Cái chết và tuổi tác tạo nên một điều bí ẩn mà chúng ta thường thắc mắc khi còn là trẻ con, từ chối khi là thanh niên và miễn cưỡng chấp nhận khi đã trưởng thành. Tôi hầu như không nghĩ ngợi về tuổi tác khi còn là sinh viên. Bây giờ khi đã 54 tuổi, tôi thấy nó rõ ràng thú vị hơn. Tuổi thọ trung bình của người da trắng ở Mỹ hiện nay là khoảng 78 tuổi đối với đàn ông, 83 tuổi đối với phụ nữ. Nhưng ít người trong số chúng ta sống được đến năm 100 tuổi. Vậy tại sao chúng ta lại dễ dàng sống đến 80 tuổi, khó có thể sống đến 100 tuổi và gần như không thể sống khi đã 120 tuổi? Tại sao con người được tiếp cận sự chăm sóc y tế tốt nhất, và tại sao động vật bị nhốt trong chuồng với rất nhiều thức ăn, không có vật dữ mà vẫn chắc chắn bị yếu đi và chết? Đó là đặc điểm dễ thấy nhất của chu trình sống, nhưng cái gì đã gây nên nó lại không hề rõ ràng.
Trong thực tế trần trụi về tuổi tác và cái chết, chúng ta giống với tất cả các động vật khác. Tuy nhiên, xét chi tiết, chúng ta đã cải thiện đáng kể theo suốt chiều dài lịch sử tiến hóa của loài người. Không một cá thể của bất kỳ loài vượn nào được biết đến đạt được tuổi thọ trung bình của người Mỹ da trắng, và chỉ những con vượn đặc biệt mới đạt đến được tuổi 50. Rõ ràng là chúng ta già đi chậm hơn so với những người họ hàng gần gũi nhất của chúng ta. Một vài khả năng già chậm hơn đó có thể có được gần đây, trong khoảng thời gian của Bước Nhảy Vọt Vĩ Đại, bởi có một số người Cro-Magnon có thể sống đến độ tuổi 60 trong khi ít người Neanderthal nào sống quá tuổi 40.
Chậm già đi là đặc điểm chủ yếu trong lối sống của con người cũng như việc kết hôn, ngăn chặn sự rụng trứng, và những đặc điểm khác của chu trình sống mà chúng ta đã thảo luận trong các chương trước. Đó là bởi vì lối sống của chúng ta phụ thuộc vào các thông tin được truyền phát. Khi ngôn ngữ phát triển, chúng ta nhận được nhiều thông tin hơn trước kia rất nhiều. Cho đến khi chữ viết ra đời, những người lớn tuổi có vai trò như kho lưu giữ kinh nghiệm và những thông tin truyền được, giống như họ vẫn tiếp tục nắm giữ trong các xã hội bộ lạc ngày nay. Trong thời kỳ săn bắt-hái lượm, kiến thức có được chỉ bởi một người trên 70 tuổi có thể tạo lên sự khác biệt giữa sống sót và chết đói cho cả một bộ tộc. Vì thế tuổi thọ được nâng lên của chúng ta rất quan trọng đối với sự phát triển của chúng ta từ giai đoạn động vật lên vị thế con người.
Rõ ràng là khả năng sống đến tận tuổi xế chiều cuối cùng thì cũng phụ thuộc vào những tiến bộ về văn hóa và công nghệ. Sẽ dễ dàng tự vệ trước một con sư tử nếu bạn đang mang một cái xiên hơn là chỉ với một hòn đá trong tay, và càng dễ hơn với một khẩu súng trường mạnh. Tuy nhiên, chỉ văn hóa và công nghệ thôi là chưa đủ, trừ phi cơ thể chúng ta cũng được thiết kế lại để sống lâu hơn. Không một chú vượn trong chuồng ở vườn thú nào được hưởng mọi tiện ích của công nghệ hiện đại của loài người và sự chăm sóc của bác sỹ thú y lại sống đến năm 80 tuổi. Chúng ta sẽ thấy trong chương này rằng sinh học cơ thể chúng ta đã được tái cấu trúc nhằm gia tăng tuổi thọ trung bình và khiến cho những tiến bộ về văn hóa trở nên có thực. Cụ thể, tôi đoán rằng công cụ của người Cro-Magnon không phải là lý do chính khiến người Cro-Magnon có tuổi thọ trung bình cao hơn người Neanderthal. Thay vào đó, trong khoảng thời gian của Bước Nhảy Vọt Vĩ Đại, sinh học của loài người cũng phải thay đổi để chúng ta có thể già đi chậm hơn. Thậm chí nó còn có thể là khoảng thời gian tiến hóa nên quá trình mãn kinh, trái ngược với sự già đi mà những chức năng mâu thuẫn của nó khiến phụ nữ sống lâu hơn.
Cách mà các nhà khoa học nghĩ về tuổi tác phụ thuộc vào việc họ quan tâm đến những giải thích được gọi là gần đúng hoặc những giải thích cuối cùng. Để hiểu rõ sự khác nhau này, hãy xét câu hỏi: “Tại sao chồn lại hôi?” Một nhà hóa học hay một nhà sinh học phân tử sẽ trả lời rằng: “Bởi vì chồn tiết ra một hợp chất hóa học với cấu trúc phân tử đặc biệt. Do những nguyên lý của cơ chế lượng tử, những cấu trúc đó tạo nên mùi hôi. Những chất hóa học đặc biệt đó có mùi hôi không cần biết đến chức năng sinh học của mùi hôi đó là gì.”
Nhưng một nhà tiến hóa học sẽ giải thích khác: “Đó là bởi vì chồn dễ dàng trở thành con mồi của vật dữ nếu nó không bảo vệ mình nhờ mùi hôi. Chọn lọc tự nhiên đã khiến chồn tiến hóa để tiết ra các chất hóa học có mùi hôi; những con chồn hôi nhất có thể sống sót để sản sinh ra nhiều chồn con nhất. Cấu trúc phân tử Của những chất hóa học đó chỉ là chi tiết tình cờ, bất kỳ chất hóa học gây mùi hỏi nào cũng phù hợp với chồn như vậy.”
Các nhà hóa học đưa ra một giải thích gần đúng: có nghĩa là, cơ chế ngay lập tức đóng vai trò trong quá trình quan sát cần phải được giải thích. Nhà sinh vật học tiến hóa lại đưa ra một giải thích khác: chức năng hay chuỗi của các sự kiện là nguyên nhân của sự xuất hiện cơ chế. Cả nhà hóa học và nhà tiến hóa học đều gạt bỏ câu trả lời của nhau vì cho rằng chúng không phải là “lời giải thích thực tế”.
