Liên Quan Đến Vụ Kiện De Willoughby

Lượt đọc: 44 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5

❊ ❊ ❊

Chỉ trong vòng hai ngày, cả vùng đã râm ran bàn tán về câu chuyện mới xảy ra. Bí ẩn tại Blair’s Hollow không những chẳng được giải đáp mà còn trở nên sâu kín và khó dò hơn bao giờ hết. Người phụ nữ đã chết, còn người đàn ông thì biệt tích. Căn chòi hoang phế, trơ trọi, ngoại trừ một vài vật dụng gia đình vẫn nằm y nguyên như ngày diễn ra tang lễ. Không một món đồ nào bị dịch chuyển, dẫu cho người phụ nữ mà Tom De Willoughby — với tư cách là người có liên quan trực tiếp — giao lại số tài sản thừa thãi ấy, đã không tìm thấy chiếc hòm nhỏ và nhận thấy có những thứ đã bị đốt cháy trong lò sưởi ở căn phòng phía trước.

“Có một đống tro lớn nằm trên lò sưởi,” cô kể với những người bạn của mình, “trông cứ như thể hắn vừa thiêu rụi một đống đồ đạc lặt vặt nào đó. Lúc tôi khép cửa lại sau khi xe hàng đã đi rồi, nhìn cảnh tượng cô quạnh ấy mà lạnh cả sống lưng. Tôi cứ để đống tro nằm yên ở đó. Chẳng hiểu sao tôi cứ thấyờn ớn, không dám chạm vào. Có trả tiền triệu tôi cũng chẳng đời nào dọn đến đó mà ở. D’Willerby bảo tôi cứ việc dọn vào ở nếu muốn, nhưng lạy Chúa tôi! Có chết tôi cũng chẳng thèm làm cái chuyện đó đâu.”

Thế nhưng, điều khiến cộng đồng được một phen xônao náo động nhất lại chính là quyết định của Tom De Willoughby.

Ban đầu, câu chuyện bà Doty kể về việc gã Tom To lớn nhận nuôi đứa bé hầu như chẳng ai tin là chuyện có thật. Người đầu tiên nghe thấy đã đón nhận nó với một cái nhếch mép đầy hoài nghi. Mà chẳng phải ai xa lạ, đó chính là ông Doty.

“Minty này,” ông nói, “đừng để hắn bịp cô chứ. Đến giờ này mà cô vẫn chưa rõ cái bộ mặt của Tom D’Willerby hay sao? Lẽ ra cô phải biết rồi chứ. Toàn là mấy lời khoác lác của hắn cả thôi. Cô có nghĩ hắn còn chút xỉn khôn ngoan nào trong đầu không hả? Rồi hắn định làm gì với đứa trẻ chứ?”

“Anh muốn tin hay không thì tùy,” bà Doty đáp gọn lỏn với giọng sắc lạnh, “nhưng chắc như đinh đóng cột là hắn sẽ nuôi nấng đứa nhỏ đó, đúng như cái tên Job của anh vậy. Mornin đang ẵm con bé đây này.”

Ông Doty bật cười khúc khích trong cổ họng.

“Trông hắn ra dáng một ông bố bỉm sữa làm sao tía!” ông nhận xét. “Lạy Chúa tôi! Chuyện đó y hệt như mấy cái tích xạo xém của hắn vậy! Hắn đúng là cái thứ quái thai,” vừa nói ông vừa tỏ vẻ thích thú ngẫm nghĩ, “thật là hết chỗ nói! Cả cái xứ Hamlin này chẳng tìm được ai bì kịp hắn.”

Thế nhưng, sang đến ngày hôm sau, ngay cả ông Doty cũng phải bị thuyết phục. Sau chuyến ghé thăm quen thuộc tới ngã tư đường, ông trở về nhà với vẻ mặt ngơ ngác. Và nó nhanh chóng chuyển thành cái điệu bộ ngượng ngùng khi vợ ông đứng chặn ngay bậc cửa.

“Thế nào, Job Doty,” bà lên tiếng, “tôi đoán là đến giờ anh cũng đã biết mình đúng hay sai rồi chứ.”

