Giống như ngã tư đường từng xem Tom như một thứ tài sản riêng khiến họ tự hào, nơi đây cũng dần quen với việc đối xử với cô bé con nuôi của anh như vậy. Người ta cho rằng câu chuyện đầy lãng mạn về thân thế của cô bé đã mang lại chút tiếng tăm cho vùng này, và tình cảm mà Tom dành cho cô được ca ngợi là một thứ tình cảm xứng tầm với sự hào phóng trong bản chất của người dân ngã tư.
“Trông tụi nó cứ như tôn nhau lên vậy,” người ta thường bàn tán, “con bé thì nhỏ xíu mà lão thì to tướng, thế mà quấn lấy nhau chặt thế chứ lị. Chúa ơi! Cố tách tụi nó ra làm gì cho nhọc công. Con bé Sheby ấy phỏng có đi đâu mà không có Tom, còn Tom thì đời nào chịu đi đâu mà thiếu Sheby!”
Khi con bé lên năm tuổi, những thay đổi diễn ra ở cửa hàng lại tiếp tục kéo theo những biến chuyển lớn hơn trong ngôi nhà. Cho đến sinh nhật năm tuổi của Sheba, cuộc sống của cô bé vẫn là sự đan xen giữa cửa hàng và ba căn phòng phía sau với sàn nhà trơ trụi cùng những bức tường thô ráp. Con bé có góc nhỏ của riêng mình, chiếc ghế thấp đặt sau quầy hàng hoặc gần lò sưởi, và ở đó nó tự chơi đùa với những món đồ chơi qua những ngày dài ngắn khác nhau; còn đến buổi tối, Tom lại nhấc bổng cô bé lên vai rồi đưa về cái gọi là ngôi nhà, để lại sau lưng vẻ vui tươi vô tư lự cùng tiếng cười vang dội bị khóa chặt lại trong cửa hàng, sẵn sàng bừng sáng trở lại để làm vui lòng khách hàng vào sáng hôm sau.
“Lão ta chẳng có cái thói quen dân nghèo nào khi đối xử với con bé ấy cả,” Mornin từng nói với bà Doty; “lão chưa bao giờ nói chuyện với nó bằng giọng điệu nào khác ngoài kiểu cách của một người thượng lưu. Lão đang nuôi dạy nó để trở thành người xứng đáng với tầng lớp cao quý nhất. Lão cực kỳ chú ý đến cách nó nói chuyện và ngồi vào bàn ăn. Mornin lúc nào cũng phải đứng sau ghế để hầu hạ nó; và từ khi nó đủ lớn để ngồi vào bàn, nó đã được dùng thìa dĩa bạc và vòng giữ khăn ăn hệt như Tổng thống vậy. Chà, ngài D’Willerby đang nuôi dạy con bé một cách rất cẩn trọng đấy.”
“Ờ,” bà Doty đáp, “nếu đó không phải là Tom D’Willerby, thì tôi đã bảo là đang làm hàng làm họ rồi; nhưng ngài Tom D’Willerby thì chẳng có cái thói ra vẻ ta đây ấy đâu.”
Ngay từ đầu, sự quan tâm mà ông Stamps dành cho cô con gái nuôi của Tom vẫn luôn bền bỉ dẫu kín đáo. Khi bước vào cửa hàng – việc mà ông ta làm khoảng ba lần một tuần – thói quen của lão là dán đôi mắt nhỏ, nhợt nhạt lên người con bé và theo dõi từng cử động của nó một cách lén lút nhưng đầy kiên trì không mệt mỏi. Thỉnh thoảng, việc này cuốn hút lão đến mức khi con bé lủi thủi về góc nhỏ sau quầy hàng vì cảm thấy ngột ngạt trước ánh nhìn soi mói ấy, lão lại thong thả bước qua phòng rồi ngồi phịch lên chính chiếc mặt quầy, tiếp tục cái nhìn dịu dàng mà đầy ám muội cho đến khi con bé không thể chịu nổi nữa và phải tìm chỗ trốn bên đầu gối của Tom.