Tương tự như vậy, nghiên cứu về tuổi giả được thực hiện độc lập bởi hai nhóm các nhà khoa học rất ít trao đổi với nhau. Một nhóm tìm lời giải thích gần đúng, nhóm khác tìm lời giải thích cuối cùng. Các nhà sinh học tiến hóa cố gắng hiểu chọn lọc tự nhiên làm thế nào để cho phép tuổi giả đến, và họ nghĩ rằng họ đã tìm được lời giải thích cho câu hỏi này. Các nhà sinh lý học, thay vì vậy, tìm hiểu về cơ chế tế bào của tuổi già, và thừa nhận rằng họ vẫn chưa có câu trả lời. Nhưng tôi sẽ biện luận rằng tuổi già không thể hiểu được trừ khi chúng ta đồng thời tìm cả hai lời giải thích. Cụ thể, tôi hy vọng rằng lời giải thích về mặt tiến hóa (cuối cùng) sẽ giúp chúng ta tìm được lời giải thích về mặt sinh lý (gần đúng) về tuổi già mà vốn lâu nay trốn tránh các nhà khoa học.
Trước khi tôi có thể tiếp tục với nguyên nhân này, tôi phải đề cập tới lý do phản đối của những người bạn làm về sinh lý học của tôi. Họ có xu hướng tin rằng cái gì đó thuộc về sinh lý học của chúng ta khiến cho tuổi già là điều không thể tránh khỏi, và rằng những lý do về mặt tiến hóa là không liên quan. Ví dụ, một học thuyết như vậy quy tuổi giả cho những khó kôăn tăng dần mà hệ thống miễn dịch của chúng ta phải đối mặt với việc phân biệt tế bào của chúng ta với các tế bào lạ. Các nhà sinh lý học tán thành quan điểm này đã đưa đến một kết luận ngầm là: chọn lọc tự nhiên không thể dẫn đến một hệ thống miễn dịch mà không có yếu tố thiếu hụt chết người đó. Liệu niềm tin này có được bảo đảm hay không?
Để đánh giá lời phản đối này, hãy xét cơ chế sửa chữa sinh học, vì tuổi già có thể được coi đơn giản như là sai sót không được sửa chữa hay những hư hỏng. Sự liên tưởng đầu tiên của chúng tôi đến từ “sửa chữa” là giống với những sửa chữa khiến chúng ta thất vọng nhiều nhất - sửa chữa ô tô. Những chiếc ô tô của chúng ta có xu hướng cũ đi và bị vứt bỏ, nhưng chúng ta dành tiền để trì hoãn cái chết không tránh được đó. Tương tự như vậy, chúng ta không ý thức nhưng cũng luôn luôn sửa chữa bản thân chúng ta ở mọi mức độ từ phân tử tới mô hoặc toàn bộ các cơ quan. Cơ chế tự sửa chữa của bản thân chúng ta cũng giống như cơ chế mà chúng ta lãng phí cho ô tô đều thuộc về hai loại: hạn chế hư hỏng và thay thế thường xuyên.
Một ví dụ về việc hạn chế hư hại của ô tô là chúng ta thay cái chắn bùn ở ô tô chỉ khi nó bị va đập mạnh; nhưng chúng ta không thường xuyên thay thế nó mỗi khi thay dầu. Ví dụ dễ thấy nhất của việc hạn chế hư hại đối với cơ thể chúng ta là việc hàn gắn những vết thương, chính là quá trình chúng ta sửa chữa những thương tổn xuất hiện da. Nhiều động vật có thể đạt được những kết quả ngoạn mục hơn: thằn lằn tái sinh đuôi, sao biển và cua tái sinh chân, hải sâm tái sinh ruột, và giun tròn có đai tái sinh vòi độc tố. Ở mức độ phân tử không nhìn thấy được, vật chất di truyền ADN của chúng ta được sửa chữa riêng bằng việc hạn chế hư hỏng: chúng ta có các enzym có thể nhận biết và sửa chữa những điểm sai sót trong chuỗi ADN xoắn kép, trong khi bỏ qua ADN không bị biến đổi.
Loại sửa chữa còn lại, thay thế thường xuyên, cũng gần gũi với bất kỳ người sở hữu ô tô nào: chúng ta thường định kỳ thay dầu, lọc khí và vòng bi để loại trừ những hao mòn nhẹ mà không đợi đến khi chiếc ô tô bị hỏng hoàn toàn. Trong thế giới sinh vật, răng cũng được thay tương tự trong cuộc đời, dựa trên một nền tảng được đặt kế hoạch trước. Mặc dù con người chúng ta sống hết đời với cùng một bộ xương giống như khi được sinh ra, nhưng cua và các động vật chân khớp khác thường xuyên thay bộ xương ngoài bằng cách lột xác và mọc lên một bộ xương mới. Một ví dụ dễ thấy khác của việc thay thế thường xuyên là sự phát triển không ngừng của tóc: bất kể chúng ta cắt tóc ngắn thế nào, nó vẫn sẽ mọc lên để thay thế phần bị cắt đi.
Sự thay thế thường xuyên cũng xảy ra ở mức độ hiển vi và siêu vi. Chúng ta thường xuyên thay thế nhiều tế bào: khoảng vài ngày một lần đối với tế bào niêm mạc dạ dày, hai tháng một lần đối với tế bào niêm mạc bàng quang, và bốn tháng một lần đối với tế bào máu. Ở mức độ phân tử, những phân tử protein của chúng ta lệ thuộc vào sự chuyển đổi liên tục với tốc độ đặc trưng cho từng protein, nhờ vậy chúng ta tránh được sự tích tụ của những phân từ hư hỏng. Nếu bạn so sánh ngoại hình người yêu của bạn ngày hôm nay với bức hình chụp một tháng trước, anh ấy (hay cô ấy) có thể trông vẫn vậy nhưng có nhiều phân tử được tạo thành khiến cơ thể đã thay đổi. Trong khi tất cả những con ngựa và thần dân của đức vua không thể đặt Humpty-Dumpty(29) với nhau một lần nữa thì Tự nhiên tách chúng ta ra xa nhau và rồi lại gần nhau hằng ngày.
Theo cách đó, nhiều cơ thể động vật có thể được sửa chữa khi cần thiết hoặc được thay thế thường xuyên, nhưng chi tiết tùy thuộc về khả năng thay thế lại khác biệt rất lớn những phần khác nhau và những loài khác nhau. Không thể tránh được về mặt sinh lý khả năng sửa chữa có giới hạn của con người. Bởi con sao biển có thể tái sinh chân bị đứt, tại sao chúng ta lại không thể? Điều gì đã ngăn cản chúng ta thay thế tới sáu bộ răng liên tiếp giống như voi, thay vì chỉ có bộ răng sữa và bộ răng trưởng thành? Với bốn bộ răng tự nhiên nữa, chúng ta sẽ không cần đến hàn răng, bịt răng bằng kim loại và răng giả khi chúng ta về già. Tại sao chúng ta không tự bảo vệ mình khỏi bệnh viêm khớp - tất cả những thứ chúng ta cần là thay thế các khớp định kỳ giống như cua. Tại sao chúng ta không bảo vệ chống lại bệnh tim mạch bằng cách thay tim định kỳ giống như giun tròn có đai thay vòi độc tố của chúng? Chúng ta có thể cho rằng chọn lọc tự nhiên sẽ thích đàn ông hay phụ nữ không chết vì bệnh tim ở tuổi khoảng 80 mà tiếp tục sống và sinh con ít nhất đến khi 100 tuổi. Vậy tại sao chúng ta không thể sửa chữa hoặc thay thế mọi thứ trong cơ thể của chúng ta?
