Con người có rất nhiều lý do để nói dối khi được hỏi rằng họ ngoại tình vào lúc nào. Chính vì vậy sẽ cực kỳ khó khăn để có được các thông tin khoa học xác thực về vấn đề quan trọng này. Một trong số rất ít những chứng cứ tồn tại về sự thật khó khăn này lại xuất hiện như là kết quả hoàn toàn không ngờ tới của một nghiên cứu y học, được tiến hành từ nửa thế kỷ trước với một mục đích hoàn toàn khác. Các kết luận của nghiên cứu này vẫn chưa hề được tiết lộ cho tới tận ngày nay.
Gần đây, tôi đã được biết những tài liệu có thực từ một nhà khoa học tên tuổi, người đã theo đuổi nghiên cứu trên. (Do ông không muốn được biết đến với mối quan hệ này, tôi xin được nhắc tới ông với cái tên là Bác sỹ X.) Trong những năm 1940, bác sỹ X đang nghiên cứu về vấn đề di truyền trong hệ nhóm máu của con người, trong đó có những phân tử mà ta chỉ có được thông qua di truyền. Mỗi người trong số chúng ta có tới hàng chục các thành phần nhóm máu trên các tế bào hồng cầu của mình, và chúng ta được thừa hưởng mỗi thành phần hoặc từ mẹ hoặc từ cha mình. Kế hoạch nghiên cứu là rất rõ ràng: đi tới các khoa sản của các bệnh viện danh tiếng của nước Mỹ, thu nhận các mẫu máu của một ngàn trẻ em sơ sinh cũng như cha, mẹ của chúng, phân tích nhóm máu cho tất cả các mẫu này và sau đó, sử dụng dấu chuẩn di truyền để suy ra các khuôn mẫu di truyền.
Với sự kinh ngạc của bác sỹ X, các nhóm máu đã tiết lộ rằng gần 10% trong số những đứa trẻ sơ sinh đó là sản phẩm của việc ngoại tình! Bằng chứng về nguồn gốc của những đứa trẻ đẻ hoang này đó là chúng có một hay nhiều hơn các thành phần nhóm máu không có cả ở bố và mẹ. Không thể đặt câu hỏi về sự sai sót của khoa sản: các mẫu máu được lấy từ những đứa trẻ sơ sinh và mẹ của chúng ngay sau khi đứa con được sinh ra từ bụng mẹ. Nhóm máu được thể hiện trong đứa trẻ nhưng lại không xuất hiện trong cơ thể người-mẹ-không-có-gì-đáng-ngờ của bé vậy thì chỉ có khả năng là từ bố của bé. Sự thiếu vắng nhóm máu từ người chồng của mẹ cũng đồng nghĩa với việc chỉ ra hoàn toàn thuyết phục rằng đứa trẻ đã được sinh ra bởi một người cha khác, ngoài hôn nhân. Tỷ lệ thực tế của tình dục ngoài giá thú rõ ràng phải cao hơn 10%, bởi rất nhiều thành phần khác trong nhóm máu mà hiện nay được sử dụng trong việc xác định quyền làm cha vẫn chưa được biết tới vào những năm 1940, và bởi phần lớn các trường hợp quan hệ tình dục đều không dẫn tới việc thụ thai.
Vào thời điểm mà bác sỹ X thực hiện khám phá này, các nghiên cứu về thói quen tình dục ở nước Mỹ gần như là một điều kiêng kỵ. Ông quyết định giữ im lặng, chưa bao giờ công bố khám phá của mình, và phải rất khó khăn tôi mới nhận được sự cho phép của ông để được đề cập tới những kết quả này mà không nêu tên ông. Tuy nhiên, những kết luận thu được của ông sau đó cũng đã được xác nhận bởi một vài nghiên cứu di truyền tương tự mà kết quả đã được công bố. Những nghiên cứu này rất khác biệt đã chỉ ra có từ 5% đến 30% những đứa trẻ Mỹ và Anh quốc được sinh ra từ các vụ ngoại tình. Một lần nữa, tỷ lệ của các cặp đôi tham gia thí nghiệm mà trong đó ít nhất vợ của họ đã từng ngoại tình còn phải cao hơn nữa mà nguyên nhân cũng giống như trường hợp nghiên cứu của bác sỹ X.
Giờ đây, chúng ta có thể trả lời câu hỏi có hay không ngoại tình với loài người như những phút giây lầm lạc hiếm hoi, một ngoại lệ thường xuyên so với hình mẫu tình dục gia đình, hay quá thường xuyên đến mức tạo nên một sự lừa dối trong hôn nhân. Sự chọn lựa trung tính tỏ ra xác đáng nhất. Phần lớn những người cha đều nuôi dưỡng đứa con thật sự của mình và hôn nhân không phải là một điều giả tạo. Chúng ta không giống với loài gorilla có quan hệ tình dục lẫn lộn nhưng lại giả vờ theo hướng khác. Tuy nhiên, cũng rất rõ ràng rằng ngoại tình là một điều không thể thiếu, dẫu là không chính thức, là một phần trong hệ thống giao phối của loài người. Ngoại tình cũng được phát hiện ở rất nhiều loài động vật khác mà xã hội của chúng cũng giống với chúng ta, dựa trên mối quan hệ hợp tác giữa bố mẹ trong một mối liên kết bền lâu. Do vậy, những mối quan hệ lâu dài này không phải là tiêu biểu cho xã hội của các loài tinh tinh thường và tinh tinh lùn, và chẳng có ý nghĩa gì khi nói tới ngoại tình ở các loài động vật nhân hình. Chúng ta buộc phải khám phá lại điều đó sau khi tổ tiên vượn người đã làm cho nó trở nên lỗi thời. Do vậy, chúng ta không thể tranh luận về bản năng giới tính của con người và vai trò của nó trong sự phát triển của cộng đồng, mà không có sự xem xét một cách cẩn thận khoa học của sự ngoại tình ướt át nào có thể thu hút khán giả mà thiếu điều này. Nó chỉ có một vài đối thủ chẳng hạn như thể loại giải trí gây cười. Và do vậy, đúng như Freud đã chỉ ra, chúng ta thường sử dụng sự hài hước nhằm đối mặt với những nỗi đau cực kỳ sâu sắc. Trải qua suốt quá trình lịch sử, ngoại tình cũng có một vài đối thủ như nguyên nhân gây ra tôi giết người và sự nghèo đói. Viết về vấn đề này không thể nào nghiêm túc hoàn toàn được, nhưng cũng không thể nào không buộc phải nổi dậy chống lại những thể chế tàn bạo qua đó nhiều xã hội đang cố gắng để đấu tranh với hiện tượng ngoại tình.
