Đúng vào thời điểm ấy, tức là năm trước khi Nội chiến bùng nổ, khu nghỉ dưỡng mùa hè thời thượng White Briar Springs đang ở giai đoạn náo nhiệt nhất. Đã hiếm có khi nào khách sạn lại đông đúc một cách rực rỡ đến thế. Một vài ca sốt vàng da bùng phát ngoài dự kiến đã khiến làn sóng người rời bỏ các vùng dịch tăng vọt, nhờ đó mà các khu nghỉ dưỡng mùa hè đều phất lên và trở nên đông đúc. Riêng “White Briar” đặc biệt khoác lên mình tấm áo hội hè linh đình nhất. Phòng ăn lớn chật kín người, các bồi bàn đến phát điên vì những yêu cầu dồn dập khi họ phải chạy lon ton từ bàn này sang bàn khác, vừa cố gắng dùng cái tâm trong sáng ghi nhớ năm mươi mệnh lệnh cùng lúc, vừa phải đáp ứng câu “Tôi tới ngay đây, thưa ngài” trước từng ấy tiếng búng tay giòn giã.
Nơi đây có các tiểu thư đài các từ Louisiana, những mỹ nhân kiều diễm từ Mississippi, và những chàng trai sát gái từ Virginia, đi cùng với cha mẹ, đoàn em út đông đúc và cả những người hầu da đen. Nợ nần gì đâu mà lắm thế, nào là vú em, người hầu nam lẫn nữ đủ mọi sắc thái từ đen tuyền đến trắng ngà, với đủ vẻ đẹp độc đáo khác nhau. Suốt cả ngày, những hành lang hiên nhà thênh thang ken đặc người đi dạo, ngồi chuyện trò, đan vá, cùng đám gia nhân xúng xính xiêm y rực rỡ sắc cầu vồng, tỏ vẻ vô cùng tận hưởng sự thảnh thơi hoặc cái sự giả vờ làm việc của mình. Sáng nào cũng có nhóm chơi bóng gỗ, cưỡi ngựa, đi dạo, tám chuyện; chiều nào cũng có một nhúm người táo bạo không chịu ngủ gật qua những giờ nắng gắt trong căn phòng râm mát, lại kéo nhau thành từng đôi ve vãn dưới bóng cây trên bãi cỏ, trong rừng, hoặc cạnh con lạch nhỏ. Tối nào cũng thấy những thanh niên nhiệt huyết dập dìu khiêu vũ trong phòng khiêu vũ, và ít nhất tuần hai lần, chính đám thanh niên rực rỡ trong những bộ cánh chỉnh tề ấy lại vui chơi hết mình, say sưa ngất ngây trước mặt các bậc phụ lão tề tựu quanh những bức tường của căn phòng lấp lánh nọ, nhằm tôn vinh cái sự kiện được gọi là “vũ hội nhảy nhót.”
Đôi khi, vào những mùa vắng khách, những dịp như thế thường thiếu hụt bạn nhảy; nhưng năm nay thì không như vậy. Ngoài mấy cậu em trai của các tiểu thư mỹ nhân kể trên kéo đến đông đủ, còn có một đội ngũ kỵ sĩ dự bị tuy đã qua thời kỳ thanh xuân bồng bột thuở ban đầu nhưng vẫn còn dẻo dai chán. Ai lại chẳng muốn có một người hộ tống hào hoa như ngài Thiếu tá Beaufort già dặn nhưng vẫn cực kỳ nhanh nhẹn kia chứ? Hằng năm, ông dẫn theo một đoàn cháu gái, con gái và cháu cố đi vòng quanh các khu nghỉ dưỡng, lan tỏa bầu không khí ngập tràn sự hào hoa và vui vẻ đậm chất galant của mình khắp nơi.
“Tôi sẽ là một kẻ khốn khổ, thưa ngài,” Thiếu tá hào hiệp tuyên bố vào mỗi dịp thứ Năm hằng tuần. “Tôi sẽ là một kẻ khốn khổ khi ngắm nhìn trước mắt mình sự duyên dáng, tuổi trẻ và sắc đẹp nhường này, mà lại cảm thấy bản thân không còn trẻ nữa, nếu trong ngực tôi không mang một trái tim vẫn còn thổn thức vì Phái Đẹp chừng nào nó còn đập nhịp sự sống.”
Sau khi tự khẳng định tên tuổi bằng lời phát biểu nên thơ ấy, ông thường gọi bồi bàn mang champagne và ly tới, hiên ngang nâng ly chúc sức khỏe cho vòng tròn những người ngưỡng mộ đang cùng ông thưởng thức thứ đồ uống đó.
Đi theo phái đoàn của Thiếu tá Beaufort còn có nhiều nhân vật tầm cỡ kém hơn một chút, mà phải thú thực rằng, trong hoàn cảnh bình thường, mỗi người hoàn toàn có thể tự đứng ra làm tâm điểm của một vòng tròn riêng: nào là những bậc kỳ tài luật pháp, kỳ tài xã hội, kỳ tài chính trị, ai nấy đều chơi bóng gỗ và bài whist, đều cưỡi ngựa, đều thể hiện sự ga lăng trong từng chi tiết nhỏ và góp phần làm bầu không khí thêm phần phấn khích.