Câu trả lời chắc chắn phải có gì đó gắn với phí tổn sửa chữa. Ở đây, một lần nữa, sự tương tự của việc sửa chữa ô tô lại có ích. Nếu niềm kiêu hãnh của công ty Mercedes-Benz là đáng tin thì xe ô tô của họ được chế tạo tốt đến mức kể cả khi bạn không giữ gìn gì cả - thậm chí không tra nhớt hay thay dầu - chiếc Mercedes của bạn vẫn chạy được trong vài năm. Tất nhiên cuối cùng, nó cũng sẽ hỏng do những hỏng hóc không thể đảo ngược được nữa được tích tụ lại. Vì thế chủ nhân của những chiếc Mercedes thường chọn cách bảo dưỡng xe của họ thường xuyên. Những người bạn có Mercedes của tôi kể rằng các dịch vụ của Mercedes rất đắt: mỗi lần đưa xe vào hãng mất hàng trăm đô la Mỹ. Tuy nhiên, họ cho rằng phí tổn là xứng đáng: một chiếc Mercedes được bảo dưỡng tồn tại lâu hơn một chiếc không được bảo dưỡng, và bảo dưỡng chiếc Mercedes cũ thường xuyên sẽ rẻ hơn là cứ vài năm lại bỏ đi và mua một chiếc mới.
Đó là cách chủ nhân của những chiếc Mercedes giải thích ở Đức và Mỹ. Nhưng giả sử bạn đang sống ở Port Moresby, thủ đô của Papua New Guinea, thủ đô của tai nạn ô tô trên thế giới, nơi mà bất kỳ loại xe nào cũng sẽ vỡ tan tành trong vòng một năm bất kể bạn bảo trì nó thế nào. Rất nhiều chủ xe ở New Guinea không chi cho việc bảo dưỡng xe, họ dùng tiền tiết kiệm được để mua chiếc xe tiếp theo.
Tương tự như vậy, một con vật nên đầu tư vào việc sửa chữa như thế nào phụ thuộc vào chi phí sửa chữa, và so sánh với tuổi thọ dự đoán của con vật đó khi được hay khi không được sửa chữa. Nhưng câu hỏi “nên hay không” như vậy thuộc về lĩnh vực sinh học tiến hóa, chứ không phải sinh lý học. Chọn lọc tự nhiên có xu hướng tăng tối đa tốc độ sản sinh thế hệ kế cận có thể sống sót được để rồi thế hệ này lại sản sinh ra con cái của bản thân chúng. Vì thế chọn lọc tự nhiên có thể được coi như một trò chơi chiến lược, mà trong đó cá thể có chiến lược để lại nhiều hậu duệ nhất sẽ thắng cuộc. Vì thế kiểu giải thích được sử dụng trong nguyên lý của trò chơi có ích trong việc hiểu cách thức chúng ta trở thành những người như chúng ta bây giờ.
Vấn đề tuổi thọ và sự đầu tư vào sửa chữa sinh học đến lượt mình lại là một lớp thậm chí còn rộng lớn hơn của những vấn đề tiến hóa được đưa ra bởi nguyên lý của trò chơi: sự bí hiểm của cái quyết định giới hạn lớn nhất đối với bất kỳ tính trạng có lợi nào. Có rất nhiều tính trạng sinh học khác, bên cạnh tuổi thọ, không đề cập đúng vào vấn đề tại sao chọn lọc tự nhiên không khiến những tính trạng đó dài hơn hay to hơn hay nhanh hơn hay nhiều hơn. Ví dụ như người to lớn hoặc thông minh hoặc chạy nhanh có những lợi thế rõ ràng hơn người nhỏ bé, ngốc nghếch và chậm chạp - đặc biệt qua phần lớn quá trình tiến hóa của loài người, khi chúng ta vẫn phải lẩn tránh sư tử và linh cẩu. Tại sao trên một bình diện chung, chúng ta đã không tiến hóa để trở nên to, thông minh và nhanh hơn chúng ta hiện nay?
Sự phức tạp khiến những vấn đề về thiết kế trong tiến hóa đơn giản hơn mức có thể thấy lần đầu tiên, đó là: chọn lọc tự nhiên tác động trên toàn bộ cá thể, chứ không phải trên những phần nhất định của cơ thể. Đó là toàn bộ cơ thể bạn chứ không phải chỉ là bộ óc lớn hay đôi chân nhanh nhẹn của bạn, sống sót hay không sống sót và để lại hậu duệ. Tăng cường một phần của cơ thể có thể có lợi ở một số khía cạnh thấy được nhưng lại có hại ở những khía cạnh khác. Ví dụ như một bộ phận lớn hơn có thể không phù hợp với những phần khác của cơ thể hoặc lấy đi năng lượng cho những bộ phận khác.
Đối với các nhà sinh học tiến hóa, có một từ kỳ diệu biểu hiện được sự phức tạp này đó là từ “tối ưu”. Chọn lọc tự nhiên có xu hướng nhào nặn mỗi tính trạng đến kích thước, tốc độ hay số lượng mà qua đó tối ưu hóa khả năng sống sót và sinh sản của toàn bộ cơ thể sinh vật, đưa đến bản thiết kế cơ bản của sinh vật đó. Bản thân mỗi tính trạng không có xu hướng đạt giá trị lớn nhất. Thay vào đó, mỗi tính trạng hội tụ ở một số giá trị trung bình tối ưu, không quá lớn cũng không quá nhỏ. Vì thế toàn bộ cơ thể sẽ đạt hiệu quả hơn là khi tính trạng đó lớn hơn hay nhỏ hơn.
Phải chăng cách giải thích này về các loài động vật dường như là hơi trừu tượng, thay vì vậy hãy xét những máy móc hằng ngày của chúng ta. về bản chất, những nguyên lý tương tự được áp dụng cho thiết kế kỹ thuật của máy móc do con người thực hiện giống như áp dụng cho thiết kế tiến hóa của động vật do chọn lọc tự nhiên thực hiện. Lấy ví dụ về niềm tự hào và sự ưa thích của tôi với những máy móc của mình, chiếc Volkswagen Beetle 1962, chiếc xe duy nhất của tôi. (Người yêu thích ô tô sẽ nhớ rằng nãm 1962 là năm hãng Volkswagen chế tạo cửa sổ phía sau lớn trên chiếc Beetle.) Trên một đường cao tốc phẳng phiu với chiếc đuôi gió hỗ trợ, chiếc VW của tôi có thể chạy với tốc độ 65 dặm một giờ. Đối với những chủ nhân của BMW, chỉ số đó nghe có vẻ dưới mức tối đa. Tại sao tôi không bỏ động cơ bốn xylanh 40 mã lực yếu ớt của tôi và thay bằng động cơ 12 xylanh 296 mã lực từ chiếc BMW 750 IL của người hàng xóm và chạy với tốc độ 180 dặm một giờ trên xa lộ San Diego?
