Trong chính trường, đôi khi các đối thủ xuất hiện ở những nơi mà ta không ngờ tới. Là những người chủ tạm thời của Nhà Trắng, Bill và tôi thường mở rộng cửa để đón tiếp khách khứa trong các dịp lễ lộc, tiệc tùng quan trọng. Nhưng chúng tôi chưa bao giờ đặt bất kỳ ai có thái độ chính trị đối lập với mình vào sổ đen. Điều này đã dẫn đến một tình huống khó xử trong một dịp đón tiếp khách. Ngày 21 tháng 1 năm 1998, ngay sau vụ Lewinsky vỡ lở, Bill và tôi đang tổ chức một buổi dạ tiệc để ăn mừng sự thành công của việc gây quỹ cho Quỹ Bảo tồn Nhà Trắng, một tổ chức phi lợi nhuận nhằm mục đích kêu gọi sự đóng góp tài chính của tư nhân chự án phục chế Nhà Trắng. Rosalynn Carter khởi xướng việc gây quỹ này và sau đó Barbara Bush tiếp tục, mục tiêu gây quỹ được đề ra là 25 triệu đô la. Khi tôi trở thành Đệ nhất Phu nhân thì họ đã gây dựng được một nửa số tiền đó. Và giờ đây, tôi rất hài lòng vì chúng tôi đã có thể đạt và thậm chí vượt qua mục tiêu gây quỹ ban đầu. Tôi đã làm điều đó với tất cả lòng say mê đối với Nhà Trắng và buổi dạ tiệc này là cơ hội để tôi bày tỏ sự biết ơn của mình đối với những nhà hảo tâm đã đóng góp gây quỹ.
Bill và tôi đang đón tiếp khách mời ở Phòng Xanh thì bỗng có một người đàn ông mặt tròn vành vạnh đến bắt tay chúng tôi. Khi người sĩ quan hậu cần xướng danh vị khách và người chụp ảnh của Nhà Trắng chuẩn bị chụp hình thì tôi nhận ra ông ta, Richard Mellon Scaife, nhà tỉ phú Cộng hòa đã chi tiền cho chiến dịch dài hơi nhằm loại Bill ra khỏi cương vị Tổng thống. Trước đó tôi chưa từng gặp Scaife nhưng tôi vẫn đón tiếp ông ta một cách bình thường như bất kỳ vị khách nào khác. Không ai để ý đến tình huống đó nhưng mãi đến khi danh sách khách mời được công bố thì một số nhà báo đã thật sự ngạc nhiên khi biết rằng tôi vẫn chấp nhận ông ta. Các nhà báo đã hỏi tại sao tôi mời ông ta, tôi nói Scaife có quyền tham dự buổi dạ tiệc đó vì ông ta đã đóng góp tài chính cho việc bảo tồn Nhà Trắng trong suốt thời kỳ của chính phủ Bush. Nhưng tôi thật sự ngạc nhiên khi ông ta đã chọn cách đối mặt với kẻ thù.
Một sự kiện hội hè tiếp theo là buổi tiệc trọng thể đón tiếp Tony Blair vào ngày 5 tháng 2 năm 1998. Tôi muốn đó phải là một buổi tối tuyệt vời dành cho gia đình Blair vì tình bạn mà tôi và Bill đã gầy dựng với Cherie và Tony cũng như vì những gắn kết lịch sử và mối giao hảo của hai nước. Đây là buổi dạ tiệc lớn nhất mà chúng tôi từng tổ chức tại Nhà Trắng nên chúng tôi đã chọn Phòng Đông thay vì Phòng ăn của chính phủ quá nhỏ. Còn tiết mục giải trí sữa ăn tối nữa, tôi đã cho sắp xếp một chương trình để Ngài Elton John và Stevie Wonder cùng biểu diễn, đó là một sự kết hợp tuyệt vời giữa âm nhạc Mỹ và Anh.
Khi Chủ tịch Hạ viện Newt Gingrich chấp nhận lời mời, tôi xếp ông ta ngồi phía trái tôi, trong khi Blair sẽ ngồi bên tay phải của tôi theo nghi thức ngoại giao. Gingrich ngưỡng mộ và xem Blair như một nhà lãnh đạo chính trị có tài biến hóa, một từ mà Gingrich từng sử dụng để mô tả bản thân mình. Tôi rất tò mò muốn biết họ sẽ nói gì với nhau cũng như thăm dò suy nghĩ của Gingrich về những lời cáo buộc gần đây nhất của Starr. Nhiều nhà bình luận đã nói về "bóng ma của một cuộc đàn hặc". Mặc dù không có một cơ sở pháp lý của Hiến pháp nào dành cho việc đó, tôi biết chắc chắn phe Cộng hòa sẽ không bỏ qua cơ hội này. Gingrich là nhân vật quyết định: nếu ông ta bật đèn xanh, cả đất nước này sẽ lao vào cuộc chế giễu.
Sau một lúc lâu bàn luận về việc mở rộng NATO, vấn đề Bosnia và Iraq, Gingrich quay qua phía tôi và nói: "Những lời buộc tội chồng bà thật là lố bịch, tôi nghĩ thật là không công bằng khi người ta đang cố lợi dụng sự việc đó. Cho dù có đúng sự thật đi nữa, nó cũng chẳng có ý nghĩa gì. Nó sẽ chẳng đi tới đâu”. Đó là những điều mà tôi mong muốn nghe thấy, nhưng tôi đã thật sự ngạc nhiên. Tôi nói với Bill và David Kendall rằng có vẻ như Gingrich nghĩ rằng những lời cáo buộc Bill thật sự không nghiêm trọng. Nhưng sau đó ông ta đã đổi giọng hoàn toàn khi lãnh đạo phe Cộng hòa cáo buộc Bill về tội làm nhục quốc thể. Tuy nhiên, tôi nghĩ cuộc đối thoại đó là bằng chứng cho thấy Gingrich là một người thật sự phức tạp và khó đoán hơn tôi nghĩ. (Nhiều tháng sau, khi những vụ ngoại tình của ông ta bị tiết lộ, tôi mới hiểu tại sao ông ta đã muốn bỏ qua sự việc.)
Tháng Hai, Starr bắt đầu đưa trát triệu tập các thành viên của Sở Mật vụ để buộc họ ra làm chứng trước đN bồi thẩm đoàn. Starr tìm kiếm chứng cớ đế phản bác lời khai của Bill trong vụ Jones, và ông ta muốn các nhân viên mật vụ báo cáo lại những cuộc đàm thoại mà họ có thể vô tình nghe thấy hay những sự việc mà họ chứng kiến trong quá trình bảo vệ Tổng thống. Việc buộc các nhân viên mật vụ ra làm chứng là việc làm chưa từng có trong lịch sử và Starr đã đặt họ vào một tình huống quá khó khăn. Những nhân viên mật vụ là những người không liên quan đến chính trị, công việc của họ thật gian nan, điều kiện làm việc khó khăn và áp lực kinh khủng. Đương nhiên là họ biết những bí mật riêng tư của những người mà họ có nhiệm vụ bảo vệ và họ cũng biết là họ không thể tiết lộ những bí mật này. Nếu những nhân viên mật vụ này không được Tổng thống tin tưởng, họ sẽ không được phép đến gần để làm nhiệm vụ, đó là việc bảo vệ an toàn cho Tổng thống và gia đình - không phải là việc nghe trộm cho luật sư độc lập hay các bộ phận thanh tra khác.