Điều gì khiến cho một người đã có gia đình quyết định tìm kiếm hay tránh xa khỏi việc ngoại tình? Các nhà khoa học có những giả thuyết để giải thích rất nhiều thứ, do vậy chúng ta cũng không nên ngạc nhiên rằng cũng có một lý thuyết về sự ngoại tình (viết tắt là EMS(13) - và không được nhầm lẫn với tình dục trước hôn nhân PMS(14), và cũng như không nhầm với hội chứng tiền kinh nguyệt - PMS(15)). Với rất nhiều các loài động vật các vấn đề của việc ngoại tình chưa bao giờ nảy sinh bởi chúng không chọn lựa hôn nhân ngay từ đầu. Ví dụ như, một con khỉ cái macca Barbary(16) không đuôi trong sự cuồng nhiệt có thể giao phối không phân biệt với mọi con đực trưởng thành trong đàn của mình và trung bình một lần giao phối kéo dài khoảng 17 phút. Tuy nhiên, một vài loài có vú và phần lớn các loài chim thực hiện sự chọn lựa gần như “hôn nhân”. Đó là khi, một con đực và con cái tạo nên một cặp lâu dài để dành sự chăm sóc hay bảo vệ cho những đứa con chung của chúng. Một khi đã tồn tại “hôn nhân”, cũng sẽ có khả năng mà các nhà xã hội học - sinh vật học theo lối nói hoa mỹ gọi là: “sự theo đuổi một chiến thuật sinh sản kết hợp” (viết tắt là MRS(17)). Trong tiếng Anh cơ bản, điều đó có nghĩa là tiến hành hôn nhân trong khi đồng thời vẫn kiếm tìm tình dục ngoài giá thú.
Những động vật tồn tại quan hệ hôn nhân khác biệt rất lớn theo các mức độ mà qua đó chúng kết hợp những chiến thuật sinh sản của mình. Chúng ta xem ra không thể ghi nhận được trường hợp ngoại tình ở các loài khỉ nhân hình cỡ nhỏ là loài vượn, trong khi loài ngỗng trắng lại cho phép điều đó diễn ra thường xuyên. Tương tự như vậy, các xã hội loài người cũng rất khác nhau, nhưng tôi ngờ rằng không có loài nào có thể đạt tới sự chung thủy như ở loài đười ươi. Để đưa ra giải thích thỏa đáng cho những khác biệt này, các nhà xã hội học - sinh học nhận thấy rất hữu ích khi ứng dụng những lập luận của lý thuyết về trò chơi. Như vậy, cuộc sống được coi là một cuộc đấu tranh tiến hóa trong đó người thắng cuộc là những cá nhân đã để lại số lượng con sống sót nhiều nhất cho thế hệ sau.
Các luật lệ của cuộc đấu tranh đó được sinh thái học và sinh học sinh sản của từng loài riêng biệt đặt ra. Vấn đề là sau đó để xác định chiến thuật nào là gần nhất nhằm đi tới chiến thắng trong cuộc tranh đấu đó: sự chính xác tuyệt đối, sự pha tạp hoàn toàn hỗn độn hay là một chiến thuật kết hợp. Nhưng tôi phải làm cho một điều trở nên hoàn toàn rõ ràng ngay từ lúc bắt đầu. Trong khi cách tiếp cận về mặt xã hội học - sinh học này hiển nhiên chứng minh rằng nó rất hữu ích cho sự hiểu biết về quá trình ngoại tình ở động vật thì sự xác đáng của nó đối với việc ngoại tình ở con người cũng là một vấn đề dễ bùng nổ mà tôi sẽ quay lại sau.
Điều đầu tiên mà ai đó nhận ra khi bắt đầu nghĩ về một cuộc đấu tranh đó là chiến thuật tuyệt vời nhất lại rất khác nhau giữa giống đực và cái của cùng một loài. Điều này là bởi có hai sự khác biệt sâu sắc giữa sinh học sinh sản của con đực và con cái giữa nỗ lực sinh sản tối thiểu và cần thiết, và trong nguy cơ bị trở thành “kẻ bị cắm sừng”. Hãy cùng xem xét những khác biệt đó, và điều gì có sự tương đồng khá đau đớn với con người.
Với đàn ông, nỗ lực nhỏ nhất cần thiết để sản sinh ra thế hệ kế tiếp đó chính là quá trình giao phối, một sự tiêu tốn ngắn ngủi về thời gian cũng như năng lượng. Người đàn ông thụ tinh để làm cha của một đứa trẻ với một người đàn bà ngày nào đó, lại hoàn toàn có thể, về mặt sinh học, thụ thai cho một người đàn bà khác vào ngày kế tiếp. Tuy nhiên, với phụ nữ, cố gắng ít ỏi nhất bao gồm cả việc giao phối và mang thai (xét trong suốt lịch sử loài người) và việc bỏ ra vài năm để nuôi dưỡng - một sự tiêu tốn rất lớn lao về thời gian cũng như năng lượng. Do đó, một người đàn ông hoàn toàn có tiềm năng sinh sản ra rất nhiều con cái hơn một người đàn bà. Một vị khách ở thế kỷ XIX đã ghé thăm trong một tuần lễ cung điện của vua Nizam thuộc nước Hyderabad, vị vua chuyên chế của Ấn Độ và là người cũng có rất nhiều vợ, đã kể lại rằng bốn người vợ của Nizam đã cùng sinh nở chỉ trong vòng có tám ngày, và có thêm chín bà nữa được báo trước sẽ sinh con trong tuần kế tiếp. Kỷ lục về số lượng con có thể sinh ra trong cuộc đời của một người đàn ông là 888 đứa con, là những đứa con của Hoàng đế Molay Ismail - một kẻ khát máu của vương quốc Morocco trong khi con số tương đương ở người phụ nữ chỉ là 69 (một phụ nữ Nga ở thế kỷ XIX cực kỳ đặc biệt trong việc sinh ba). Rất ít phụ nữ có thể đạt tới việc sinh ra 20 đứa con, trong khi đàn ông lại dễ dàng đạt được điều đó trọng một xã hội đa thê.
