Đối với một người giàu trí tưởng tượng hoặc chưa từng đi đây đi đó, việc tiếp cận thành phố Washington vào lúc bình minh trong một buổi sáng rực rỡ là một cảnh tượng khó mà phai mờ trong trí nhớ; bởi vì một mái vòm trắng bệ vệ, vươn lên trên một công trình kiến trúc màu trắng tọa lạc trên cao và được nâng đỡ bởi những hàng cột uy nghi, tất cả nổi bật rực rỡ trên nền trời xanh, tạo nên một bức tranh không dễ gì phai nhạt.
Những người đã dựng nên ngôi đền đá trắng vĩ đại này và đặt nó trên đỉnh đồi để cai quản và gìn giữ đất nước, công sức của họ còn lớn lao hơn cả những gì họ từng ý thức. Đối với một nhà lý tưởng hóa giản dị và nhiệt thành, vẻ uy nghi trắng muốt ấy luôn gợi lên một điều gì đó mang tính biểu tượng; và rốt cuộc, chính những kẻ mộng mơ nhiệt thành và giản dị ấy, bằng những giấc mơ và biểu tượng của họ, mới vẽ nên trước mắt những tâm trí trần tục những điều tốt đẹp tưởng chừng không thể đạt tới—những nét kiều diễm xa với ấy hấp dẫn đến mức buộc cả thế giới tầm thường cũng phải nỗ lực tạo ra những hình bóng phỏng theo chúng, chừng nào cuộc sống thô mộc còn cho phép.
Tom tựa người vào thành cửa sổ toa tàu và ngắm nhìn mái vòm lớn với vẻ đăm chiêu tò mò. Sheba và Rupert chồm người về phía trước, đắm đuối ngắm nhìn nó bằng những ánh mắt mộng mơ.
“Nó trông đúng như những gì thủ đô của một nước cộng hòa lớn cần phải có,” Rupert nói. “Không tì vết và uy nghi, cứ như thể nó thống trị tất cả những gì nằm dưới tầm mắt bằng những thứ luật lệ thuần khiết, sự trang nghiêm và công lý vậy.”
“Chính xác,” Tom nói.
Trong các cuộc khủng hoảng biến động chính trị khác nhau tại hạt Hamlin, cậu từng đóng vai trò là một người quan sát vô tư nhưng hài hước, và qua vai trò ấy, cậu đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm mang tính sơ khai. Điều mà cậu rút ra được chủ yếu liên quan đến “nước cộng hòa vĩ đại” ấy là sự vĩ đại và thanh cao trong các mục đích của nó không phải lúc nào cũng được hiện thực hóa bởi những cá thể con người đơn thuần.
“Chà,” cậu nói, khi lấy chiếc va-li từ trên giá xuống, “chúng ta đặt chân đến đây với tình trạng khá sẵn sàng để rời khỏi nơi này với tư cách triệu phú đấy chứ. Nếu trong túi chúng ta chỉ có vỏn vẹn mười lăm xu, thì theo tất cả những cuốn tiểu sử tớ từng đọc, đây chắc chắn sẽ là một chuyện nắm chắc phần thắng. Điểm bất lợi duy nhất của chúng ta là ta có nhiều hơn thế một chút—nhưng tớ dám cá là nó vẫn chưa đủ để làm hỏng vận may của chúng ta đâu.”
Nhận định của cậu không phải là không có cơ sở. Rất ít những kẻ lữ hành trên đại dương may rủi dám dấn thân vào cuộc hành trình với số vốn ít ỏi hơn những gì họ đang có trong tay.
“Việc chúng ta phải làm,” cậu từng nói với Rupert, “là chăm sóc Sheba. Hai thằng mình thì thế nào cũng chịu được.”
Họ đi qua thành phố đang dần thức giấc, cảm thấy nơi đây thật xa lạ và trơ trọi với những đại lộ rộng lớn, những con đường tráng nhựa kém, mang đầy dấu vết của thảm kịch chiến tranh mà nó vừa trải qua. Chỉ có các tòa nhà công cộng là giữ được vẻ uy nghi; còn lại, nơi này mang một vẻ tỉnh lẻ và dở dang kỳ lạ; quy hoạch của nó thì đơn giản và tráng lệ với những tầm nhìn khoáng đạt cùng các không gian cao quý, nhưng những ngôi nhà thì xiêu vẹo và thiếu đi nét đẹp hình khối; những túp lều tranh của người da đen nép sát vào những ngôi nhà đang hoàng nhất, và hiếm có tòa nhà nào không treo biển thông báo rằng ở đó có cho thuê phòng trọ và cơm ăn. Không có chút vẻ sung túc hay giàu có nào ở bất cứ đâu; vài cỗ xe ngựa trên đường phố đều đã qua thời kỳ phục vụ gian khổ; những người đi bộ hoặc ăn mặc giản dị, hoặc mang vẻ sang trọng nhưng đã tàn phai; trước cửa các khách sạn chính là những nhóm đàn ông với gương mặt hầu hết đều chán nản hoặc lo âu. Mười năm sau, toàn bộ diện mạo nơi này đã đổi thay, nhưng vào thời điểm ấy, nó đang trải qua một giai đoạn mệt mỏi và nghèo đói tự nhiên, và không phải là một cảnh tượng truyền cảm hứng cho những kẻ tha hương tay trắng mới đặt chân đến.