Tôi tôn trọng và khâm phục những nhân viên mật vụ mà tôi đã gặp gỡ trong nhiều năm qua. Cả người bảo vệ lẫn người được bảo vệ phải cố hết sức để giữ một khoảng cách mang tính chuyên nghiệp cần thiết, nhưng khi cùng trải qua nhiều giờ bên nhau, giữa họ nảy sinh những mối quan hệ mang tính tin cậy và chăm sóc. Gia đình và bản thân tôi nhận thấy các nhân viên mật vụ là những con người rất sâu sắc, hài hước và nồng nhiệt. George Rogers, Don Flynn, AT. Smith và Steven Ricciardi, - những người từng là nhân viên mật vụ trưởng của tôi - chưa bao giờ phá vỡ mức cân bằng giữa sự thân mật và tính chuyên nghiệp. Tôi sẽ không bao giờ quên thái độ bình tĩnh của Steven Ricciardi sau sự kiện 11 tháng 9, khi anh gọi kiểm tra xem Chelsea có an toàn không. Lúc đó, con bé đang ở mạn dưới Manhattan cùng với cô bạn Nickie Davison của nó.
Lew Merletti, một cựu binh chiến tranh Việt Nam, người đứng đầu Ban bảo vệ Tổng thống (PPD) và sau đó trở thành Giám đốc Sở Mật vụ, đã đến gặp các đặc vụ của Starr và cảnh cáo họ rằng việc buộc các nhân viên mật vụ ra làm chứng sẽ làm tổn hại đến sự tin tưởng cần thiết giữa Tổng thống và các nhân viên mật vụ, ảnh hưởng đến việc bảo vệ an ninh cho Tổng thống hiện tại và sau này. Merletti đã đưa ra đánh giá này dựa trên kinh nghiệm chuyên môn dày dạn của mình qua ba đời Tổng thống Reagan, Bush và Clinton. Các giám đốc sở mật vụ tiền nhiệm cũng đồng ý với quan điểm này. Bộ Tài chính, cơ quan giám sát Sở Mật vụ, đã yêu cầu tòa án từ chối yêu cầu của Starr. Cựu Tổng thống Bush cũng viết thư phản bác ý đồ buộc các nhân viên mật vụ ra làm chứng của Starr. Nhưng Starr vẫn tiếp tục thúc ép các nhân viên mật vụ với các trát đòi hầu tòa. Theo quan điểm của ông ta, điều kiện làm việc và vai trò đặc biệt của Sở Mật vụ là không quan trọng lắm. Tháng Bảy, ông ta đã buộc Larry Cockell, Trưởng Ban bảo vệ Tổng thống, ra làm chứng và làm hồ sơ kiến nghị để buộc những người khác nữa ra làm chứng. Cuối cùng các tòa án cũng đồng ý theo quan điểm của Starr. Xét về mặt pháp luật, mối quan hệ giữa nhân viên mật vụ và người được bảo vệ không giống như quan hệ giữa luật sư và thân chủ hay bác sĩ và bệnh nhân nên không được xem như là một mối quan hệ có tính bảo mật. Cho đến trước thời điểm cuối năm đó, Starr đã buộc hơn hai mươi nhân viên mật vụ của Nhà Trắng ra làm chứng.
Đến đầu mùa xuân năm 1998, công chúng đã có vẻ mệt mỏi với cuộc điều tra của Starr. Nhiều người Mỹ cảm thấy bị xúc phạm bởi những tiết lộ rất dung tục và giật gân từ Văn phòng Luật sư Độc lậpHọ nhận ra rằng cho dù Bill có phạm lỗi trong cuộc sống riêng tư đi nữa thì những vi phạm đó đã không ảnh hưởng đến khả năng hoàn tất trách nhiệm của một Tổng thống.
Giới truyền thông bắt đầu nghi ngờ và bàn tán đến một khả năng là đã có một nỗ lực có tổ chức nhằm chống lại chúng tôi. Ngày 9 tháng 2, tạp chí Newseek đã đăng tải một sơ đồ chiếm hai trang báo với tiêu đề "ưu hay Trùng hợp ?". Bài báo chỉ ra những mối liên hệ giữa 23 chính trị gia bảo thủ, những nhà tài trợ viên chức truyền thông, tác giả, luật sư, các tổ chức và nhiều người khác, trong việc cung cấp thông tin và tài chính cho các vụ xì-căng-đan mà Star đang điều tra.
Sau đó, trong ấn phẩm tháng Tư của tạp chí Esquire, David Brock đã viết một lá thư công khai xin lỗi Tổng thống về câu chuyện Troopergate mà anh ta đã đăng trên tờ American Spectator năm 1994. Câu chuyện này đã dẫn đến vụ kiện của Paula Jones. Lương tâm của Brock bắt đầu bị khủng hoảng. Quyển sách Blinded by the Right của Brock đã mô tả đầy đủ việc anh ta đã đồng lõa với những âm mưu có tổ chức nhằm tiêu diệt Bill và chính quyền của anh cũng như những nghị quyết, chiến thuật và những mục tiêu của phong trào cánh hữu ở Mỹ.
Chúng tôi chuyển hướng tấn công trên mặt trận pháp lý. Theo luật của Liên bang, Văn phòng Luật sư Độc lập bị cấm tiết lộ thông tin mật được khai trước bồi thẩm đoàn. Nhưng, những thông tin này liên tục bị rò rỉ từ Văn phòng của Starr và thường đến tai một nhóm các phóng viên có cảm tình với Văn phòng Luật sư Độc lập. David Kendall đã lập hồ sơ yêu cầu sự can thiệp của tòa và tổ chức họp báo để tuyên bố việc anh ấy đã yêu cầu vị quan tòa giám sát bồi thẩm đoàn trong vụ Whitewater, ngài Norma Holloway Johnson, cấm việc tiết lộ thông tin. Việc làm này đã có hiệu quả như mong đợi. Sau đó một thời gian, việc rò rỉ thông tin đã ngừng hẳn.
Ngày 1 tháng 4, trong khi Bill và tôi đang ở hải ngoại trong chặng cuối cùng chuyến công du của Tổng thống sang châu Phi, thì Bob Bennett gọi báo một tin quan trọng cho Tổng thống: Thẩm phán Susan Webber Wright đã quyết định bãi bỏ vụ kiện của Paula Jones vì cho rằng nó thiếu căn cứ và giá trị pháp lý.