Như là kết quả của sự khác biệt về sinh học đó, người đàn ông có khuynh hướng nhận được nhiều hơn phụ nữ từ việc ngoại tình hay tục đa thê - nếu tiêu chuẩn duy nhất của anh ta là số lượng những đứa con sinh ra. (Với các bạn đọc nữ giới muốn ngừng việc đọc ở đây vì tổn thương và độc giả nam giới thấy vui sướng vì điều này, tôi muốn cảnh báo rằng: cứ tiếp tục đọc đi, sẽ còn rất nhiều điều hơn thế cho câu hỏi về sự ngoại tình.) Với việc ngoại tình của con người, thì khó có thể có được bằng chứng mang tính thống kê một cách tự nhiên, nhưng với tục đa thê của con người thì điều này lại hoàn toàn có thể. Trong một xã hội đa phu duy nhất mà tôi có thể tìm thấy cứ liệu, bộ tộc Tre-ba ở Tây Tạng, người phụ nữ có hai ông chồng trung bình đẻ ít con hơn, chứ không phải nhiều hơn người phụ nữ chỉ có một chồng. Nhưng ngược lại, những người đàn ông nhiều vợ ở Mỹ (người Mormon(18)) vào thế kỷ XIX lại nhận thấy lợi ích rất lớn từ việc có nhiều vợ cùng một lúc, một người đàn ông với một người vợ trung bình đẻ bảy đứa con nhưng một người đàn ông có hai vợ cùng lúc trung bình có thể sinh ra tới 16 đứa, và với ba bà vợ thì con số này có thể lên tới 20. Những người đàn ông đa thê Mormon là một nhóm trung bình có 2,4 bà vợ và 15 đứa con, trong khi người đứng đầu nhà thờ của giáo phái đa thê Mormon có tới 5 bà vợ và 25 đứa con. Tương tự như trên, trong tộc người đa thê Temne ở Sierra Leone, số lượng con trung bình của một người đàn ông là trong khoảng 1,7 đến 7 trong khi số vợ của anh ta là từ 1 đến 5.
Một sự bất đối xứng về giới tính khác cần thiết cho chiến thuật giao phối có liên quan tới sự tự tin rằng về mặt sinh học một người có thể là cha, mẹ thực sự của những đứa con được cho là của họ. Một con vật bị cắm sừng, chấp nhận việc nuôi dưỡng những đứa con không phải là của mình sinh ra, và do đó, bị thua trong trò chơi của tiến hóa, trong khi lại thúc đẩy chiến thắng của một kẻ khác, người cha thực sự của đứa con đó. Nuôi dưỡng một đứa trẻ bị “hoán đổi” ở trong bệnh viện phụ sản, người mẹ không cảm thấy bị cắm sừng bởi họ nhận thấy con mình chính là đứa trẻ đó. Và cũng không thể nào có những con đực bị “cắm sừng” trong các loài động vật thực hiện việc thụ tinh ngoài (ví dụ như thụ tinh cho các quả trứng ở bên ngoài cơ thể con cái). Lấy ví dụ như, một vài con cá đực trông thấy cá cái đẻ trứng, chúng ngay lập tức phủ tinh trùng lên số trứng đó và dùng người che lên trên để bảo vệ cho chúng, và cũng là sự bảo vệ quyền làm cha của chúng. Tuy nhiên, đàn ông và các loài thú khác thực hiện thụ tinh bên trong - thụ tinh cho các quả trứng nằm bên trong cơ thể - thì điều này hoàn toàn có thể bị lừa dối. Tất cả những gì mà người cha giả định có thể biết được chắc chắn đó là tinh trùng của anh ta đã đi vàocơ thể người phụ nữ, và cuối cùng là một đứa trẻ ra đời. Chỉ bằng việc theo dõi cơ thể nữ trong toàn bộ giai đoạn thụ thai mới có thể loại trừ hoàn toàn khả năng một số tinh trùng của một người đàn ông khác có thể cũng đã vào và thực hiện việc thụ tinh thực sự.
Giải pháp tột cùng cho sự không cân xứng giản đơn này là trường hợp đã được ghi nhận trước đây ở xã hội Nayar thuộc vùng Nam Ấn. Giữa những người Nayar, phụ nữ có thể hoàn toàn tự do lựa chọn bạn tình một cách đồng thời và hệ quả là người chồng theo đó hoàn toàn mất tự tin về quyền làm cha. Cách tốt nhất để giải quyết tình huống xấu này là, một người đàn ông Nayar không sống với vợ của anh ta hay chăm sóc cho những đứa con được cho là của anh ta, thay vào đó anh ta lại sống với chị gái của mình và chăm sóc cho con của người chị này. Ít nhất, những đứa cháu trai và gái này cũng chắc chắn giống tới ¼ so với vốn gen của anh ta.
Nuôi dưỡng ý nghĩ rằng có hai thực tế đơn giản về việc bất đối xứng giới tính, chúng ta giờ đây có thể kiểm tra điều gì là chiến thuật tốt nhất cho cuộc chơi này và khi nào thi ngoại tình phải trả giá. Hãy cùng kiểm tra ba cách chơi khác nhau với sự gia tăng về độ phức tạp.
Kế hoạch trò chơi 1: Một người đàn ông có thể luôn luôn kiếm tìm sự ngoại tình, bởi anh ta mẩt rất ít mà thu lại thì rất nhiều. Xem xét hoàn cảnh săn bắt-hái lượm phổ biến trong suốt phần lơn quá trình tiến hóa của loài người, thì ở đó, một người phụ nữ nhiều nhất cũng chỉ có thể chăm sóc tối đa cho bốn đứa con của cô ta trong suốt cuộc đời. Thông qua một mối quan hệ lăng nhăng, người chồng chung thủy của cô ta có thể gia tăng khả năng sinh sản trong suốt cuộc đời mình để sinh ra từ bốn tới năm đứa con: một sự gia tăng lớn lao lên tới 25% mà chỉ tốn có vài phút. Vậy điều gì là sai lầm trong suy nghĩ đầy ngờ nghệch này?