Ồ, kể cả nếu tôi không hiểu biết gì về ô tô, tôi vẫn biết rằng việc đó không thể làm được. Động cơ BMW to lớn đó không vừa với ngăn động cơ của chiếc VW, nó có thể cần được làm cho rộng ra. Rồi động cơ BMW muốn ở phía trước nhưng ngăn động cơ của chiếc vw lại ở phía sau, vì thế tôi phải thay đổi hộp số, bộ truyền lực và những thứ khác. Tôi cũng sẽ phải đổi bộ phận giảm sóc và phanh, những thứ được chế tạo để xe chạy êm và dừng lại khi đang chạy ở tốc độ 65 dặm một giờ chứ không phải 180 dặm một giờ. Đến lúc tôi hoàn thành việc thay đổi chiếc VW để có thể lắp động cơ BMW thì sẽ chẳng còn gì nhiều từ chiếc Beetle ban đầu. Và sự thay đổi đó sẽ tiêu tốn của tôi một số tiền lớn. Tôi cho rằng động cơ 40 mã lực yếu ớt của mình đã là tối ưu, theo nghĩa là tôi không thể tăng tốc độ mà không thỏa mãn những đặc điểm hình thức khác của xe - cũng như không đủ cho những nhu cầu cần tới tiền khác trong đời sống của tôi.
Cuối cùng, khi thị trường loại bỏ chiếc xe kỳ quái như chiếc VW với động cơ của BMW, tất cả chúng ta đều có thể nghĩ rằng một vật kỳ lạ cũng cần một khoảng thời gian để bị loại bỏ. Đối với những người ưa thích những chiếc thủy chiến như tôi thì tuần dương hạm Anh là một ví dụ tuyệt vời. Trước và trong Chiến tranh thế giới thứ I, hải quân Anh xuất ra 13 tàu chiến gọi là tuần dương hạm, được thiết kế đồ sộ và nhiều súng lớn như tàu chiến nhưng chạy nhanh hơn nhiều. Bằng cách tối ưu hóa tốc độ và hỏa lực, tuần dương hạm ngay lập tức bắt kịp với trí tưởng tượng của công chúng và trở thành một tin giật gân. Tuy nhiên, nếu bạn lấy một chiếc tàu chiến 28.000 tấn, giữ nguyên khối lượng của những khẩu súng lớn, tăng đáng kể khối lượng của động cơ trong khi vẫn giữ tổng khối lượng vào khoảng 28.000 tấn thì bạn phải tiết kiệm khối lượng của một vài bộ phận khác. Tuần dương hạm đã tiết kiệm đặc biệt về khối lượng của vỏ sắt cũng như khối lượng của các loại súng nhỏ, ngăn kín bên trong và việc bảo hộ trên không.
Hậu quả của thiết kế tổng thể tối ưu này là không thể tránh được. Vào năm 1916 chiếc HMS(30) Indefatigable, Queen Mary và Invincible(31) đều bị thổi tung ngay khi vừa bị đạn cối Đức bắn tại trận chiến ở Jutland(32). Chiếc HMS. Hood bị nổ tung năm 1941, chỉ khoảng tám phút sau khi tham gia vào một trận chiến với tàu chiến Đức Bismarck. HMS. Repulse bị nhấn chìm bởi bom Nhật một vài ngày sau khi Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng, vì thế có thể đạt danh hiệu chiếc tàu chiến lớn đầu tiên bị phá hủy từ trên không trong một trận đánh dưới biển. Đối mặt với bằng chứng rõ ràng này để thấy một số bộ phận đồ sộ không tạo được sự tối ưu trong tổng thể, hải quân Anh đã khiến chương trình chế tạo tuần dương hạm của họ sụp đổ. Tóm lại, các kỹ sư không thể hàn từng phần đơn lẻ của chiếc máy riêng biệt với phần còn lại của cả cỗ máy, bởi mỗi phần đều có giá trị, không gian và cả cân nặng của riêng nó mà dẫn tới có thể bị biến thành một thứ gì khác. Thay vào đó các kỹ sư phải đặt ra câu hỏi rằng sự kết hợp như thế nào tối ưu hóa hiệu quả hoạt động của máy. Cũng bởi chính những nguyên nhân như vậy, tiến hóa không thể hàn nối các tính trạng đơn lẻ riêng biệt với phần còn lại của một cơ thể, bởi mỗi cấu trúc, enzym hay các mảnh ADN đều hấp thụ năng lượng và không gian mà có lẽ có thể dùng vào việc khác. Thay cho điều đó, chọn lọc tự nhiên ưa thích sự kết hợp của những tính trạng tối đa hóa sự sản sinh ra thế hệ con cái. Cá những kỹ sư công nghệ lẫn các nhà khoa học tiến hóa đầu phải đánh giá về sự cân bằng giữa các yếu tố liên quan tới sự gia tăng của mọi thứ: những ích lợi đi kèm với cái giá phải trả cho những điều mà nó mang lại.
Một khó khăn hiển nhiên trong việc ứng dụng tranh luận này vào vòng đời của chúng ta đó là chúng có rất nhiều đặc điểm có vẻ như là giảm bớt chứ không phải gia tăng khả năng sinh sản ra thế hệ sau của chúng ta. Quá trình già đi và chết là một trong số các ví dụ đó, những ví dụ khác như thời kỳ mãn kinh ở nữ giới, một đứa trẻ sinh trong mỗi ca sinh nở, hay thường chỉ sinh tối đa một lần trong một năm, và ngay cả việc chỉ bắt đầu sinh con ở phụ nữ ở độ tuổi từ 12 tới 16. Tại sao chọn lọc tự nhiên lại không ủng hộ cho những người phụ nữ bước vào giai đoạn dậy thì từ năm tuổi, hoàn thành thai kỳ chỉ trong ba tuần, thường xuyên sinh nở trong năm, không trải qua giai đoạn mãn kinh, đưa thật nhiều năng lượng vào cơ thể của cô ấy để giúp cho tuổi thọ có thể đạt tới 200 và nhờ đó mà sinh ra được hàng trăm đứa trẻ?