“Lão cứ nhìn cháu,” con bé thổ lộ trong nỗi hoảng sợ vào một ngày như thế. “Đừng để lão nhìn cháu nữa.”
Tom giật mình quay lại, và ông Stamps cũng giật mình, nhưng lập tức lấy lại vẻ bình thản một cách nhẹ nhàng.
“Để con bé yên đi,” Tom nói, “mày cứ nhìn nó làm cái gì?”
Ông Stamps mỉm cười.
“Có luật nào cấm đâu, Tom,” lão đáp. “Và con bé rất đáng để ngắm chứ bộ. Nó có cái nét ấy, rồi lớn lên còn rõ hơn nữa. Mười năm nữa thì đố có cái luật nào ngăn được thiên hạ ngắm nhìn nó, trừ phi luật đó được Quốc hội thông báo và thông qua đấy. Nó thế nào cũng phải quen với việc bị người ta nhìn ngắm thôi.”
“Để nó yên,” Tom lặp lại, giọng đầy vẻ giận dữ. “Ta không muốn ai làm phiền con bé.”
“Tôi có định làm phiền nó đâu, Tom,” ông Stamps nói một cách nhẹ nhàng; rồi lão trượt khỏi quầy hàng, lủi thủi đi ra cửa và về nhà.
Sheba luôn gắn liền hình ảnh ông Stamps với lần đầu tiên con bé nhận ra rằng tấm lòng của người bảo vệ mình cũng có lúc nổi giận. Con bé chưa bao giờ thấy Tom cáu giận cho đến khi chứng kiến ông Stamps chọc giận anh vào ngày sinh nhật thứ năm đầy biến động – cột mốc đánh dấu những sự kiện kịch tính đầu tiên trong cuộc đời cô bé. Cho đến lúc đó, nó chỉ nhìn thấy ở sức mạnh vóc dáng vồ vập và bờ vai rộng lớn của Tom khả năng che chở, bảo vệ sự mỏng manh và bé nhỏ của mình khỏi mọi tổn thương hay sợ hãi. Khi anh bế thốc nó lên trong đôi tay to lớn và đưa nó lên một độ cao có vẻ như phi thường so với mặt đất tầm thường này, nó chỉ cảm thấy sự ân cần cẩn trọng trong cái chạm của anh và nhận ra sự an toàn của chính mình; và nó chưa từng nghĩ rằng cái giọng vang như sấm sét vốn dĩ rất khỏe và trầm của anh – thứ âm thanh hoàn toàn có thể trở thành một điều đáng sợ nếu anh muốn – lại có thể diễn đạt bất kỳ cảm xúc nào khác ngoài sự tử tế trong tiếng gầm vui vẻ của anh.
Nhưng vào ngày sinh nhật thứ năm này, Tom hiện ra trước tâm trí thơ ngây của con bé dưới một ánh sáng hoàn toàn mới.
Con bé thức dậy từ sớm và thấy anh đang đứng bên chiếc giường nhỏ của mình, trên tay ôm một con búp bê mới. Đó là một con búp bê to hơn bất kỳ con nào nó từng có trước đây, và ăn mặc rực rỡ đến mức trong cơn ngất ngây ban đầu, nó suýt nín thở. Khi lấy lại được nhịp thở, nó lồm cồm bò dậy, một tay ôm chặt món quà mới, tay kia vòng qua cổ Tom.
“Ôi, con búp bê đẹp quá, đẹp quá đi!” con bé kêu lên, rồi giấu mặt vào vai anh.
“Nào,” Tom vừa nói vừa ôm chặt lấy con bé, “sao lại phải che mắt lại thế kia?”
Con bé rúc sát vào người anh với một tiếng nấc khe khẽ vì niềm hạnh phúc ngập tràn.
