Loài Tinh Tinh Thứ Ba

Loài Tinh Tinh Thứ Ba

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 61 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Mở Đầu
Mở Đầu

❊ ❊ ❊

Rõ ràng con người không giống như các động vật khác. Nhưng cũng hiển nhiên chúng ta là một loài thú lớn nếu xét trên những đặc điểm chi tiết nhất về giải phẫu và phân tử. Mâu thuẫn này là đặc tính kỳ diệu nhất của con người. Điều đó cũng chẳng có gì lạ, nhưng chúng ta vẫn khó lòng hiểu được nó sẽ tiếp tục thế nào và mang ý nghĩa gì.

Một mặt, giữa chúng ta và tất cả các loài khác tồn tại một hố sâu ngăn cách không thể lấp bằng, đó là chúng ta tự cho mình tách ra khỏi cái gọi là “loài vật”. Điều này có nghĩa chúng ta thừa nhận rằng rết, tinh tinh và trai cùng có chung một số đặc tính quyết định, song ấy là chung giữa chúng với nhau chứ không phải với chúng ta, đồng thời chúng thiếu một số đặc tính chỉ có ở con người. Một số đặc tính riêng biệt đó mà chỉ con người mới có là ngôn ngữ, chữ viết và biết chế tạo các máy móc phức tạp. Chúng ta sử dụng công cụ chứ không chỉ sử dụng đôi tay để kiếm ăn. Hầu hết loài người đều mặc quần áo, yêu thích nghệ thuật, và nhiều người có tín ngưỡng. Chúng ta sinh sống trên khắp Trái Đất, tiêu thụ một lượng lớn năng lượng và sản phẩm của Trái Đất, giờ đây chúng ta bắt đầu bành trướng xuống cả biển sâu và tiến vào vũ trụ. Cũng chỉ chúng ta mới có các hành vi đặc thù mang tính tiêu cực hơn như tội ác diệt chủng, ham thích bạo lực, nghiện ngập và hủy diệt hàng nghìn loài khác. Cho dù một số ít loài khác cũng có một hay hai đặc tính này ở dạng sơ khai (chẳng hạn như việc sử dụng công cụ) thì ngay cả ở những khía cạnh ấy, chúng ta vẫn khác xa động vật.

Do đó, vì mục đích thực tiễn cũng như để tiện về mặt pháp luật, chúng ta không coi con người là động vật. Năm 1859, khi Darwin giả thiết rằng loài người tiến hóa từ khỉ không đuôi, chẳng lạ gì khi ban đầu hầu hết mọi người coi thuyết của ông là vớ vẩn mà vẫn khăng khăng cho rằng chúng ta được Thượng Đế tạo ra một cách riêng biệt. Rất nhiều người, trong đó có cả một phần tư các cử nhân Mỹ ngày nay vẫn còn tin như vậy.

Nhưng mặt khác, chúng ta lại rõ ràng là động vật với các bộ phận cơ thể, các phân tử và các gen thường thấy của động vật, thậm chí còn thuộc về một nhóm động vật đặc thù. Xét bề ngoài, chúng ta giống tinh tinh đến nỗi các nhà giải phẫu học thế kỷ XVIII theo Sáng tạo luận cũng có thể nhận ra quan hệ của chúng ta với loài này. Hãy hình dung nếu ta tước bỏ quần áo và tài sản của một vài người bình thường, không cho họ giao tiếp bằng ngôn ngữ mà chỉ được kêu nhưng vẫn không thay đổi bất kỳ đặc điểm giải phẫu nào của họ, đem nhốt những người này vào một chuồng thú cạnh chuồng của loài tinh tinh, rồi để những người khác, vẫn mặc quần áo và được nói chuyện, tới tham quan “sở thú” này. Lúc ấy, những con người không ngôn ngữ và bị giam cầm kia sẽ trông đúng như bản chất của tất cả chúng ta: những con tinh tinh ít lông và có thể đi thẳng lưng. Một nhà động vật học ngoài hành tinh có thể lập tức xếp chúng ta vào loài tinh tinh thứ ba, cùng với tinh tinh lùn Zaire và một loài tinh tinh phổ biến khác sống ở phần còn lại của châu Phi nhiệt đới.