Suốt mùa xuân đó, Starr đã thuê Charles Bakaly, một chuyên gia PR (giao tế cộng đồng), đề đ lại hình ảnh của mình. Có lẽ được Bakaly gợi ý nên vào tháng Sáu, Starr đã có một buổi diễn thuyết tại hiệp hội luật gia ở Bắc Carolina. Ông ta đã so sánh mình với Atticus Finch, một luật sư da trắng dũng cảm người miền Nam trong cuốn tiểu thuyết To Kill Mockingbird của Harper Lee. Trong câu chuyện, Finch đã nhận bào chữa cho một người đàn ông da đen bị tố cáo đã hãm hiếp một phụ nữ da trắng ở một tỉnh lỵ nhỏ ở Alabama. Finch với hành động của chủ nghĩa anh hùng và lòng dũng cảm vì luân lý, đã chống lại quyền lực không giới hạn của một công tố viên, người đã bóp méo các bằng chứng vì mục đích cá nhân. Tôi đã thấy rất nhiều Atticus Finch trong Vince Foster và trong tính cách tự phong của Starr. Ý thức về sự ưu việt về đạo lý của ông ta - biện hộ cho việc ông ta cho phép mình xem thường các luật lệ, thủ tục và lễ nghi phép tắc - quá lớn đến nỗi tôi cũng như David không thể chịu đựng được nữa. David trả đũa bằng một bài báo đáng trên tờ The New York Times ngày 3 tháng 6. "Giống như Atticus", Kendall viết "các công chức cần phải nghi ngờ - về động cơ của chính họ, động cơ của đối thủ và nghi ngờ cả về sự diễn giải của họ về sự thật."
Khoảng giữa tháng Sáu, Thẩm phán Johnson kết luận có khả năng OIC đã tiết lộ thông tin một cách bất hợp pháp và David có thể đưa trát yêu cầu Starr và các phụ tá của ông ta ra hầu tòa để điều tra nguồn gốc của sự rò rỉ. Việc giữ bí mật tại ban bồi thẩm là cực kỳ quan trọng bởi vì một ban bồi thẩm liên bang có những quyền lực rất lớn đối với việc điều tra. Luật quy định rất chặt chẽ rằng những bút lục lời khai trước ban bồi thẩm phải được giữ bí mật vì sự công bằng đối với những người đang bị điều tra nhưng chưa hẳn đã phạm tội. Thẩm phán Johnson nhận thấy việc rò rỉ thông tin về cuộc điều tra của OIC đến giới truyền thông đã có tính chất nghiêm trọng và lặp đi lặp lại, và định nghĩa về "tính bảo mật" của OIC có ý nghĩa quá hẹp. Mỉa mai thay, quyết định của bà có vẻ như lợi cho chúng tôi, nhưng lại bị "giữ trong vòng bí mật" vì nó chỉ liên quan đến thủ tục của ban bồi thẩm. Và chỉ là một trong số ít những sự kiện của vụ điều tra của Starr mà không được tiết lộ cho báo giới tại thời điểm đó.
Dựa trên cơ sở này, Bill đã tiến lên phía trước, anh đề ra một chương trình xuyên suốt cho nửa năm đầu 1998 để đấu với "bộ ba" - Gingrich, DeLay và Dick Armey. Còn tôi thì lo dàn xếp lực lượng để đối phó với kế hoạch của họ nhằm cắt ngân sách mà chính phủ dành cho Quỹ Nhân văn Quốc gia (the National Endowment for the Humanities) cũng như các khoản tài trợ của liên bang cho các hoạt động văn hóa trên khắp đất nước. Năm 1995, tôi đã viết một bài báo trên tờ The New York Times về tầm quan trọng của việc tài trợ liên bang đối với các ngành nghệ thuật. Tôi cũng ủng hộ truyền hình công và đã mang con rối Big Bird cùng các nhân vật khác trong chương trình Sesame Street vào một cuộc họp báo tại Nhà Trắng. Những nhân vật rối đó đã được cứu nhưng chúng tôi phải tiếp tục đấu tranh bảo vệ nguồn ngân sách ít ỏi quý giá mà chính phủ đã dành cho tất cả các ngành nghệ thuật.
Bill đã đề cử Richard Holbrooke vào vị trí Đại sứ tại Liên hiệp quốc - một việc mà các đảng viên Cộng hòa tại Thượng viện sẽ khó chấp nhận. Holbrooke từng thương thuyết Hiệp ước Hòa bình Dayton và làm Đại sứ ở Đức, Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao cho các vấn đề ở Canada và châu Âu trong nhiệm kỳ thứ nhất của Chính phủ Clinton. Vì luôn muốn giữ uy tín của mình nên Dick cũng có nhiều kẻ thù. Anh ấy cực kỳ thông minh, mạnh mẽ, thẳng tính và không biết sợ hãi. Trong suốt thời gian thương thuyết chấm dứt chiến tranh ở Bosnia, thỉnh thoảng Dick gọi cho tôi để bàn về một ý tưởng hay nhờ tôi truyền đạt thông tin cho Bill. Khi Bill đề cử Dick làm Đại sứ vào tháng 6 năm 1998, những kẻ gièm pha đã cố gắng ngăn trở việc bổ nhiệm. Melanne và tôi đã làm việc cật lực để Dick được chấp thuận và động viên anh ấy kiên trì vư̖ khó khăn đôi khi làm nản chí những người có khả năng, khiến họ không muốn đảm đương các vị trí quan trọng. Sau 14 tháng, Dick đã chiến thắng và lên đường đến Liên hiệp quốc vào tháng 8 năm 1999. Thông qua Quốc hội, anh sắp xếp việc thanh toán các khoản phí cho Liên hiệp quốc đã bị trì hoãn quá lâu. Anh ấy cũng làm việc với Tổng thư ký Kofi Annan nhằm làm cho đại dịch HIVAIDS trở thành một vấn đề ưu tiên của Liên hiệp quốc.
Sự kiện nổi bật của mùa xuân là chuyến công du đã được dự tính rất lâu trước đó của Bill tới châu Phi. Đó là chuyến công du đầu tiên đến châu Phi và cũng là chuyến đi dài ngày đầu tiên của một Tổng thống đương nhiệm đến vùng hạ Sahara. Từ khi chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên, Bill đã giúp tôi mở rộng tầm nhìn của mình về thế giới bên ngoài, giờ đây, đến lượt tôi sẻ chia với Bill những gì mà mình đã khám phá.
Ngày 23 tháng 3 năm 1998, chúng tôi đến Accra, thủ đô của Ghana và được đón tiếp bởi một đám đông lớn nhất mà tôi từng thấy. Hơn nửa triệu người tập trung tại Quảng trường Độc lập dưới cái nóng cháy da thịt, để nghe Bill nói. Tôi đã mê đi du lịch với Bill từ cái thời mà anh dắt tôi đến Anh và Pháp vào năm 1973. Anh có khả năng ứng phó trước công chúng, thích gặp gỡ người lạ và luôn sẵn sàng thử cái mới.
Đứng trên sân khấu, đối diện với đám đông khổng lồ, anh bảo tôi nhìn lại đàng sau để xem những hàng dài những tù trưởng các bộ lạc trong các bộ váy thật sặc sỡ và đeo nhiều trang sức bằng vàng. Anh siết chặt tay tôi và nói: "Chúng ta ở rất xa Arkansas, Hi’ry bé nhỏ".