“Bởi vì… bởi vì con búp bê ạ,” nó đáp, vừa bối rối trước sự bày tỏ tình cảm quá đỗi đáng yêu của chính mình, vừa hoàn toàn tin tưởng rằng anh sẽ hiểu được nó.
“Chà,” Tom vui vẻ nói, “lạ nhỉ? Này, cháu có biết hôm nay là ngày gì không? Tròn năm tuổi rồi đấy – thử nghĩ xem nào.”
Anh ngồi xuống và đặt con bé vào vị trí quen thuộc trên đầu gối mình, tay nó vẫn ôm con búp bê.
“Cứ nghĩ mà xem,” anh nói, “nó tự dưng bày đặt ra cái ngày sinh nhật chỉ để tròn năm tuổi và được tặng một con búp bê cơ đấy. Khôn ngoan thật đấy nhỉ?”
Sau khi cùng nhau ăn sáng một cách trang trọng, con búp bê được mang ra cửa hàng để chơi. Hôm đó trời mưa, không khí se lạnh bởi một trận mưa lớn trên núi, một ngọn lửa nhỏ đang cháy bùng trong lò sưởi, và bên cạnh ngọn lửa ấy, hai bác cháu cùng ngồi xuống để tận hưởng buổi sáng bên nhau, vì thời tiết không cho phép họ bị làm phiền bởi những vị khách lui tới. Nhưng ngay lúc họ đang tận hưởng những giây phút yên bình nhất, tiếng móng ngựa giẫm lóp ngóp trong bùn ngoài kia đã phá vỡ sự tĩnh lặng, và chiếc mũ của ông Stamps bất ngờ xuất hiện phía trên bệ cửa sổ.
Sheba là người nhìn thấy đầu tiên, và trong nỗi khao khát muốn tránh mặt kẻ đó, con bé đã nảy ra một kế hoạch tuyệt vọng. Nó đứng dậy nhẹ nhàng đến mức Tom, người đang cận mẫn đọc báo, không hề nghe thấy; và vừa đứng dậy xong, nó liền kéo chiếc ghế nhỏ của mình thụt hẳn vào sau quầy hàng với hy vọng rằng, khi không thấy nó ngồi đó, vị khách sẽ không mờ ám nghi ngờ sự hiện diện của nó.
Nó đã không phải thất vọng về điều này. Sau khii chùi sạch bùn bám ở giày ngoài hiên, ông Stamps xuất hiện ở ngưỡng cửa, và sau cái liếc mắt dò xét quen thuộc xung quanh, lão tiến thẳng về phía lò sưởi. Thái độ của lão vừa có vẻ làm hòa lại vừa thân thiện. Lão kéo một chiếc ghế ra rồi gác đôi giày ướt sũng lên lò sưởi, khiến chúng phát ra tiếng xèo xèo vô cùng dễ chịu khi khô dần.
“Chào Tom nhé,” lão nói, “khỏe chứ?” Và từ chỗ nấp của mình, Sheba nhìn thấy lão vừa xoa đôi chân từ đầu gối trở xuống vừa nói với vẻ thỏa mãn sâu sắc, như thể lão đang thầm tự mãn về điều gì đó đang ấp ủ trong đầu.
“Chào buổi sáng,” Tom đáp lại.
Ông Stamps lại xoa hai chân với vẻ vô cùng hưởng thụ.
“Trông anh có vẻ phong độ đấy, Tom,” lão nhận xét. “Chúa ơi, vâng, trông anh khỏe mạnh cường tráng phết đấy chứ lị.”
Tom đặt tờ báo xuống và gập đôi lại trên đầu gối.
“Trông khỏe mạnh lắm hả?” anh đáp. “Ừ, nói chung là tôi vốn là một tay yếu đuối mỏng manh lắm, nghe nói mình trông khỏe mạnh thế này quả là một sự khích lệ lớn.”
Ông Stamps cười khì khì một cách khá cục mịch.
“Tôi cũng ước gì mình được yếu đuối như thế đấy,” lão nói, “hay mỏng manh kiểu ấy cũng được. Anh đúng là một người đàn ông đẹp mã cường tráng thật đấy, Tom ạ.”