Các nghiên cứu di truyền phân tử trong sáu năm qua đã cho thấy rằng bộ mã di truyền của con người giống bộ mã di truyền của hai loài tinh tinh kia tới 98%. Tổng khoảng cách di truyền giữa chúng ta và tinh tinh thậm chí còn nhỏ hơn khoảng cách giữa hai loài chim gần gũi là sẻ mắt đỏ và sẻ mắt trắng. Do đó, chúng ta vẫn mang hầu hết các đặc điểm sinh học đã tồn tại từ xa xưa. Kể từ thời Darwin đến nay, người ta đã tìm thấy những hóa thạch cho thấy hàng trăm điểm chung giữa động vật nhân hình(1) với con người, bằng chứng vững chắc đó khiến những người có cách nghĩ khác khó lòng phủ nhận. Việc loài người chúng ta tiến hóa từ động vật nhân hình – điều từng bị coi là vô lý - thực tế đã xảy ra.

Thế nhưng, những phát kiến về các mắt xích còn thiếu chỉ khiến cho vấn đề thêm hấp dẫn mà không hoàn toàn giải đáp được nó. Số ít các phát hiện mới mà chúng ta có được - 2% khác biệt giữa hệ gen của con người với loài tinh tinh - hẳn đã đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành tất cả các đặc tính dường như chỉ có ở loài người. Loài người đã chỉ trải qua một vài thay đổi nhỏ, song các thay đổi đó lại có hệ quả nhanh chóng và chỉ mới xảy đến gần đây trong lịch sử tiến hóa của chúng ta. Trên thực tế, tại thời điểm khoảng 10.000 năm trước đây, một nhà động vật học ngoài vũ trụ ắt sẽ chỉ coi con người như một loài động vật có vú cỡ lớn mà thôi. Cứ cho là như vậy, nhưng chúng ta còn có một số hành vi thú vị khác, đáng chú ý là khả năng kiểm soát lửa và sử dụng công cụ. Nhưng đối với các vị khách ngoài hành tinh thì những hành vi này chẳng có gì đáng chú ý hơn so với hành vi của loài hải ly hay chim bower. Dù sao thì trong vòng vài vạn năm - một khoảng thời gian dài vô tận so với trí nhớ của một con người song chỉ là một quãng ngắn ngủi trong lịch sử tiến hóa của nhân loại - chúng ta đã bắt đầu tỏ ra có những đặc tính khiến con người trở nên đặc biệt, duy nhất và dễ tổn thương.

Vậy những nhân tố ít ỏi khiến con người trở nên khác biệt so với các loài khác là gì? Do những đặc tính đó chỉ mới hình thành gần đây và chỉ liên quan tới một số thay đổi rất ít ỏi ở con người nên những đặc tính này, hoặc ít nhất là tiền thân của chúng, ắt hẳn phải từng xuất hiện ở động vật. Vậy đâu là những tiền thân xuất phát từ động vật của nghệ thuật, ngôn ngữ, tội diệt chủng và hay thói nghiện ngập?

Các đặc tính riêng biệt của loài người đã giúp chúng ta thành công về mặt sinh học với tư cách một loài. Không một loài động vật cỡ lớn nào khác ngoài con người có thể phân bố ở mọi lục địa hay sinh sản ở mọi hệ sinh thái từ sa mạc hay Bắc cực đến rừng mưa nhiệt đới. Không một động vật cỡ lớn nào trong tự nhiên lại có thể cạnh tranh với chúng ta về số lượng. Nhưng trong số các đặc tính riêng biệt đó có hai đặc tính đe dọa sự tồn tại của con người, đó là xu hướng giết hại lẫn nhau và hủy hoại môi trường của chúng ta. Dĩ nhiên, cả hai xu hướng này cũng có ở các loài khác: sư tử và nhiều loài vật khác cũng giết đồng loại, còn voi và các loài khác thì làm hại môi trường sống của chính mình. Tuy nhiên, những xu hướng này đe dọa chính con người nhiều hơn đe dọa các động vật khác vì sức mạnh kỹ thuật cũng như sự bùng nổ dân số của loài người.