Tuy nhiên, có một vị khách dù không thuộc phái đoàn của Thiếu tá Beaufort nhưng cũng chẳng thể xem là nhân vật tầm thường. Ông giống như một hành tinh có quỹ đạo riêng. Chiều hôm ấy, vị quý ông này phi ngựa đến khách sạn trên một con tuấn mã tuyệt đẹp, đi cùng là một thiếu niên u ám, tuấn tú cưỡi trên một con vật cũng xuất sắc không kém, theo sau là một thanh niên da đen ăn mặc lịch sự mang theo những hành lý cần thiết, bản thân cậu ta cũng cưỡi một con ngựa không hổ thẹn với chủ nhân. Phong thái của nhóm người này lập tức tạo nên một chút xôn xao ngoài sảnh trước, nơi đông đảo khách khứa đang tụ tập.
“Ồ,” một cô cháu nhà Beaufort kêu lên, “trông một người đàn ông mới lịch lãm làm sao. Ồ, cậu thiếu niên mới khôi ngô làm sao! Và những con ngựa mới lộng lẫy thế chứ.”
Ngay lúc ấy, một vị phu nhân khác — một bà mẹ điềm đạm, sắc sảo đến từ Nam Carolina — thốt lên một tiếng kinh ngạc.
“Có thể nào như vậy không,” bà nói. “Kìa Đại tá De Willoughby.”
Vị khách mới đến nhận ra bà ngay và rảo bước tiến về phía bà với phong thái vô cùng thoải mái và dễ chịu, dẫu ông phải khéo léo lách qua vô số nhóm người đang ngồi lố nhố giữa hàng tá chiếc ghế.
Ông là một người đàn ông đẹp trai nổi bật, da ngăm, mũi khoằm, dáng người cao ráo và uyển chuyển; bộ quần áo ôm lấy vòng eo một cách kỳ diệu, đôi bàn chân thon gầy có vòm cong được bao bọc trong một đôi bốt tuyệt mỹ, mái tóc đen hơi dài, và đôi mắt tuyệt trần càng thêm vẻ trầm mặc, sâu thẳm đầy bí ẩn nhờ hàng mi dài và rậm; nhìn chung, việc đám người nhà Beaufort cùng đám vệ tinh tạm thời lu mờ đi trong phút chốc cũng là điều dễ hiểu.
Khi ông cúi đầu chào bàn tay của phu nhân Marvin, một luồng phấn khích khẽ chạy qua những người đứng xung quanh. Ông cất lời bằng chất giọng trầm ấm du dương nhất.
“Niềm vui lớn lao làm sao,” mọi người nghe thấy ông nói. “Tôi không ngờ lại gặp được thế này.” Và rồi, đáp lại một câu hỏi nào đó: “Sức khỏe của tôi kể từ — kể từ biến cố mất mát ấy — rất kém. Tôi hy vọng sẽ lấy lại được sức lực và tinh thần,” với vẻ mặt mang nỗi sầu muộn dịu dàng, tinh tế. “Tôi có thể giới thiệu con trai tôi — Rupert — được chứ?”
Đáp lại lời gọi, cậu thiếu niên bước lên trước — không chút vụng về hay ngượng ngùng, nhưng với một thái độ khó lòng mang lại thiện cảm cho người nhìn. Khách khứa có thể nhận ra cậu còn tuấn tú hơn cả khi nhìn từ xa. Cậu rất giống cha ở chiếc mũi khoằm, làn da trắng ngả ô-liu trong trẻo và đôi mắt đen tuyệt đẹp: gương mặt cậu thậm chí còn có nét tinh tế mà người lớn tuổi hơn không có, nhưng trên trán hằn sâu những nếp nhăn cau có cố hữu, và khóe môi mang một vẻ mặt vô cùng ăn nhập với những đường nét ấy.
Cậu đến gần, ngả mũ cúi đầu kiểu thiếu niên với tác phong cho thấy đã được dạy dỗ chu đáo, thế nhưng dẫu có hơi đỏ mặt khi được bắt chuyện, thái độ của cậu hoàn toàn không mấy cởi mở, và cậu chuồn đi ngay khi có cơ hội, để mặc người cha đang trổ tài quyến rũ theo lối hào hiệp nhẹ nhàng, tự khẳng định vị thế một hành tinh chỉ bằng cách cất lời với một người phụ nữ chẳng lấy gì làm xinh đẹp, trẻ trung hay nhiệt huyết.
Chẳng có người phụ nữ nào trong khách sạn lại ít có máu nhiệt tình đến thế. Bà đã đủ lớn tuổi và đủ sắcảo để có rất ít ảo tưởng. Người ta lấy làm lạ khi dẫu thừa nhận đã quen biết vị Đại tá từ thuở niên thiếu, bà chẳng hề tỏ ra thân thiết với ông mấy, thậm chí còn đối xử với ông vô cùng khách sáo. Bà chẳng bao giờ hùa theo những lời ca tụng được cất lên mỗi ngày quanh mình.
