Những hậu quả về sức khỏe của việc từ bỏ săn bắt, dành thời gian cho trồng trọt nông nghiệp đã được thể hiện chi tiết trong cuốn sách được biên tập bởi Mark Cohen và George Armclagos, Paleopathology at the Origins of Agriculture (Orlando: Academic Press, 1984), và còn có trong cả cuốn The Paleolithic Prescription (New York: Harper & Row, 1988) được viết bởi S. Boyd Eaton, Marjorie Shostak và Melvin Konner. Những con người săn bắt-hái lượm từng sinh sống trên Trái đất cũng được tổng kết trong cuốn sách của Richard B. Lee và Irven DeVore, Man the Hunter (Chicago: Aldine, 1968). Những tài liệu có liên quan mô tả thời gian biểu công việc của người săn bắt-hái lượm, và trong một số trường hợp có sự so sánh chúng với công việc của người nông dân, cũng được tìm thấy trong cuốn sách trên, cùng với đó là cuốn sách của Richard Lee The Kung San (Cambridge, Mass.: Cambridge University Press, 1979), và những bài báo sau đây: K. Hawkes và cộng sự, “Ache at the settlement: contrasts between farming and foraging,” Human Ecology 15: 133-161 (1987); K. Hawkes và cộng sự, “Hardworking Hadza grandmothers,” trang 341-366 in trong tạp chí Comparative Socioecology of Mammals and Man, biên tập bởi V. Standen và RFoley (London: Black well, 1987); và K. Hill và A. M. Hurtado, “Hunter-gaiherers of the New World,” American Scientist 77; 437-443 (1989). Sự mở rộng chậm chạp của những người nông dân thời kỳ cổ đại lan rộng khắp châu Âu được mô tả trong cuốn sách của Albert J. Ammerman và L. L. Cavalli- Sforza, The Neolithic Transition and the Genetics of Populations Europe (Princeton: Princeton University Press, 1984).
Chương 11TẠI SAO CHÚNG TA LẠI HÚT THUỐC,UỐNG RƯỢU VÀ SỬ DỤNG CÁC CHẤTGÂY NGHIỆN NGUY HIỂM?
Amotz Zahavi giải thích học thuyết về những khuyết tật của ông trong hai bài báo: “Mate selection - a selection for a handicap,” Journal of Theoretical Biology 53: 205-214 (1975), và “The cost of honesty (further remarks on the handicap principle),” Journal of Theoretical Biology 67: 603-605 (1977). Có hai mô hình nổi tiếng khác về việc bằng cách nào mà các loài động vật tiến hóa được để chọn lựa những người bạn đời của chúng đó là mô hình chọn lựa chạy trốn và mô hình trưng bày dựa vào sự thật. Mô hình đầu tiên được phát triển trong cuốn sách của R. A. Fisher, The Genetical Theory of Natural Selection (Oxford: Clarendon Press, 1930); còn mô hình tiếp sau thì được đề cập tới trong bài báo, “Truth in advertising: the kinds of traits favored by sexual selection,” được viết bởi A. Kodric-Brown và J. H. Brown đăng trong tạp chí American Naturalist 14: 309- 323 (1984). Rất nhiều những mô hình khác nhau đã được Mark Kirkpatrick và Michael Ryan đánh giá thông qua bài báo, “The evolution of mating preferences, and the paradox of the lek,” Nature 350: 33-38 (1991). Melvin Konner thì phát triển một hướng đi khác về những hành vi mạo hiểm của con người trong một chương có tựa đề “Why the reckless survive” được trích ra từ cuốn sách có cùng tên của ông (New York: Viking, 1990). Còn đối với vấn đề tranh cãi về những cuộc cúng tế của thổ dân da đỏ châu Mỹ, hãy thử tìm hiểu những bằng chứng của các buổi lễ cúng tế của thổ dân được Maya Peter Furst và Michael Coe phát hiện và mô tả trong bài báo của họ “Ritual enemas,” Natural History Magazine 86; 88-91 (March 1977); trong cuốn sách của Johannes Wilbert “Tobacco and Shamanism in South America” (New Haven: Yale University Press, 1987); và Justin Kerr trong bài báo mang tên: The Maya Vase Book (số 2. New York: Kerr Associates, 1989 và 1990), đã minh họa những chiếc bình của người Maya và phân tích chi tiết một chiếc bình dùng cho việc cúng tế ở trang 349-361, số 2. Những tư liệu cung cấp thêm cũng rất quan trọng cho phần tìm đọc thêm chính là những tài liệu đã được đề cập tới về chọn lọc tình dục và sự lựa chọn bạn tình của con cái trong chương 5 và 6.