Không có gì mới trong lời tiên đoán rằng ngày tận thế của Trái Đất tới rất gần nếu con người không ăn năn hối cải. Có chăng là lời tiên đoán này, giờ đây, ngày càng trở thành hiện thực vì hai lý do rõ ràng. Thứ nhất, vũ khí hạt nhân mang lại công cụ để chúng ta hủy diệt chính mình một cách nhanh chóng; trước đây, con người chưa hề sở hữu thứ phương tiện này. Thứ hai, chúng ta hiện đang chiếm dụng khoảng 40% năng suất ròng của Trái Đất (nghĩa là năng lượng ròng hấp thụ từ mặt trời). Với dân số thế giới cứ 40 năm lại tăng gấp đôi như hiện nay, chẳng mấy chốc chúng ta sẽ đạt tới giới hạn tăng trưởng sinh học, lúc đó, con người sẽ buộc phải cạnh tranh với nhau quyết liệt để giành phần trong chiếc bánh tài nguyên có hạn của thế giới. Thêm vào đó, cứ với tốc độ con người hủy diệt các loài như hiện nay, thì hầu hết các loài trên thế giới sẽ bị tuyệt chủng hoặc bị đe dọa nghiêm trọng trong thế kỷ tới, thế nhưng chúng ta lại phụ thuộc vào rất nhiều loài để đảm bảo nguồn sống cho chính mình.

Tại sao chúng ta phải nhắc lại những sự kiện quen thuộc đáng buồn đó? Và tại sao phải cố công truy tìm nguồn gốc động vật của các đặc tính mang tính phá hoại đó ở con người? Nếu đó thật sự là một phần trong di sản tiến hóa của loài người, hẳn chúng ta sẽ phải thừa nhận rằng những đặc tính đó đã cố định theo di truyền và do đó, không bao giờ thay đổi được.

Trên thực tế, tình trạng của con người không hẳn đã vô vọng. Có thể xu hướng giết người hay cạnh tranh bạn tình là bẩm sinh trong con người. Nhưng điều đó không thể ngăn cản xã hội loài người cố gắng kiềm chế những bản năng đó và thành công trong việc cứu thoát thật nhiều nạn nhân bị hại. Thậm chí nếu thống kê trong cả hai cuộc chiến tranh thế giới, hay xét số người chết do bạo lực ở các khu vực công nghiệp hóa thế kỷ XX, con số này vẫn nhỏ hơn rất nhiều so với số người chết trong xã hội bầy đàn thời kỳ Đồ đá. Nhiều quần thể người hiện đại có tuổi thọ cao hơn so với trước đây. Các nhà môi trường không phải lúc nào cũng thất bại khi tranh luận với những người theo xu hướng phát triển hay thậm chí là hủy diệt. Ngay cả một vài bệnh di truyền như phenylketon niệu và tiểu đường bẩm sinh giờ đây cũng đã được cải thiện hoặc chữa khỏi.

Mục đích của tôi khi đề cập lại tình trạng của con người hiện nay là nhằm giúp chúng ta tránh lặp lại sai lầm - bằng cách áp dụng những hiểu biết về quá khứ và xu hướng tương lai của con người để thay đổi hành vi của chúng ta. Đó chính là hy vọng tôi ấp ủ khi viết cuốn sách này. Hai con trai song sinh của tôi sinh năm 1987, tới năm 2041 chúng sẽ bằng tuổi tôi bây giờ. Những gì chúng ta đang làm hôm nay sẽ tạo dựng nên thế giới của chúng mai sau.

Mục đích của cuốn sách này không phải là để chỉ ra những giải pháp cụ thể cho tình trạng khó khăn của chúng ta, vì những giải pháp chúng ta nên áp dụng đều đã khá rõ về đại thể. Một vài giải pháp trong số đó là giảm tốc độ tăng dân số, hạn chế hoặc loại trừ vũ khí hạt nhân, phát triển các biện pháp hòa bình trong việc giải quyết các mâu thuẫn quốc tế, hạn chế ảnh hưởng của con người tới môi trường và bảo tồn các loài cũng như môi trường sinh thái tự nhiên. Nhiều cuốn sách xuất sắc đã đưa ra các dự án cụ thể nhằm thực thi các giải pháp đó. Hiện nay một vài giải pháp đang được áp dụng tại một số nơi; chúng ta “chỉ” cần thực hiện sao cho trước sau như một. Nếu ngay từ hôm nay chúng ta ý thức được rằng các biện pháp đó là cần thiết thì trong tương lai chúng ta sẽ có đủ hiểu biết để thực hiện chúng.