“Đúng vậy,” Tom lạnh lùng đáp, “tôi là một kẻ đẹp trai. Chính điều đó đã giúp tôi sống sót đến tận bây giờ đấy. Đó là điểm tựa duy nhất mà tôi luôn tin tưởng – cộng thêm một cái đầu thông minh sắc sảo nữa.”
Ông Stamps lại xoa hai chân với vẻ đắc ý.
“Thiên hạ hay bảo sắc đẹp chỉ là lớp da bọc ngoài,” lão nói; “nhưng tôi thì chẳng mong nó sâu hơn thế đâu – miễn là đủ che phủ là được. Mà nhắc đến chuyện đẹp đẽ, con bé đó đúng là một tuyệt phẩm – Chúa ơi, vâng. Nó thực sự là một tuyệt phẩm.”
“Này,” Tom nói, “để con bé yên.”
“Có hại gì nó đâu cơ chứ, Tom,” ông Stamps đáp, “chẳng hại gì đến nó đâu. Điều làm tôi nghĩ tới chuyện đó chỉ là vì vừa tròn đúng năm năm từ khi nó ra đời – tính ra thì hôm nay là sinh nhật và nó vừa tròn năm tuổi.”
“Cái gì,” Tom quát lên, “mày đã ngồi tính toán kỹ lưỡng lắm đấy phỏng?”
“Không,” ông Stamps đáp với vẻ khiêm tốn thực sự, “tôi có tính toán gì đâu nào, Tom.” Và lão từ từ rút một cuốn sổ tay cáu bẩn ra khỏi túi.
“Tôi ghi chép lại ngay từ hồi nó xảy ra cơ.”
Lão đặt cuốn sổ nhơ nhớp lên đầu gối và cẩn thận lật giở từng trang như thể đang tìm kiếm một ghi chú nào đó.
“Tôi thì không rành chuyện đọc với viết cho lắm,” lão nói, “còn tính toán thì thỉnh thoảng cũng hơi khó nhằn với tôi, nhưng ở đời người ta cũng phải biết dăm ba chữ nếu muốn giữ cho mọi thứ không bị thiệt thòi. Tôi vẫn muốn mình không bị thua thiệt, thế nên tôi đã dành khá nhiều thời gian để nghiền ngẫm mấy thứ đó. Tôi chưa từng bước chân tới trường học ngày nào, nhưng những gì muốn nhớ thì tôi đều ghi lại hết, và tôi cũng biết đếm tiền. Chắc là tôi chưa từng bị ai lừa gạt lần nào, và cũng chẳng mất mát gì bao giờ. Đây là chỗ tôi ghi lại chuyện con bé chào đời, chuyện người đàn bà kia qua đời và lão đàn ông nọ bỏ đi. Chắc anh chẳng đọc nổi đâu nhỉ.” Lão chồm người về phía trước, chỉ tay vào trang giấy đang mở và ngước nhìn Tom như thể kỳ vọng anh sẽ thấy hứng thú. “Nó nằm ở đây này,” lão tiếp tục với chất giọng the thé, eo éo nhỏ xíu của mình, “thậm chí có cả giờ giấc đàng hoàng. Con Mornin đã kể cho tôi nghe chuyện đó đấy. Khoảng ba giờ sáng trong cái căn phòng phía trước nhỏ xíu ấy. Nếu sau này có ai muốn biết chi tiết, thì mọi thứ đều nằm ở đó cả.”
Vẻ mặt của Tom lúc bấy giờ hoàn toàn chẳng có chút nào gọi là bình tĩnh. Anh cựa quậy trên ghế rồi vo tròn tờ báo thành một cục cứng ngắc ném thẳng về phía quầy hàng như thể nó là một thứ vũ khí.
“Nghe đây,” anh phừng phừng nổi giận, “nghe lời khuyên của tôi đi mà dẹp cái trò đó đi.”
