Rupert De Willoughby đang nằm dài trên thảm cỏ trong khu vườn dưới bóng râm của một tán cây. "Văn phòng" thì nóng bức như cái lò nung, và cơ hội để mảy may hy vọng có việc làm ăn chuyên nghiệp còn ít ỏi hơn sự trống trải của hầu hết mọi ngày trong năm. Chẳng bao giờ có việc gì để làm cả, nhưng thỉnh thoảng lại có ai đó ghé vào hỏi anh một vài câu, mà những câu trả lời của anh, nếu vận dụng chút trí tưởng tượng, có thể được coi là thuộc lĩnh vực "tư vấn". Tuy nhiên, khách hàng của anh chẳng có lấy một xu—chẳng ai có tiền cả; và tình hình tài chính của anh đang dần trở nên vô cùng tồi tệ.
Anh đã đi bộ về nhà qua những con đường nóng như đổ lửa, chiếc mũ có́i đẩy ra sau, những lọn tóc đen ẩm ướt rủ xuống vầng trán hằn sâu nét đăm chiêu u tối. Anh bước vào khu vườn và ngả người trên thảm cỏ dưới bóng râm. Ít ra, ở đó anh có được sự thoải mái về thể xác. Khu vườn cổ kính này vẫn luôn là niềm vui của anh, và vào một ngày hè oi ả, nó ngập tràn những hương thơm dịu ngọt cùng âm thanh mà anh hết mực yêu mến. Lúc bấy giờ, những khóm kim ngân đan xen vào nhau cùng các bụi cây trĩu nặng hoa cam giả; một giàn hoa gần đó được phủ kín bởi một giống hồng đa hoa, oằn mình dưới những chùm hoa nhỏ nhắn, thanh tao; cách đó chỉ vài bước chân là một luống hoa mignonette, và hơi thở ấm nồng ánh nắng của tất cả những loài hoa thơm ngát ấy hòa quyện tuyệt vời với tiếng vo ve trầm đục của lũ ong đang lú lẫn bay ra bay vào giữa những cánh hoa, cùng khúc ca lười biếng mùa hè của những chú chim lạc loài đậu trên cành và gọi nhau râm ran giữa vòm lá rậm rạp.
Ở tuổi hâm ba, một người có thể còn rất trẻ. Nhưng Rupert vừa trẻ trung lại vừa già dặn. Sự phẫn uất thầm lặng trước cái bóng đen mà anh cảm thấy vẫn luôn đeo bám cuộc đời mình đã biến thành một nỗi bận tâm bệnh hoạn. Nó khiến anh tự cô lập mình khỏi thế giới nhỏ bé vui tươi ở Delisleville và cắt đứt mọi mối quan hệ bạn bè thuở niên thiếu. Sau khi mẹ anh—người thấu hiểu tính khí và niềm uất ức của anh—qua đời, chẳng còn ai thực sự quan tâm đến anh nữa. Giới trẻ Delisleville rất hào hoa, ham vui và vô lo. Họ có những buổi tiệc tùng nhỏ để khiêu vũ; những câu lạc bộ nhỏ mang hơi hướng âm nhạc hoặc văn chương; và họ dành một niềm tin ngây thơ vào tài năng cùng vẻ kiều diễm được bày tỏ trong các buổi tụ họp ấy. Những nữ hội viên của các hội này đôi khi đẹp đến kỳ lạ. Họ hãy còn rất trẻ, sở hữu đôi mắt dịu dàng cùng giọng nói ngọt ngào đậm chất miền Nam, và là chủ nhân của đôi bàn chân nhỏ nhắn nhất cùng vòng eo thon thả, uyển chuyển nhất trên đời. Cho đến khi kết hôn—thường diễn ra rất sớm—họ luôn được ve vãn và thấu hiểu rằng đó là sứ mệnh mà Thượng đế ban cho họ: phải khiêu vũ thật nhiều, phải nhận thật nhiều hoa và kẹo ngọt đặt dưới đôi bàn chân nhỏ bé của mình, phải được những thiếu niên tuấn tú với giọng nam cao trữ tình hát khúc serenata bên đàn ghi-ta vào những đêm trăng sáng—điều sau cùng đầy quyến rũ này khiến họ vô cùng tự hào vì được sinh ra ở miền Nam, bởi những sự kiện lãng mạn như thế không hề xuất hiện trong đời sống ở New York hay Boston. Các nam hội viên thường dẻo dai, mảnh khảnh và hay sở hữu chiều cao thanh thoát; họ thường có ngoại hình ưa nhìn, khiêu vũ và cưỡi ngựa giỏi, lại biết hát những bản tình ca. Nếu như số phận của những người bạn đồng hành xinh đẹp là được ve vãn, thì số phận của họ là đi ve vãn. Họ hay làm thơ, và cũng có mu bàn chân cong đẹp cùng đôi mắt với hàng mi rất rõ nét. Vì một lý do kỳ lạ nào đó, dòng máu miền Nam dường như có xu hướng biểu hiện qua đôi mắt và hàng mi tuyệt đẹp.