Nhưng việc đặt ra các câu hỏi theo kiểu như thể giả vờ như tiến hóa có thể thay đổi cơ thể của chúng ta ở mỗi phần nhỏ tại một thời điểm nào đó mà lờ đi cái giá vô hình ta phải trả. Ví dụ như, một người phụ nữ chắc chắn không thể rút ngắn thời gian mang thai xuống chỉ còn có ba tuần mà không có bất cứ sự thay đổi nào khác về cơ thể của họ hay của những đứa trẻ sơ sinh. Hãy nhớ rằng chúng ta chỉ có một lượng năng lượng nhất định có giá trị cho mỗi người. Ngay cả với những người tập luyện các bài tập thể dục nặng nhọc và ăn nhiều thức ăn bổ dưỡng - như thợ đốn gỗ hay vận động viên điền kinh đang trong giai đoạn luyện tập - cũng không thể đồng hóa hết khối lượng nhiều hơn 6.000 calorie mỗi ngày. Vậy chúng ta nên phân bố lượng calorie này như thế nào giữa việc sửa chữa bản thân và mang thai những đứa trẻ, nếu như mục đích của chúng ta là đẻ càng nhiều càng tốt?
Ở cấp độ cao nhất, nếu chúng ta dồn tất cả năng lượng cho những đứa trẻ và gần như không có gì hết cho việc sửa chữa sinh học, cơ thể chúng ta sẽ lão hóa và phân hủy trước khi chúng ta kịp có được đứa con đầu tiên. Ở một thái cực khác, nếu chúng ta phung phí toàn bộ năng lượng có được trong cơ thể vào việc giữ gìn vóc dáng, chúng ta có thể sẽ sống được trong thời gian lâu hơn nhưng sẽ chẳng còn một chút năng lượng nào cho một quá trình tốn rất nhiều sức lực là sinh sản và nuôi dạy con cái. Điều mà chọn lọc tự nhiên phải làm đó là điều chỉnh việc sử dụng một cách tương đối năng lượng cho việc sửa chữa cũng như nuôi con của một con vật, qua đó có thể đạt tối đa số lượng con cũng như cân bằng với vòng đời của chính nó. Câu trả lời cho vấn đề này rất khác nhau giữa các loài, phụ thuộc vào những yếu tố chẳng hạn như mức độ rủi ro của loài đó do những cái chết đột ngột, sinh học sinh sản và cái giá của rất nhiều loại sửa chữa khác nhau.
Viễn cảnh này có thể được tận dụng để tạo nên những giả thuyết có thể thử nghiệm về việc những con vật nên có sự sai khác như thế nào trong cơ chế tự sửa chữa và tốc độ già đi của chúng. Vào năm 1957, nhà tiến hóa học George Williams đã nêu ra một vài sự thực đáng chú ý về sự già đi, điều có thể nhận thức được chỉ từ một viễn cảnh tiến hóa. Hãy thử cùng xem xét một vài ví dụ của Williams và tái thể hiện chúng bằng thứ ngôn ngữ của sinh lý học về sự sửa chữa sinh học, bằng việc làm chậm lại quá trình lão hóa như một chỉ thị cho cơ chế sửa chữa tốt nhất.
Ví dụ đầu tiên liên quan tới độ tuổi mà những động vật lần đầu giao phối và sinh con. Độ tuổi này khác biệt rất lớn giữa các loài: một số rất ít người có thể phát triển sớm để có thể sinh con ở độ tuổi trước 12, trong khi bất cứ một con chuột “đáng tự hào” nào đó ở giai đoạn hai tháng tuổi đã hoàn toàn có thể sinh con. Các sinh vật thuộc cùng một loài có độ tuổi giao phối khá muộn như chúng ta cần phải dành nhiều năng lượng để sửa chữa, nhằm chắc chắn rằng chúng có thể sống sót cho tới độ tuổi sinh sản. Do đó, chúng ta trông chờ việc đầu tư vào việc sửa chữa sẽ làm tăng độ tuổi sinh sản lần đầu.
Một ví dụ khác, mối tương quan giữa việc chúng ta có độ tuổi sinh sản muộn hơn so với chuột, thì con người cũng già đi chậm hơn rất nhiều so với chuột, và được nhìn nhận là cũng sửa chữa cơ thể hiệu quả hơn rất nhiều. Ngay cả với một lượng thức ăn dồi dào và chế độ chăm sóc y tế tốt nhất, một con chuột phải mai mắn lắm mới sống nổi tới lần sinh nhật thứ hai của nó, trong khi đó ở người quả là không may mắn nếu không thể sống tới độ tuổi 72. Nguyên nhân tiến hóa là: con người nếu không đầu tư sức lực nào vào việc sửa chữa nhiều hơn những gì con chuột có thể làm sẽ chết khi chưa kịp bước vào giai đoạn dậy thì. Do đó, sửa chữa cần thiết với một con người hơn với một con chuột.
Vậy năng lượng dư thừa cần thiết cho sự tiêu dùng của chúng ta thực sự bao gồm những gì? Trước hết, khả năng sửa chữa của con người dường như là không quá tuyệt vời. Chúng ta không thể tái sinh một cánh tay đã bị tổn thương hoàn toàn, và chúng ta không thường xuyên thay thế bộ xương của bản thân như một số động vật xương sống ngắn ngày có thể làm được. Tuy nhiên, những thay thế ngoạn mục nhưng không thường xuyên toàn bộ cấu trúc có thể không phải là những yếu tố lớn nhất trong khả năng thay thế của động vật. Thay vào đó, sự tiêu tốn lớn nhất lại nằm trong những thay thế không thể nhìn thấy được bằng mắt thường của rất nhiều các tế bào và phân tử, ngày này qua ngày khác. Ngay cả khi bạn dành cả ngày trời chỉ nằm trên giường, bạn cũng cần phải tiêu thụ khoảng 1.640 calorie mỗi ngày đối với nam giới (và 1.430 calorie đối với nữ giới) chỉ nhằm mục đích duy trì cơ thể. Phần lớn quá trình trao đổi chất nhằm duy trì này dành cho những thay thế vô hình đã được lên lịch sẵn. Và do đó, tôi đoán rằng điểm mà chúng ta tiêu tốn năng lượng hơn loài chuột là ở chỗ đặt một phần lớn hơn năng lượng vào việc tự sửa chữa, và một phần nhỏ năng lượng hơn cho các mục đích khác như giữ ấm cơ thể hay chăm sóc cho những đứa trẻ.
Thí dụ thứ hai tôi sẽ bàn tới ở đây liên quan đến rủi ro của những vết thương không thể sửa chữa được nữa. Một vài sự phá hủy sinh học hoàn toàn có tiềm năng sửa chữa được, nhưng cũng có những hư hỏng khác chắc chắn gây tử vong (như việc bị sư tử ăn thịt). Nếu ngày mai bạn có khả năng bị sư tử ăn thịt, thì việc ngày hôm nay phải tốn tiền cho các nha sỹ nhằm chỉnh sửa răng của bạn sẽ không có bất cứ giá trị gì. Tốt hơn là bạn nên để cho răng của mình mục rỗng và ngay lập tức bắt đầu việc sinh con đẻ cái. Nhưng nếu mức độ rủi ro xảy ra những tai nạn bất thình lình là không cao thì sẽ có những phần thưởng xứng đáng bằng việc kéo dài thời gian sống, nhờ dồn năng lượng vào những cơ chế sửa chữa tốn kém làm chậm lại quá trình lão hóa. Đây là nguyên nhân khiến cho những ông chủ của những chiếc Mercedes quyết định trả tiền cho việc bôi trơn dầu mỡ cho xe của họ tại Đức và Mỹ mà không phải tại New Guinea.