“Tôi biết rất rõ gia đình De Willoughby,” bà nói. “À vâng, rất rõ là đằng khác — theo một cách nào đó. Chúng ta nghe nói nhiều về họ đấy chứ. Vợ của De Courcy là bạn tôi. Anh chàng này là De Courcy, người kia là Romaine, và còn có một kẻ bị xem là cừu đen trong họ, đã đoạn tuyệt hoàn toàn với gia đình. Chẳng ai biết hắn đang ở đâu và có lẽ cũng chẳng mảy may quan tâm. Họ có quan điểm riêng của mình trong chuyện đó. À vâng; tôi biết họ rất rõ, theo một cách nào đó.”
Khi bị những người tò mò gặng hỏi, bà đành phải thừa nhận rằng nhân vật trung tâm của thời điểm hiện tại được tạo hóa ban cho vô số vẻ bề ngoài hào nhoáng, rất đáng ghen tị với sự cuốn hút và bầu không khí lãng mạn bao quanh, dẫu vậy, khi thừa nhận điều đó, bà lại chêm thêm một lời nhận xét chẳng mấy được lòng số đông.
“Nghe có vẻ hơi mang phong cách Troubadour,” bà nói; “nhưng tôi dám cá chẳng người phụ nữ nào phủ nhận rằng nó khá cuốn hút. Tôi không phủ nhận đâu, nó rất cuốn hút — nếu bạn không đào sâu vào bên trong.”
Chưa từng có ai được lòng đến thế như vị Đại tá, và cũng chưa từng có ai bị ngóng trông đến thế vào những ngày ông không khỏe. Có những ngày như vậy ông chẳng thèm bước ra khỏi phòng và gã nô lệ da đen Neb của ông phải đầu tắt mặt tối lo liệu mọi nhu cầu. Bản chất những cơn bệnh của ông không ai rõ mười mươi, nhưng sau mỗi lần như thế, ông luôn xuất hiện với vẻ mệt mỏi, sầu muộn đầy vẻ thi vị và lại càng được ngưỡng mộ hơn xưa.
“Cậu nhóc có vẻ bận lòng lắm,” vị phu nhân nhận xét. “Nó lúc nào cũng trông bồn chồn, lo lắng và chẳng bao giờ rời khỏi nhà nửa bước. Tôi đoán hai cha con họ rất thương nhau.”
“Tôi dám cá là nó bồn chồn thật,” phu nhân Marvin đáp với nụ cười khách sáo quen thuộc. “Nó cũng đủ là người nhà De Willoughby để mà làm thế.”
Tuy nhiên, người ta không cho rằng cậu thừa hưởng phong thái duyên dáng từ cha mình. Nhìn bề ngoài, cậu là một thiếu niên rõ là khó ưa. Cậu luôn mang vẻ cau có tối tăm trên mặt, như thể lúc nào cũng sắp nổi cơn thịnh nộ ngầm hoặc vừa cố chui ra từ một cơn giận dữ; thay vì để cho người ta ngưỡng mộ hay cưng chiều, cậu lại có sở thích kỳ cục là thui thủi đi lang thang quanh khuôn viên và hành lang một mình, đôi khi ngồi lì trong góc vờ đọc sách, nhưng phần lớn thời gian trông như đang hậm hực ngẫm nghĩ về những nỗi ấm ức của mình theo cách mà nếu đặt vào một đứa trẻ kém sắc hơn thì chắc chắn sẽ cực kỳ khó chịu. Ngay cả sự săn đón của phu nhân Marvin cũng chẳng nhận lại được chút niềm nở nào, dẫu ai cũng công nhận cậu có vẻ ít ác cảm với bà hơn so với những người phụ nữ khác, kể cả nửa tá tiểu thư mỹ nhân đang rất khao khát nhận được sự chú ý mang tuổi thiếu niên của cậu.
“Ta từng quen mẹ cháu,” phu nhân Marvin bảo cậu một ngày nọ khi cậu ngồi cạnh bà ngoài hiên.
“Thế ạ?” cậu đáp, với giọng điệu có vẻ cởi mở hơn chút ít. “Bà quen mẹ cháu khi nào?”
“Khi bà ấy còn trẻ. Chúng ta là bạn thuở thiếu thời. Mẹ cháu là một mỹ nhân còn ta thì không, nhưng tụi ta rất quý nhau.”
Cậu liếc cuốn sách đang gấp lại bằng ánh mắt hậm hực.
“Sao phụ nữ lại hay suy sụp thế nhỉ?” cậu hỏi. “Cháu không hiểu sao họ lại suy sụp nhanh thế. Lúc mất mắt mẹ cháu vẫn rất đẹp, nhưng mà……”
Cậu hạ thấp đôi mày đen tuấn tú xuống và cau mày; nhận ra bản thân đang bực bội vì lỡ lời, phu nhân Marvin bèn lái sang chuyện khác.
“Cháu nhớ mẹ lắm phải không?” bà hỏi với giọng nghiêm túc.
Cậu quay mặt đi.
“Chắc ở nơi bà ấy đang đứng sẽ tốt hơn,” cậu nói. “Người ta lúc nào chẳng nói thế về những kẻ đã chết.”
Rồi vẫn với vẻ mặt cau có, cậu đứng dậy bỏ đi.