Kế hoạch trò chơi 2: Việc đánh giá trong cùng một thời điểm dễ bộc lộ kẽ hở cơ bản nhất của Kế hoạch trò chơi 1, đó là nó chỉ quan tâm tới các lợi ích tiềm tàng của việc ngoại tình về phía người đàn ông mà lãng quên đi cái giá có thể phải trả. Cái giá hiển nhiên ấy bao gồm: sự liều lĩnh trong việc bị phát hiện và có thể bị thương hay chết bởi người chồng của người phụ nữ - được coi là bạn tình của mình trong việc ngoại tình, nguy cơ phải hứng chịu những gì đang chờ đợi từ phía người vợ thực sự của anh ta, và nguy cơ rằng những đứa con chính thống của chính bản thân lại phải đau khổ khi chịu sự bỏ mặc của anh ta. Do vậy, theo kế hoạch thứ hai, có thể nên là Casanova(19), giống như một nhà đầu tư tinh tế, khôn ngoan, nên kiếm tìm để gia tăng lợi ích cho bản thân cũng như giảm thiểu những mất mát có thể. Vậy có thể có ý nghĩ nào trở nên sáng suốt một cách hoàn toàn hay không?
Kế hoạch trò chơi 3: Người đàn ông đủ ngu ngốc để có thể hài lòng với cách chơi thứ hai sẽ hiển nhiên không bao giờ tiếp cận một người phụ nữ để đưa ra lời mời quan hệ trước hôn nhân hay ngoại tình. Nhưng tồi tệ thay, người đàn ông ngốc nghếch đó không bao giờ có thể nghĩ được về con số thống kê của những cuộc giao hợp khác giới ở người, những con số tuyên bố rằng cứ mỗi trường hợp ngoại tình ở đàn ông sẽ phải có một trường hợp ngoại tình (hay ít nhất là quan hệ tình dục tiền hôn nhân) ở phụ nữ. Kế hoạch trò chơi 1 và 2 có cùng một sai lầm là chúng đã không tính đến chiến thuật của người phụ nữ, mà nếu không có điều đó, bất cứ một chiến thuật nào của đàn ông tất sẽ phải thất bại. Vậy một Kế hoạch trò chơi 3 có cải tiến phải kết hợp cả chiến thuật của nam giới cũng như nữ giới. Nhưng một khi người chồng có đủ khả năng đáp ứng tối đa tiềm năng sinh sản của vợ mình, thì điều gì có thể hấp dẫn người phụ nữ với các cuộc ngoại tình hay quan hệ trước hôn nhân? Câu hỏi này đánh đố thế hệ các nhà lý thuyết xã hội học sinh học gần đây với mối quan tâm hoàn toàn mang tính chất trí tuệ trong vấn đề ngoại tình, như thế nó phải trả giá cho sự khéo léo của người đàn ông có thể ngoại tình trong suốt quá trình lịch sử của loài người.
Để đi xa hơn trong công cuộc thăm dò về mặt lý thuyết của Kế hoạch trò chơi 3, chúng ta cần các số liệu chi tiết thực tế về ngoại tình. Bởi ai cũng biết các khảo sát về thói quen tình dục của con người đều không đáng tin, vì thế trước tiên chúng ta hãy xét một số nghiên cứu mới công bố về loài chim làm tổ theo cặp giao phối trong đàn lớn. Chim là nhóm động vật có tập tính giao phối giống với chúng ta nhất, thậm chí giống hơn cả khỉ nhân hình, người họ hàng gần nhất của chúng ta. So với loài người, chim có bất lợi là ta không thể hỏi chúng về động lực của việc ngoại tình, tuy nhiên, đây cũng không phải là một thiệt thòi quá lớn bởi dù sao câu trả lời của chính chúng ta cũng là những lời nói dối. Ưu điểm lớn nhất của các loài chim sống theo bầy đàn đối với nghiên cứu về ngoại tình là ta có thể tập hợp chúng lại thành đàn rồi chỉ cần đứng gần quan sát hàng trăm giờ đồng hồ để xem chính xác con chim nào làm gì với những con khác. Ta không thể có được những thông tin tương tự như thế khi nghiên cứu trên một nhóm đông người.
Những quan sát quan trọng gần đây về quan hệ ngoại tình ở các loài chim được thực hiện trên năm loài thuộc chi diệc, mòng biển và ngỗng. Tất cả năm cái tổ trong một bầy đàn đông đúc đều được dựng nên bởi các cặp đực - cái trên danh nghĩa là một cặp chồng - vợ. Chỉ một mình chim bố hoặc chim mẹ thì không thể nuôi nấng con non được vì khi nó đi kiếm ăn, chiếc tổ không được bảo vệ đó rất có thể bị tấn công. Cũng như vậy, một con chim bố đơn độc cũng không thể kiếm ăn hay bảo vệ cho hai chiếc tổ cùng lúc. Chính vì thế các nguyên tắc cho chiến lược giao phối ở những loài chim sống thành bầy đàn này là: không thể có nhiều vợ cùng một lúc, việc giao cấu cùng với một con chim cái chưa kết đôi là vô nghĩa, trừ khi con chim đó sớm tìm được bạn đời để chăm sóc cho những đứa con của mình, tuy nhiên, việc giao cấu bí mật giữa một chim đực với người bạn đời của một chim đực khác lại là một chiến lược có thể tồn tại được.