Và đúng vậy, chúng tôi ở rất xa. Tổng thống Ghana, Jerry Rawlings và phu nhân, Nana Konadu, thết đãi chúng tôi bữa trưa tại Lâu đài Osu, cũng là phủ Tổng thống. Nô lệ và những người tù đã từng bị giam cầm trong các nhà tù của lâu đài này. Rawlings lên nắm quyền sau cuộc đảo chính năm 1979, đã làm cho những kẻ chỉ trích phải im lặng bằng cách mang lại sự ổn định cho đất nước. Ông được bầu làm Tổng thống năm 1992 và tái đắc cử năm 1996. Năm 2000, ông lặng lẽ rời khỏi vị trí này trong một cuộc bầu cử tự do. Vợ ông, Nana, một phụ nữ duyên dáng, mặc những trang phục do chính bà thiết kế bằng vải Kente, đã chia sẻ với tôi một mối liên quan thân mật: Hagar Sam, một bà mụ người Ghana, người đã đỡ đẻ khi tôi sinh Chelsea ở Little Rock, cũng là người đã đỡ đẻ bốn đứa con của Rawlings. Giống như nhiều người dám nghĩ dám làm khắp nơi trên thế giới, Hagar tiếp tục theo học ở Mỹ, nghiên cứu tại Bệnh viện Baptist ở Little Rock và làm việc cho bác sĩ phụ sản của tôi.
Mỗi ngày là một phát hiện mới đối,với Bill. Ở Uganda, Tổng thống và bà Museveni cùng đi với chúng tôi đến ngôi làng Wanyange gần thượng nguồn sông Nile. Tôi đã yêu cầu hai Tổng thống nêu bật lên những kết quả tích cực của những khoản vay tín dụng nhỏ. Từng nhà một, chúng tôi thấy dấu hiệu của sự thành công: người dân đã dùng các khoản vay để dựng một chuồng nuôi thỏ hay mua một cái nồi lớn hơn để nấu thêm thức ăn để bán hay lấy thêm hàng đem ra chợ bán. Bên ngoài một ngôi nhà, chồng tôi đã gặp mặt một Bill Clinton khác - một cậu bé 2 ngày tuổi mà mẹ cậu đã đặt tên cho cậu theo tên của Tổng thống nước Mỹ.
Bill muốn đến Rwanda để gặp những người sống sót sau nạn diệt chủng. Một con số ước tính chính xác nhất cho thấy chỉ trong vòng chưa đầy 4 tháng, có từ 500 ngàn đến một triệu người bị giết. Sở Mật vụ yêu cầu tổ chức các buổi gặp mặt tại sân bay vì các vấn đề an ninh. Ngồi ở phòng đợi sân bay giữa những nạn nhân của một trong những thảm họa diệt chủng khủng khiếp nhất trong lịch sử nhân loại, một lần nữa tôi lại nhớ đến những gì mà con người có thể làm đối với nhau. Trong khoảng hai giờ đồng hồ, từng nạn nhân một bình tĩnh thuật lại thảm họa xảy đến với họ. Không có lực lượng quân sự quốc tế hay bất kỳ quốc gia nào, kể cả Mỹ, đến ngăn chặn những cuộc tàn sát. Nước Mỹ thật sự gặp khó khăn nên đã không thể gởi quân đội đến đây sớm hơn sau những tiêu hao lực lưọng ở Somalia, và khi đó Chính phủ đang cố gắng kết thúc những cuộc tàn sát sắc tộc ở Bosnia. Tuy nhiên, Bill cũng đã công khai bày tỏ sự ân hận vì đất nước chúng tôi cũng như cộng đồng quốc tế đã không làm nhiều hơn nữa để ngăn chặn thảm họa.
Ở Cape Town, Bill và tôi được Tổng thống Mandela đón tiếp, ông đã yêu cầu Bill đọc một bài diễn văn trước Quốc hội Nam Phi. Sau đó, chúng tôi ăn trưa cùng với các thành viên Quốc hội thuộc đủ mọi sắc tộc, những người mà trước khi đất nước này độc lập chưa có cơ hội gặp gỡ và giao tiếp với nhau. Bill cũng đến thăm Victoria Mxenge và thấy hơn một trăm ngôi nhà mới xây kể từ lúc Chelsea và tôi viếng thăm một năm trước. Những người phụ nữ đã dùng tên của tôi để đặt tên cho một con đường và họ đã tặng tôi một bảng tên đường để làm kỷ niệm.
Mùa hè ở Nam Phi sắp kết thúc. Những ngọn gió nhẹ thoáng qua khi Bill cùng Mandela đi bộ qua các xà lim trong nhà tù trên đảo Robben. Ở đây, đã từng có những tù nhân da đen bị bắt mặc quần soọc khi làm việc ở những mỏ đá vôi, ngay cả khi thời tiết lạnh. Nhưng người tù da màu hay tạp chủng, được mặc quần dài. Trong suốt những buổi đập đá đơn điệu, Mandela đã vẽ những mẫu tự lên đá vôi, cố gắng dạy những người bạn tù cách đọc chữ khi những tên cai ngục không chú ý. Các tuyến lệ của mắt ông đã bị phá hủy sau nhiều năm trời tiếp xúc với bụi ăn da, mắt của ông bị chảy nước và ngứa. Nhưng đôi mắt ấy lại sáng lên bất cứ khi nào có tình yêu mới của ông kề bên. Đó là bà Graca Machel, người vợ góa của Samora Machel, Tổng thống Mozambique, người đã chết trong một tai nạn máy bay đáng ngờ năm . Bà là một ngọn đuốc sáng trên chính đất nước bị chiến tranh tàn phá của mình, đã ủng hộ phong trào phụ nữ và trẻ em ở khắp Phi châu. Cuộc hôn nhân giữa Mandela và Winnie, với hàng chục năm chia cách, tù tội và lưu đày đã không thể tồn tại. Ông ấy cảm thấy dễ chịu khi Graca ở bên cạnh và ông thật sự say mê bà. Với sự thúc đẩy của người bạn già là Tổng giám mục Tutu, họ đã kết hôn vào tháng 7 năm 1998.
Mandela nài nỉ Bill và tôi gọi tên ông theo tiếng địa phương, Madiba. Chúng tôi cảm thấy thoái mái hơn khi gọi ông là "Ngài Tổng thống". Đơn giản vì chúng tôi rất khâm phục và ngưỡng mộ ông. Mandela cứ hỏi tại sao chúng tôi không đón Chelsea ở trường và dắt nó theo. "Các bạn phải nói với con bé là khi tôi đến Mỹ nó phải gặp tôi đấy", ông nói, "Cho dù tôi ở đâu đi nữa."
Bill và tôi cũng ước có con bé bên cạnh. Chúng tôi đang trên đường đến Botswana, một đất nước khô cằn không có biển. Với sự đối lập thật khác biệt, đất nước này có thu nhập đầu người cao nhất vùng hạ Sahara của châu Phi, đồng thời có tỉ lệ nhiệm AIDS cao nhất thế giới. Chính phủ đang cố gắng tập trung các nguồn tài nguyên để chiến đấu với sự lan tràn của căn bệnh, cung cấp các phương tiện chữa trị, nhưng chi phí cao đến mức không thể trả nổi nếu không có trợ giúp của quốc tế. Chuyến viếng thăm này đã thuyết phục Bill phải cố gắng tăng gấp ba lần ngân sách tài trợ của Mỹ cho các chương trình AIDS thế giới trong vòng hai năm và cam kết hỗ trợ tài chính cho các nghiên cứu phát triển văc-xin.