Nhưng chàng thanh niên De Willoughby lại không hòa nhập vào thế giới trẻ trung đầy cảm xúc và hạnh phúc đơn thuần ấy. Có lần anh đã dự một buổi khiêu vũ, và người cha của anh—Đại tá—đã xuất hiện tại đó với tư cách là một khán giả trong trạng thái say xỉn mang vẻ duyên dáng đến mức thái quá. Ông ở trong tình trạng vô cùng hào hoa, liên tục thốt ra những lời ca tụng hoa mỹ với bất kỳ đôi mắt rạng ngời nào mà ông tình cờ đứng gần.
Khi vừa trông thấy ông, Rupert đang khiêu vũ cùng một thiếu nữ đáng yêu thuộc dòng họ Vanuxem, người trông không khác mấy so với nàng Delia mà Tom De Willoughby từng đem lòng yêu say đắm. Nhận ra cha mình, một luồng đỏ bừng lướt qua khuôn mặt cậu thiếu niên, rồi vụt qua, để lại cho cậu một vẻ mặt tái xanh tái xám. Trán cậu nhíu lại thành một nếp cau có, và cậu bắt đầu khiêu vũ kém hăng hái hơn. Khi điệu valtz kết thúc, cậu đưa bạn nhảy về chỗ ngồi và lặng lẽ đứng trước cô một lát, liếc qua hàng mi đen nhìn vị Đại tá đang bắt đầu ngâm thơ của Thomas Moore và cất cao giọng ngâm bài "The Young May Moon" với một thiếu nữ xinh đẹp đang mang vẻ mặt có phần hoảng hốt trong đôi mắt ngước nhìn lên. Đó là buổi khiêu vũ đầu tiên mà cô tham gia kể từ khi rời ghế nhà trường.
Đột nhiên Rupert quay sang bạn nhảy. Cậu cúi đầu chào cô; cậu vốn là một chàng trai thanh nhã.
“Cảm ơn cô Vanuxem. Cảm ơn vì điệu nhảy nhé. Chúc ngủ ngon. Tôi phải về đây.”
“Anh về thật sao?” cô tiểu thư Vanuxem thốt lên. “Nhưng trời hãy còn sớm lắm mà, anh De Willoughby.”
“Tôi đã ở lại lâu hơn đúng mười phút rồi đấy,” Rupert đáp. “Cảm ơn cô lần nữa nhé, cô Vanuxem. Chúc ngủ ngon.”
Cậu bước ngang qua căn phòng để tiến về phía Đại tá De Willoughby.
“Con phải về đây,” cậu nói bằng một giọng trầm và gay gắt; “cha tốt hơn nên đi cùng con.”
“Không có chuyện đ-đó đâu,” vị Đại tá vui vẻ đáp. “Mới vừa tới thôi mà. Đừng có đi ngủ sớm với gà chứ. Bố đang đọc thơ Tom Moore cho cô Baxter nghe đây.
Cách hay nhất để kéo dài tuổi thọ của chúng ta
Chính là đánh cắp vài giờ từ màn đêm, em yêu hỡi.”
Vị tiểu thư xinh đẹp, người vừa quay sang với vẻ biết ơn nhẹ nhõm để nhận lấy cánh tay của một bạn nhảy mới, nhìn người ái mộ thi sĩ của mình với vẻ đầy xin lỗi.
“Anh Gaines đã đến đón tôi rồi, Đại tá De Willoughby,” cô nói; “tôi đã nhận lời khiêu vũ với anh ấy từ trước.” Và cô lướt đi, nép sát một cách đầy âu yếm vào cánh tay của người hộ tống đang say đắm, kẻ cảm thấy mình bỗng chốc hóa thành một người hùng.