Những điều tương tự về mặt sinh học là mức độ rủi ro xảy ra cái chết ở các loài ăn thịt thì ở chim thấp hơn so với thú (bởi chim có thể trốn thoát bằng cách bay lên), cũng như ở rùa thấp hơn so với phần lớn các loài bò sát khác (bởi rùa được bảo vệ nhờ mai). Do đó, chim và rùa tự mình có thể thu nhận rất nhiều từ những cơ chế sửa chữa đắt giá nếu so sánh với những loài động vật có vú không thể bay được hay các loài bò sát không có mai dù sao cũng sẽ dễ dàng bị ăn thịt bởi các loài ăn thịt khác. Thực sự, nếu ai đó so sánh tuổi thọ của những con vật được nuôi dưỡng đầy đủ, bảo vệ khỏi các loài ăn thịt thì loài chim vẫn sống lâu hơn (như quá trình lão hóa chậm lại) so với các loài động vật kích thước trung bình, và rùa cũng sống lâu hơn các loài bò sát kích thước trung bình không mai. Những loài chim được bảo vệ tốt nhất khỏi các loài ăn thịt là những loài chim biển như loài hải âu và chim báo bão, những loài làm tổ trên các vùng biển xa xôi, là nơi hầu như vắng bóng các loài ăn thịt. Cuộc đời nhàn nhã của chúng khác biệt hoàn toàn với chúng ta. Một vài loài hải âu lớn thậm chí không giao phối cho tới tận năm mười tuổi và chúng ta vẫn chưa thực sự biết là chúng có thể sống tới năm bao nhiêu tuổi, bản thân các loài chim có thể tồn tại lâu hơn chiếc vòng kim loại mà các nhà khoa học bắt đầu gắn vào chân chúng cách đây vài thập kỷ nhằm theo dõi tuổi thọ. Với mười năm đầu tiên của cuộc đời để bắt đầu quá trình giao phối ở loài hải âu lớn, một quần thể loài chuột có thể đã trải qua tới 60 thế hệ, mà phần lớn trong số đó đã trở thành mồi cho các loài ăn thịt hay chết vì già yếu.
Ví dụ thứ ba đó là, hãy thử so sánh giữa con đực và con cái của cùng một loài. Chúng ta kỳ vọng có thêm nhiều phần thưởng xứng đáng nhờ có các cơ chế sửa chữa và tốc độ già đi chậm hơn, ở mỗi giới tính với tỷ lệ đột tử giảm bớt. Trong phần lớn các loài, con đực phải chịu đột tử cao hơn với con cái, một phần là bởi con đực tự bản thân nó đã đưa mình vào mức độ rủi ro cao hơn qua việc đánh nhau và khoe mẽ một cách liều lĩnh. Điều này hoàn toàn đúng đắn cả với đàn ông của loài người ngày nay và có thể đúng trong suốt lịch sử chúng ta dưới hình thức một loài, nam giới là giới tính thường bị chết trong các cuộc chiến đấu với những người đàn ông thuộc các bộ lạc khác, và giữa các cá nhân trong cùng một cộng đồng. Cũng như vậy, ở các loài vật khác, con đực thường lớn hơn con cái, nhưng những nghiên cứu về loài linh dương đỏ và loài quạ của Tân Thế giới đã chỉ ra rằng con đực thường dễ chết hơn con cái khi nguồn thức ăn bị cạn kiệt.
Tương quan với tỷ lệ đột tử cao hơn ở nam giới đó là nam giới cũng bị già đi nhanh hơn và cũng có tỷ lệ chết không bất thường cao hơn nữ giới. Hiện tại, tuổi thọ được kỳ vọng của nữ giới cao hơn nam giới khoảng sáu tuổi, một trong những nguyên nhân có thể là do nam giới hút thuốc nhiều hơn nữ giới, nhưng vẫn tồn tại những khác biệt có liên quan đến giới tính trong kỳ vọng về tuổi thọ ngay cả đối với những người không hút thuốc. Những khác biệt này đưa ra giả thuyết rằng tiến hóa đã lên chương trình cho chúng ta trong đó nữ giới đầu tư nhiều năng lượng vào việc tự sửa chữa trong khi nam giới lại dành điều đó cho việc đánh nhau. Nói theo một cách khác, việc sửa chữa ở nam giới tiêu tốn ít hơn so với nữ giới. Nhưng tôi không có ý chê bai gì nam giới trong việc đánh nhau, điều thể hiện mục đích tiến hóa hữu ích cho con người: có thể giành lấy nhiều vợ và bảo vệ của cái cho những đứa con và bộ lạc của anh ta trước sự tấn công của những người đàn ông khác cũng có con cái và bộ lạc của riêng mình.
Ví dụ còn lại là về cách thức nào mà một vài sự thực đáng chú ý của quá trình già đi trở nên chỉ có thể nhận biết chỉ từ một triển vọng tiến hóa có liên quan tới hiện tượng riêng biệt của loài người về độ tuổi sống sót sau sinh sản, đặc biệt là thời kỳ sau mãn kinh ở nữ giới. Do sự truyền đạt nguồn gen từ thế hệ này sang thế hệ khác là thứ đã điều khiển tiến hóa các loài động vật khác hiếm khi sống sót sau tuổi sinh sản. Thay vào đó, Tự nhiên đã lên chương trình cho cái chết trùng khớp với sự kết thúc của khả năng sinh sản, bởi sau đó sẽ không còn có được lợi ích tiến hóa nào từ việc giữ mãi một cơ thể ở trạng thái sửa chữa tốt cả. Đây là một ngoại lệ cần có lời giải đáp để nhận ra rằng phụ nữ được lên chương trình sống sót hàng vài thập kỷ sau khi mãn kinh, và người đàn ông thì được lập chương trình sống tới độ tuổi khi phần lớn trong số họ chẳng còn bận tâm tới việc sản sinh thêm nòi giống mới.
Nhưng sự giải thích trở nên hết sức rõ ràng nhờ suy xét kỹ lưỡng, ở loài người, giai đoạn mãnh liệt nhất trong quá trình quan tâm chăm sóc của cha mẹ thường không kéo dài và thường chỉ diễn ra trong khoảng gần hai chục năm. Ngay cả với những người già hơn, việc con cháu của họ đến tuổi trưởng thành không chỉ hết sức quan trọng với sự sống sót của đứa trẻ mà còn là với toàn bộ tộc. Đặc biệt trong giai đoạn chữ viết chưa tồn tại, những người già thực hiện chức năng như một người mang và truyền bá thông tin cần thiết. Tự nhiên đã lập chương trình cho chúng ta để có khả năng lưu giữ toàn bộ cơ thể ở một tình trạng sửa chữa tương đối hợp lý ngay cả ở độ tuổi mà hệ thống sinh dục của giới nữ tự nó đã rơi vào tình trạng không thể sửa chữa.