Mặc dù chuyến đi của chúng tôi thật sự vui vẻ nhưng chưa có dịp nào để Bill được thấy đời sống hoang dã mà tôi và Chelsea đã được chiêm ngưỡng một năm trước. Trong một chuyến tham quan ngắn ngủi Công viên Quốc gia Chobe, Bill và tôi đã thức dậy trước bình minh đế lái xe đi xem thú rừng vào buổi sáng. Sau khi xem các chú voi, hà mã, đại bàng, cá sấu và một bư tử có 4 con, chúng tôi dành buổi chiều đi thuyền dọc theo dòng sông Chobe. Chúng tôi ngồi một mình phía đuôi thuyền khi mặt trời lặn vào một ngày tuyệt đẹp mà tôi sẽ nhớ mãi.
Trong chặng viếng thăm cuối cùng ở Senegal, Bill đến đảo Gorée, hòn đảo mà tôi đã đến trước đây. Anh đã nhìn thấy cánh cửa No Return và đã có một lời xin lỗi thật cảm động trước nhân dân bản địa về nhưng gì nước Mỹ đã làm trong thời buôn bán nô lệ. Đó có thể là một tuyên bố gây tranh cãi đối với một vài người Mỹ, nhưng tôi tin là nó thích hợp. Lời nói của Tổng thống Mỹ quả là một lời nói có trọng lượng, có tác động lớn đối với thế giới. Bằng cách bày tỏ sự hối tiếc về nạn diệt chủng ở Rwanda và về di sản của chế độ nô lệ, Bill đã gởi một thông điệp về sự quan tâm và kính trọng mà nước Mỹ dành cho nhân dân châu Phi, những người đang phải đương đầu với nhiều thách thức đan xen nhau như nghèo đói, bệnh tật, sự đàn áp, nạn đói, thất học và chiến tranh. Nhưng châu Phi cần nhiều hơn là những lời nói, châu Phi cần đầu tư và thương mại để phát triển nền kinh tế. Điều đó đòi hỏi những thay đổi lớn của hầu hết các chính phủ và sự cộng tác với nước Mỹ. Đó là lý do tại sao Đạo luật về Cơ hội và Phát triển của Phi châu mà Bill đã trình Quốc hội và đã được thông qua là hết sức quan trọng. Nó cũng tạo ra động lực cho các công ty Mỹ đầu tư vào châu Phi.
Trong vòng một tháng, khi vẫn còn nói chuyện và suy nghĩ về châu Phi, Bill và tôi lại chuẩn bị thăm chính thức Trung Quốc. Tôi rất vui vì chuyến đi này có Chelsea và mẹ tôi đi cùng, và càng thích thú hơn vì lần này tôi có thể ở lại lâu để tham quan nhiều hơn lần trước vào năm 1995.
Trung Quốc đã và đang hiện đại hóa nền kinh tế. Đường lối tương lai của Trung Quốc sẽ có tác động trực tiếp đến lợi ích của nước Mỹ. Bill việc hợp tác với Trung Quốc nhưng theo những gì tôi học được vào năm 1995, nói thì dễ hơn làm rất nhiều. Chúng tôi khởi hành cho một chuyến viếng thăm cấp quốc gia được dự tính từ lâu vào mùa xuân năm đó, hy vọng sẽ đối mặt với nạn vi phạm nhân quyền của Trung Quốc trong khi vẫn nhắm đến việc mở rộng một thị trường khổng lồ cho các doanh nghiệp Mỹ, cũng như tìm hiểu thêm về vấn đề Đài Loan. Một công tác đòi hỏi khả năng uyển chuyển cao độ.
Chính phủ Trung Quốc yêu cầu một buổi lễ đón tiếp long trọng tại Bắc Kinh, vì đây là một cuộc viếng thăm cấp quốc gia. Chúng tôi thường tổ chức những buổi lễ tương tự ở Khu vườn phía Nam Nhà Trắng còn người Trung Quốc thường tổ chức những buổi lễ long trọng của họ tại Quảng trường Thiên An Môn. Bill và tôi đã tranh luận liệu chúng tôi có nên tham dự buổi lễ tại Quảng trường Thiên An Môn, nơi mà nhà cầm quyền Trung Quốc đã dùng xe tăng đàn áp các cuộc biểu tình ủng hộ dân chủ vào tháng 6 năm 1989. Một mặt, Bill không muốn xuất hiện tại quảng trường để phản đối những sách lược đàn áp và vi phạm nhân quyền của Trung Quốc, mặt khác anh hiểu tầm quan trọng của Quảng trường trong lịch sử nhiều thế kỷ của Trung Quốc và anh đã đồng ý với yêu cầu của phía Trung Quốc. Tôi bị ám ảnh bởi sự kiện Thiên An Môn - đầu óc cứ nhớ lại những thước phim tư liệu mà tôi đã xem trên tivi năm 1989, các sinh viên đã dựng tạm một "Nữ thần Dân chủ” giống như bức tượng Nữ thần Tự do của chúng tôi - nên không chú ý gì đến những người lính đang đứng xếp hàng trong đội quân danh dự đợi Tổng thống Mỹ duyệt qua.
Tôi đã gặp Chủ tịch Giang Trạch Dân vào tháng 10 năm 1997 khi ông cùng vợ, bà Wang Yeping, đến Mỹ trong một chuyến viếng thăm cấp quốc gia. Chủ tịch Giang nói tiếng Anh và có thể giao tiếp dễ dàng. Trước chuyến viếng thăm, nhiều người bạn của tôi đã yêu cầu tôi đặt vấn đề về vụ đàn áp Tây Tạng. Tr tôi có gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma để bàn về hoàn cảnh khó khăn của người Tây Tạng và vì thế tôi đã yêu cầu Chủ tịch Giang giải thích về việc Trung Quốc đàn áp người Tây Tạng và tôn giáo.
"Bà muốn nói gì?”, ông nói. Theo lịch sử, "Tây Tạng là một phần của Trung Quốc. Người Trung Quốc đã giải phóng dân tộc Tây Tạng. Tôi đã đọc về lịch sử của họ trong thư viện và còn biết người Tây Tạng ngày nay giàu hơn trước đây."
"Nhưng còn những truyền thống và quyền tự do tôn giáo của họ thì sao?”
Ông ta trở nên sôi nổi, thậm chí còn đập bàn một lần. "Họ là những nạn nhân của tôn giáo. Giờ đây, họ đã được giải phóng khỏi chủ nghĩa phong kiến."