“Đại tá De Willoughby khéo nịnh thật đấy,” cô nói; “và ông ấy có cách khen ngợi thật kỳ cục. Tôi suýt phát sợ lên được.”
“Tôi sẽ đảm bảo ông ta không bao giờ dám nói chuyện với cô nữa,” bạn nhảy của cô lên tiếng với vẻ dũng cảm ngút ngàn. “Lẽ ra không nên cho phép ông ta bước vào đây. Tất nhiên cô không thể hiểu được, nhưng—những người đàn ông có mặt ở đây sẽ bảo vệ các quý cô vốn là khách của họ.”
Rupert liếc dài cha mình rồi quay ngoắt gót chân bước đi. Cậu về nhà, và vào lần tới khi Hội Terpsichorean mời cậu dự khiêu vũ, cậu đã từ chối.
“Mình đúng là một tên ngốc khi đặt chân đến những nơi như thế,” cậu tự nhủ. “Lại có nguy cơ lôi một lão ma men đến quấy rầy họ bất cứ lúc nào. Không, mặc xác tất cả, tôi ở nhà cho rồi!”
Cậu ở nhà, rồi dần dần tách hẳn khỏi thế giới trẻ trung, rực rỡ, hồn nhiên vô tư và hạnh phúc ấy, và thế giới đó vẫn tiến hành các cuộc vui chơi của mình một cách hoàn hảo mà không hề có sự hiện diện của cậu. Sự ích kỷ của tuổi trẻ xinh đẹp là một điều ngây thơ, vui tươi, và đầy tính bi ai ở chỗ khi trưởng thành, người ta mới nhận ra sự trừng phạt quá mức giáng xuống nó khi họ thấu hiểu về cuộc đời.
Khi đói nghèo và cô độc ập đến, chàng thiếu niên chẳng có lấy một sự xoa dịu nào của tuổi trẻ, dẫu cho cậu đang ở độ tuổi thanh xuân đầy cảm động. Thỉnh thoảng, một người bạn cũ của ông nội lại bắt gặp cậu ở đâu đó và ban cho những lời khuyên răn tốt đẹp nhưng có phần hoa mỹ; một bà phước lòng tốt nào đó có lẽ đã mời cậu đến thăm nhà; nhưng chẳng có lấy một ai ở cái xứ này có thể làm được điều gì mang tính thiết thực cả. Delisleville chưa bao giờ là một vùng đất thực tế, và giờ đây thời kỳ của nó dường như đã lụi tàn hoàn toàn. Vẻ làm ra vẻ lịch thiệp trong việc làm ăn của nó đã nhận phải những đòn chí mạng quá nặng nề để có thể gượng dậy cho đến khi thời gian trôi qua; ở một số con đường, những nhúm cỏ dại tí xíu bắt đầu mọc lên chen chúc giữa những viên đá lát.
Khi bước trở về trong cái nóng oi bức, Rupert đã quan sát những nhúm cỏ xanh bé xíu ấy với một nhận thức hoàn toàn mới về ý nghĩa của chúng. Cậu đang nghĩ về chúng khi nằm dài trên thảm cỏ, hương thơm ấm áp của những chùm hoa cam giả và hoa hồng hòa quyện với hoa kim ngân trong không gian, tiếng ong vo ve giữa những chùm hoa đa hoa văng vẳng bên tai.
“Mình có thể làm gì đây?” cậu tự nhủ. “Chẳng có gì để làm ở cái xó này cả. Xưa nay vốn đã chẳng có mấy, và giờ thì hoàn toàn trống rỗng. Mình không thể cứ lang thang rồi chết đói được. Mình sẽ không đi xin ăn thiên hạ, mà dẫu có muốn thì mình cũng chẳng còn nổi một người họ hàng nào không phải là kẻ ăn mày—và số họ hàng còn sót lại cũng đếm trên đầu ngón tay.”
Cậu thọc tay vào túi và rút ra một tờ bạc xanh đã cũ mòn. Cậu cẩn thận vuốt thẳng những nếp gấp rồi ngắm nghía nó.
“Mình còn đúng hai đô-la,” cậu nói, “và chẳng có chút viễn cảnh nào kiếm thêm được đồng nào nữa. Ngay cả Matt cũng chẳng thể giữ cho hai đô-la tiêu được lâu đâu.”