Thế nhưng, trái ngược lại, chúng ta phải thắc mắc rằng tại sao chọn lọc tự nhiên lại lên chương trình cho thời kỳ mãn kinh ở nữ giới ngay từ đầu. Nó cũng vậy, như sự lão hóa, không thể giải thích ngay như một vấn đề sinh lý thông thường. Phần lớn các loài động vật có vú trong đó có cả đàn ông của loài người và các loài đười ươi, tinh tinh ở cả hai giới, đơn thuần trải qua một sự giảm bớt từ từ và cuối cùng là dừng hẳn khả năng sinh sản theo tuổi tác; như vậy còn khá hơn là chấm dứt một cách đột ngột khả năng sinh sản như ở nữ giới. Tại sao đặc điểm khác thường, dường như là chống lại việc sinh sản đó của chúng ta lại tiến hóa? Sao chọn lọc tư nhiên không nghiêng về hướng phụ nữ có thể kéo dài thời kỳ sinh sản tới phút cuối?
Thời kỳ mãn kinh ở phụ nữ có thể bắt nguồn từ hai đặc tính rõ ràng của loài người: sự nguy hiểm khác thường mà việc sinh đẻ có thể mang lại cho người mẹ, và sự nguy hiểm từ cái chết của người mẹ có thể xảy tới cho đứa con của cô ta. Cần nhắc lại về kích thước khổng lồ của đứa trẻ sơ sinh của loài người so với mẹ của chúng: một đứa trẻ nặng trên 3 kg với một người mẹ nặng chỉ khoảng trên dưới 50 kg nổi bật hơn hẳn so với một con gorrila sơ sinh chỉ nặng khoảng 1,8 kg và mẹ của chúng nặng tới gần 100 kg. Kết quả là, việc sinh đẻ trở nên hết sức nguy hiểm với người mẹ. Đặc biệt là trước khi có sự xuất hiện của sản khoa hiện đại, phụ nữ thường chết trong khi sinh nở, trong khi các bà mẹ gorrila và các loài vượn người khác hầu như không gặp phải chuyện này. Một nghiên cứu về tỷ lệ sinh sản ở 401 con khỉ Rhesus(33) cái ghi nhận rằng chỉ có một trường hợp chết duy nhất của khỉ mẹ.
Giờ thì thử nhìn lại sự phụ thuộc tối đa của những đứa trẻ mới sinh vào cha mẹ của chúng, mà đặc biệt là người mẹ. Bởi những đứa trẻ sơ sinh phát triển quá chậm và không thể tự tìm kiếm thức ăn cho bản thân ngay cả khi đã cai sữa (không giống ở các loài vượn), cái chết của người mẹ-người tìm kiếm thức ăn có thể gây nên sự tử vong cho các con của cô ta, chúng không thể phát triển tiếp tới độ tuổi lớn hơn so vợi bất kỳ loài linh trưởng nào. Một người mẹ săn bắt-hái lượm với một vài đứa con sẽ đánh cược mạng sống của những đứa trẻ đó bởi bất cứ lần sinh đẻ nào tiếp theo của người mẹ. Do sự đầu tư của cô ấy vào những đứa trẻ tăng lên cùng với độ tuổi của những đứa trẻ và cũng do sự mạo hiểm của bản thân cô ta trong việc sinh ra những đứa con cũng tăng lên theo tuổi tác, cái giá ngớ ngẩn phải trả cho việc đánh cược này ngày càng trở nên tồi tệ khi cô ta già đi. Khi bạn đã sinh ra được khoảng ba đứa trẻ đang lớn nhưng vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào bạn, vậy lý do gì có thể khiến bạn mạo hiểm những đứa trẻ đó để sinh thêm đứa con thứ tư?
Những khác biệt đang trở nên tồi tệ hơn đó có thể dẫn tới việc chọn lọc tự nhiên lựa chọn việc dừng khả năng sinh sản của người phụ nữ - hay thời kỳ mãn kinh, nhằm bảo vệ những đầu tư của người mẹ vào những đứa con trước đó. Nhưng do những đứa trẻ sinh ra không mang lại chút mạo hiểm nào cho người cha, nên đàn ông không phải trải qua thời kỳ mãn kinh. Giống như quá trình lão hóa, thời kỳ mãn kinh minh họa cho cách mà một bước tiến trong tiến hóa chiếu rọi những đặc điểm trong vòng đời của chúng ta mà về mặt khác lại chẳng mang nhiều ý nghĩa. Thậm chí có thể nói rằng thời kỳ mãn kinh chỉ xuất hiện trong vòng 40.000 năm trở lại đây, khi người Cro-Magnon và những người hiện đại về mặt giải phẫu khác bắt đầu thường xuyên sống tới tuổi 60 hoặc hơn thế nữa. Dẫu sao người Neanderthal và những người xuất hiện sớm hơn cũng thường chết trước tuổi 40, nên việc mãn kinh có thể chẳng mang lại chút lợi ích nào cho người phụ nữ nếu như nó diễn ra đúng vào thời điểm cuối cùng giống như đối với Femina sapiens(34) hiện đại.
Do đó, việc kéo dài tuổi thọ của con người hiện đại trong tương qụan so sánh với loài vượn không chỉ phụ thuộc duy nhất vào sự thích nghi văn hóa, chẳng hạn như công cụ để kiếm thức ăn và ngăn cản kẻ ăn thịt. Nó còn phụ thuộc vào sự thích nghi về mặt sinh học của quá trình mãn kinh và sự tăng cường đầu tư vào sửa chữa bản thân. Trong khi những thích nghi sinh học phát triển một cách đột biến tại thời điểm của Bước Nhảy Vọt Vĩ Đại hay sớm hơn thời điểm đó, chúng được xếp trong số những chuyển biến làm thay đổi lịch sử đã cho phép sự phát triển từ loài tinh tinh thứ ba thành người hoàn chỉnh.