“Ừ thì,” ông Doty vừa đáp vừa ném chiếc yên ngựa xuống hiên nhà, “tôi công nhận là vậy rồi. Con bé ở đó rành rành ra đấy, và xem chừng hắn quyết định giữ nó thật; chứ lỵ nếu tận mắt chứng kiến thì có mạ đền tôi cũng chẳng tin đâu, thề có chúa! Nhưng mà, lạy Chúa, suy cho cùng thì đúng là tính khí của hắn rồi.” Nói đoạn, ông tươi tỉnh hẳn lên và lại khúc khích cười.

“Tôi đoán chắc hắn chẳng lường hết được những gì mình đang ôm đồm đâu,” bà Doty bảo.

“Hắn á!” ông Doty đáp. “Tom ấy hả! Chúa ơi! Chuyện đó làm sao mà làm khó nổi Tom được. Kiểu gì hắn cũng xoay sở được hết, hắn là Tom cơ mà. Tom thà rằng con bé là một cặp song sinh chứ chẳng chơi, mà thậm chí còn thích thế hơn ấy chứ. Nếu nó là sinh đôi thì hắn lại càng có cái để bề thế khoác lác và thao thao bất tuyệt chứ sao. Giả sử cô tận mắt chứng kiến cảnh hắn bế con bé ra cửa hàng khoe với đám trai tráng và phổng mũi tự đắc, tôi chắc là cô sẽ chẳng còn phải lo lắng gì cho Tom nữa đâu. Này nhé, Minty, hắn đã quấn quýt con bé lắm rồi đấy, hết mực chiều chuộng là đằng khác.”

Bưu điện ngã tư thực sự đã biến thành nơi hội họp không chính thức do vị chủ nhân mới tổ chức, để giới thiệu đứa trẻ với những người hàng xóm láng giềng. Hết người này đến người khác ghé vào để nghe cho rõ thực hư câu chuyện, và ai nấy đều ngỡ ngàng ngay từ phút đầu trước lời khẳng định tỉnh queo của Tom.

“Đúng vậy, tôi quyết định giữ con bé lại rồi các cậu ạ,” hắn nói. “Nó đang ở buồng trong kia kìa. Theo tính toán của tôi, từ sáng đến giờ nó đã nốc phải ngót nghét ba lít sữa rồi, thế mà trông vẫn khỏe mạnh phổng phao, chắc là chẳng sao đâu.”

Ban đầu có rất nhiều câu chuyện tiếu lâm được tung ra, bầu không khí náo nhiệt bao trùm khắp nơi, nhưng một kẻ tinh ý đã nhận ra rằng đằng sau cái giọng điệu cợt nhả ấy, Tom vẫn ẩn chứa một sự nghiêm túc ngầm cho thấy hắn thực sự ý thức được sức nặng của trách nhiệm trên vai. Khi những người phụ nữ bắt đầu lục tục kéo đến vào lúc xế trưa, hắn đón tiếp họ vô cùng niềm nở, đứng bật dậy khỏi ghế để bắt tay từng bà thợ may, bà nội trợ xuất hiện.

“Các bà ghé sang xem mặt con bé đấy à?” hắn lên tiếng. “Phải đấy. Nó ở phòng trong kìa. Cứ tự nhiên bước vào trong đi. Thưa chị Simpson và chị Lyle, tôi rất mong các chị có thể ngó qua con bé một lát. Tôi sẽ đi cùng các chị và lắng nghe xem các chị có cao kiến gì không.”

Lần nào dẫn đường đến chỗ chiếc nôi gỗ, hắn cũng mang theo một chút âu lo hiện rõ trên nét mặt, đứng sừng sững trông nom như một vị thiên thần hộ mệnh vạm vỡ, chăm chú lắng nghe mọi lời nhận xét cũng như đóng góp ý kiến.

“Trông con bé có vẻ hãy ăn chóng lớn đấy chứ, phải không các chị?” hắn dò hỏi.

“Lạy Chúa, đúng thế rồi!” một phụ nữ lên tiếng; “cứ trùm kín mít vào thế này *57* ‘n’ chẳng để gió lốc nào thốc vào người nó thì đố mà có chuyện gì xảy ra được, tôi cam đoan đấy.”

“Không được để gió lốc ư?” Tom hỏi lại với chút hồi hộp lo âu; “hoàn toàn không được chút nào sao?”