“Xét cho cùng, nó khiến tớ hơi nhớ đến Delisleville,” Rupert nói.
Vượt qua những khu vực sầm uất hơn của thị trấn, họ tìm thấy những đại lộ và đường phố rộng rãi, hoang phế và vẫn chưa được san phẳng, nơi những ngôi nhà khiêm tốn mọc lên rải rác, vắt vẻo trên những bờ đất cao với vẻ như tình cờ lạc đến đó. Những bờ đất thường được phủ cỏ, và những hàng rào chấn song trắng bao quanh những mảnh đất nhỏ nơi có vài cây ăn quả cằn cỗi và những bụi cây xơ xác; hầu như ngôi nhà nào cũng có hiên, và hầu như hiên nhà nào cũng bị che khuất bởi những khóm kim ngân hoa hoặc hồng leo xộc xệch đang cố gắng che đậy phần gỗ mục nát cùng lớp sơn bong tróc, phồng rộp bằng một chút vẻ duyên dáng nào đó.
Trước một trong những ngôi nhà ấy, Tom dừng lại để ngắm nhìn tấm biển xiêu vẹo trong khu vườn nhỏ, thông báo rằng ở đây có cho thuê phòng.
“Biết đâu chúng ta có thể tìm thấy thứ gì đó ở đây,” cậu nói, “phù hợp với những bước mạo hiểm đầu tiên của các triệu phú. Kiểu này sẽ rất hợp ý mấy nhà báo chuyên viết phóng sự kiểu như: ‘Căn nhà đầu tiên của gia tộc De Willoughby khi họ đến Washington để đòi lại quyền lợi.’ Nó sẽ tạo thành một bản khắc gỗ tuyệt đẹp để làm nổi bật sự tương phản với ‘Dinh thự vĩ đại của nhà De Willoughby trên Đại lộ Fifth. Trị giá năm trăm nghìn!’”
Họ bước lên những bậc thang bằng gỗ được dựng sát bờ đất và gõ cửa. Rupert và Sheba trao nhau những cái nhìn đầy hồi hộp. Họ còn quá trẻ để có thể cảm thấy một chút phấn khích ngay cả khi thực hiện bước đi khiêm tốn đầu tiên này.
Một người phụ nữ với khuôn mặt dịu dàng, tai tái và chiếc áo đầm bằng vải bông đen đã phai màu ra mở cửa. Mái tóc của bà buông xõa thành những lọn xoăn buồn bã nhưng ra điều tao nhã ở hai bên má; phía sau được búi thành một nhúm tóc nhỏ gọn được giữ bằng chiếc lược. Tom nghĩ rằng cậu nhận thấy một tia hy vọng lóe lên trong mắt bà khi nhìn thấy họ. Bà nói với giọng điệu đặc trưng của miền Virginia.
“Vâng, thưa các cậu, chúng tôi còn phòng trống. Mời các cậu bước vào,” bà nói.
Bà dẫn họ vào một phòng khách ngăn nắp nhưng mang lại cảm giác có đôi chút nặng nề. Tường được trang trí bằng những bức ảnh chụp những người thân đã khuất lồng trong khung hình bầu dục, và được đặt trong tủ kính là một vòng hoa làm từ tóc với nhiều sắc độ khác nhau cùng những bông hoa trắng trông như làm bằng sáp, với cách sắp xếp gợi lên chút âm hưởng tang tóc mơ hồ. Có một giỏ hoa quả bằng sáp đặt dưới lồng kính trên chiếc bàn giữa phòng, một bình đựng nước đá bằng bạc trên khay, và hai cuốn album ảnh với phần gáy đã bị long ra vì được cầm nắm quá nhiều. Ngoài ra còn có một cuốn sách bìa đỏ và vàng, mang dòng chữ cách điệu “Cuộc đời của Tướng Robert Lee.”
“Các phòng không được rộng lắm,” người phụ nữ nói, “nhưng chúng được bày trí bằng những món đồ tôi mang từ nhà cha tôi ở Virginia sang. Cha tôi từng là Thẩm phán Burford, thuộc dòng dõi Burford nổi tiếng ở nước Anh. Chúng tôi luôn nghe nói có một Lãnh chúa Burford ở Anh. Đó là một dòng tộc rất lâu đời.”
