Liên Quan Đến Vụ Kiện De Willoughby

Lượt đọc: 44 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 30

❊ ❊ ❊

Những năm tháng sau đó, ít nhất là một trong hai người chưa từng ngoảnh lại nhìn quãng thời gian tiếp theo mà không cảm thấy rùng mình. Thế nhưng bề ngoài, mối quan hệ giữa họ hoàn toàn không thay đổi, nếu không muốn nói là họ ngày càng gắn bó hơn. Một bí mật như thế được sẻ chia giữa hai con người hoặc sẽ đẩy họ ra xa, hoặc sẽ buộc chặt họ lại với nhau. Trong trường hợp này, nó trở thành một thứ dây tơ kết nối. Họ rất ít khi nhắc đến chuyện ấy, nhưng cả hai đều thừa hiểu rằng người kia vẫn hằng nhớ về nó. Thỉnh thoảng, khi ngồi bên nhau, Latimer nhận ra trong ánh mắt Baird nỗi niềm trầm tư và cảm thấy mình thấu thấu hiểu tâm can bạn; đôi khi Baird, liếc nhìn người bạn của mình, lại bắt gặp nét mặt chìm đắm trong hồi tưởng và cũng hiểu được lòng nhau.

Có lần, khi sự việc diễn ra như thế, anh đột ngột lên tiếng:

“Cảm giác của anh thế nào về—gã đó? Anh có muốn giết hắn không?”

“Đã quá muộn rồi,” Latimer đáp. “Chẳng thể thay đổi được gì nữa. Nếu việc làm đó có thể đưa cô ấy trở lại như trước khi nàng nhìn thấy bản mặt hắn—nếu tôi có thể gặp lại nàng, đứa trẻ xinh xắn, hạnh phúc với đôi mắt tựa đóa bìm bìm xanh và đôi môi rộn rã tiếng cười—tôi sẵn sàng giết hắn và vui lòng chịu tội treo cổ vì điều đó.”

“Tôi cũng vậy,” Baird lạnh lùng nói.

“Đóng đinh hắn lên cây thập giá cũng chẳng thể vãn hồi điều gì,” Latimer nói, khuôn mặt tái mét như người bệnh. “Nàng đã bị đóng đinh rồi—nàng đã phải sống trong nỗi kinh hoàng và sự hổ thẹn; rồi nàng ra đi—trong nỗi sợ hãi rằng Chúa sẽ không tha thứ cho mình.”

“Rằng Chúa sẽ không——!” Baird sững sờ thốt lên.

Những ngón tay gầy guộc của Latimer xoắn chặt vào nhau.

“Chúng tôi lớn lên cùng niềm tin vào những điều như thế,” anh nói. “Tôi cũng đã sợ hãi. Đó mới chính là điều khốn kiếp nhất. Tôi đã chẳng thể giúp gì cho nàng. Tôi đã thay đổi kể từ dạo ấy—tôi thay đổi nhờ việc được hiểu anh. Thuở bé, chúng tôi luôn bị dọa dẫm về một vị Thượng Đế công minh! Những kẻ thuyết giáo thành công nhất thường kiếm được quyền lực bằng cách vẽ ra những bức tranh về chốn luyện ngục đau đớn. Thời đó người ta chuộng cách ấy mà,” anh cười một nụ cười gai người.

“Thật là kỳ lạ khi ngay cả mốt chuộng Thượng Đế cũng thay đổi. Khi chúng tôi bị giam cầm cùng nhau trong căn lợt trên sườn đồi, nàng thường xuyên bị những cơn hoảng loạn tột độ bủa vây. Nàng đọc Kinh Thánh rất nhiều—bởi những kẻ có tội muốn ăn năn hám hối thường hay đọc nó—và thỉnh thoảng, khi bắt gặp những lời đe dọa cùng nguyền rủa, nàng lại thét lên, tái mặt và bắt đầu run rẩy. Sau đó, nàng nài nỉ tôi cầu nguyện và cùng cầu nguyện với nàng. Rồi chúng tôi quỳ xuống sàn nhà trơ trọi và khẩn cầu chung. Lời cầu nguyện của tôi còn tệ hơn cả vô ích. Tôi biết nói gì đây? Tôi cũng là một kẻ tội lỗi ngập đầu—một kẻ đang làm uế tạp tâm hồn mình bằng những lời dối trá—và tất cả những lời ấy, những việc ấy đều vì nàng mà thốt ra, mà làm ra, và nàng thừa biết điều đó. Nàng thường ôm lấy cổ tôi, van xin tôi hãy vạch trần nàng—hãy gột rửa tâm hồn tôi bằng cách thú nhận—đừng để sự đồi bại của nàng hủy hoại tôi—bởi vì nàng yêu tôi—yêu tôi xiết bao. ‘Hãy quay lại với họ và kể cho họ nghe, Lucien,’ nàng thường khóc nức nở, ‘Em sẽ đi cùng anh nếu em buộc phải thế—em mới là kẻ tội lỗi—không phải anh—em là kẻ đáng hổ thẹn; em phải gánh chịu điều đó—em phải gánh chịu nó.’ Nhưng nàng đã không thể chịu đựng nổi. Nàng đã chết.”