“Ừ, phép tắc của tôi là thế đấy. Mấy người khác thì thế nào không rõ, chứ tôi chẳng bao giờ bế trẻ con ra ngoài trời cho đến khi chúng tròn một tháng tuổi. Trẻ sơ sinh non nớt lắm chứ bộ!”

“Vâng,” Tom đáp. “Lạy Chúa nhân từ, vâng chứ!”

Vị khách ngẩn người nhìn hắn đầy vẻ khó hiểu trong giây lát.

“Ừ thì,” bà nói tiếp. “Chồng tôi hồi nào cứ hay bảo rằng tụi nhỏ cứ làm ông ấy sợ chết khiếp lúc mới sinh — cứ có cảm giác như thể chúng sắp rụng rời từng khúc đến nơi ấy chứ. Trông chúng cứ là lạ giống hệt như lũ chuột nhắt con vậy. Thôi, anh cứ bảo con Mornin cho nó uống bao nhiêu sữa tùy ý đòi hỏi, nhưng đừng để sữa sôi kỹ quá nhé, thế là con bé lớn nhanh như thổi thôi.”

Vị khách tiếp theo bước vào liền thốt lên một tiếng kêu hoảng hốt.

“Anh định giết con bé đấy phỏng!” cô ta la lên. “Trong phòng chẳng có lấy một ngọn gió lồng nào cả, mà trẻ sơ sinh thì chẳng có gì cần thiết hơn là sự thoáng đãng đâu. Chúng nó non nớt lắm, chịu thế nào được cảnh ngột ngạt bí bách này. Chẳng mấy chốc mà con bé lên cơn co giật cho mà xem.”

Tom hoảng hồn vội vàng đẩy tung cả cửa sổ lẫn cửa ra vào.

“Trời oi bức thật,” hắn phân bua. “Ngoài trời thì nóng như đổ lửa, nhưng chị Simpson dặn tôi phải đóng kín cửa lại, và tôi cứ nghĩ chị ấy từng trải chắc phải biết rõ chứ.”

“Jane Simpson ấy á!” nét mặt cô ta hiện rõ vẻ khinh miệt khó giấu. “Bà ta thì biết cái nỗi gì! Sáu đứa con của mụ ta chết yểu ngay vào mùa hè thứ hai trong đời đấy thôi. Chắc mụ ta dặn anh cho con bé uống sữa nửa sống nửa chín bất cứ lúc nào nó thèm chứ gì?”

Tom trầm ngâm suy nghĩ với sự hoang mang lộ rõ trên mặt.

“Chị ấy dặn tôi đừng đun sữa kỹ quá, và cứ khi nào con bé đòi thì cho uống,” hắn chậm rãi đáp.

“Thế thì, nếu không muốn hại chết con bé, hãy nghe lời khuyên của tôi: đun sôi kỹ ít nhất nửa tiếng đồng hồ, và đừng cho nó bú dồn dập quá ba tiếng một lần. Nó sẽ khóc thét lên đấy, nhưng mặc kệ nó. Rồi anh cũng quen đi thôi. Tôi chẳng bao giờ đồng tình với cái thói cứ cho tụi nhỏ ăn uống vô tội vạ không đúng giờ giấc quy định cả.”

Vị khách ghé thăm tiếp theo thấy Tom có phần nản lòng thoái chí. Hắn dẫn đường cô ta vào căn phòng tiếp đón với vẻ kém hăng hái hơn hẳn so với những lần trước.

Cô ta trẻ tuổi hơn những người kia, và vừa bước đến sát chiếc nôi, cô liền cúi xuống dịu dàng chỉnh đốn lại tấm khăn đắp cho đứa trẻ.

“Con bé sau này chắc chắn sẽ là một đứa xinh xắn đấy,” cô nhận xét; “nó mang nét mặt hơi ngăm đen một chút, nhưng bù lại tóc tai và đôi mắt thì cực kỳ ưa nhìn. Khi con bé lớn khôn, Tom ạ, anh sẽ phổng mũi tự hào cho mà xem, và tôi đoán nó sẽ là bầu bạn tâm tình an ủi anh rất nhiều đấy. Lạy Chúa!” cô thở dài ra vẻ người mẹ, “nghĩ cảnh một gã đàn ông gà trống nuôi con mới lạ lùng làm sao; nhưng anh sẽ chăm bẵm nó chu đáo thôi, Tom ạ, anh sẽ làm tốt mà. Tôi chẳng mảy may nghi ngờ điều đó đâu. Xưa nay anh vốn khéo tay và rất có duyên với trẻ con cơ mà.”