Đám gia nhân da đen trong khách sạn ai nấy đều quý mến cậu, dẫu thái độ của cậu với họ chẳng khác nào một vị bạo chúa trẻ tuổi nóng nảy, kiêu kỳ, không cho phép bất kỳ sự chậm trễ hay xen ngang nào. Vẻ đẹp trai cùng phong thái bề trên của cậu khiến họ cảm thấy đó là nét tính cách của một kẻ được thần may mắn ưu ái, rất đáng ngưỡng mộ và nể trọng.
“Nó đúng là dòng dõi D’Willoughby rặt rồi,” Tip, gã nô lệ của Đại tá bảo. “Chẳng lẫn đi đâu được. Hắn là một tiểu ác ma khi máu y nổi lên, mà cái máu ấy thì dễ sôi lắm. Nhưng nó lại là kiểu thiếu niên hào hiệp ra trò — cực kỳ hào hiệp ấy chứ. Cứ nhìn thấy ngươi là nó quăng cho một đồng tư-vơ ngay, lại còn có kiểu cách vương giả đúng điệu — dẫu chẳng thể phủ nhận nó là một tiểu ác ma; ngay cả Đại tá cũng chẳng cãi lại nổi nó khi cơn giận của nó đã bốc lên.”
Đại tá và con trai đã ở khu suối nước nóng được một tháng thì diễn ra buổi vũ hội hóa trang — nguyên nhân dẫn đến một tập vô cùng khó chịu trong biên niên sử mùa hè năm ấy.
Mấy ngày trước đó, bầu không khí phấn khích bao trùm khắp khách sạn. Một vẻ bí ẩn thú vị phủ lên các công tác chuẩn bị. Hai chủ tiệm tạp hóa ở vùng quê nghèo nàn quanh vùng suýt phát điên vì những yêu cầu dồn dập về các món đồ và nguyên liệu mà họ chưa từng nghe thấy bao giờ, cũng như chẳng tài nào kiếm nổi trong bán kính một trăm dặm quanh đây. Các phòng ngủ ngập tràn váy vóc đang được sửa chữa từ trang phục đời thường thành những kiệt tác kết hợp giữa trí tưởng tượng và sự khéo léo, trong khi tinh thần cho mượn và đổi đồ diễn ra thân thiện dọc khắp các hành lang.
Vào ngày trước buổi vũ hội, mức độ nổi tiếng của Đại tá đạt đến đỉnh điểm. Nhân dịp có cuộc bầu cử địa phương, một cuộc mít tinh chính trị được tổ chức ngay trong khuôn viên, tạo cơ hội cho bất kỳ ai muốn bày tỏ quan điểm trước đông đảo khách khứa và ba bốn mươi gã sơn cước bất ngờ xuất hiện từ xó xỉnh nào đó không một lời báo trước.
Đại tá là một trong những người đầu tiên được mời lên phát biểu, và trước sự phấn khích của đám đông ngưỡng mộ, ông lập tức hưởng ứng lời mời với phong thái vô cùng duyên dáng.
Khi ông bước lên bục nhỏ với những bước chân chậm rãi, nhẹ nhàng — vốn là một trong những điểm thu hút lớn nhất của ông — rồi đứng trước khán giả, cúi xuống nhìn họ với vẻ hiền từ, đầy chiêm nghiệm dưới hàng mi tuyệt đẹp, một nhịp đập chờ mong khẽ rung lên trong từng lồng ngực yếu đuối.
Bài diễn văn của ông không làm ai thất vọng, được đánh giá là hoàn hảo đến từng chi tiết. Giọng nói dịu êm, phong thái di chuyển điềm tĩnh, sự hùng biện của ông đạt đến mức mà người trần mắt thịt có thể mong đợi. Ông nhắc đến thực tế bằng thái độ khiêm nhường đầy cao quý rằng bản thân khó lòng tự nhận là một nhà chính trị, trừ khi bất kỳ người con nào của miền Nam xinh đẹp ít nhất cũng phải là thế tự đáy lòng, dẫu có thiếu vắng đi những phẩm chất từng làm cho vùng đất của họ vang danh từ châu lục này sang châu lục khác. Ông chỉ là một trong số rất nhiều người đang đánh cược vào những thể chế trân quý, những mái nhà họ yêu thương, những người thân yêu làm rạng rỡ các mái nhà ấy, và hạnh phúc của chính họ vốn gắn liền với những tổ ấm đó, không thể tách rời khỏi mảnh đất tuyệt vời nhất mà mặt trời từng chiếu rọi.
