Loài Tinh Tinh Thứ Ba

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 61 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần Kết Không Học Hỏi Được Gì Và Mọi Thứ Đã Rơi Vào Quên Lãng
Phần Kết Không Học Hỏi Được Gì Và Mọi Thứ Đã Rơi Vào Quên Lãng

❊ ❊ ❊

Giờ đây, hãy cùng đưa ra một kết luận về đề tài của cuốn sách bằng cách lần tìm lại quá trình phát triển của chúng ta cách đây 3.000.000 năm cũng như việc chúng ta đang chớm đảo ngược quá trình phát triển ấy trong thòi gian gần đây.

Những dấu hiệu khác thường đầu tiên của tổ tiên chúng ta trong bất cứ khía cạnh nào so với các loài vật chính là những công cụ bằng đá cực kỳ thô sơ, bắt đầu xuất hiện ở châu Phi khoảng 2.500.000 năm về trước. Số lượng những công cụ được tìm thấy cho thấy chúng đã bắt đầu đóng vai trò quan trọng và thường xuyên trong cuộc sống của loài người thời đó. Trong khi đó, những người họ hàng gần gũi của chúng ta, loài gorilla và tinh tinh lùn lại không sử dụng công cụ, còn loài tinh tinh thường thì đôi khi tạo ra một vài công cụ thô sơ nhưng hiếm khi dựa vào những dụng cụ này để tồn tại.

Mặt khác, những dụng cụ thô sơ của tổ tiên chúng ta không thúc đẩy bất cứ bước tiến vĩ đại nào trong những thành công của con người với tư cách một loài. Trong vòng 1.500.000 năm tiếp theo, chúng ta vẫn chỉ sống ở châu Phi. Khoảng 1.000.000 năm trước đây, loài người đã cố gắng di chuyển đến những vùng ấm hơn của châu Âu và châu Á, và vì thế đã trở thành loài có khu phân bố rộng nhất trong số ba loài tinh tinh nhưng vẫn còn thưa thớt hơn so với loài sư tử. Những công cụ của chúng ta có nhiều tiến bộ nhưng còn ở tốc độ vô cùng chậm chạp, từ vô cùng thô sơ đã chuyển sang hết sức thô sơ. ít nhất khoảng 100.000 năm trước, những cư dân cổ đại ở châu Âu và Tây Á, người Neanderthal đã biết dùng lửa thường xuyên. Tuy nhiên, trong những khía cạnh khác, chúng ta vẫn chỉ được coi như một loài động vật có vú lớn mà thôi. Chúng ta chưa phát triển những dấu tích của nghệ thuật, một nền nông nghiệp hay công nghệ cao. Không biết rằng có phải chúng ta đã phát triển ngôn ngữ, thói nghiện ngập, hay những thói quen tình dục hiện đại lạ lùng và vòng đời hay chưa, nhưng người Neanderthal ít khi sống quá tuổi 40 và vì thế có lẽ còn chưa phát triển thời kỳ mãn kinh ở phụ nữ.

Ví dụ rõ ràng của Bước nhảy vọt Vĩ đại trong cách thức cư xử của chúng ta xuất hiện đột ngột ở châu Âu khoảng 40.000 năm trước đây, trùng khớp với sự xuất hiện của giống người hoàn toàn hiện đại về mặt giải phẫu Homo sapien từ châu Phi cho tới khu vực Viễn Đông. Tại thời điểm đó, chúng ta bắt đầu trưng bày nghệ thuật, công nghệ dựa trên những dụng cụ chuyên môn hóa, sự khác biệt về nền văn hóa giữa các vùng và cùng với thời gian là những phát kiến về văn hóa. Bước nhảy vọt trong cách thức cư xử chắc chắn đã được phát triển ngoài châu Âu, nhưng sự phát triển trên chắc hẳn đã diễn ra rất nhanh, bởi vì giống người hiện đại về mặt giải phẫu Homo sapien sống ở Nam Phi 100.000 năm trước đây chỉ mới là một loài tinh tinh cực kỳ thông minh như đánh giá qua những gì được tìm thấy ở các hang động nơi họ sống. Dù điều gì đã gây nên bước nhảy vọt này, nó chắc hẳn phải liên quan đến sự biến đổi nhỏ của gen chúng ta, bởi gen chúng ta vẫn khác các loài động vật nhân hình 1,6%, và phần lớn các khác biệt khác đã phát triển rất lâu trước khi có bước nhảy vọt về thái độ. Tiên đoán khả dĩ nhất mà tôi có thể đưa ra, là bước nhảy vọt này đã nảy sinh do sự hoàn hảo trong khả năng ngôn ngữ hiện đại của loài người.