Mặc cho một nền văn hóa toàn cầu đang phát triển, những sự kiện giống nhau có thể và thường được người ta nhìn qua những lăng kính văn hóa, lịch sử rất khác nhau và từ "tựdo" được định nghĩa sao cho phù hợp với quan điểm chính trị của mỗi người. Tuy vậy, tôi không nghĩ là ông Giang - một người khá tinh tế và đã thành công trong việc mở cửa và hiện đại hóa nền kinh tế Trung Quốc - đã thẳng thắn với tôi về vấn đề Tây Tạng. Vì những lý do lịch sử và tâm lý, người Trung Quốc bị ám ảnh với việc tránh bị chia rẽ nội bộ. Trong trường hợp của Tây Tạng, chính nỗi ám ảnh đó đã dẫn đến những phản ứng mạnh và đàn áp.
Suốt chuyến viếng thăm Trung Quốc, Bill và tôi một lần nữa đã đề cập đến mối quan ngại về Tây Tạng và tình trạng chung về nhân quyền ở Trung Quốc. Như dự đoán, các nhà lãnh đạo Trung Quốc tỏ ra rất cứng rắn và thậm chí thô bạo. Khi được hỏi tại sao Tổng thống Mỹ phải đến thăm một đất nước mà họ cóểm khác với chúng ta đến như vậy, câu trả lời của tôi trước sau như một: nước Mỹ là một quốc gia đa dạng nhất trong lịch sử nhân loại, hiện đang nắm giữ một sức mạnh khó có quốc gia nào sánh kịp; nhưng chúng ta có thể bị thiếu thông tin và có thể có cái nhìn thiển cận về những đất nước khác và quan điểm của họ. Thông qua việc tìm hiểu thế giới xung quanh, những nhà lãnh đạo và nhân dân của chúng tôi học được nhiều điều bổ ích, chúng tôi luôn cạnh tranh và luôn cố gắng hợp tác với nhau. Bất kể chúng tôi có nhiều điểm chung với các dân tộc khác đến đâu đi nữa, thì văn hóa, địa lý và lịch sử vẫn tạo ra những sự khác biệt sâu sắc, mà chỉ có những mối giao hảo và trao đổi kinh nghiệm trực tiếp mới mong có thể khắc phục - nếu như điều đó là có thể. Một cuộc viếng thăm cấp Tổng thống, với sự chú ý mà nó tạo ra ở quốc gia đến thăm cũng như ở ngay tại nước Mỹ, ít nhất cũng tạo được nền tảng cho sự hiểu biết và tin tưởng nhiều hơn giữa hai nước. Do vậy, Tổng thống Mỹ đến thăm chính thức Trung Quốc là một điều rất hợp lý vì Trung Quốc là một quốc gia rất quan trọng đối với chúng tôi.
Trung tâm Nghiên cứu Luật về Quyền Phụ nữ và Dịch vụ Pháp lý của Trường Đại học Bắc Kinh là một văn phòng hỗ trợ tư pháp nhỏ, thật đáng ngạc nhiên là nó rất giống văn phòng luật mà trước đây tôi đã điều hành khi còn là một giáo sư luật trẻ tại Trường Đại học Arkansas. Trung tâm đang tích cực sử dụng luật để thúc đẩy quyền phụ nữ, bước đầu là nhằm đẩy mạnh hiệu lực của bộ luật 1992 về việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ. Trung tâm đã cố gắng vận dụng luật vào thực tế, như mang vào giờ thực hành của lớp một vụ kiện về một nhà máy không trả lương cho công nhân trong nhiều tháng, kiện một công ty bắt ép các kỹ sư nữ phải về hưu sớm hơn đồng nghiệp nam và giúp tố cáo một kẻ hiếp dâm. Tôi đã gặp vài khách hàng của Trung tâm, một phụ nữ bị sa thải vì đã có đứa con đầu không được sự đồng ý của bộ phận kế hoạch hóa gia đình của công ty. Được thành lập năm 1995 với sự tài trợ về tài chánh của Quỹ Ford, Trung tâm đã tư vấn cho gần bốn ngàn người và cung cấp dịch vụ tư pháp miễn phí cho hơn một trăm vụ kiện tụng. Tôi cảm thấy mình được khích lệ rất nhiều khi thấy sự hỗ trợ của Trung tâm cũng như các chương trình thử nghiệm về dân chủ ở cơ sở mà Trung Quốc đang thực hiện. Trung Quốc đang thay đổi, đó là điều chắc chắn; nhưng tiến đến sự tự do rộng lớn hơn thì không. Tôi nghĩ nước Mỹ cũng có lợi lớn trong việc nuôi dưỡng những mối quan hệ chặt chẽ hơn và hiểu biết hơn giữa hai nước.
Chính phủ Trung Quốc đã làm chúng tôi ngạc nhiên khi cho phép truyền hình trực tiếp cuộc họp báo giữa Bill và Giang - mà trong đó họ đã trao đổi rất nhiều về vấn đề nhân quyền, kể cả vấn đề Tây Tạng - cũng như buổi nói chuyện giữa Bill và các sinh viên Đại học Bắc Kinh, mà ở đó Bill đã nhấn mạnh: "Tự do thật sự bao gồm nhiều hơn nữa chứ không chỉ là tự do kinh tế".
Bill, Chelsea, mẹ tôi và tôi đã đi tham quan Tử Cấm Thành và Vạn Lý Tường Thành. Chúng tôi đi lễ Chủ nhật tại Nhà thờ Tin Lành Chongwenmen, một nhà thờ được nhà nước chấp thuận - đó là một quyền lợi mà nhiều người bị cấm. Qua việc này, chúng tôi muốn bày tỏ công khai sự ủng hộ tự do tôn giáo ở Trung Quốc. Một buổi sáng sớm, chúng tôi đã đi "chợ bẩn”, một cái chợ trời mà những người bán rong không kiếm được chỗ bày hàng trong lồng chợ, nên họ bày hàng trên những tấm đệm đặt ở nền đất phía bên ngoài. Chủ tịch Giang đã tiếp đãi Bill và tôi một bữa tối thật thịnh soạn tại Đại sảnh đường Nhân dân, với chương trình nhạc truyền thống Trung Quốc và nhạc phương Tây. Trước khi buổi biểu diễn kết thúc, hai nhà lãnh đạo đã lần lượt điều khiển Dàn nhạc Quân đội Giải phóng Nhân dân. Tối hôm sau, Giang mời chúng tôi,Chelsea và mẹ tôi, ăn tối thân mật tại khu nhà dành riêng cho các quan chức chính phủ cao cấp và gia đình của họ. Sau khi dùng bữa tối trong một phòng trà cổ kính, chúng tôi đi dạo ngoài trời đêm mùa hè yên ả và ngồi bên một bờ hồ nhỏ. Phía xa xa là thành phố Bắc Kinh với những ánh đèn lung linh huyền ảo.
Nếu Bắc Kinh là Washington DC. của Trung Quốc, thì Thượng Hải là New York. Lịch trình của Bill dày đặc những cuộc họp với các thương gia và có một chuyến viếng thăm Thị trường Chứng khoán Thượng Hải. Tôi gặp một tình huống rất buồn cười khác nhưng lại nói lên được khả năng kiểm soát tức thời của Chính phủ Trung Quốc. Chúng tôi đã sắp xếp một bữa ăn trưa bình dân ở một nhà hàng như là một dịp thư giãn khỏi lịch trình chính thức nặng nề. Khi chúng tôi đến, Bob Barnett, người đi tiền trạm báo cho tôi biết vài giờ trước đó cảnh sát đã xuất hiện và ra lệnh cho những người làm việc trong các cửa hiệu gần đó lánh đi. Họ được thay thế bằng nhưng người trẻ trung lịch lãm trong các trang phục tây âu.