Nghiên cứu đầu tiên là về các loài diệc xanh lớn và diệc bạc lớn ở đảo Hog, thuộc bang Texas. Ở những loài này, chim đực xây tổ rồi sống ở đó và ve vãn những con chim cái. Cuối cùng khi một chim đực và một chim cái chấp nhận nhau, chúng sẽ giao cấu khoảng 20 lần. Sau đó, chim cái sẽ đẻ trứng và dành hầu hết thời gian ban ngày ở ngoài để kiếm ăn, trong khi đó, chim đực sẽ ở lại để bảo vệ tổ và trứng. Trong một hoặc hai ngày đầu sau giao cấu, chim đực thường tiếp tục ve vãn bất kỳ con chim cái nào khác bay qua ngay khi bạn đời của nó đi kiếm ăn, nhưng không dẫn đến ngoại tình. Thay vào đó, hành động lừa dối một nửa đó lại tạo nên “bảo hiểm khi ly dị”, đảm bảo một người bạn đời dự phòng cho nó trong trường hợp chim cái bỏ đi (tỷ lệ chim cái bỏ đi lên tối 20% số cặp). Trong khi đó, chim cái “dự phòng” vẫn tiếp tục cuộc ve vãn mà không hề hay biết, nó đi tìm bạn đời và không tài nào biết được con chim đực kia đã giao cấu hay chưa cho đến khi bạn đời thực sự của chim đực trở về (chim cái thường bay về khá thường xuyên) và đuổi chim cái “dự phòng” đi. Cuối cùng, khi chim đực có đủ tự tin rằng nó sẽ không bị bỏ rơi, nó sẽ thôi không tán tỉnh những chim cái khác bay qua nữa.
Nghiên cứu thứ hai là về những chú diệc xanh nhỏ ở Mississipi, hành vi cư xử có lẽ có nguồn gốc như với “bảo hiểm ly dị” trở nên quan trọng hơn nhiều. Có 62 trường hợp ngoại tình được ghi nhận, chủ yếu là giữa chim cái ở tổ của nó và chim đực ở tổ bên cạnh khi bạn đời của con chim cái này đang mải mê kiếm mồi. Ban đầu, hầu hết các chú chim cái đều kháng cự nhưng sau đó đều không phản đối nữa, thậm chí một số chim cái còn ngoại tình nhiều hơn là làm tình với bạn đời của chúng. Để giảm nguy cơ bị cắm sừng, chim đực đi kiếm mồi thật nhanh để có thể thường xuyên quay về tổ trông chừng bạn đời, và cũng không kiếm ăn xa hơn những con chim ở các tổ lân cận đang có mong muốn tìm kiếm sự ngoại tình. Ngoại tình thường xảy ra vào lúc chim cái chưa kết thúc việc đẻ trứng, có nghĩa là vẫn có thể thụ tinh. Tuy nhiên, việc ngoại tình thường diễn ra nhanh hơn khi giao cấu với bạn đời (tới tám lần trong có 12 giây), do đó, có thể hiệu quả thụ tinh không cao bằng, rồi sau đó gần như một nửa số tổ có xuất hiện hiện tượng ngoại tình bị bỏ mặc.
Trong số các loài mòng biển ở hồ Michigan(20), 35% số con đực đã có bạn đời bị phát hiện là đã ngoại tình. Tỷ lệ này gần giống với tỷ lệ 32% các ông chồng trẻ người Mỹ ngoại tình được công bố trong một nghiên cứu của tạp chí Playboy năm 1974. Nhưng lại có sự khác biệt rất lớn giữa hành động của mòng biển cái và của các cô vợ. Trong khi tạp chí Playboy công bố tỷ lệ ngoại tình ở các cô vợ trẻ người Mỹ là 24% thi tất cả mòng biển cái đều từ chối dứt khoát những lời tán tỉnh của các chú mòng biển khác và không bao giờ gạ gẫm những người hàng xóm khi bạn đời của mình vắng mặt. Thay vào đó, tất cả các trường hợp mòng biển đực ngoại tình đều liên quan tới mòng biển cái chưa chồng, đang tập ngoại tình. Để làm giảm rủi ro bị bỏ rơi, mòng biển đực dành nhiều thời gian cho việc xua đuổi những kẻ xâm phạm tổ của nó khi chim cái đang đẻ trứng hơn lúc là không đẻ trứng. Nó làm thế để giữ được niềm tin của chim cái khi nó đi ngoại tình, bí mật của nó gồm cả việc chăm sóc chim cái chu đáo và giao phối thường xuyên khi chim cái mong muốn - cũng giống như bí mật của một số đàn ông đã có vợ theo đuổi kế hoạch sinh sản phối hợp.
Các số liệu chi tiết cuối cùng của chúng tôi là về tập tính sinh sản ở loài ngỗng tuyết ở Manitoba(21). Cũng như đã giải thích trong trường hợp của loài diệc xanh nhỏ, việc ngoại tình ở ngỗng tuyết chủ yếu là do con đực tiếp cận với ngỗng cái ở tổ bên cạnh khi bạn đời của chú ngỗng tuyết cái này vắng mặt tuy ban đầu con cái đó cũng kháng cự. Về phần mình, ngỗng đực cũng vắng mặt thường xuyên vì thực chất nó cũng đang ở ngoài để tìm kiếm ngoại tình. Do vậy, có vẻ như những gì ngỗng đực mất đi cũng nhiều như những gì nó có thêm được, nhưng thật ra nó cũng không hề ngốc. Khi ngỗng cái vẫn đang đẻ trứng, nó luôn ở bên cạnh để canh gác. (Ngỗng cái bị gạ gẫm ít hơn 50 lần khi có mặt chồng so với lúc không có mặt chồng). Chỉ khi ngỗng cái đã đẻ trứng xong, con đực mới đi tìm kiếm ngoại tình trong khi cương vị làm cha vẫn được bảo đảm ở nhà.
Những nghiên cứu về các loài chim trên đã cho thấy giá trị của phương pháp tiếp cận khoa học này đối với việc ngoại tình. Các nghiên cứu đã cho thấy một loạt những chiến lược phức tạp mà chim đực đi ngoại tình đã cố gắng giành được bằng cả hai cách, vừa có được sự chắc chắn về quan hệ cha con ở nhà, vừa gia tăng thêm số con cháu ở bên ngoài. Chiến lược đó bao gồm, tán tỉnh con cái chưa có chồng để có được “bảo hiểm khi ly dị”, chừng nào mà nó còn không tín chắc về lòng chung thủy của con cái, là cho ăn đầy đủ và giao cấu thường xuyên để có được sự chung thủy của con cái khi nó vắng mặt, và tán tỉnh vợ của hàng xóm khi con cái đó đang có khả năng sinh sản trong khi vợ của nó đã không còn khả năng sinh sản. Tuy nhiên, kể cả sức mạnh của những ứng dụng của phương pháp khoa học này cũng không đủ để cho thấy các con chim cái ngoại tình nếu có. Một câu trả lời có thể có được là việc chim diệc cái chịu sự ruồng bỏ của chim đực có thể đi ngoại tình để tìm một chim đực khác. Cũng có thể là một số mòng biển cái chưa chồng trong bầy vì không có chim đực nên đã chấp nhận ngoại tình, và sau đó thì cố gắng nuôi con với sự giúp đỡ của một chim cái có hoàn cảnh tương tự.