Tiếng tràng pháo tay ở phân đoạn này lớn đến mức buộc ông phải dừng lại vài giây; nhưng thật đáng tiếc là chín trên mười gã sơn cước vẫn trơ ra như đá, vắt chéo đôi chân bọc quần vải thô và đưa tay dụ dỗ hàm râu xồm xoàm với thái độ vô cảm. Họ tỏ ra dửng dưng lạnh lùng trước những lời hùng biện hoa mỹ nhất, trước những lời kêu gọi đầy âm nhạc lay động trái tim những người yêu chuộng tự do, trước thông báo rằng tình hình đã bước sang một ngã rẽ buồn thảm và đầy hệ trọng, rằng những định chế đặc thù được để lại như di sản của tổ tiên đang bị đe dọa bởi những kẻ cuồng tín miền phương Bắc, và rằng trong tương lai gần, máu của các bậc chí sĩ có thể đổ xuống như một giọt nước tế lễ trên mảnh đất họ yêu quý; trước những lời lên án đầy hùng biện nhắm vào đám lính đánh thuê và những kẻ lăm le giày xéo các quyền lợi của chúng ta theo hiến pháp. Họ lắng nghe tất cả những điều đó, rõ ràng dồn hết tâm trí chậm chạp của mình để cố hiểu, nhưng lại chẳng múng may xúc động là bao so với những gã đàn ông ít khi được nghe diễn thuyết.
Thế nhưng, phần kết của bài diễn văn mới là thứ khuấy động mọi trái tim. Với sự khéo léo chỉ có thể so sánh với nét duyên dáng nhẹ nhàng của ông, diễn giả chuyển từ khía cạnh gai góc của vấn đề sang một vấn đề mềm mỏng hơn mà ông đã thoáng nhắc đến trước đó, cũng là khía cạnh của mọi vấn đề chính trị xuất hiện trước những con người như ông. Hy vọng rằng mọi người đàn ông đều hiểu ý nghĩa của tổ ấm, tình yêu và sự dịu dàng dưới một hình thức nào đó, dẫu có nghèo hèn, khiêm tốn hay kém phần ái quốc đến đâu; bất kỳ người đàn ông nào cũng được ban cho đặc quyền bảo vệ các quyền lợi và sự thiêng liêng của tổ ấm ấy, của tình yêu ấy bằng sức mạnh, bằng ý chí, và nếu cần thiết, bằng chính dòng máu trong lồng ngực đang đập. Đối với một người đàn ông miền Nam, cũng như mọi người đàn ông khác, quyền được đứng đầu trên mảnh đất của mình trong việc cai trị, lựa chọn người cai trị, thi hành luật pháp đồng nghĩa với quyền bảo vệ mái nhà này và những gì trân quý bên trong nó. Thật đau lòng, thật đau lòng thay khi vào một ngày hè thế này, ngay trước mặt tôi lại có một vài người — giá như Định mệnh không an bài như thế — không có lấy một nơi chòm mả mà ngọn cỏ lay động theo gió chiều trên những tình yêu đã chết và những hoài bão giờ phút này vẫn được gìn giữ như báu vật vô song. “Và những nấm mồ ấy……”
Ông chùng giọng ngập ngừng, liếc nhìn về phía cửa ra vào với một biểu cảm kỳ lạ. Trong vài giây, ông không thể tiếp tục. Ông buộc phải đưa ly nước được chuẩn bị sẵn lên môi.
“Ôi!” một tiếng thở dài khẽ khàng vang lên khắp căn phòng, “cảm xúc đã lấn át anh ấy. Tội nghiệp anh ấy! Trông anh ấy mới buồn làm sao.”
Phu nhân Marvin chỉ đơn giản hướng mắt theo cái nhìn của ông. Bà là một người thực tế. Đối tượng đập vào mắt bà là bóng dáng cậu thiếu niên vừa bước vào vài phút trước. Cậu đang tựa lưng vào khung cửa, mặc bộ đồ vải lanh trắng mát mẻ, hai tay đút túi quần, biểu cảm trên gương mặt trẻ trung đang tối sầm lại quả thực vô cùng kỳ lạ. Cậu trừng trừng nhìn cha mình, đôi mắt đẹp mở lớn chứa đựng một đốm lửa căm phẫn sục sôi bên trong, cánh mũi phập phồng run rẩy. Cậu có vẻ quyết tâm bắt vị diễn giả phải chạm trán ánh mắt mình, nhưng vị diễn giả chẳng hề có ý định đó. Ông dồn toàn bộ sự chú ý vào ly nước của mình. Đối với vị phu nhân lớn tuổi, sắc sảo người miền Nam này, đó là một cảnh tượng vô cùng thú vị.
“Nếu hai phút nữa nó nhảy chồm lên và ném thứ gì đó chí mạng, chết chóc vào lão ta,” bà thầm nghĩ, “tôi cũng chẳng lấy gì làm ngạc nhiên; và tôi sẽ không phải là người đầu tiên trách cứ nó đâu.”
Thế nhưng phần còn lại của khán giả lại dồn toàn tâm trí vào vị Đại tá — người sau khi lấy lại bình tĩnh đã kết thúc bài diễn văn bằng lời kêu gọi hãy để mảnh đất được thiêng hóa bởi những tình yêu, mái nhà và nấm mồ ấy hoàn toàn vào tay những người yêu thương nó nhất, thấu hiểu những nhu cầu của nó, khao khát sự phát triển cao nhất của nó, và khi thời khắc cần thiết điểm tô, sẽ sẵn sàng hy sinh tính mạng để bảo vệ danh dự nơi này.