Tại thư viện thành phố Thượng Hải hiện đại, nơi xứng đáng được xem là một công trình kiến trúc quý giá của bất kỳ thành phố nào, tôi đã nói về địa vị của phụ nữ, lấy ý tưởng từ câu cách ngôn của người Trung Hoa cổ, rằng phụ nữ nắm giữ một nửa bầu trời. Nhưng ở hầu hết mọi nơi, nếu cộng cả những công việc nhà không được trả lương với những công việc có thu nhập thì phụ nữ chúng ta thật sự nắm giữ hơn một nửa.
Nhằm mục đích nhấn mạnh quyền tự do tín ngưỡng, Ngoại trưởng Albright và tôi đã đi tham quan Giáo đường Ohel Rachel vừa mới phục chế. Đó là một trong những giáo đường được xây dựng bởi cộng đồng Do Thái rộng lớn, rất phồn thịnh ở thế kỷ 19 và 20 khi người Do Thái di tản từ châu Âu và Nga sang Thượng Hải. Sau khi chính phủ cộng sản nắm quyền, hầu hết những người Do Thái đã rời Trung ốc vì chính phủ không công nhận Do Thái giáo và các giáo đường Do Thái. Ohel Rachel đã bị sử dụng làm nhà kho trong nhiều thập kỷ. Giáo trưởng Arthur Schneier từ Giáo đường Park East ở thành phố New York cùng với Hồng y Theodore McCarrick và Tiến sĩ Donald Argue đã báo cáo với Bill về tình trạng tự do tín ngưỡng ở Trung Quốc và tặng một bộ kinh Torah mới cho hòm đựng pháp điển vừa được phục chế ở Ohel Rachel.
Từ giã nhịp sống hối hả của Thượng Hải, chúng tôi bay đến Guilin, một nơi được các nghệ sĩ yêu thích trong nhiều thế kỷ qua. Dòng sông Li lững lờ trôi giữa những dãy núi đá vôi hình chóp cao lởm chởm. Nhiều bức tranh thủy mạc ấn tượng bậc nhất của Trung Quốc đã mô tả cảnh đẹp mê hồn này.
Sau khi từ Trung Quốc trở về, tôi liền tập trung vào lịch sử văn hóa về nghệ thuật của riêng chúng tôi, cũng như tập trung vào một buổi lễ mừng thiên niên kỷ mà tôi đã nghĩ đến từ nhiều tháng trước đó. Chế độ dân chủ đòi hỏi một nguồn dự trữ các tài sản trí tuệ nhằm tiếp tục sự nghiệp phi thường của những người lập quốc, những nhà trí thức phi thường với trí tưởng tượng và những nguyên lý triết học vượt bậc đã cho phép họ hình dung và lập ra hệ thống chính phủ vững vàng như ngày nay. Người Mỹ đã gìn giữ được nền dân chủ hơn 225 năm, điều đó chứng tỏ những công dân của nước Mỹ, những người hiếu rõ về lịch sử phong phú của đất nước mình, bao gồm những liên minh hiệu quả với nước ngoài, có thể hình dung được họ sẽ phải xây dựng một tương lai như thế nào cho thế hệ con cháu. Trong nhiều năm qua, tôi cảm thấy lo ngại trước hiện tượng phản trí thức trong các bài diễn thuyết trước công chúng. Vài thành viên Quốc hội còn tự hào tuyên bố rằng họ chưa bao giờ đi ra nước ngoài.
Thiên niên kỷ mới mở ra một cơ hội để giới thiệu về lịch sử, văn hóa và những ý tưởng đã giúp cho nước Mỹ trở thành một chế độ dân chủ lâu dài nhất trong lịch sử nhân loại. Điều này cực kỳ quan trọng giúp chuẩn bị cho các công dân của chúng ta trong tương lai. Tôi muốn tập trung chú ý vào lịch sử nghệ thuật và văn hóa của nước Mỹ. Tôi giao cho người phó tham mưu đầy sáng tạo, cô Ellen McCulloch-Lovell, nhiệm vụ chính trong chương trình thiên niên kỷ này. Chúng tôi đã cùng nhau đưa ra một chủ đề mà tự nó đã bao hàm mọi hy vọng cho những nỗ lực của chúng tôi: "Trân trọng quá khứ, ước vọng tương lai.”
Tôi đã tổ chức một loạt các buổi thuyết trình và các màn biểu diễn ở Phòng Đông để các học giả, các sử gia, các khoa học gia và các nghệ sĩ khai thác những vấn đề từ nguồn gốc của nhạc jazz, đến vấn đề di truyền học, đến lịch sử của giới phụ nữ. Nhà khoa học lỗi lạc Stephen Hawking đã trình bày những khám phá mới nhất trong ngành vũ trụ học. Tiến sĩ Vinton Cerf và Tiến sĩ Eric Lander bàn về Dự án Hệ Gen nhân loại, giúp giải thích những bí mật về quá trình hình thành hệ đến của chúng ta ngày nay. Chúng ta đã biết tất cả nhân loại về cơ bản giống nhau đến 98,9% về gen di truyền, điều này giải thích cho lý do chúng ta cùng tồn tại hòa bình trong một thế giới quá nhiều bạo động. Nghệ sĩ kèn trumpet Wynton Marsalis đã minh họa cho chúng ta thấy tại sao nhạc jazz là âm nhạc của nền dân chủ. Những nhà thơ đoạt giải cùng với các em thiếu niên ngâm những bài thơ của riêng họ. Những diễn đàn này đã trở thành những chương trình trực tuyến đầu tiên từ Nhà Trắng, cho phép mọi người trên thế giới có thể thưởng thức và tham gia những phần hỏi đáp sau mỗi chương trình.
Như là một phần trong chương trình dài hai năm chào đón thiên niên kỷ mới, tôi đã đề xướng Quỹ Bảo tồn Kho tàng Quốc gia, một chương trình nhằm bảo tồn và công nhận những địa danh lịch sử và những di chỉ văn hóa khắp nơi trên đất nước. Trong mỗi cộng đồng đều có một cái gì đó - có thể là một tượng đài, một tòa nhà, một tác phẩm nghệ thuật - nói vềười Mỹ chúng ta. Nhưng chúng ta thường bỏ qua và không học hỏi được gì từ lịch sử đó. Star-Spangled Banner, vật đã truyền cảm hứng cho sự ra đời của bài quốc ca, hiện đang treo lủng lẳng trong Nhà Bảo tàng Quốc gia về Lịch sử nước Mỹ. Công việc phục chế tỉ mỉ di chỉ này tốn hàng triệu đô la; nhưng sự mất mát của nó thì không thể tính toán bằng tiền được.
