháng trời chuẩn bị tất cả những vật dụng cần thiết cho Chelsea. Chúng tôi cùng nhau đi mua sắm ở Linens'n Things and Bed Bath & Beyond, tôi đã mua máy hút bụi DustBuster, máy sấy quần áo, giấy simili lót tủ và rất nhiều những vật dụng khác mà chỉ có người mẹ mới nghĩ rằng chúng cần thiết cho cuộc sống ở ký túc xá.
Chúng tôi cũng mong việc Chelsea đến trường41;i học vào giữa tháng 9 năm 1997 sẽ diễn ra một cách kín đáo. Ban giám hiệu trường đã chấp nhận mối quan tâm của chúng tôi về sự riêng tư của Chelsea và đã thảo luận những vấn đề an ninh với bộ phận mật vụ nhằm giúp Chelsea học tập như một sinh viên bình thường. Cho dù có bảo vệ suốt 24 trên 24 nhưng mọi việc được tiến hành hết sức kín đáo vì quyền lợi của cả nhà trường và Chelsea. Các nhân viên bảo vệ trực tiếp sẽ ăn mặc như những sinh viên và trà trộn trong số họ và cũng sống gần Chelsea trong khu nội trú. Đồng thời, Trường Stanford cũng hài lòng với việc giới hạn báo giới ra vào trường, các nhà báo không có giấy phép cụ thể sẽ không được đến gần ký túc xá nơi Chelsea ở hay bám sát Chelsea trong các buổi học.
Chelsea, tôi và Bill đã đến Palo Alto vào một ngày mùa thu đẹp trời. Theo lời mời của ban giám hiệu Trường Stanford, chúng tôi đồng ý chụp một tấm ảnh kỷ niệm ngày đầu tiên ở trường đại học trước gần hai trăm phóng viên trên khắp thế giới đến săn ảnh và tin tức về vụ Chelsea đến học tại đây. Sau dịp chụp ảnh này, Chelsea sẽ được báo giới để yên và sẽ bắt đầu học đại học giống như 1.659 sinh viên khác cùng tốt nghiệp Trường Stanford năm học 2001.
Chúng tôi đến một khu nhà nội trú ba tầng, nơi Chelsea sẽ ở trong thời gian học đại học. Những cuộc mua sắm và sắp xếp va-li vào phút cuối đã khiến tôi rất mệt và cũng giống như nhiều bà mẹ khác, tôi cảm thấy rời rã ngay khi bước chân vào khu nội trú. Chelsea ở cùng phòng với một nữ sinh khác trong căn phòng nhỏ bé chỉ vừa đủ đặt hai chiếc giường cá nhân, hai cái bàn học và mấy cái tủ áo. Tôi phải chạy tới chạy lui suy nghĩ cách để làm thế nào sắp xếp đủ tất cả đồ đạc của Chelsea vào căn phòng ấy. Tôi bỏ bớt các loại khăn tắm và ra trải giường ra ngoài, đo và cắt giấy lót cho vừa với hộc tủ. Vừa dọn dẹp tôi vừa trêu chọc con nhưng không bớt lo lắng: "Hay là để đồ dùng vệ sinh của con dưới gầm giường? Và mẹ nghĩ con không nên sắp ếp bàn học như thế".
Trong lúc đó thì Bill, cũng như các ông bố khác, bị rơi vào trạng thái đờ đẫn ngay khi bước chân vào khu nội trú. Bill kiên quyết tự mình mang hành lý của Chelsea. Và rồi với một chút nỗ lực, anh sắp xếp lại hai cái giường mà Chelsea và bạn cùng phòng muốn đặt cách xa nhau. Sau khi nghiệm ra rằng, trước tiên phải sấp chiếc thường lại, Bill cũng đã hoàn thành được công việc rồi anh rút lui ra phía cửa sổ, đứng buồn rầu nhìn ra ngoài trông như một võ sĩ đang choáng váng sau một hồi bị đánh tơi tả trên võ đài.
Sự lo lắng quá mức của tôi trước sự xa cách con gái càng khiến cho Chelsea thấy buồn hơn. Và tôi chỉ nhẹ lòng khi nhớ ra rằng, các bậc cha mẹ khác cũng làm như vậy. Cách đây vài năm tại một cuộc họp phụ huynh và sinh viên, Blake Harris đại diện cho sinh viên lên phát biểu đã rất hài hước kể chuyện về mẹ mình: "Các vị phụ huynh yêu quý, các vị đã cố gắng hết mức. Và các vị sẽ nhớ con khi rời khỏi đây trong buổi tối nay. Và, các con của quý vị cũng sẽ nhớ quý vị trong tháng xa nhà đầu tiên, mỗi lần nhớ khoảng mười lăm phút. Như cha mẹ tôi chẳng hạn. Mẹ tôi đã khóc khi tôi bắt đầu đi tham quan các trường đại học. Khi chúng tôi đến đây... mẹ tôi nỗ lực đến suýt ngất khi dành cho tôi sự chăm sóc cuối cùng của người mẹ. Bà cho rằng, việc bà lót giấy trong ngăn tủ của tôi là chuyện cực kỳ cần thiết để giữ quần áo được sạch sẽ. Tôi cứ để bà làm theo ý của bà. Tôi không nỡ nào nói với bà rằng, nếu quần áo của tôi mà sạch tới mức ấy thì chúng không còn đường chui vào ngăn tủ nữa". Chelsea và tôi nhìn nhau, và cùng cười vang. Cuối cùng tôi cảm thấy hình như mình không đơn độc.
Vào cuối giờ chiều, tất cá các phụ huynh chúng tôi phải rời khỏi khu nội trú để cho sinh viên nghỉ ngơi và tự do sắp xếp chỗ ở của mình. Các bà mẹ như chúng tôi thu dọn đồ đạc (những vật dụng không cần dùng đến) và tiến về phía cổng. Sau nhiều tuần chuẩn bị, mua sắm, đóng gói và sắp xếp, bây giờ là giây phút quan trọng nhất đòi hỏi chúng tôi phải chứng tỏ sự cứng rắn và mạnh mẽ của mình.
Ở một góc độ nào đó, chúng tôi đã chuẩn bị tâm lý cho việc rời xa bọn trẻ để chúng bắt đầu cuộc sống mới của chính chúng. Nhưng khi quan sát các ông bố, tôi nhận thấy họ dường như vẫn không hề có sự chuẩn bị trước. Ngay giây phút chia tay, họ dường như tỉnh ngộ và đột ngột tỏ ra lo lắng về viễn cảnh phải rời xa những đứa con của họ. Bill trông hơi buồn và thốt lên: "Sao, đến giờ chúng ta phải đi rồi sao? Ăn tối xong chúng ta quay lại được không?".