Tiếng chốt cửa ở chiếc cổng phụ kêu lách cách và cánh cổng bật mở. Chẳng mấy chốc, bác Matt xuất hiện sau những lùm hoa hồng. Bác mang theo chiếc giỏ đi chợ trên tay và có vẻ mặt đầy đăm chiêu.
“Bác Matt!” Rupert gọi lớn. “Cháu muốn bác đến đây.”
Bất chấp những tâm trạng u ám của mình, một cách tinh tế nào đó, cậu lại giống hệt Delia Vanuxem đến kỳ lạ. Cậu cần tình yêu thương và sự dịu dàng, và cậu vẫn đủ trẻ con để cảm thấy bất hạnh và cô đơn vì thiếu thốn chúng, dù chẳng hoàn toàn hiểu rõ lý do tại sao. Cậu biết bác Matt yêu thương mình, và sự chăm sóc ân cần mà lão già bao bọc lấy cậu chẳng khác nào chiếc áo choàng ấm áp quấn quanh một sinh vật đang run lên vì giá lạnh. Cậu chưa bao giờ phân tích cảm xúc của chính mình; cậu chỉ biết rằng mình thích nghe tiếng bước chân bác loay hoay quanh nhà, và những lúc tuyệt vọng nhất, cậu lại thấy vui mừng khi thấy bác bước vào và trò chuyện đôi câu với mình.
Bác Matt bước về phía cậu với dáng vẻ nhanh nhẹn. Bác đặt chiếc giỏ xuống và cởi mũ ra.
“Cậu Rupert ạ,” bác nói, “sáng nay trời nắng gắt kinh khủng đấy ạ. Mấy cậu luật sư đóng cửa văn phòng rồi về nhà nằm dài trên thảm cỏ dưới bóng râm thế này, họ đang theo đuổi nghề nghiệp theo cái cách có lợi nhất đấy—cách dễ mang lại cho họ nhiều thân chủ nhất ấy mà, bởi vì, thề có Chúa trên đời, tình trạng say nắng hay chấn thương sọ não đang lảng vảng khắp cái thị trấn này—và cái văn phòng gạch nung nóng bức chẳng phải là chỗ cho một chàng trai nào còn chút tôn trọng đối với sinh nhật sắp tới của mình đâu. Thật đấy ạ.”
“Cháu chẳng còn mấy tôn trọng cho sinh nhật của mình nữa đâu,” Rupert nói; “cháu đã có quá nhiều năm rồi—đúng hai mươi hai năm thừa thãi.”
“Xin lỗi ngài cho phép tôi mạn phép, nhưng nói thế không đúng đâu ạ. Đàn ông thế nào cũng phải có chút kính trọng với ngày sinh nhật của mình chứ—phải thế chứ lị! Sinh nhật là phải biết chăm sóc đàng hoàng. Khi một người đã xài hết sạch chúng thì còn lại gì chứ?”
“Họ thà xài hết chúng còn hơn là cạn kiệt mọi thứ khác,” Rupert nói. “Matt, cháu vừa kiếm được đúng hai đô-la trong tháng này đấy.”
Cậu nhìn lão già với ánh mắt đầy vẻ van nài và bồn chồn trong đôi mắt to tròn như mắt nai của mình.
“Cháu rất tiếc, Matt,” cậu nói, “cháu vô cùng tiếc, nhưng bác biết đấy—chúng ta không thể cứ tiếp tục thế này mãi được.”
Bác Matthew nhìn xuống thảm cỏ với vẻ đăm chiêu.
“Cậu Rupert này, ngài chưa bao giờ nghe ai nhắc gì về người bác ruột của ngài là ông Thomas De Willoughby hay sao?”
Rupert im lặng một lát trước khi trả lời, nhưng không phải vì cậu cần thời gian để lục lọi trí nhớ.