Mặc dù chúng ta thường nghĩ đến người Cro-Magnon như là những người đầu tiên mang những đặc điểm cao quý của chúng ta, thì họ cũng thể hiện hai đặc điểm chiếm giữ phần mấu chốt trong những vấn đề hiện tại của con người, xu hướng tàn sát nhau hàng loạt và phá hủy môi trường. Thậm chí ngay trước thời kỳ của người Cro-Magnon, sọ người hóa thạch bị đâm thủng bởi những vật nhọn hoặc đập vỡ để lấy não đã minh chứng cho việc tàn sát và tục ăn thịt người. Sự biến mất đột ngột của người Neanderthal sau khi có sự xuất hiện của người Cro-Magnon đã gợi ý rằng nạn diệt chủng lúc đó đã trở nên rất rõ rệt. Khả năng của con người trong việc phá hủy các nền tảng tài nguyên cơ bản được đưa ra cùng với sự tuyệt chủng của phần lớn các loài động vật lớn của châu Úc diễn ra sau khi thổ dân Australia chinh phục lục địa này 50.000 năm về trước, và còn là sự tuyệt chủng của một số loài thú lớn ở đại lục Á-Âu và châu Phi khi công nghệ săn bắt của chúng ta được cải thiện. Nếu những hạt giống của sự tự phá hủy có mối liên hệ rất gần gũi với sự phát triển của những nền văn minh tiên tiến trong các hệ mặt trời khác nữa thì rất dễ hiểu rằng tại sao chúng ta vẫn chưa thấy có bất cứ đĩa bay nào tới thăm Trái đất.

Đến khoảng cuối thời kỳ Băng hà, khoảng 10.000 năm trước, tốc độ tiến hóa tăng lên rất nhanh. Chúng ta đổ bộ xuống châu Mỹ, cùng lúc với sự tuyệt chủng của những loài thú có vú lớn mà chúng ta đã gây ra. Nông nghiệp phát triển nở rộ. Khoảng vài nghìn năm sau đó, những dòng văn tự bắt đầu ghi lại tốc độ sáng tạo kỹ thuật của chúng ta. Chúng cũng cho thấy rằng chúng ta bắt đầu nghiện ma túy, diệt chủng trở nên thường xuyên và được coi trọng. Tàn phá ổ sinh thái bắt đầu nảy nở trong nhiều xã hội, cư dân đầu tiên ở đảo Polynesia và Malagasy gây ra sự hủy diệt số lượng lớn các loài. Từ năm 1492, sự mở rộng của nền văn minh châu Âu khắp toàn thế giới khiến cho chúng ta tìm lại dấu tích sự phát triển và tàn lụi của chúng ta một cách chi tiết.

Trong vòng vài thập kỷ gần đây chúng ta đã phát triển những phương tiện có thể gửi tín hiệu âm thanh đến những vì sao khác, cũng như có thể làm toàn nhân loại nổ tung chỉ sau một đêm. Thậm chí nếu chứng ta không vô tình rơi vào kết thúc nhanh chóng đó, thì việc khai thác quá mức sức sản xuất của Trái đất, sự tuyệt diệt gây ra cho các loài, và những phá hủy của con người lên môi trường vẫn diễn ra với tốc độ ngày càng tăng mà không còn có thể trở nên ổn định ngay cả trong cả thế kỷ tới. Có người sẽ phản đối rằng nếu chúng ta nhìn quanh, chúng ta không thể thấy dấu hiệu rõ rệt nào của ngày tận thế sẽ đến sớm. Thực tế, những dấu hiệu đó đã trở nên quá hiển nhiên nếu ai đó biết nhìn nhận và suy đoán. Nạn đói, ô nhiễm và công nghệ hủy diệt đang phát triển mạnh, những vùng đất màu mỡ, thảm thực vật biển, các sản phẩm tự nhiên khác đồng thời năng lực hút bỏ các chất thải của môi trường đang ngày càng giảm xuống. Khi mà ngày càng có nhiều người với nhiều năng lượng hơn vơ vét những nguồn tài nguyên ngày càng trở nên khan hiếm, cái gì đó bắt buộc phải ra đi.