“Anh chưa từng có khả năng mang lại cho nàng chút an ủi nào sao?” Baird hỏi. Đôi mắt anh ngấn lệ, và giọng nói vang lên tựa như một lời van vỉ đắng cay. “Nàng dẫu sao cũng chỉ là một đứa trẻ mới lớn, bị bẫy vào việc gánh chịu lời nguyền của thế gian với biết bao hệ lụy kinh hoàng về tâm thần lẫn đớn đau thể xác.”

“Tôi biết an ủi thế nào đây?” câu trả lời là vậy. “Tôn giáo và tín điều xã hội của tôi đã dạy rằng nàng là một kẻ tội lỗi đê tiện—kẻ tội lỗi tồi tệ nhất, đáng hổ thẹn nhất—và rằng tôi là một tội phạm khi dám cố gắng cứu nàng khỏi hậu quả của tội lỗi do nàng gây ra. Tôi đang chống lại luật lệ của vị Thượng Đế công minh, Đấng vốn dĩ sẽ trừng phạt nàng bằng nỗi đau tan nát cõi lòng và sự nhục nhã ê chề chốn đông người. Ngài sẽ chẳng dung tha cho nàng, và Ngài cũng chẳng tha thứ cho tôi vì đã dám chống lại Ngài. Đêm nàng ra đi—suốt những giờ phút co giật vì đau đớn một cách khủng khiếp, bất thường—khi những giọt mồ hôi lạnh đọng lại trên khuôn mặt trẻ con chết trân của nàng, nàng cứ bấu chặt lấy tay tôi và kêu lên: ‘Đày ải vĩnh viễn! Đời đời kiếp kiếp—liệu có thể như thế này sao, Lucien—đời đời kiếp kiếp?’ Rồi nàng lại nấc lên, ‘Chúa ơi! Chúa ơi! Chúa ơi!’ bằng một lời cầu xin tuyệt vọng, bất lực. Nàng đã kiệt sức chẳng thể thốt thêm lời nào khác.”

Baird vùng đứng dậy, vung tay ra và quay mặt đi để giấu đi sắc diện tái nhợt.

“Đừng kể nữa,” anh nói. “Tôi không thể—tôi không thể chịu đựng nổi.”

“Nàng đã chịu đựng nó,” Latimer nói, “cho đến khi cái chết đặt dấu chấm hết.”

“Chẳng có ai—để cứu lấy nàng sao?” Baird kêu lên. “Khi chết, nàng vẫn phải chịu đựng sự kinh hoàng đến thế sao?”

“Gã đàn ông sau đó đã nhận nuôi đứa con của nàng—gã D’Willerby,” Latimer đáp, “lại là một con người tử tế. Vào giây phút cuối cùng, hắn đã cầm lấy bàn tay tội nghiệp bé nhỏ của nàng, vỗ về và bảo nàng đừng sợ hãi. Nàng quay sang hắn như thể tìm kiếm một chốn nương thân. Hắn sở hữu chất giọng trầm ấm, vang vọng cùng phong thái ân cần, che chở. Hắn nói: ‘Đừng sợ. Mọi chuyện ổn cả thôi,’ và đó là những lời cuối cùng nàng được nghe thấy.”

“Chúa phù hộ cho gã đó, bất kể hắn đang ở đâu!” Baird thốt lên. “Tôi rất muốn được siết chặt tay hắn.”