Thay vào đó, cái còn thiếu là ý chí chính trị cần thiết để thực hiện các giải pháp đó. Qua cuốn sách này, tôi mong muốn ươm mầm cho ý chí đó, bằng cách truy nguyên lịch sử loài người với tư cách là một loài sinh vật. Những vấn đề của loài người có căn nguyên sâu xa từ chính tổ tiên động vật của chúng ta. Những vấn đề đó đã phát triển trong một thời gian dài cùng sự gia tăng về sức mạnh và số lượng của chính con người, và giờ đây chúng lại càng phát triển mạnh mẽ. Tự chúng ta cũng thấy trước những hậu quả không tránh khỏi do những hành động thiển cận của mình một khi biết rằng nhiều xã hội loài người trong quá khứ, mặc dù có ít phương tiện hủy diệt hiệu quả hơn hiện nay, nhưng đã hủy hoại nguồn tài nguyên cơ bản của chính họ. Các nhà lịch sử chính trị học cho rằng nghiên cứu về từng bộ máy nhà nước và các nhà cầm quyền sẽ cho chúng ta cơ hội học hỏi từ quá khứ. Điều đó càng đúng đối với việc tìm hiểu lịch sử loài người như một loài sinh vật, bởi những bài học thu được từ đó đơn giản và rõ ràng hơn.

Một cuốn sách bao quát một phạm vi rộng lớn như cuốn sách này không khỏi phải có tính chọn lọc. Người đọc nào cũng có thể sẽ nhận thấy có những chủ đề hết sức quan trọng không hề được đề cập tới ở đây, hoặc một số chủ đề khác có được đề cập tới nhưng không đi vào chi tiết. Để bạn không cảm thấy mình bị lạc lối, tôi sẽ nói ngay từ đầu về những mối quan tâm đặc biệt của bản thân, và những quan tâm đó xuất phát từ đâu.

Cha tôi là bác sỹ còn mẹ tôi là nhạc sỹ có khiếu về ngôn ngữ. Hồi tôi còn nhỏ, mỗi khi có ai hỏi tôi lớn lên muốn làm nghề gì, tôi đều nói muốn làm bác sỹ như cha. Trước năm cuối đại học, mục tiêu của tôi có hơi chuyển hướng sang một ngành cũng liên quan tới nghiên cứu y học. Vậy là tôi học khoa sinh lý học, ngành mà đến bây giờ tôi vẫn đang giảng dạy và nghiên cứu tại Đại học Y khoa California ở Los Angeles.

Tuy nhiên, từ năm lên bảy tôi đã bắt đầu thích quan sát chim muông, tôi lại may mắn được học tại một ngôi trường trang bị cho tôi kiến thức sâu về ngôn ngữ và lịch sử. Sau khi học xong tiến sỹ, dự định cống hiến cả đời cho một niềm yêu thích chuyên môn duy nhất là sinh lý học bắt đầu ngày càng trở nên gò bó đối với tôi. Cùng lúc, một loạt sự kiện cũng như những cuộc gặp gỡ bất ngờ, đáng mừng đã xảy đến, cho tôi cơ hội làm việc cả một mùa hè trên vùng cao nguyên New Guinea. Ban đầu, mục đích chuyến đi của tôi là để đánh giá mức độ thành công trong việc xây tổ của các loài chim ở New Guinea, nhưng rất tiếc dự án đó đã sụp đổ chỉ trong vòng vài tuần khi tôi tự thấy mình thậm chí không thể phát hiện được dù chỉ một tổ chim trong rừng rậm. Nhưng mục đích thực sự của chuyến đi đã hoàn toàn thành công: đó là thỏa mãn niềm yêu thích phiêu lưu và quan sát chim tại một trong số những nơi còn nguyên sơ nhất trên Trái Đất. Những gì tôi quan sát được về các loài chim huyền thoại ở New Guinea trong đó có cả các loài chim bower và chim thiên đường đã khiến tôi phát triển một sự nghiệp thứ hai song song, đó chính là lĩnh vực điểu sinh thái, tiến hóa và sinh địa học. Từ đó, tôi đã quay lại New Guinea và các đảo Thái Bình Dương lân cận hàng chục lần để tiếp tục nghiên cứu về chim.