“Tôi sẽ cố gắng hết sức vì nó,” Tom đáp, “dù tôi biết ngần ấy có lẽ vẫn chưa thấm vào đâu.”

Người phụ nữ trẻ tuổi — cô đã gửi gắm đứa con của mình ở cửa hàng cho chồng trông hộ — nhẹ nhàng vỗ về chiếc gối nhỏ cho ngay ngắn.

“Rồi anh sẽ vỡ ra khối điều hay ho chỉ bằng cách quan sát con bé thôi,” cô bảo. “Cứ chú ý theo dõi nó sát sao, tự khắc nó sẽ dạy cho anh biết phải làm gì. Thế còn chuyện sữa núm của nó thì sao rồi?” cô lo lắng hỏi.

“Tôi được truyền tai cho đủ thứ phương kế,” Tom than thở. “Nào là phải đun sôi nửa tiếng, nào là chẳng cần đun nấu gì sất, rồi thì thích cho uống bao nhiêu tùy thích cho đến cấm không được cho bú quá đà. Tôi tẩu hỏa nhập ma với mấy cái mớ lý thuyết này mất thôi.”

“Ừ thì, tôi dẫu sao cũng mới chỉ đẻ có năm đứa thôi, nhưng lần nào tôi cũng đun cho sữa sủi bọt lên rồi cứ thế dùng lý trí và kinh nghiệm của mình mà áng chừng lượng sữa cho con bú. Xem ra cứ cái kiểu điều tiết ôn hòa, vừa vặn với trẻ con là tốt nhất. Mà lạy Chúa! Tôi đoán con Mornin hẳn phải rành rỗi lắm chứ. Nó từng nuôi cả đám tiểu thư con nhà chủ cơ mà.”

Cô cúi xuống hôn đứa trẻ trước khi rời đi, và khi quay trở lại cửa hàng, cô vội vã bồng đứa con đang quẫy đạp khỏi vòng tay người chồng, chỉnh trang lại chiếc váy hồng và mũ trùm đầu cho con bằng những cử chỉ âu yếm đầy hồi hộp. Đoạn, cô bế con ra tận cửa, áp chặt bé vào ngực trong lúc mắt đăm đăm nhìn về phía những dãy núi xa xăm. Cô đứng lặng ở đó cho đến khi chồng mua sắm xong xuôi và tiến lại gần. Lúc theo anh ta ra xe để lên đường, đôi mắt cô ngấn lệ và ánh lên vẻ rạng ngời.

“Đừng có đi qua con đường Blair’s Hollow đấy, Dave nhé,” cô dặn với theo khi anh vung roi thúc ngựa.

“Ý em sao lại thế, Louizy?” anh ngạc nhiên hỏi.

“Chẳng có ý gì đâu, em nghĩ thế thôi,” cô đáp gọn lỏn; “nhưng em không thích… em không muốn phải đi ngang qua ngôi mộ đó ngay vào cái ngày hôm nay đâu. Đi con đường khác đi anh.”

Và vì vốn là một người đàn ông dễ tính, hiền lành, anh chiều ý vợ và vòng xe đi lối khác.

Trong cửa hàng, bầu không khí náo nhiệt càng lúc càng dâng cao khi buổi chiều dần trôi về muộn. Tới giờ bưu phẩm đến, phần hiên nhà đã chật kín người khiến Tom gặp đôi chút khó khăn trong việc vãn hồi trật tự.