Vậy điều gì có lẽ sẽ xảy ra?

Có quá nhiều những nền tảng cho sự bi quan. Ngay cả nếu mỗi con người ngày hôm nay đang sống, sẽ chết trong nay mai, thì những tổn thương chúng ta gây ra cho môi trường chắc chắn sẽ kéo dài trong nhiều thập kỷ. Vô số loài động vật thuộc nhóm “sống dở chết dở”, với số lượng cá thể đã tụt xuống dưới mức có thể phục hồi, mặc dù các cá thể vẫn chưa chết hết. Bất chấp những hành động tự hủy diệt mà từ đó chúng ta cần rút ra bài học, nhiều người nên biết nhiều hơn về những tranh luận giữa nhu cầu hạn chế dân số của loài người và tiếp tục hủy hoại môi trường. Những người khác phá hoại môi trường vì lợi ích cá nhân hoặc thiếu hiểu biết. Thậm chí có thêm nhiều người trở nên quá e sợ trước cuộc đấu tranh khốc liệt cho sự sống, để chấp nhận cái giá quá đắt khi đánh giá những hậu quả trong hành động của họ. Tất cả những sự thật gợi lên rằng sự tàn phá khủng khiếp đã chạm tới đà không thể dừng lại được, và chúng ta cũng đang là một loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng, còn tương lai của chúng ta mờ mịt như hai loài tinh tinh còn lại mà thôi.

Quan điểm bi quan trên bao trùm trong một câu nói đầy hoài nghi mà Arthur Wichmann, một nhà thám hiểm và giáo sư người Hà Lan, đã viết ra trong một bản thảo của mình vào năm 1912. Whichmann đã cống hiến 10 năm trong cuộc đời mình viết nên một tác phẩm đồ sộ gồm ba cuốn sách về lịch sử quá trình khám phá ra New Guinea. Trong 1198 trang sách, ông đã đánh giá tất cả những luồng thông tin về New Guinea mà ông có thể tìm thấy được, từ những báo cáo lâu đời nhất được gạn lọc ở Indonesia cho tới những cuộc viễn chinh vĩ đại vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Ông đã vỡ mộng khi nhận ra rằng những người thám hiểm thành công đó lặp đi lặp lại một sai lầm ngu ngốc: lòng tự hào không được đảm bảo cho những ngợi khen quá mức, từ chối thừa nhận những sai sót nghiêm trọng, tảng lờ những kinh nghiệm của các nhà thám hiểm trước, thường xuyên lặp lại những lỗi đã mắc phải, vì vậy đã gây ra lịch sử đau đớn và chết chóc. Nhìn lại lịch sử này, Wichmann đã tiên đoán rằng những người thám hiểm trong tương lai sẽ tiếp tục lặp lại những lỗi lầm giống như thế. Câu viết cay đắng cuối cùng mà Wichmann kết luận ở tập sách cuối là “Không học hỏi được gì và mọi thứ đã rơi vào quên lãng!”

Mặc dù tất cả những lý lẽ mà tôi vừa đề cập đến có tính hoài nghi về tương lai của loài người, nhưng quan điểm của tôi thì lại cho rằng chúng ta không vô vọng. Chúng ta chính là những người gây ra những vấn đề cho bản thân mình, vì vậy chúng ta có đủ sức để giải quyết vấn đề này trong khả năng của mình. Trong khi ngôn ngữ, nghệ thuật và nông nghiệp của loài người không hoàn toàn là duy nhất, chúng ta thực sự độc đáo so với các loài động vật về khả năng học hỏi từ những kinh nghiệm của những người khác sống ở những nơi xa xôi hoặc từ thời xa xưa. Trong những dấu hiệu có hy vọng ấy, thường có nhiều nét hiện thực - những điều luật thường gây tranh cãi mà nhờ đó chúng ta có thể tránh khỏi thảm họa, ví dụ như giảm dân số loài người, gìn giữ môi trường sống và sử dụng những biện pháp khác nhằm bảo vệ môi trường. Nhiều chính phủ đã sẵn sàng tiến hành những việc hiển nhiên như thế trong một số trường hợp.