Mục sư John Baird đã thực hiện các buổi diễn thuyết tại rất nhiều thành phố trong năm đó. Những cuộc tranh luận do các bài thuyết giảng khơi nguồn đã mang lại kết quả tất yếu là thu hút sự quan tâm sâu sắc từ công chúng. Vẫn có những tâm hồn ưu tú hiểu lầm và phàn nàn về chúng, có những tâm hồn ưu tú lên án chúng; thậm chí còn có cả những vị mục sư ra tay răn đe, chống lại con người ấy như thể một kẻ phá hủy tượng thần và ngoại đạo, đồng thời cấm tín đồ của họ tham dự những buổi hội thảo của ông. Thế nhưng các hội trường diễn thuyết của ông luôn kín chỗ, và hàng trăm gương mặt ngước nhìn lên khi ông bước lên bục giảng chính là gương mặt của những sinh linh đang khao khát, háo hức đến nghẹt thở. Ông là một con người cất tiếng nói với những con người bằng xương bằng thịt, chứ không phải là tiếng vọng của những tín điều cổ lỗ. Ông không hề đưa ra lời đe dọa nào, không vẽ nên chốn hỏa ngục nào, mà cất tiếng gọi vang dội hướng về vị Thượng Đế ngự trị trong tâm hồn mỗi con người.

“Vị Thượng Đế ngự trong các bạn—trong tôi,” ông lớn tiếng tuyên bố, “đã ngủ quên từ lâu bởi vì con người trong thời kỳ sơ khai, khi tạo ra cho mình những vị thần bằng gỗ và đá trong thời kỳ tăm tối để đòi hỏi những sự hy sinh khủng khiếp, đã tự khắc gọi về sau đó một vị thần cũng mang tính vật chất dẫu chẳng hiển hiện dưới hình hài thể xác nào—một vị Thượng Đế của sự báo thù và hình phạt muôn đời. Đó chính là vị thần do con người tạo ra, và nhân danh ngài, con người đã hò hét lớn tiếng đến mức vị Thượng Đế vốn là tâm hồn con người đã bị ép phải câm lặng. Hãy để vị Thượng Đế ấy thức tỉnh, và Ngài sẽ đòi hỏi sự công bình cùng lòng nhân từ cao cả từ mọi sinh linh đối với đồng loại của mình, để rồi cám dỗ và đau khổ sẽ chấm dứt. Sao cơ! Chẳng lẽ chúng ta không thể làm một việc thiện nếu không có lời hứa về chốn thiên đàng làm phần thưởng? Chẳng lẽ chúng ta không thể kiềm chế trước cái ác trừ khi bị thúc đẩy bởi lời đe dọa của hỏa ngục? Chúng ta là những kẻ buôn chuyến đê tiện đến mức đem linh hồn ra làm hàng hóa và mặc cả chúng ngay tại quầy giao dịch hay sao? Hãy thức tỉnh đi! Tôi nói với các bạn từ tận đáy sâu của cõi lòng đầy thổn thức—nếu không có vị Thượng Đế nào để mà ngả giá buôn bán, thì lại càng đòi hỏi một nhu cầu khẩn thiết tột cùng là mỗi người phải tự tôn mình thành một vị thần—của sự công minh, lòng trắc ẩn và sự bao dung—cho đến khi những vết thương của thế giới được chữa lành và mỗi sinh linh con người đều có thể đứng thẳng hiên ngang để đòi lấy niềm vui sống vốn thuộc về chính mình.”

Vào buổi sáng của ngày ông cất lên những lời này trước đám đông đổ xô đến để lắng nghe mình, ông đã trò chuyện rất lâu với Latimer. Đã mấy tuần nay sức khỏe của ông không được tốt. Ngọn lửa đam mê sục sôi ngự trị trong ông mỗi khi đứng trước công chúng là một thứ cảm xúc quá mạnh mẽ để rồi không để lại chút dấu vết thể xác nào. Sau một buổi diễn thuyết hay bài giảng, ông thường tái nhợt và kiệt sức.

“Tôi còn nhiều điều muốn nói,” ông thốt lên với Latimer trong cơn hưng phấn. “Có những thứ buộc phải được thốt ra. Lời nói một khi cất lên sẽ sống mãi—dù là vì điều thiện hay điều ác. Nó là thứ âm thanh vang vọng xuyên suốt mọi thời đại mai sau. Một vài con người từng đánh thức những âm thanh rung động cả thế giới. Bày tỏ suy nghĩ của bản thân—chỉ dùng dăm ba con chữ—xem chừng là một việc nhỏ nhoi biết bao—thế nhưng tôi tin chắc rằng chẳng có lời nào đã thốt ra mà thực sự bị lãng quên cả.”

Và khuôn mặt ông tái đi, đôi mắt sáng rực lên, khi vào buổi đêm ông nhoài người về phía trước để trút những lời quở trách cuối cùng trước thính giả của mình.