Bà có vẻ như tìm thấy một sự an ủi mơ hồ trong lời kể ấy, và Tom không nỡ tước đoạt điều đó khỏi bà. Trông bà vô cùng phờ phạc và lo âu, và cậu cảm thấy rất có thể trong vài tháng qua, có những lúc bà không được ăn uống đầy đủ.
“Tôi chưa từng nghĩ rằng vào những ngày tháng khi tôi còn là tiểu thư của Thẩm phán Burford ở Burfordville,” bà giải thích, “rằng có ngày mình lại đến Washington để nhận cho thuê trọ. Đã từng có thời gian ở Virginia người ta cho rằng Thẩm phán Burford có thể bước vào Nhà Trắng nếu ông chịu đồng ý để người ta đề cử. Cuộc đời thật lắm đổi thay. Các cậu có muốn ăn cơm cùng với việc thuê phòng không?”
“Chà——” Tom bắt đầu.
Bà vội vã cắt lời cậu.
“Tôi e là việc phục vụ cơm nước cho bất kỳ ai không được tiện cho lắm,” bà nói; “tôi chưa quen với việc nấu nướng cho khách trọ, và hoàn cảnh của tôi cũng không thuận lợi. Nếu—nếu các cậu thích sự tiết kiệm……”
“Chúng cháu có chứ,” Tom nói. “Chúng cháu đến đây để đòi lại quyền lợi thừa kế, và những người làm công việc ấy thì chắc chắn phải biết tiết kiệm, cháu được người ta bảo vậy mà!”
“À, đòi quyền lợi sao!” bà thốt lên, vừa tỏ ra hứng thú vừa kính cẩn. “Quả thật, các cậu hoàn toàn đúng khi cho rằng cần phải tiết kiệm. Xin phép được hỏi, đó có phải là một gia tài lớn không ạ?”
“Cháu tin là thế,” Tom đáp; “và nó chắc cũng không thể giải quyết xong xuôi chỉ trong vòng một tháng, trong khi chúng cháu lại không có đủ tiền để duy trì sự xa hoa lâu hơn thế. Có lẽ chúng cháu sẽ kéo dài được lâu hơn nếu thuê phòng và tự mua đồ ăn lấy.”
“Tôi chắc chắn các cậu sẽ làm được như vậy, thưa cậu,” bà đáp, với một chút rạng rỡ đầy háo hức trên gò má. “Khi tự lo liệu lấy cho bản thân, đôi khi người ta có thể chịu đựng việc thiếu thốn—những thứ khác.” Bà nói vội từ cuối cùng và ho khẽ một tiếng nghe có vẻ căng thẳng.
Cuối cùng, họ đã thống nhất sẽ thuê ba căn phòng nhỏ mà bà dẫn đi xem, trong đó có một phòng đặt chiếc bếp lò nhỏ xíu để họ có thể tự chuẩn bị những bữa ăn đạm bạc bằng những thứ họ tự mua sắm. Sự sắp xếp này không hề xa hoa, nhưng lại tỏ ra vô cùng phù hợp với những người chủ nhân của quyền thừa kế nhà De Willoughby vĩ đại.
Vì chưa ăn gì từ sáng, Tom liền ra ngoài đi dạo quanh khu vực lân cận để tìm mua đồ ăn. Cậu chợt nhớ hình như mình từng nhìn thấy một cửa hàng tạp hóa nhỏ ở một con phố bên cạnh. Khi cậu quay trở lại sau một hồi lang thang, lửa củi đã bùng lên tí tách trong bếp lò và Sheba đã cởi mũ, đeo một chiếc tạp dề trắng vào người.
“Ôi!” Tom thốt lên.
“Em mượn nó từ cô Burford đấy,” con bé nói. “Em xuống dưới gặp cô ấy. Cô ấy cũng cho chúng ta củi nữa. Rupert là người nhóm lửa đấy.”
Con bé cầm những túi giấy từ tay Tom vàón rén kiễng chân lên hôn cậu, mỉm cười ngọt ngào trước vẻ mặt có phần lo lắng của cậu.
“Cả đời anh đã luôn làm mọi thứ vì em. Giờ đến lượt em rồi,” con bé nói. “Em đã chăm sóc Mornin từ khi em còn sinh ra cơ mà. Em sẽ làm người hầu cho anh.”
Chỉ một tiếng đồng hồ kể từ khi họ dọn vào nơi ở mới, họ đã ngồi bên chiếc bàn nhỏ cạnh ô cửa sổ mở toang, thưởng thức bữa sáng gồm cà phê và trứng. Sheba đóng vai trò chủ tiệc, và cả hai người đàn ông đều nhìn đôi má ửng hồng của con bé với ánh mắt đầy si mê.
“Cà phê có ngon không, chú Tom?” con bé hỏi. “Cứ nói cho em biết là nó ngon đi.”
“Chà,” Tom nói, “đối với nỗ lực đầu tay của một nữ triệu phú, chú phải thừa nhận là nó ngon đấy.”