Ông Stamps trìu mến ngắm nghía cuốn sổ bẩn thỉu của mình.
“Ghi lại thì có hại gì ai đâu cơ chứ,” lão đáp với vẻ ngây ngô.
Lão gấp cuốn sổ lại, đút thọt vào túi, rồi đan hai tay vào nhau đầu gối, trong khi đôi mắt dán chặt vào ánh lửa đỏ đang lấp ló qua một khe nứt trên mặt lò sưởi.
“Thật là tình cờ làm sao khi sáng nay tôi lại đi ngang qua chỗ đó đấy chứ,” lão trầm ngâm nhận xét.
“Qua chỗ nào?” Tom gặng hỏi.
Ông Stamps ôm chặt lấy đầu gối như thể đang tận hưởng sự bầu bạn của chúng.
“Qua cái chỗ đó ấy chứ, Tom, cái khuũng lũng ấy. Và tôi thấy hình như sẽ rất thú vị nếu ghé vào ngó nghiêng một chút, nhân cái ngày mà mọi chuyện bắt đầu. Thế là tôi buộc con la lại rồi bước vào.” Lão dừng lại một lát như để tận hưởng lại cảm giác đó.
“Thế rồi sao,” Tom nói.
Ông Stamps ngước nhìn anh với vẻ vô hại. “Hả?” lão hỏi.
“Tôi bảo là ‘thế rồi sao’,” Tom đáp, “tôi nói thế đấy.”
“À,” ông Stamps đáp. “Ừ thì, chẳng có cái quá gì ở trỏng cả, Tom ạ.”
Khoảnh khắc ấy, nét mặt Tom thoáng hiện lên sự nhẹ nhõm. Nhưng anh không nói gì.
“Chẳng có cái quái gì ở trỏng cả,” ông Stamps tiếp tục. Lại một khoảng lặng nữa trôi qua. “Chẳng có gì,” lão nói thêm sau đó, “chẳng có gì đặc biệt cả.”
Sự âu yếm mà lão dành cho đôi chân của mình vào lúc này mang một vẻ gì đó gần như bị thôi miên.
Tom nhận ra mình đang đăm đăm nhìn vào đôi tay đang đan vào nhau của lão.
“Tôi có tạt ngang ngó nghiêng một vòng,” lão tiếp tục, “và nếu ở đó có bất cứ thứ gì thì tôi dám cá là mình đã thấy rồi. Nhưng chẳng có gì cả, chẳng có gì ngoài mấy căn phòng trống hoác với dăm chiếc lá khô bị gió thổi lùa qua ô cửa sổ vỡ, và đống tro tàn trong lò sưởi đã bị nát bét bởi những giọt mưa hắt qua ống khói. Trông đống tro tàn ấy mới cô quạnh và tĩnh lặng làm sao; và chẳng có gì ngoài chúng và mấy chiếc lá khô ấy ra,——còn có cả một mẩu phong bì nữa chứ.”
Tom dịch ghế lùi lại. Sheba tưởng anh sắp chồm dậy đến nơi. Nhưng anh vẫn ngồi nguyên đấy, có lẽ vì ông Stamps lại bắt đầu nói tiếp.
“Chẳng có gì ngoài chúng và mẩu phong bì nhỏ ấy,” lão nhận xét. “Nó dính chặt vào một khe nứt trên vách nhà, sát dưới sàn, giống như bị quét hoặc thổi dạt vào đó rồi bị bỏ quên vậy. Lão ta nói với vẻ khiêm tốn——Nếu tôi không phải bò lê bò càng bằng cả tay lẫn chân thì đời nào tôi thấy được nó.”