“Tôi nói với các bạn, giả sử không có vị Thượng Đế nào để mà ngả giá buôn bán, thì lại càng đòi hỏi một nhu cầu khẩn thiết tột cùng là mỗi người phải tự tôn mình thành một vị thần của công minh, trắc ẩn và bao dung—cho đến khi những vết thương của thế giới được chữa lành và mỗi sinh linh con người đều có thể đứng thẳng hiên ngang để đòi lấy niềm vui sống vốn thuộc về chính mình.”

Mọi người ra về sau buổi diễn thuyết, thì thầm to nhỏ với nhau. Vài người mang theo sự thức tỉnh ánh lên trong đôi mắt. Tất cả đều bàn tán về chính con người ấy; về sức hút áp đảo, ngọn lửa ý nghĩa rực cháy trên khuôn mặt, cùng chất giọng du dương, vang xa có thể lan tận góc khuất xa xôi nhất của những tòa nhà đông nghẹt người.

“Người ta bị thuyết phục không chỉ vì lời nói của ông ấy,” có người đã nói thế. “Mà còn bởi chính con người ông ấy. Quả thực, ông ấy đang cất tiếng kêu từ tận sâu thẳm tâm hồn.”

Điều đó hoàn toàn chính xác. Đó chính là bản thân con người ấy. Tạo hóa đã ban cho ông thứ vũ khí sắc bén—sức mạnh, nguồn năng lượng từ tính, ý thức bi tráng về nỗi thống khổ của vạn vật, cùng bộ óc đi trước thời đại rất xa. Những con người sở hữu bộ óc như thế—những bộ óc làm việc mãnh liệt và không ngừng nghỉ dẫu đôi khi đi ngược lại mong muốn của chính họ—thường chạm tới những kết luận mà thế giới đương thời chưa kịp vươn tới, và họ bị gọi là những kẻ phá hoại thần tượng. Có người bị ca tụng đến mức cuồng dại, có người từng phải chịu cảnh tử đạo, nhưng lời nói của họ vẫn cứ lan truyền, và nếu không phải vào thời của họ, thì ở ngày mai—vốn là ngày hôm nay của những thế hệ khác—thành quả chân lý của họ sẽ được gặt hái và bó thành từng lượm.

Khi buổi diễn thuyết kết thúc, nam nữ thanh niên đổ xô vây quanh ông để trò chuyện, để siết chặt lấy bàn tay ông. Khi họ tỏ ra quá khích trong những lời ca tụng, sự duyên dáng và ứng biến nhanh nhạy của ông giúp kiểm soát họ; khi họ trò chuyện trực tình và nghiêm túc, ông lại tìm được những lời lẽ có thể giúp họ tìm thấy điểm tựa về sau.

“Tôi đang phát triển—hay đang thoái hóa—thành một tay mục sư bình dân phổ biến rồi đây?” đôi khi ông cười nửa miệng đầy bứt rứt khi nói với chiếc bóng của mình.

“Anh không hề phổ biến đâu,” Latimer đáp. “Phổ biến không phải là từ thích hợp. Anh đang rao giảng một tín điều quá mới mẻ và táo bạo.”

“Điều đó đúng,” Baird nói. “Kẻ tiên phong chưa bao giờ được lòng đại chúng. Khi dấn thân vào những vùng đất mới, hắn sẽ chạm trán thổ dân. Đôi khi họ ăn thịt hắn—đôi khi họ xua đuổi hắn bằng những mũi tên tẩm độc. Vùng đất đó là của họ; họ có những vị thần của riêng họ, ngôn ngữ của riêng họ. Tại sao một kẻ xa lạ lại xông vào làm gì?”

“Nhưng cho đến nay chưa từng có ghi chép nào về một kẻ tiên phong sống—hoặc chết—trong vô nghĩa cả,” Latimer nói. “Rồi sẽ có ngày—sửng sốt thay, một ngày nào đó——”