Ví dụ, ý thức về môi trường đang được truyền bá rộng rãi, và những hành động bảo vệ môi trường đang thu hút sự quan tâm của giới chính trị. Những người theo chủ nghĩa phát triển không chiến thắng trong tất cả các cuộc chiến, cũng như những tranh cãi có tầm nhìn kinh tế ngắn hạn đều luôn thắng thế.

Nhiều nước đã hạ mức ô nhiễm trong những thập kỷ gần đây. Trong khi nạn tuyệt chủng chưa bị loại trừ, sự phát triển của công nghệ giao tiếp ít nhất cũng giảm tư tưởng bài ngoại truyền thống của chúng ta, mà làm cho việc coi những người sống ở vùng xa xôi không như những chủng tộc thấp kém không giống với chúng ta. Khi tôi bảy tuổi, Mỹ ném bom nguyên tử xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki, vì thế tôi nhớ khá rõ cảm giác một thảm họa sắp xảy ra và sẽ gây hậu quả trong vòng nhiều thập kỷ sau. Nhưng gần nửa thế kỷ bây giờ đã trôi qua mà không có thêm bất cứ vụ sử dụng bom nguyên tử cho mục đích chiến tranh nào khác. Nguy cơ của thảm họa nguyên tử trở nên xa vời hơn bất kỳ lúc nào kể từ ngày 9 tháng Tám năm 1945.

Cách nhìn nhận của riêng tôi chịu ảnh hưởng từ những kinh nghiệm bản thân từ năm 1979 khi làm tư vấn cho chính phủ Indonesia về vấn đề thiết lập hệ thống bảo vệ môi trường ở Indonesia, New Guinea (được gọi là tỉnh Irian Jaya). Ở một khía cạnh nào đó, Indonesia không phải là miền đất hứa cho những hy vọng về nhiều thành công hơn nữa trong việc bảo vệ môi trường đang bị tàn phá. Thay vào đó, Indonesia đã minh họa sâu sắc cho những vấn đề của các nước nhiệt đới thứ ba. Với trên 180.000.000 dân, đó là nước đông dân thứ năm trên thế giới - cũng là nước nghèo hơn thế trên thế giới. Dân số phát triển nhanh, gần như nửa dân số Indonesia dưới 15 tuổi. Một số tỉnh với mật độ dân số quá cao đã chuyển bớt dân số của mình tới các tỉnh ít đông hơn (như Irian Jaya chẳng hạn). Không có người quan sát các loài chim, không có phong trào bảo vệ môi trường sôi sục. Chính phủ không phải là dân chủ theo cách nhìn của phương Tây, tham những tràn ngập. Indonesia dựa vào việc khai thác những cánh rừng mưa nguyên sinh, chỉ đứng thứ hai sau việc khai thác dầu mỏ và khí ga tự nhiên như là nguồn trao đổi ngoại tệ.

Vì tất cả những lý do trên, không ai có thể dự đoán được rằng sự bảo tồn các loài động thực vật và các ổ sinh thái trở thành chính sách quốc gia được theo đuổi nghiêm túc ở Indonesia. Khi lần đầu tiên tôi đến Irian Jaya, tôi đã thẳng thắn nghi ngờ hiệu quả của mọi chương trình bảo vệ môi trường. May mắn thay, lối suy nghĩ hoài nghi theo kiểu Wichmann của tôi đã hoàn toàn sai lầm. Nhờ có sự lãnh đạo của những người Indonesia chủ chốt bị thuyết phục theo những giá trị của việc gìn giữ môi trường, Irian Jaya giờ đây đã có những khởi đầu của hệ thống bảo tồn thiên nhiên bao gồm 20% diện tích của tỉnh này. Cũng như những nỗ lực bảo vệ môi trường đó không chỉ tồn tại trên giấy. Khi công việc của tôi tiến triển, tôi đã vô cùng ngạc nhiên và rất hài lòng khi đi qua những nhà máy cưa xẻ gỗ bị cấm, bởi chúng làm trái với luật bảo vệ môi trường, đội gác rừng tuần tra và những dự án quản lý bắt đầu được khởi thảo. Tất cả những tính toán này được chấp nhận không hề mang tính lý tưởng hóa, nhưng đã vượt qua sự tàn nhẫn, sửa đổi những quan điểm thuần túy ích kỷ của người Indonesia. Nếu người Indonesia có thể làm được thì các nước có vấn đề tương tự với môi trường, cũng như các nước giàu có hơn với những phong trào bảo vệ môi trường nở rộ cũng có thể làm được.