“Rồi chứ,” cậu nói, rồi lại chìm vào im lặng. Cậu từng nghe mẹ kể về tội nghiệp bác Tom nhân hậu, và trong những lời dịu dàng của mẹ khi nhắc đến ông có một điều gì đó khiến sinh vật vĩ đại và nhân hậu ấy trở nên vô cùng chân thực. Ngay từ thời thơ ấu, mẹ đã là niềm say mê lớn nhất của cậu, và cậu cũng là tất cả của mẹ. Cả hai chẳng có ai khác để chia sẻ tình cảm, và bản chất họ sinh ra là để yêu thương. Ký ức đầu tiên của cậu là việc ngước nhìn vào bóng tối dịu dàng của đôi mắt trìu mến vẫn luôn dõi theo cậu. Cậu khi ấy hãy còn chưa lớn hơn một đứa trẻ sơ sinh là mấy khi lờ mờ nhận ra rằng đôi mắt ấy mang nỗi buồn sâu thẳm, và cậu càng yêu thương chúng nhiều hơn vì nỗi buồn ấy. Cậu cũng chẳng lớn hơn bao nhiêu khi khám phá ra nguyên nhân nỗi buồn của họ, và kể từ đó, cậu có thói quen ngắm nhìn chúng, thấu hiểu từng ánh nhìn. Cậu mãi ghi nhớ ánh mắt của mẹ khi nhắc đến Tom De Willoughby, đó là một ánh mắt vô cùng xúc động.
“Vâng,” cậu nói với bác Matt, “cháu có nghe kể về bác ấy.”
“Có một dạo, từ rất lâu về trước rồi cậu Rupert ạ—trước khi cậu chào đời cơ—khi mà tôi hình như nghe ngóng được khối điều hay ho về ngài Thomas. Ấy là hồi ngài ấy bỏ đi theo cái cách kỳ quặc đó. Chẳng ai biết ngài đi đâu, mà cũng chẳng ai rõ vì sao. Hồi ấy vừa đúng lúc trước khi tía má cậu kết hôn. Người thì bảo ngài với vị Thẩm phán cãi nhau to vì ngài Thomas bảo ngài chẳng thèm làm sinh viên y khoa gì sất, kẻ lại râm ran rằng ngài đang tương tư một tiểu thư nào đó nhưng bị người ta từ chối.”
“Thế ư?” Rupert nói.
“Thế đấy ạ,” Matt tiếp lời; “rồi còn khối chuyện khác nữa cơ. Nhưng ai nấy đều thấy lạ lùng khi ngài ấy cứ thế bỏ đi mà sau đó chẳng một ai buồn đi tìm kiếm. Ngó vào cứ như thể chẳng ai thèm mảy may quan tâm đến ngài ấy vậy.”
“Họ nào có quan tâm, mặc thây họ chứ!” Rupert thốt lên với một cơn giận dữ bộc phát. “Trong khi bác ấy đáng giá hơn tất cả lũ bọn họ gộp lại.”
“Đấy chính là điều khiến tôi phải thốt lên những lời này đây ạ,” Matt nói với vẻ hăm hở. “Những gì tôi nghe được về ngài Thomas làm tôi cứ đinh ninh ngài hẳn phải là một vị quý ông vô cùng xuất chúng, và là một người bạn tốt của bất kỳ ai. Thế mà ngay sáng nay đây, tôi lại vừa nghe thêm được vài chuyện nữa về ngài ấy.”
Rupert chống người ngồi dậy trên khuỷu tay.
“Về bác Tom á!” cậu kinh ngạc thốt lên. “Hôm nay bác vừa nghe được điều gì về bác Tom ư?”
“Tôi đã dò ra chỗ ngài ấy đang ở rồi đấy, cậu Rupert ạ,” Matt hào hứng nói. “Tôi đã tìm ra nơi ngài ấy ẩn tích ngay trong khoảnh khắc này đây. Ngài ấy đang ở hạt Hamlin, mở một tiệm tạp hóa kiêm bưu điện ở ngã tư Talbot; và theo như những gì tôi hóng được thì ngài Thomas De Willoughby đang là vị quý ông được kính trọng nhất và nổi tiếng nhất vùng đấy ạ.”
“Ai—ai là người đã kể cho bác nghe thế?” Rupert gặng hỏi.
Bác Matt đặt chân lên một chiếc ghế gỗ mộc gần đó rồi chồm người về phía trước, tỳ khuỷu tay lên đầu gối và dùng bàn tay già nua với lòng bàn tay ngả vàng của mình để ra hiệu đầy ấn tượng.