Đúng lúc đó, Tom đứng phắt dậy, bật mạnh đến mức làm ngã cả chiếc ghế và khiến Sheba kinh hãi khi anh đá văng nó một cú cực mạnh bay tung tóe qua cửa hàng. Trong khoảnh khắc ấy, anh đã hoàn toàn mất kiểm soát và bị nung nấu bởi ý định nhào vào ông Stamps để tẩn cho lão một trận nhừ tử. Anh túm chặt lấy vai lão và quay người lão lại để lão có thể chiêm ngưỡng trọn vẹn cái tấm lưng khó ưa của chính mình. Chẳng dễ gì đoán được ông Stamps đang nghĩ gì trong đầu. Sheba cứ ngỡ khi lão há miệng ra là sẽ ré lên vì khiếp sợ. Nhưng lão không làm thế. Lão vặn cái cổ của mình hết mức có thể trong hoàn cảnh đó, ngước nhìn lên khuôn mặt Tom rồi ngoan ngoãn mỉm cười.
“Tom này,” lão nói, “anh sẽ chẳng thèm làm gì tôi đâu, không đời nào đụng đến một sợi tóc đâu nhé.”
“Có chứ, tao sẽ làm,” Tom gầm lên giận dữ, “tao sẽ tống cho mày một cú đá——”
“Nếu anh mà vung chân lên dù chỉ nửa bước thôi, anh cũng thừa sức làm gãy cổ tôi rồi,” ông Stamps nói, “và anh sẽ chẳng đời nào làm thế đâu. Nếu làm thế thật, Tom ạ, thì anh đúng là một thằng ngốc to xác hơn tôi tưởng đấy. Thả tôi ra mau.”
Trông lão quá đỗi nhỏ thó và láu cá khi thốt ra những lời đó, thảo nào Tom đành buông tay ra trong bất lực, dù anh buộc phải thọc sâu hai tay vào túi quần để cố kiềm chế lại cơn giận.
“Tao cứ tưởng tao đã cho mày một bài học rồi chứ,” anh bùng nổ; “tao cứ ngỡ là——”
Ông Stamps liền ngắt lời anh, tiếp tục tranh luận về lập luận của mình, có lẽ lão thấy rất đáng để giải quyết dứt điểm ngay tại chỗ.
“Anh nặng tới ba trăm cân, Tom ạ,” lão nói, “nếu tính chuẩn xác từng cân, còn tôi thì chưa nổi chín mươi cân, và anh có cẩn thận đến mấy đi nữa thì cũng không thể xách tôi lên mà không để lại hậu quả gì khiến anh phải mang tiếng sau khi xong việc được; hơn nữa, việc anh đi đôi co tay chân với tôi trông cũng chẳng hay ho gì cho cam. Và anh càng nổi điên lên bao nhiêu, thì anh lại càng phải kiềm chế bấy nhiêu đấy. Sự tình là thế đấy, Tom ạ; và tôi thì không đến nỗi ngu ngốc để mà không nhận ra điều đó.”
Sự tự tin tuyệt đối của lão vào thế thượng phong của mình, cũng như sự bất lực của Tom trước tình thế đó, quả là một điều khó có thể quên. Mãi về sau Tom vẫn nhớ mãi chuyện này, dù lúc đó nó chỉ khiến cơn giận của anh bốc lên ngùn ngụt hơn.
“Bây giờ thì,” anh gặng hỏi, “nói cho tao nghe xem mày đang nhắm đến cái quái gì đi. Điều tao muốn biết là mày đang mưu tính cái gì. Khai mau.”
Đôi mắt nhợt nhạt của ông Stamps đầy vẻ tan tò nhìn vào khuôn mặt đang giận dữ của anh. Lão đã ngồi phịch xuống ghế trở lại và chăm chú quan sát Tom khi anh cứ lải nhải với cái vẻ mộc phác, nhẫn nhịn của mình.