Giới hạn quan trọng nhất của những nghiên cứu này là chim cái thường có vẻ như bất đắc dĩ mới ngoại tình. Để hiểu được vai trò chủ động hơn của con cái, chúng ta không còn lựa chọn nào khác hơn là quay lại với các nghiên cứu về con người, mà điều này còn rất bí ẩn bởi có những vấn đề như sự đa dạng về văn hóa, tính chủ quan của người quan sát, và sự hồ nghi độ tin cậy của các câu trả lời trong cuộc khảo sát.
Các cuộc khảo sát so sánh đàn ông và phụ nữ ở những nền văn hóa khác nhau rải rác trên khắp thế giới chủ yếu để tìm những khác biệt sau: đàn ông thích thú với việc ngoại tình hơn phụ nữ, đàn ông thích tìm những người bạn tình khác nhau hơn phụ nữ chính là do tính muôn màu của đàn ông, động cơ ngoại tình của phụ nữ thường là do sự thất vọng trong hôn nhân hoặc là do mong muốn có một mối quan hệ mới lâu dài, và đàn ông thì ít khi lựa chọn bạn tình cẩn thận như phụ nữ. Ví dụ như, trong số những người dân vùng cao nguyên New Guinea mà tôi làm việc cùng, một người đàn ông sẽ nói rằng anh ta ngoại tình vì quan hệ với vợ (hay thậm chí nhiều vợ, trong trường hợp đa thê) rõ ràng đã trở nên nhàm chán, trong khi đó, một phụ nữ ngoại tình chủ yếu là do người chồng không thể thỏa mãn được mình (ví dụ như do tuổi tác). Trong bản thăm dò mà vài trăm thanh niên Mỹ điền cho một dịch vụ hẹn hò qua mạng máy tính, phụ nữ biểu lộ sự ưa thích những bạn tình có nhiều ưu điểm hơn ở hầu hết các phương diện như trí thông minh, địa vị, khả năng khiêu vũ, tôn giáo, sắc tộc vv… so với nam giới đòi hỏi từ người bạn tình. Chỉ có một phương diện đàn ông đòi hỏi khắt khe hơn phụ nữ, đó là sự quyến rũ về mặt thể xác. Sau khi hẹn hò, họ điền vào bản thăm dò “phỏng vấn ngắn” và kết quả là số đàn ông thể hiện sự quyến rũ lãng mạn mạnh mẽ nhiều hơn gấp 2,5 lần so với phụ nữ. Vì thế, phụ nữ là người kén chọn hơn, còn đàn ông lại dễ tính hơn trong đối xử với bạn tình.
Rõ ràng là chúng ta đang đứng trên một mặt bằng dao động nếu chờ đợi một câu trả lời trung thực khi chúng ta hỏi người khác quan điểm của họ về ngoại tình. Tuy nhiên, con người cũng bày tỏ quan điểm của mình về luật pháp và tập tính. Cụ thể là một số đặc điểm phổ biến và có tính đạo đức giả và tàn ác của xã hội loài người xuất phát từ hai khó khăn chủ yếu mà con người gặp phải khi tìm kiếm ngoại tình. Thứ nhất, đó là một người đàn ông theo đuổi chiến thuật sinh sản kết hợp (MRS) nhằm cố gắng đạt được nó bằng cả hai cách: anh ta mong muốn quan hệ với vợ của người khác, trong khi đó lại không chấp nhận việc vợ hoặc các bà vợ của mình quan hệ với người đàn ông khác. Vì thế, một số đàn ông chắc chắn có lợi trên sự thiệt thòi của những người đàn ông khác. Thứ hai, như chúng ta đã thảo luận, có một cơ sở sinh học hiện thực cho bệnh hoang tưởng rất phổ biến ở đàn ông về chuyện mình bị cắm sừng.
Các bộ luật về ngoại tình đã cung cấp một minh chứng rõ ràng về việc đàn ông cư xử ra sao với những tình huống khó xử này. Thậm chí cả đến gần đây, hầu hết các bộ luật của người Hebrew, Ai Cập, La Mã, Aztec, Hồi giáo, các nước châu Phi, Trung Quốc, Nhật Bản… về cơ bản là không cân xứng. Các bộ luật này tồn tại để củng cố lòng tự tin của một người đàn ông đã lập gia đình về quan hệ huyết thống với các con của mình chứ không vì bất kỳ mục đích nào khác. Vì thế những bộ luật này định rõ tội ngoại tình bằng cách dựa vào tình trạng hôn nhân của người phụ nữ có liên quan chứ không phải của người đàn ông có liên quan. Việc người phụ nữ ngoại tình được coi là sự phản bội lại chồng của cô ta, trong khi đó người chồng lại được quyền gây tổn hại, thường là sự trả thù hung bạo hay ly dị với khoản bồi thường giá trị của người vợ. Việc đàn ông ngoại tình lại không được coi là sự phản bội lại vợ. Thay vào đó, nếu người tình của anh ta đã kết hôn, thì sự phản bội ở đây là của người phụ nữ đối với chồng mình; còn nếu cô ta chưa kết hôn, sự phản bội là đối với bố hay các anh trai (vì giá trị của cô ta trong vai trò cô dâu trong tương lai đã bị suy giảm).
Chưa hề có một luật hình sự nào chống lại sự không chung thủy của đàn ông cho đến khi một bộ luật của Pháp được ban hành vào năm 1810, nhưng luật này cũng chỉ ngăn cấm đàn ông đã lập gia đình cho phép vợ lẽ sống trong nhà của người vợ hợp pháp mà không có sự đồng ý của người vợ hợp pháp đó. Xem xét từ triển vọng của lịch sử loài người, việc không tồn tại hay tương đối cân bằng trong các bộ luật về ngoại tình của xã hội phương Tây là một sự mới lạ mà chỉ mới xuất hiện trong 150 năm trở lại đây. Thậm chí đến ngày nay, các công tố viên, thẩm phán và hội đồng thẩm đoàn ở Mỹ và Anh vẫn thường giảm tội giết người xuống tội ngộ sát ở mức thấp nhất, thậm chí tuyên bố trắng án nếu một người đàn ông giết vợ hay người tình của anh ta khi anh ta bắt quả tang họ đang ngoại tình.