Khi ông dứt lời và chuẩn bị ngồi xuống một cách điềm đạm, chẳng mảy ra vẻ ý thức được cơn chấn động lớn mà mình vừa tạo ra, trên gương mặt tuấn tú vẫn vương vãi nét sầu muộn đáng ngưỡng mộ, Thiếu tá Beaufort liền lao vội về phía ông, suýt làm đổ cả chiếc ghế vì quá vồ vập, rồi chộp lấy tay ông, siết chặt với sự nhiệt tình chúc mừng đầy ấn tượng và say sưa đến mức tự thân nó đã là một sự kiện.
Sau đó còn có những bài phát biểu khác. Được nung nấu bởi tấm gương của người bạn, Thiếu tá Beaufort tự hào ghi dấu ấn bằng một bài điều trần ngập tràn sự galant và điểm xuyết những lời bóng gió thân thiện về quyền lực tối thượng của tất cả, quyền lực của Tuổi trẻ, Sắc đẹp và Nữ tính. Sự nhạy bén về chính trị của bài phát biểu có lẽ bị lu mờ đôi chút do nó được hướng một cách hào hiệp tới những sinh linh xinh đẹp đang làm bừng sáng sự tồn tại và kéo dài nỗi buồn của chúng ta. Không có Phụ nữ, diễn giả nhận thấy, chúng ta có thể là nhà chính trị, nhưng không thể là quý ông. Ông phát hiện ra (ngay tại chỗ, với chút gợi ý sầu cảm tinh tế) rằng do một sự trùng hợp kỳ lạ, Phụ nữ chính là những người mẹ, người vợ, người chị, người con gái của đàn ông. Điều này nhận được những tràng pháo tay rân trời, ông nói thêm rằng đối với những người chồng, người cha, người anh này — và có thể thêm cả “những người tình” — Phụ nữ nắm giữ một quyền lực vô cùng to lớn. Địa vị của Phụ nữ, ngay cả trong những thời kỳ đen tối nhất, vẫn là địa vị của kẻ dùng bàn tay mềm mại để vận hành bánh xe thế giới; thế nhưng ngày nay, trong thời đại văn minh hơn này, thời đại của sự tiến bộ và phát hiện, trước một quyền lực vĩ đại và cao cả nhường nào mà một nhà quý tộc, một nhà phát minh, một nhà văn, một chiến binh lại phải cúi đầu, hệt như khi họ sùng bái trước đền thờ của Phụ nữ?
Thế nhưng Đại tá mới là kẻ hái quả ngọt và trở thành nhân vật trung tâm của ngày hôm ấy. Khi khán giả đứng dậy, ông lập tức bị vây quanh bởi những nhóm người cuồng nhiệt, họ bắt tay ông, tuôn trào những lời ca ngợi như nước chảy, say sưa bám lấy từng lời ông nói.
“Hẳn là anh ấy phải tự hào về ông lắm,” một trong những mỹ nhân kiều diễm nhất nhóm người sùng bái lên tiếng; “những cậu con trai ở tuổi nó thường cảm nhận mọi thứ rất mãnh liệt. Em tự hỏi sao nó không chịu bước ra và nói gì đó với ông nhỉ? Chắc nó ngượng quá chăng.”
“Tôi dám cá là thế,” Đại tá đáp với nụ cười dịu dàng vô cùng cuốn hút. “Người ta không thể đòi hỏi sự nhiệt tình ở tuổi thiếu niên đâu. Tôi không mảy may nghi ngờ việc nó thấy chuyện này thật tẻ nhạt và đang tự hỏi tôi đang nhắm đến cái gì nữa.”
“Không thể nào,” vị mỹ nhân thốt lên. “Đừng đối xử bất công với thằng bé như thế, Đại tá de Willoughby chứ.”
Thế nhưng khi cô liếc về phía cửa ra vào, giọng nói của cô bỗng nhỏ dần và biểu cảm trên khuôn mặt thay đổi ít nhiều. Cậu thiếu niên — tay vẫn đút trong túi quần — đang đứng nhìn với một vẻ mặt hỗn xược đến mức khó tin, một vẻ khinh miễn của tuổi trẻ và sự giễu cợt đầy ác ý khiến ngay cả những kẻ cuồng nhiệt nhất cũng phải sửng sốt.
Cô quay sang Đại tá với vẻ bất an, trong khi ông chỉ cười mỉm nhẹ nhàng.
“Nó là một thằng bé khôi ngô,” ông nói, “và tôi phải thừa nhận mình là một ông bố kiêu ngạo, nhưng nó mang cái tính khí ngỗ ngược của loài quỷ dữ và đã bị chiều hư mất rồi. Lớn lên rồi nó sẽ tự sửa được thôi.”
Đó là một cú sốc lớn đối với những kẻ ngưỡng mộ khi sáng hôm sau người ta hay tin Đại tá lại tái phát căn bệnh cũ, và lần này còn nặng hơn bình thường. Neb bị nhốt trong phòng với ông suốt cả ngày, còn có lời đồn rằng cậu con trai từ chối bước xuống dưới nhà, chỉ đi lang thang dọc các hành lang với vẻ bồn chồn, trông thảm hại đến mức có thể làm tan chảy cả trái tim sắt đá nhất.
Suốt buổi sáng, một bầu không khí u ám bao trùm; chỉ có sự hào hứng chuẩn bị cho buổi tối mới là liều thuốc giải độc cho sự chán chường chung đó.