“Anh thích cười nhạo tôi quanh cái cửa hàng này lắm mà, Tom,” lão nhận xét, “và tôi chẳng thèm chấp đâu. Người ta bị cười nhạo thì chắc cũng chẳng vớ bở được gì mấy, nhưng bù lại cũng chẳng mất mát gì, và đó mới là điều tôi không muốn. Chắc anh cười vì tôi trông cứ ngốc nghếch thế nào ấy – mà tôi cũng chẳng thèm để bụng chuyện đó đâu, chúa ơi! Chẳng xi nhê gì đâu. Đời nào có chuyện người ta lại bị thiệt thòi chỉ vì trông có vẻ ngốc nghếch cơ chứ. Tôi chưa từng bị thế bao giờ, dù chỉ là một xu, Tom ạ. Nhưng tôi không ngốc như vẻ ngoài đâu, và tôi đoán anh cũng vậy thôi. Đó là lý do tôi suy luận thế đấy. Anh không ngu ngốc như bề ngoài đâu, và nếu thực sự ngu ngốc thì anh đã lâm vào hoàn cảnh tồi tệ rồi.”
“Nói tiếp đi,” Tom ra lệnh, “và dẹp tao ra đi.”
“Tôi không thể gạt anh ra được đâu, Tom,” ông Stamps nói, “vì anh dính sâu vào chuyện này rồi. Anh sẽ đúng là một thằng ngốc y như vẻ bề ngoài nếu cứ nhọc công làm tất cả những chuyện này mà chẳng vì cái quái gì.”
“Tất cả chuyện gì hả?” Tom gặng hỏi.
“Mấy đứa con gái,” ông Stamps gợi ý, “có thiếu gì đâu. Và nếu anh cứ cất công nuôi dạy chúng nó như cách con bé này được nuôi, thì anh chẳng kiếm chác được mấy; và nếu chẳng có chút lợi lộc nào ở đây, Tom ạ, thì mục đích của anh là gì chứ?”
Lão đặt ra câu hỏi ấy như thể đó là một câu đố không có lời giải.
“Mục đích của anh là gì hả, Tom?” lão vui vẻ lặp lại, “nếu chẳng kiếm chác được gì sất?”
Khuôn mặt chân chất của Tom bỗng đỏ bừng lên gần như chuyển sang sắc tím, những đường gân nổi hằn lên trên trán, cơn giận dữ khiến anh suýt nghẹt thở. Anh ngã phịch xuống ghế một cú trời giáng khiến cả căn nhà rung chuyển.
“Lạy… lạy Chúa tôi!” anh thốt lên; “giá như mày nặng tới năm trăm cân thì tốt biết mấy.”
Chắc chắn một điều rằng nếu Stamps thực sự đạt trọng lượng đó, Tom đã đè bẹp dí lão ra ngay tại chỗ, khiến cho thể xác lão sau đó chẳng còn chút hy vọng nào để làm nguồn an ủi cho bạn bè thân thích. Anh đưa tay chỉ thẳng ra cửa.
“Nếu mày muốn biến đi,” anh nói, “thì cút mau. Máu điên trong tao đang sắp bốc lên rồi đấy – và nếu nó vượt quá giới hạn thì…”
Ông Stamps từ từ đứng dậy.
“Anh chẳng thèm làm gì tôi đâu, Tom ạ,” lão điềm tĩnh nói, “chẳng đời nào đụng đến một cọng tóc đâu.”
Lão lủi thủi bước về phía cửa, và khi đến nơi, lão lại dừng lại trầm ngâm, đầu lắc lư qua lại.
“Nếu chẳng kiếm chác được gì,” lão nói, “thì thế nào anh cũng phải có một mục đích chứ nhỉ, vậy nó là gì nào?”
Thấy Tom có cử động trên ghế, lão vội vàng lách mình qua khung cửa. Sheba cứ tưởng lão đã đi rồi, nhưng chỉ một thoáng sau, cánh cửa lại kẹt mở và lão thò đầu vào nói với theo, không hề có vẻ đường mật quấy rầy – mà chỉ như đang gợi ý một manh mối có thể sẽ mang lại khối điều thú vị.
“Nó bắt đầu bằng một chữ ‘L’,” lão nói; “trên đó có ghi một cái tên, và nó bắt đầu bằng chữ ‘L’.”