“Này các cậu,” hắn lớn tiếng gọi, “ở đây phải giữ im lặng chứ. Nếu chúng ta không thể duy trì hoạt động của cái tiệm tạp hóa này mà cứ làm phiền đến giấc ngủ của vị chủ nhân đang khò khò ở buồng trong kia, thì cái bưu điện này đành phải dẹp tiệm và các cậu tự đi mà kiếm lấy một ông chủ bưu điện mới nhé. Làm thế chắc các cậu khoái lắm nhỉ. Kiểu như vớ được một gã lơ là công việc, làm việc nửa vời, chẳng có nổi chút năng lực lập pháp tối thiểu để quản lý nổi một khu phố nhỏ chứ đừng nói chi đến cả một hạt. Chắc các cậu đang thèm khát một kẻ như thế lắm cơ mà. Có thế thì các cậu mới vừa lòng hả dạ chứ gì.”

“Tom này,” một thanh niên trong số đó lên tiếng, “bế con bé ra đây cho bọn tôi ngắm một cái xem nào. Cậu cứ ba hoa khoác lác về nó suốt cả ngày nay rồi mà có thèm cho ai nhìn mặt mũi nó thế nào đâu.”

Nửa tá người khác cũng nhao nhao hùa theo.

“Đúng thế đấy,” họ hô lên, “bế nó ra đây xem nào, Tom.”

Tom vẫn điềm nhiên ngồi yên trên ghế. Hắn ngả ngớn ngả lưng ra sau, tì người lên gót chân, hai tay đút xỏ sâu vào túi quần.

“Này các cậu,” hắn nói, “tôi sẽ bế con bé ra với đúng một điều kiện duy nhất: tuyệt đối không được có bất kỳ trò khùng điên hay quậy phá nào ở đây. Tôi không muốn con bé bị dọa cho sợ hãi hay giật mình chỉ vì dăm ba trò cười đâu đấy. Đùa cợt kiểu này thì chắc các cậu thấy vui tai lắm, nhưng nó không hoàn toàn là chuyện đùa đâu nhé. Nếu tôi bế nó ra cho các cậu xem, cấm tiệt cái thói chen lấn xô đẩy hay gây gỗ lộn xộn đấy.”

Mọi người đồng ý tuân thủ điều kiện đó, và hắn đứng dậy đi thẳng vào căn phòng phía trong lần nữa. Khi hắn quay trở ra, những gã đàn ông nãy giờ vạ vật ngoài hiên đã bước cả vào trong nhà, dẫu có lẽ chẳng một ai trong số họ thấu hiểu nổi sự quan tâm khác thường của chính mình đối với câu chuyện này. Trẻ con vốn chẳng phải là thứ hiếm hoi gì ở hạt Hamlin này, khi mà mọi căn chòi hay trang trại quanh vùng lúc nào cũng nhung nhúc những đứa trẻ tóc tai vàng hoe, da dẻ rám nắng. Thế nhưng lúc Tom xuất hiện, cả căn phòng bỗng chốc rơi vào một khoảng lặng ngắn ngủi. Đứa bé đang say ngủ, cái đầu đen nhánh tí xíu tựa yên bình vào bộ ngực vạm vỡ của người bế. Không một chút lúng túng hay vụng về nào phảng phất trên khuôn mặt hắn, trông hắn vô cùng mãn nguyện với gánh nặng trên tay, và có lẽ chính cái vẻ điềm tĩnh toát ra từ phong thái của hắn đã khiến bầu không khí tĩnh mịch bao trùm lấy những người xung quanh.

Cuối cùng, một người nông dân trung niên bước lên phía trước. Ông đăm đăm ngắm nhìn đứa trẻ một hồi lâu với vẻ tò mò.

“Con gái phải không cậu?” ông cất tiếng hỏi.

“Vâng,” Tom đáp gọn.

“Ừ, con bé thật may mắn vì có người đứng ra che chở; phận gái thuyền quyên lúc nào cũng cần điều đó.”

Tom cũng cúi xuống nhìn chăm chú đứa trẻ. Nó đang ngủ rất ngoan ngoãn; trông cứ như thể nó đang nằm gối đầu lên chính bầu sữa mẹ vậy.

“Thôi được,” hắn cất tiếng, “đã có một người đứng ra bảo vệ nó đây rồi,” đoạn hắn ngẩng phắt đầu lên đảo mắt nhìn quanh những người còn lại.

“Này các cậu,” hắn tuyên bố, “đó là một lời hứa đấy. Hãy ghi nhớ lấy điều này.”

Rồi hắn bế đứa trẻ quay trở lại buồng trong.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.