Đó sẽ là một dịp rực rỡ. Khắp quận đã được lùng sục để tìm kiếm khách mời, một số người phải ngồi xe ngựa vượt chặng đường hai mươi đến ba mươi dặm từ các khu nghỉ dưỡng khác đến đây. Phòng khiêu vũ được trang hoàng bởi ủy ban các quý bà; người ta dự đoán trang phục sẽ lộng lẫy đến chói lòa. Chẳng ai cảm thấy thất vọng khi giờ hội hè đến nơi, ngoại trừ sự hụt hẫng sâu sắc vì sự vắng mặt của vị bệnh nhân đáng mến.
“Ước gì anh ấy đủ khỏe để có mặt ở đây,” người ta bàn tán, “hẳn anh ấy đã tận hưởng biết bao.”
Thiếu tá Beaufort trong trang phục Sultan và được bao quanh bởi hậu cung mặc quần sarsenet cùng mạng che mặt đính kim sa đã mang lại sự hài lòng chung cho tất cả. Minnehaha đội lông chim mang giày moccasin, và Hiawatha mang giày moccasin đội lông chim mang lại chút hơi thở thơ ca nhẹ nhàng cho buổi tối. Các Nữ tu Bác ái đầu đội mũ cambric trắng lẩm nhẩm chuỗi hạt tràng giữa những bước nhảy lancers. Đêm và Ngày, lần lượt khoác lên mình lớp vải tarlatan đen và trắng, cùng rực rỡ trong ánh sao giấy bạc, hợp sức mang thêm sự lãng mạn và sống động cho khung cảnh hội hè.
Việc khiêu vũ và ve vãn đang diễn ra, những vị khách không tham gia ngồi ngắm nghía suốt một tiếng đồng hồ trên những chiếc ghế xếp quanh tường, chắc hẳn đang tận hưởng hết mình, và sự náo nhiệt đang ở đỉnh điểm thì một sự náo động bỗng bùng lên ở một trong những cánh cửa. Những người tụ tập quanh đó có vẻ giật mình khi phát hiện ra thứ gì đó hoặc ai đó đang đứng sau lưng họ, và ngay lập tức, người ta thấy thứ đó — hoặc ai đó — đang quyết liệt chen lấn qua đám đông. Một tiếng cười lớn, nghe rợn ngốc vang lên. Đám vũ công khựng lại, đồng loạt quay người về hướng phát ra âm thanh, sự hoảng hốt và kinh ngạc hằn rõ trên gương mặt. Khách quan sát nhoài người về phía trước ghế ngồi.
“Cái gì thế?” là tiếng kêu chung vang lên. “Ôi! Ôi!”
Thán từ sau cùng cất lên thành một dàn đồng ca khi hai người trong nhóm đứng cạnh cửa bị đẩy dúi dụi vào phòng, và một dáng người cao lớn, lảo đảo, ăn mặc nửa vời thô bạo xông vào.
Thoạt nhìn, thật khó mà nhận ra đó là ai; đơn giản chỉ là bóng dáng của một người đàn ông rất cao trong bộ trang phục xộc xệch, chỉ gồm áo sơ mi và quần dài. Quần áo nhàu nhĩ, tóc rũ rượi xõa trước trán. Lão sải bước vào giữa vòng tròn khiêu vũ, đứng đút tay vào túi quần, lắc lư qua lại với ánh mắt vừa ác độc vừa ngây dại.
“Ồ,” lão cất giọng mỉa mai khi quan sát xung quanh, và rồi tất cả mới nhận ra ngay lập tức rằng đó chính là Đại tá De Willoughby, và Đại tá De Willoughby đang say đến điên dại.
Lão bắt gặp hình ảnh Thiếu tá Beaufort, bèn lảo đảo tiến về phía ông ta với một tiếng cười cuồng loạn.
“Lạy Chúa, Thiếu tá,” lão thét lên; “trông hợp ghê cơ, hợp vãi chưởng ấy chứ. Cả hậu cung nữa chứ lị. Chỉ kẹt nỗi ông béo quá — béo quá; nếu mà không béo thế thì trông đâu đến nỗi thành cái thằng hề khốn nạn thế này.”
Thật đáng tiếc là chẳng còn chút phong thái tinh tế nào trong cơn say của lão, chẳng còn bóng dáng của sự duyên dáng sầu muộn, chẳng còn chút hơi hướng lịch thiệp quen thuộc; với cái cười, cái trừng mắt và đôi chân lảo đảo ấy, lão chẳng khác nào một gã điên say xỉn nặng hơn bất kỳ kẻ nào thường thấy.
Một vụ lao vào từ mọi phía — Thiếu tá Beaufort trong bộ quần áo Thổ Nhĩ Kỳ là kẻ đầu tiên nhào tới tóm lấy lão để rồi bị dẫm nát cả khăn turban trong cuộc hỗn chiến. Lão bị lôi xềnh xệch qua căn phòng, miệng vừa la hét, giằng co vừa phun ra những lời thề thốt tục tĩu khủng khiếp nhất. Ngay khi kéo được lão ra đến cửa, gã nô lệ da đen Neb của lão liền xuất hiện, khuôn mặt tái mét vì sợ hãi.