Kết luận cuối cùng mà tôi mong ước tạo dựng nên từ cách tiếp cận tiến hóa tới quá trình già đi đó là này đó làm suy yếu cách tiếp cận cho rằng có một sự vượt trội hơn hẳn trong nghiên cứu sinh lý của quá trình già đi. Nghiên cứu lão khoa bị ám ảnh với việc tìm kiếm nguyên nhân gây lão hóa - ưa thích một nguyên nhân đơn lẻ, chứ chắc chắn là không phải nhiều nguyên nhân chủ yếu cùng lúc. Trong suốt cả cuộc đời là một nhà sinh vật học của tôi, sự thay đổi hormone, phá hủy hệ thống miễn dịch, sự thoái hóa thần kinh trung ương ganh đua nhau trong cuộc đấu giành ngôi vị nguyên nhân đầu tiên, và không có bằng chứng thuyết phục nào được đưa ra cho bất cứ ứng cử viên nào trong số đó. Nhưng lập luận tiến hóa gợi mở rằng sự tìm kiếm này sẽ mãi là vô ích. Sẽ không nên có một hay thậm chí một vài các cơ chế sinh lý chủ yếu chiếm ưu thế điều khiển sự già đi. Mà thay vào đó, chọn lọc tự nhiên nên hành động nhằm phù hợp với tốc độ của sự lão hóa trong mọi hệ thống sinh lý, với kết quả là sự già đi ấy liên quan tới không thể kể xiết những thay đổi ngẫu nhiên.
Điểm cơ bản của những suy đoán này nằm phía sau đây. Việc thực hiện sự duy trì đắt giá một bộ phận trong cơ thể sẽ chẳng có tác dụng gì nếu như các bộ phận khác bị phá hủy nhanh hơn. Ngược lại, việc cho phép một số hệ cơ quan hỏng chậm hơn các bộ phận khác cũng sẽ chẳng có ích gì, bởi cái giá của những sửa chữa thêm trên một vài hệ thống trong cơ thể đó có thể mua được sự gia tăng tuổi thọ rất lớn. Chọn lọc tự nhiên không thực hiện những sai lầm vô ích đó. Tương tự như vậy, những người chủ của Mercedes không nên lắp đặt những vòng bi rẻ tiền trong khi lại phung phí những đồ đắt giá lên phần còn lại của chiếc xe. Nếu như họ không quá ngu ngốc, họ có thể tăng gấp đôi thời gian sử dụng của chiếc xe đắt giá chỉ bằng việc chi thêm vài đô la cho chiếc vòng bi mà thôi. Nhưng cũng không nên trả tiền theo cách chi tiêu xa xỉ lắp đặt hẳn một chiếc vòng bi kim cương, trong khi toàn bộ phần còn lại của chiếc xe có thể bị hỏng hoàn toàn trước khi chiếc vòng bi kia có thể bị thay thế. Do đó, chiến thuật tối ưu nhất của những người chủ Mercedes, và cho chúng ta, đó là sửa chữa toàn bộ các bộ phận của chiếc xe hay cơ thể ở mức độ mà tất cả mọi thứ cuối cùng đều hỏng hoàn toàn trong cùng một thời điểm.
Với tôi dường như là sự suy đoán buồn lòng này đã được xác nhận, và rằng tiêu chuẩn lý tưởng của tiến hóa của toàn bộ sự suy tàn đồng thời này miêu tả số phận của cơ thể chúng ta tốt hơn là những tìm kiếm sinh lý học mang tính chất đơn lẻ về nguyên nhân của quá trình già đi. Những dấu hiệu của sự già đi có thể được tìm thấy ở bất cứ nơi nào ta muốn tìm kiếm nó. Tự bản thân tôi nhận thức được hoàn toàn về hàm răng, sự giảm sút đáng kể của vận động cơ bắp, giảm rõ rệt khả năng nghe, nhìn, ngửi và cả nếm. Ở tất cả những giác quan này, tính sắc bén của phụ nữ mạnh hơn so với đàn ông cùng lứa tuổi bất cứ khi nào có sự so sánh giữa hai giới tính. Đang đợi tôi phía trước là lời kinh cầu nguyện thường gặp: sự yếu ớt của trái tim, chứng xơ cứng động mạch, gia tăng độ giòn của xương, giảm sút tốc độ lọc máu của thận, suy yếu khả năng chống chọi của hệ thống miễn dịch và mất trí nhớ. Bảng danh sách dường như sẽ còn có thể kéo dài baast tận. Tiến hóa có vẻ thực sự đã sắp xếp mọi thứ sao cho tất cả các hệ thống trong cơ thể chúng ta đều phá hủy cùng một lúc, và chúng ta đầu tư cho việc sửa chữa chỉ bằng những gì mà chúng ta có.
Nếu từ một quan điểm thực nghiệm, kết luận này chắc sẽ gây nên nỗi thất vọng. Nếu có thể có vài nguyên nhân chính yếu của sự già đi, sự chữa trị những nguyên nhân đó có thể mang lại cho chúng ta suối nguồn tươi trẻ. Suy nghĩ này, diễn ra vào thời điểm khi tuổi già được cho rằng hầu hết đều do một hiện tượng được hormone điều khiển, gợi mở cho những người già ý nghĩ thực hiện một vài nỗ lực “cải lão hoàn đồng”. bằng việc tiêm hormone hay cấy ghép các tuyến sinh dục trẻ trung. Một trong các nỗ lực này đã trở thành đề tài được Ngài Arthur Conan Doyle(35) miêu tả trong tập truyện của ông Cuộc phiêu lưu của người đàn ông trườn bò(36) mà trong đó vị Giáo sư nhiều tuổi Presbury trở nên quá đắm đuối vì một người đàn bà trẻ, mong muốn tuyệt vọng tự trẻ hóa cơ thể, nhưng thay vào đó ông lại bị bắt gặp đang leo một cây nho như một con khỉ vào giữa lúc nửa đêm. Và rồi Sherlock Holmes tài ba đã phát hiện ra nguyên nhân: vị Giáo sư kia đã kiếm tìm sự trẻ trung bằng cách tiêm vào cơ thể ông huyết thanh của loài khỉ châu Á.
Tôi có lẽ phải cảnh báo giáo sư Presbury rằng nỗi ám ảnh làm mờ mắt ông ta với những kết cục hầu như đã chắc chắn có thể khiến ông chệch hướng. Nếu ông ta nghĩ đến những nền tảng cơ bản của tiến hóa, ông có thể nhận ra rằng chọn lọc tự nhiên không bao giờ cho phép chúng ta phá hủy cho dù chỉ là một cơ chế đơn lẻ của một phương pháp chữa trị đơn giản. Có lẽ nó đã là như vậy rồi. Sherlock Holmes cực kỳ lo lắng về điều sẽ xảy ra nếu những thối tha của cuộc đời như vậy lại có thể lặp lại. “Đó là một mối đe dọa - một mối đe dọa thực sự nghiêm trọng tới nhân loại. Hãy thử nghĩ xem Watson, rằng những vật liệu này, những điều cảm nhận được và toàn thế giới đều muốn kéo dài cuộc sống vô giá trị của bản thân như vậy… Nó có thể là sự sống sót của những gì kém vừa vặn nhất. Vậy còn những thối tha nào nữa mà thế giới đáng thương của chúng ta có thể biến đổi thành?”
Ngài Holmes có lẽ nên an tâm khi biết rằng những lo lắng của ông giờ đây không bao giờ có thể trả thành hiện thực.