Chúng ta không cần tiểu thuyết hóa về những công nghệ đang trong quá trình thai nghén nhằm giúp giải quyết những vấn đề của chúng ta. Chúng ta chỉ cần nhiều chính phủ làm những việc hiển nhiên mà các chính phủ khác đang làm ở một vài trường hợp. Có lẽ không đúng nếu cho rằng những người dân bình thường thì không hề có quyền hành gì cả. Có rất nhiều lý do gây ra sự tuyệt chủng của một số loài mà các tổ chức con người đang cố gắng phục hồi lại trạng thái như cũ trong thời gian gần đây - ví dụ như, hoạt động săn bắn cá voi vì mục đích thương mại, săn bắn những loài thú họ lớn thuộc họ mèo để lấy lông, nhập khẩu những con vượn lấy từ hoang dã… Trên thực tế đây là lĩnh vực mà mỗi đóng góp nhỏ của mỗi cá nhân rất dễ dàng có thể đem lại ảnh hưởng lớn, bởi hầu hết các tổ chức bảo tồn thiên nhiên đều có những nguồn ngân quỹ rất khiêm tốn. Chẳng hạn, chi phí hằng năm cho tất cả những dự án bảo vệ mà World Wildlife hỗ trợ trên toàn thế giới chỉ khoảng một vài trăm nghìn đô la. Thêm 1.000 đô la có nghĩa là có thêm một dự án dành cho loài khỉ đang bị đe dọa tuyệt chủng, khỉ nhân hình, hay loài vượn cáo, còn nếu không chúng sẽ bị lãng quên mãi mãi. Trang 668 - 671 đề xuất một số điểm khởi đầu thú vị cho những độc giả quan tâm.

Trong khi tôi thấy rõ chúng ta đang đối mặt với những những dự án không chắc chắn, tôi vẫn cảm thấy lạc quan trong sự thận trọng. Ngay cả câu nói hoài nghi cuối cùng trong cuốn sách của Wichmann cũng đã được chứng minh là sai: những người khai phá New Guinea kể từ thời Wichmann thực sự đã biết học hỏi từ quá khứ và từ bỏ sự ngốc nghếch tai hại của tổ tiên họ. Một khẩu hiệu phù hợp hơn cho tương lai của chúng ta so với khẩu hiệu của Wichmann là từ hồi ký của vị Thủ tướng Otto von Bismarck. Khi ông phản ánh thế giới xung quanh cho tới thời điểm cuối của cuộc đời dài lâu của mình, ông cũng có những lý do để trở nên hoài nghi. Sở hữu những kiến thức uyên thâm và hoạt động chính trị ở trung tâm của châu Âu trong nhiều thập kỷ, Bismarck đã chứng kiến một lịch sử với những lỗi lầm lặp đi lặp lại không đáng có như những gì lan rộng trong lịch sử khai phá vùng đất New Guinea. Nhưng Bismarck vẫn nghĩ rằng việc viết hồi ức của bản thân là cần thiết, nhằm nhắc lại bài học từ lịch sử và cống hiến những hồi ức của ông “cho con cháu, theo đó có những hiểu biết về quá khứ và được chỉ dẫn cho tương lai”.

Đây cũng chính là tinh thần mà tôi muốn dành tặng cuốn sách này cho hai đứa con trai bé bỏng của mình và thế hệ của chúng. Nếu chúng ta có thể học được điều gì đó từ quá khứ mà tôi đã nêu ra, tương lai của bản thân chúng ta có thể sẽ tươi sáng hơn hai loài tinh tinh còn lại.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.