“Chính là nhờ cái vụ đòi bồi thường này mà ra đấy ạ,” bác nói; “cái vụ đòi bồi thường và đòi đền bù cứ cánh cánh nặng nề trong tâm trí tôi bấy lâu nay. Ngay khi nghe gióng giả về nó, cậu Rupert ạ, tôi đã bắt đầu mài giũa suy nghĩ rồi. Tôi đã dò la và đặt câu hỏi suốt mấy tuần liền, và khi tôi lần ra được——”
“Nhưng chuyện đó thì liên quan gì đến bác Tom chứ?” Rupert kêu lên.
“Dính líu nhiều lắm chứ, cậu Rupert. Ngài ấy với cậu là hai người thừa kế duy nhất của gia tộc De Willoughby; và nếu một tên nhà quê rách việc làm mất một cặp bò còn có thể bắt Chính phủ đền bù được, thì cớ sao những người thừa kế của một vị quý ông từng đánh mất cơ ngơi suýt trở thành khối tài sản lớn nhất miền Nam lại không thể chứ? Những mỏ vàng từng hứa hẹn đưa ông nội cậu lên hàng triệu phú giờ đi đâu mất rồi, thưa cậu Rupert—chúng nằm ở xó nào? Lũ người Yankee đã làm gì với những mỏ vàng đó cơ chứ?”
“Đó đâu phải mỏ vàng, bác Matt,” Rupert nói; “đó là mỏ than; và người Yankee đâu có khiêng chúng đi được. Họ chỉ đập phá máy móc và tàn phá mọi thứ chung chung thế thôi.”
Nhưng cậu lại ngả người nằm dài xuống thảm cỏ, hai tay đan sau gáy và trán nhíu lại đầy suy tư.
“Mỏ than hay mỏ vàng thì cũng rứa,” bác Matt quả quyết. “Chính phủ bắt buộc phải bồi thường nếu mọi chuyện được lo liệu cho xuôi chèo mát mái; và chính điều đó đã khiến tôi nghĩ ngay đến ngài Thomas De Willoughby khi cái gã nhà Stamps nhỏ thòi kia vô tình thốt ra một cái tên nghe na ná như thế. ‘Này nhé, có lão D’Willerby,’ hắn ta bảo thế, ‘lão Tom D’Willerby bự con,’ thế là tôi chồm ngay lấy hắn. ‘Có phải ngài vừa nhắc đến cái tên De Willoughby đấy phỏng?’ tôi hỏi, và từ manh mối đó tôi đã moi ra được toàn bộ sự thật.”
“Cháu rất muốn gặp bác ấy,” Rupert nói; “cháu vẫn luôn nghĩ rằng mình muốn biết ngài đang ở đâu—nếu ngài còn sống.”
“Thế sao cậu không xách giày lên mà đi tìm ngài ấy cơ chứ?” Matt giục giã. “Cứ tự nhiên bước chân ra đi thôi. Hạt Hamlin có xa xôi gì đâu, thưa cậu Rupert, mà cái bưu điện ngã tư ấy thì dễ tìm lắm; và khi cậu tìm ra nơi và thấy ông bác của mình đang ngồi trước hiên nhà, cậu cứ việc to nhỏ với ngài về mấy cái mỏ vàng cùng vụ đòi bồi thường ấy rồi xin lời khuyên của ngài xem sao. Và nếu cậu không thấy mình đang hiên ngang tiến vào thủ đô Washington để điều trần trước Tổng thống và cả cái đám Nghị sĩ tai to mặt lớn đó, thì ngài Thomas chắc chắn không phải là một bậc cao nhân làm ăn lớn như tôi vẫn hằng đinh ninh đâu.”
Rupert nằm im lìm, mắt đăm đăm nhìn thẳng về phía trước, bề ngoài thì giống như đang ngắm một chú chim vành khuyên đậu trên cành cây, nhưng thứ cậu đang nghĩ tới hoàn toàn không phải là con chim ấy.
“Cậu còn trẻ lắm, cậu Rupert ạ, và sẽ cực kỳ nguy hiểm nếu một vị quý ông trẻ tuổi chưa từng trải sự đời lại xông pha giữa đám người Yankee vô lại ấy với một tấm vé đòi bồi thường hàng trăm ngàn đô-la. Ngài Thomas lại là một người từng trải, điềm đạm, và qua những gì tôi hóng hớt được, tôi đoán trông ngài ấy có phong thái cực kỳ vững chãi và đáng tin cậy.”
“Cháu rất muốn gặp bác ấy,” Rupert lẩm bẩm thành tiếng. “Cháu thực sự rất muốn gặp bác ấy.”