Để khởi động cho Quỹ Bảo tồn Kho tàng Quốc gia, Bill và tôi công bố một khoản tài trợ 10 triệu đô la từ Ralph Lauren và Công ty Polo cho việc phục chế lá cờ đã truyền cảm hứng cho bài quốc ca của chúng ta. Hai năm sau, Quỹ Bảo tồn Kho tàng Quốc gia đã nhận được 60 triệu đô la từ chính phủ liên bang và 50 triệu đô la từ những đóng góp của các công ty tư nhân. Số tiền này đã được sử dụng để phục chế những bộ phim cũ, cải tạo những ngôi làng da đỏ và tân trang lại các rạp hát và bảo tồn nhiều di tích khác của nước Mỹ.
Tháng Bảy, tôi khởi hành một chuyến đi 4 ngày bằng xe buýt từ Washington đến Seneca Falls, New York, dọc đường ghé vào những nơi có nhiều ý nghĩa như Pháo đài McHenry ở Baltimore, nhà máy Thomas Edison ở New Jersey; Sở chỉ huy quân sự của George Washington ở Newburgh, New York; một công viên bảo tồn văn hóa của người Iroquois da đỏ ở Victor, New York và nhà của Harriet Tubman ở Auburn, New York.
Harriet Tubman là một trong số những nữ anh hùng của tôi. Từng là một nô lệ, bà đã trốn thoát theo tuyến Xe điện ngầm (Underground Railroad) và sau đó đã nhiều lần dũng cảm quay về miền Nam để dẫn dắt những nô lệ khác đến với tự do. Mặc dù không được đào tạo chính quy nhưng người phụ nữ phi thường này đã trở thành một y tá và một lính trinh sát trong quân đội Mỹ trong suốt cuộc nội chiến và sau đó trở thành một nhà hoạt động vì dân, bà đã quyên góp tiền cho các trẻ em da đen vừa được giải phóng khỏi kiếp nô lệ được đến trường, có cái mặc và có nhà để ở trong suốt thời kỳ Tái kiến thiết. Bà là một nguồn động lực của chính mình cũng như nguồn cảm hứng của những người Mỹ thuộc mọi chủng tộc. “Nếu bạn mệt mỏi, hãy tiếp tục đi”, bà nói với những người nô lệ mà bà đã dẫn họ đi trên những con đường gian nan đến với tự do. "Nếu bạn sợ hãi, hãy tiếp tục đi. Nếu bạn đói, hãy tiếp tục đi. Nếu bạn muốn nếm mùi vị tự do, hãy tiếp tục đi."
Cảm xúc mạnh mẽ nhất của chuyến đi đối với tôi chính là buổi lễ tại Công viên Lịch sử Quốc gia về Quyền Phụ nữ ở Seneca Faus với 16 ngàn người tham dự. Đó là lễ kỷ niệm lần thứ 150 thắng lợi của chiến dịch giành quyền bầu cử cho phụ nữ do Elizabeth Cady Stanton và Susan B. Anthony lãnh đạo.
Từ cảm hứng về sự kiện lịch sử rằng thị trấn nhỏ này tượng trưng cho phụ nữ và cho nước Mỹ, tôi mở đầu bài diễn thuyết bằng câu chuyện về Charlotte Woodward, một thợ may bao tay 19 tuổi sống ở Waterloo 150 năm trước. Tôi yêu cầu khán thính giả hãy hình dung về cuộc đời của cô, làm việc với đồng lương ít ỏi, hiểu rõ rằng nếu cô lập gia đình thì mọi thứ từ đồng lương, con cái và thậm chí quần áo trên người cô cũng sẽ thuộc về chồng mình. Hãy tưởng tượng về sự tò mò và niềm phấn khích trào dâng trong tâm trí Chatlotte vào ngày 19 tháng 7 năm 1848, khi cô đi xe ngựa đến Seneca Falls để tham dự Hội nghị về Quyền Phụ nữ đầu tiên ở Mỹ. Trên đường, cô nhìn thấy thật nhiều phụ nữ giống hệt mình, hình thành một đám diễu hành dài dằng dặc trên con đường đi đến bình đẳng.
Tôi đã nói chuyện về Frederick Douglass, một người theo chủ nghĩa bãi nô người da đen, ông đến Seneca Falls để tiếp tục cuộc chiến cả đời vì tự do của mình. Tôi tự hỏi những người đàn ông và những người đàn bà dũng cảm đó, những người đã ký vào bản tuyên ngôn này "sẽ nói gì nếu họ biết rằng có bao nhiêu người thời nay không bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử? Họ sẽ ngạc nhiên và tức giận... Một trăm năm mươi năm trước, những người phụ nữ ở Seneca Falls bị người ta buộc phải im lặng. Ngày nay, những phụ nữ như chúng ta tự im lặng. Chúng ta có quyền lựa chọn. Chúng ta có quyền lên tiếng."
Cuối cùng, tôi kêu gọi phụ nữ hãy để sự khôn ngoan và tầm nhìn của những phụ nữ năm xưa ở Seneca Falls dẫn dắt chúng ta vào tương lai.
"Cũng giống như quá khứ và hiện tại, tương lai không thể và sẽ không bao giờ hoàn hảo. Con gái chúng ta, cháu gái chúng ta sẽ phải đối mặt với những thử thách mà hiện tại chúng ta không thể hình dung ra. Nhưng mỗi người trong chúng ta có thể góp sức chuẩn bị cho tương lai đó bằng cách làm những gì chúng ta có thể làm để lên tiếng vì công lý và bình đẳng, vì quyền phụ nữ, vì nhân quyền, để bảo vệ chân lý, mặc cho mọi nguy nan hay tổn thất."
Thật là thích hợp khi mùa xuân và mùa hè của tôi kết thúc với sự kiện lịch sử quan trọng này. Tôi đã chứng kiến sự hé nở của chế độ dân chủ đang bắt đầu bám rễ ở Trung Quốc, châu Phi, Đông Âu và châu Mỹ La tinh. Sự nỗ lực vì tự do ở những đất nước đó cũng giống sự nỗ lực đã tạo nên nước Mỹ. Sự kết nối giữa Harriet Tubman và Nelson Mandela là một phần của cùng một cuộc hành trình của nhân loại, và tôi đang tìm cách tốt nhất để tôn vinh cuộc hành trình đó. Bởi vì có quá nhiều máu đã đổ cho quyền bầu cử, tại đây và khắp nơi trên thế giới, tôi chợt nghĩ về nó như là một hình thức rửa tội của thế tục. Quyết định ra tranh cử là một cách bày tỏ lòng tôn kính đối với nhưng ai đã hy sinh để chúng ta có quyền bình đẳng để bầu ra người lãnh đạo của chúng ta. Tôi trở về nhà với một lòng tôn kính mới dành cho hệ thống chính phủ của chúng ta, tuy còn khiếm khuyết nhưng rất mạnh mẽ và tôi cũng trở về với nhiều ý tưởng mới nhằm làm cho bộ máy đó vận hành tốt hơn vì nhân dân. Và khi tôi nghĩ đến những trở ngại mà tôi và Bill vẫn phải đối mặt ở Vvashington, tôi đã được tiếp sức bằng những cảm hứng mà Harriet Tubman đã truyền lại cho tất cả chúng ta và nguyện tiếp tục bước đi.