“Lạy Chúa từ bi,” hắn kêu lên. “Tôi rời mắt khỏi ngài có mỗi một phút. Chính ngài đuổi tôi xuống đấy chứ. Một trong những chiêu trò quỷ quái để tống cổ tôi đi mỗi lúc ngài lên cơn nặng nhất. Thuốc phiện với whisky, chính thứ ấy làm ngài ra nông nỗi này. Cả hai thứ quỷ quái này sớm muộn gì cũng giết chết ngài cho mà xem, mà thuốc phiện là độc nhất. Vì ơn Chúa, xin các ngài làm ơn giúp tôi một tay giữ ngài lại cho đến lúc tĩnh tâm.”
Mọi chuyện diễn ra chỉ trong vài chớp mắt, nhưng nỗ lực gượng lại bầu không khí vui vẻ đã hoàn toàn thất bại; cú sốc đối với đại đa số đám đông vui vẻ là quá lớn. Phu nhân Marvin, ngồi lì trong góc riêng của mình, bị vây chặt bởi vô số câu hỏi, và cuối cùng đành phải nhượng bộ trước áp lực hoàn cảnh mà thốt ra sự thật theo những gì bà biết.
“Lão đã từng làm thế này bao giờ chưa?” bà đáp. “Rồi, lão làm thế hàng chục lần từ hồi đặt chân đến đây rồi, chỉ có điều tối nay lão điên nặng hơn bình thường và sổng mất khỏi tay tên đầy tớ thôi. Nó là cái gì ư? Là thuốc phiện khi không có whisky, và là whisky khi không có thuốc phiện, còn thường nhất là cả hai thứ giã vào nhau. Lão là kẻ tồi tệ nhất trong số những kẻ tồi tệ, và nếu các người chưa hiểu được cái thằng bé khốn khổ, bực bội ấy từ trước thì giờ có thể hiểu nó rồi đấy. Mẹ nó chết vì vỡ tim từ hồi nó mới mười hai tuổi, nó đã chứng kiến cái chết ấy và thừa biết thứ gì đã giết chết bà, và nó đủ kiêu hãnh để cảm thấy sự nhục nhã đang bám lấy mình. Ta chỉ muốn nói bấy nhiêu thôi, mà đấy còn chưa được một nửa đâu.”
Khi những kẻ khiêng Đại tá về phòng quẹo vào hành lang dẫn đến đó, họ chạm mặt con trai lão. Cậu đứng đợi với đôi môi tái nhợt vì giận dữ, khiến bất kỳ ai trong bọn họ cũng phải giật mình trước sự tương phản lạc lõng với khuôn mặt và vóc dáng thiếu niên.
“Sao?” cậu nói, thở hồng hộc. “Tóm được lão rồi đấy phỏng?”
“Ừ,” Đại tá toe toét đáp; “tóm tao chặt phết nhở; nâng tao lên rồi khênh đi. Thằng nào không chịu bước thì vác cổ nó đi.”
Họ khiêng lão vào phòng, đặt nằm xuống, và không chỉ một người trong số họ tò mò quay sang nhìn cậu thiếu niên đang đứng gần chiếc giường, dán mắt xuống vật thể xộc xệch, lắp bắp lảm nhảm trên đó.
“Khốn kiếp,” cậu thốt lên trong một cơn bộc phát đột ngột; “khốn kiếp.”
“Này nhóc,” một người trong nhóm cất lời, “câu đó nói không đúng chỗ lắm đâu.”
“Mặc kệ chúng mày,” cậu thiếu niên thét lên, mặt cắt không còn giọt máu vì tức giận và xấu hổ. “Chúng mày tưởng tao không được phép nói những gì tao thích chắc? Một lão bố tuyệt vời làm sao để một thằng con phải gánh lấy — bị trói buộc và lôi kéo theo — uống rượu đến điên loạn và tự bôi gio trát trấu vào mặt sau những lời lẽ hoa mỹ, đạo đức giả và làm dáng quý ông. Lão phải là một quý ông chứ — mang danh quý ông cơ mà, và” — nghẹn ngào đôi chút — “tất cả những thứ quái quỷ khác nữa. Tao căm ghê cơ! Lão làm tao buồn nôn. Ước gì lão chết quách đi cho rồi. Lão chỉ là một kẻ nói láo, kẻ bắt nạt và đồ ngốc. Tao đã giết lão rồi nếu lão không phải là bố tao. Tao ước gì được giết lão vì cái tội làm bố tao đấy!”
Đột nhiên giọng cậu chùng xuống và khuôn mặt tái nhợt đi. Cậu bước sang góc phòng bên kia, quay lưng về phía tất cả bọn họ, gục đầu xoăn tít lên cánh tay gác trên bệ cửa sổ rồi khóc nức nở với một vẻ yếu đuối và sự suy sụp tột cùng đáng thương làm sao.
Đại tá bật ra một tràng cười cuồng loạn.
“Thằng ranh kỳ cục,” lão lảm nhảm. “Thằng ranh kiêu ngạo! Giống hệt mẹ nó — ghét cay ghét đắng. Mẹ nó hay khóc lắm. Bà ấy có thèm ưa đâu cơ chứ.”