Anh ngừng lời, đăm chiêu nhìn người bạn của mình với vẻ trầm mặc. Tình yêu mà anh dành cho người đàn ông này thật sâu sắc và mạnh mẽ. Nó lớn dần theo từng giờ họ ở bên nhau, theo từng lời anh nghe thấy người kia cất lên. Baird chính là nguồn dưỡng chất và sự an ủi cho tâm hồn anh. Khi hai người rời xa nhau, tâm trí anh lại tự khắc hướng về người bạn ấy như một thói quen. Nếu không có con người duy nhất này, có lẽ anh đã sống một cuộc đời tẻ nhạt, khốn khổ giữa những người đồng hương tại Janney’s Mills—khốn khổ bởi vì anh không đủ sự uyển chuyển để vươn lên trên cái sự cùn mòn nhỏ nhoi, thiếu học thức ấy. Sự khốn khổ xét về phần bản thân anh không phải là vấn đề vật chất. Ngôi nhà nhỏ đơn sơ của riêng anh cũng gọn gàng bao nhiêu thì giản dị bấy nhiêu, ngặt nỗi anh lại không có cái tính cách dễ bề kết giao bạn bè. Baird thì sở hữu tính cách ấy, và ngôi nhà của anh chính là tâm điểm của mọi thứ sinh động nhất. Đó không phải là một hộ gia đình Willowfield bình thường. Thế giới rộng lớn bên ngoài vẫn luôn đến rồi đi. Khi Latimer bước vào thế giới ấy, anh bị cuốn đi bởi những luồng dòng chảy mới, thấy lòng mình được sưởi ấm và nuôi dưỡng.

Hiếm có ngày nào trong suốt nhiều năm qua mà hai người đàn ông không gặp gỡ nhau. Họ từng cùng nhau thực hiện những chuyến hành trình; họ cùng đọc một tựa sách và tiếp xúc với những bộ óc tương đồng. Cả hai đều bám chặt lấy mối thâm tình ấy.

“Tôi cần điều này,” Baird từng nói nhiều hơn một lần; “nếu anh cũng cần nó, tôi lại càng cần hơn thế. Không gì được phép tước đoạt nó khỏi chúng ta.”

“Thời điểm đã đến—nó đã đến từ lâu rồi—” Cái Bóng của anh nói, “khi tôi không thể sống thiếu điều đó. Cuộc đời tôi đã hòa quyện vào cuộc đời anh.”

Niềm vui của Latimer là anh nhận ra mình có thể trở thành chỗ dựa cho người đàn ông có ý nghĩa lớn lao đối với cuộc đời anh. Những công việc bủa vây Baird đều được anh tiếp quản; anh có thể lo toan việc làm ăn cho bạn, giúp bạn phát triển các kế hoạch, và thường xuyên giúp bạn tiết kiệm cả thời gian lẫn sức lực. Cứ thế, mỗi khi các buổi diễn thuyết được tổ chức ở những nơi xa xôi, hai người lại đồng hành cùng nhau trên những chặng đường.

Latimer bước vào phòng sách của Baird đúng lúc một người đàn ông có gương mặt sắc sảo, trông ra vẻ kịch nghệ vừa bước ra.

“Anh sẽ cho tôi biết quyết định của anh sớm nhất có thể nhé, thưa ngài,” kẻ lạ mặt cất lời trước khi rời đi. “Những việc thế này luôn cần được triển khai ngay đúng thời điểm. Đây chính là thời điểm thích hợp của ngài. Mọi người đang bàn tán về ngài khắp nơi, dù theo chiều hướng này hay chiều hướng khác.” Khi người lạ đã đi khuất, Baird giải thích về sự hiện diện của hắn.

“Đó là một tay môi giới,” anh nói; “hắn đề nghị tôi đi diễn thuyết khắp các tiểu bang. Tôi—chẳng biết thế nào,” vẻ như đang đắn đo suy tính.

“Những điều anh nói nên được truyền tải đến nhiều người hơn nữa,” Latimer nhận xét.

“Càng nhiều càng tốt,” Baird trầm ngâm đáp; “tôi biết điều đó—càng nhiều càng tốt.”

Họ ngồi lại và bàn thảo tường tận về vấn đề ấy. Những điều trở ngại chẳng có mấy và cũng chẳng nghiêm trọng là bao.

“Và tôi muốn nói những điều đó,” Baird nói, hơi hưng phấn đôi chút. “Tôi muốn nói đi nói lại hết lần này đến lần khác.”

Trước khi chia tay để đi ngủ vào tối hôm đó, họ đã quyết định rằng ông sẽ nhận lời đề nghị, và Latimer sẽ sắp xếp để làm người đồng hành cùng ông.

“Hắn bảo bài diễn thuyết ‘Sự ăn năn’ là bài được yêu cầu nhiều nhất,” Baird nói khi bước ra tới cửa, tay vẫn nắm chặt bàn tay Latimer.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.