Có lẽ hệ thống tỉ mỉ nhất nhằm duy trì sự tin tưởng về quan hệ huyết thống là bộ luật được ban hành bởi các hoàng đế Trung Hoa triều nhà Đường. Với từng người trong số hàng trăm phi tần của một vị hoàng đế lại có một đội các cung nữ chuyên làm nhiệm vụ ghi chép lại chu kỳ kinh nguyệt để hoàng đế có thể quan hệ với phi tần vào ngày thích hợp nhất cho sự thụ thai. Ngày tháng quan hệ cũng được ghi chép lại và còn được củng cố thêm bởi một hình xăm vĩnh viễn trên cánh tay và một chiếc vòng bạc đeo ở chân trái. Và một luật lệ bất thành văn rằng cấm bất kỳ người đàn ông thực sự nào ngoại trừ hoàng đế ra vào chốn hậu cung.
Đàn ông thuộc các dân tộc khác phải dùng đến những phương thức ít phức tạp hơn nhưng thậm chí ghê gớm hơn để đảm bảo quan hệ huyết thống với các con của mình. Những phương thức này dùng để hạn chế những hành động tính dục đi quá giới hạn của những người vợ, hoặc con gái, em gái, những người mà đáng ra giá phải trả để mua về làm vợ cao hơn nếu được chứng minh vẫn còn trinh. Các phương thức tương đối nhẹ nhàng bao gồm việc giám sát chặt chẽ hay gần như là giam cầm người phụ nữ. Những mục đích tương tự được thực hiện bởi chuẩn mực “danh giá và ô nhục” rất phổ biến ở các nước vùng Địa Trung Hải. (Được hiểu là: Việc ngoại tình là dành cho tôi không phải dành cho cô (phụ nữ), và chỉ sự ngoại tình của những người vợ mới là nỗi ô nhục đối với phẩm giá của người chồng.) Các phương thức cứng rắn hơn bao gồm hành hung, hay nói một cách hoa mỹ và sai lạc là “triệt sản ở phụ nữ”. Những cách này bao gồm việc cắt âm vật hay hầu hết cơ quan sinh dục ngoài của nữ giới để giảm hứng thú tình dục trong quan hệ trong hay ngoài hôn nhân. Đàn ông dựa vào cách bịt âm vật hoàn toàn đã sáng tạo nên cách triệt sản rất đáng tin cậy: khâu môi âm vật thành gần như đóng kín, để người phụ nữ không thể quan hệ. Một người vợ bị bịt âm hộ có thể được mở âm hộ để sinh con hay có thể quan hệ lại sau khi đứa trẻ đã cai sữa, và có thể lại bịt lại khi người chồng đi vắng lâu ngày. Phương pháp triệt sản và bịt âm hộ nữ vẫn được sử dụng ở 23 quốc gia ngày nay, từ châu Phi tới các quốc gia Arab Saudi cho đến Indonesia.
Khi những bộ luật về ngoại tình, sự ghi chép của cung đình và việc giam giữ cưỡng ép vẫn không đủ để đảm bảo quan hệ huyết thống của cha con, phương sách cuối cùng được dùng đến là giết hại. Các nghiên cứu ở nhiều thành phố của nước Mỹ và nhiều quốc gia khác cho thấy tính ghen tuông là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất của các vụ giết người nổi lên trong những nghiên cứu ở rất nhiều thành phố thuộc nước Mỹ và rất nhiều các quốc gia khác. Thông thường, kẻ giết người là người chồng còn nạn nhân là người vợ ngoại tình hay người tình của cô ta, hoặc là người tình sát hại chồng. Bảng ở trang sau cho thấy con số thật của những vụ giết người ở thành phố Detroit trong năm 1972. Cho đến khi hình thành nên nhà nước có nền chính trị tập trung, mà ở đó xuất hiện những người lính với những động cơ cao thượng, thì sự ghen tuông cũng luôn xuất hiện trong lịch sử loài người như một nguyên nhân gây nên chiến tranh. Việc Paris quyến rũ (bắt đi, chiếm đoạt) Helen, vợ của Menalaus đã gây ra cuộc chiến thành Troy. Ở vùng cao New Guinea hiện nay, chỉ có những tranh chấp về quyền sở hữu đàn lợn mới có thể cạnh tranh nổi với tranh chấp về tình dục trong nguyên nhân gây ra chiến tranh.
Những điều luật không cân xứng về tội ngoại tình, việc xăm lên da vợ sau khi quan hệ, sự giam cầm về hình thức, cắt bộ phận sinh dục nữ: những hành vi này duy nhất chỉ có ở loài người, dùng để định nghĩa về bản chất của loài người chẳng kém gì việc phát minh ra bảng chữ cái. Nói một cách chính xác hơn, đó chính là công cụ mới mà loài người sử dụng để đạt được những mục đích tiến hóa từ xưa, đó là củng cố hệ gen của họ. Một số công cụ khác cũng để đạt được mục đích trên là những phương thức cổ xưa mà cũng có ở nhiều động vật bao gồm sát hại do ghen tuông, giết hại trẻ sơ sinh, chiếm đoạt, xung đột giữa các nhóm, và bản thân việc ngoại tình. Người ta triệt sản bằng cách bịt âm đạo rồi khâu lại, ở một số động vật cũng đạt được kết quả tương tự bằng cách bịt âm đạo của con cái sau khi giao hợp.
Thống kê các vụ giết người do ghen tuông ở thành phố Detroit, Hoa Kỳ trong năm 1972
Tổng số: 58 vụ án mạng
47 vụ án mạng liên quan đến người đàn ông ghen tuông:
16 vụ: người đàn ông đánh ghen sát hại người phụ nữ không chung thủy
17 vụ: người đàn ông đánh ghen sát hại tình địch
9 vụ: người đàn ông đánh ghen bị sát hại bởi người phụ nữ bị buộc tội
2 vụ: người đàn ông đánh ghen bị sát hại bởi họ hàng của người phụ nữ bị buộc tội
2 vụ: người đàn ông đánh ghen sát hại người tình đồng tính không chung thủy
1 vụ: người đàn ông đánh ghen sát hại người ngoài cuộc vô tội một cách ngẫu nhiên
11 vụ án mạng liên quan đến người phụ nữ ghen tuông:
6 vụ: người phụ nữ đánh ghen sát hại người đàn ông không chung thủy
3 vụ: người phụ nữ đánh ghen sát hại tình địch
2 vụ: người phụ nữ đánh ghen bị sát hại bởi người đàn ông bị buộc tội
Các nhà sinh học xã hội đã có những thành công đáng kể trong việc tìm hiểu những khác biệt rõ rệt giữa các loài động vật một cách chi tiết của những tập tính này. Do đây là kết quả của những nghiên cứu mới nhất nên không nghi ngờ gì nữa, ta có thể kết luận rằng chọn lọc tự nhiên khiến động vật tiến hóa về tập tính cũng như cấu trúc giải phẫu theo xu hướng nhằm tăng số lượng con cháu nhiều nhất. Một số ít các nhà khoa học vẫn còn nghi ngờ về việc chọn lọc tự nhiên khuôn đúc nên cấu trúc giải phẫu của con người. Tuy nhiên, không có giả thuyết nào tạo nên sự tranh cãi gay gắt giữa những nhà sinh vật học bạn tôi như giả thuyết chọn lọc tự nhiên cũng nhào nặn nên tập tính xã hội của chúng ta. Hầu hết các tập tính của loài người được bàn luận trong chương này bị xã hội phương Tây hiện đại coi là dã man. Một số nhà sinh vật học đang lạc lõng không chỉ bởi vì cách cư xử của bản thân họ mà còn bởi vì những giải thích mang tính sinh học xã hội đối với sự tiến hóa của tập tính. Để “giải thích” một tập tính dường như cũng không dễ dàng như việc bảo vệ nó.
Cũng giống như vật lý nguyên tử hay tất cả các lĩnh vực khác, sinh học xã hội có thể bị lạm dụng. Con người chưa bao giờ thiếu lý do để thanh minh cho việc lạm dụng hay giết hại người khác, nhưng từ khi Darwin xây dựng học thuyết tiến hóa, nguyên nhân tiến hóa cũng bị lạm dụng như một cái cớ. Chúng ta thấy các cuộc thảo luận sinh học xã hội về bản năng giới tính của con người như để tìm kiếm lời thanh minh về sự lạm dụng của đàn ông đối với phụ nữ, cũng tương tự như lời bào chữa mang tính sinh học cho sự đối xử của người da trắng với người da đen hay sự đối xử của quân đội Quốc xã với người Do Thái. Trong các bài phê bình của một số nhà sinh vật đưa ra về khoa học sinh học xã hội, có hai nỗi lo sợ đã xuất hiện trở lại: đó là một cơ sở tiến hóa được chứng minh cho tập tính dã man có vẻ có thể bào chữa cho tập tính này, và một cơ sở di truyền học đã được chứng minh cho tập tính gợi ý về những nỗ lực thay đổi vô ích.
Theo quan điểm của tôi, không có nỗi lo sợ nào được chứng thực. Đối với nỗi lo sợ thứ nhất, ai đó có thể tìm hiểu xem một việc gì đó phát sinh thế nào bất kể người đó coi việc đó là tốt đẹp hay xấu xa. Hầu hết các cuốn sách phân tích động cơ của các vụ mưu sát đều không được viết để cố gắng bào chữa cho tội giết người, thay vào đó là để tìm hiểu nguyên nhân phạm tội, và đâu là cách ngăn chặn nó. Đối với nỗi lo sợ thứ hai, chúng ta không phải chỉ là nô lệ cho các đặc điểm tiến hóa của chúng ta, kể cả những đặc điểm di truvền có được. Nền văn minh hiện đại rõ ràng đã thành công trong việc ngăn chặn những tập tính cổ xưa như giết hại trẻ sơ sinh. Một trong những mục tiêu chính của y học hiện đại là để ngăn chặn tác dụng của những gen và vi sinh vật có hại, mặc dù chúng ta sẽ phải hiểu tại sao những gen và vi sinh vật đó rất tự nhiên, lại có khuynh hướng làm hại chúng ta. Vì thế, trường hợp chống lại việc bịt âm đạo không bị suy sụp kể cả khi mưu đồ đó có thể được chứng minh là có lợi về mặt di truyền học cho người đàn ông làm việc đấy. Thay vào đó, chúng ta kết tội nó vì chúng ta tin rằng việc làm tổn thương của người này đối với người khác là đáng ghê tởm về mặt đạo đức.
Trong khi sinh học xã hội có ích trong viêc tìm hiểu bối cảnh tiến hóa của tập tính xã hội loài người, cách tiếp cận này vẫn không thể tiến xa hơn. Mục đích của tất cả hoạt động của con người không thể bị suy giảm đi chỉ còn những con cháu còn lại. Một khi văn hóa của con người chắc chắn ở đúng chỗ, nó sẽ đạt được những mục đích mới. Ngày nay, nhiều người cân nhắc xem có nên có con không và nhiều người đã quyết định dành thời giờ và năng lượng của họ cho các hoạt động khác. Tôi chỉ khẳng định rằng nguyên nhân tiến hóa có giá trị cho việc tìm hiểu nguồn gốc của các âm mưu xã hội của loài người, mà tôi không chắc chắn rằng đó là cách duy nhất để hiểu trạng thái hiện tại của con người.
Tóm lại là chúng ta cũng đã tiến hóa giống với các loài động vật khác để giành chiến thắng trong cuộc đấu tranh để sản sinh nhiều con cái hết mức có thể. Rất nhiều dấu tích của chiến lược trò chơi đó vẫn còn ở lại với chúng ta. Nhưng chúng ta cũng đã chọn cách theo đuổi mục tiêu đạo đức, mà có thể đối lập với những mục tiêu và phương pháp của cuộc đấu tranh sinh sản của chúng ta. Sự lựa chọn mục tiêu đó tiêu biểu cho sự phân ly gốc rễ của chúng ta với những loài động vật khác.