Nhưng tôi nhận thấy thật khó có thể làm việc ở New Guinea trong khi những loài chim và những cánh rừng mình hằng yêu quý ngày một bị tàn phá mà tôi thì vẫn không tham gia vào hoạt động bảo tồn sinh học. Do đó, tôi bắt đầu kết hợp các nghiên cứu lý thuyết với kết quả thực nghiệm thành một tài liệu tư vấn cho các chính phủ, thông qua việc áp dụng những gì tôi biết về phân bố động vật để thiết kế các hệ thống vườn quốc gia và nghiên cứu khả năng xây dựng các vườn quốc gia theo dự kiến. Làm việc ở New Guinea còn gặp trở ngại lớn là ở đây, cứ 20 dặm(2) thì lại gặp một ngôn ngữ khác, thành thử việc học tên các loài chim trong mỗi thứ tiếng địa phương là một điều bắt buộc nếu muốn tiếp cận được pho bách khoa toàn thư về các loài chim của người New Guinea chứ không hẳn là do niềm đam mê ngôn ngữ từ trước của tôi. Hơn tất thảy, thật khó để nghiên cứu sự tiến hóa và tuyệt chủng của các loài chim mà lại không mong muốn hiểu được sự tiến hóa và khả năng tuyệt diệt của loài được quan tâm nhiều nhất - loài người - Homo sapien. Tại New Guinea, nơi có tính đa dạng về con người cực cao, người ta lại càng đặc biệt khó lòng thờ ơ trước mối quan tâm đó.

Đó chính là những lý do khiến tôi trở nên quan tâm đến một số khía cạnh cụ thể về con người, những khía cạnh mà tôi sẽ đề cập sâu hơn trong cuốn sách này. Nhiều cuốn sách xuất sắc của các nhà nhân chủng học và nhà khảo cổ đã bàn về tiến hóa loài người xét trên góc độ các công cụ lao động và xương, do vậy, cuốn sách này sẽ chỉ tóm tắt sơ qua những điều ấy. Tuy nhiên, có những cuốn sách khác ít đề cập hơn rất nhiều đến những khía cạnh mà tôi đặc biệt quan tâm ở loài người, như vòng đời của con người, địa lý nhân học, ảnh hưởng của con người tới môi trường và lên chính chúng ta với tư cách một loài động vật. Những đề tài này cũng có tầm quan trọng thiết yếu trong sự tiến hóa của loài người chẳng kém các đề tài mang tính truyền thống hơn về công cụ lao động và các hóa thạch.

Tôi tin rằng những ví dụ về New Guinea thoạt tiên có thể bị coi là quá thừa, song thực tế chúng hoàn toàn phù hợp. Cứ coi New Guinea chỉ là một hòn đảo tại một vị trí cụ thể trên Trái Đất (thuộc Thái Bình Dương nhiệt đới) và khó có thể đóng vai trò một lát cắt tiêu biểu về loài người hiện đại. Nhưng ở New Guinea có một cộng đồng người đa dạng hơn bạn tưởng nhiều. Trên thế giới có khoảng 5.000 ngôn ngữ thì.1.000 trong số đó chỉ được dùng ở New Guinea mà thôi. Rất nhiều nền văn hóa trong sự đa dạng về văn hóa của nhân loại tồn tại ở New Guinea. Tất cả những người vùng cao sống tách biệt trên những đỉnh núi New Guinea đã từng là nông dân Đồ đá cho mãi tới gần đây, còn những nhóm người miền xuôi là người săn bắt-hái lượm du mục và dân chài có canh tác nông nghiệp theo thời vụ. Tính bài ngoại ở đây cực kỳ cao, do đó tuy văn hóa đa dạng nhưng việc đi ra ngoài lãnh thổ từng bộ lạc lại dường như không thể. Rất nhiều người New Guinea làm việc với tôi là những thợ săn cực kỳ chuyên nghiệp từng sống cả tuổi thơ với những công cụ bằng đá trong sự cô lập đó. Vì thế, New Guinea là một mô hình lý tưởng mà chúng ta có được hôm nay khả dĩ cho thấy một cách khá đầy đủ về thế giới con người thuở xa xưa.

Câu chuyện về những bước thăng trầm của loài người tự chia ra thành năm phần tự nhiên. Trong phần đầu tôi sẽ tập trung vào sự phát sinh loài người từ cách đây nhiều triệu năm cho tới ngay trước khi xuất hiện nông nghiệp vào khoảng 10.000 năm trước. Hai chương đầu tiên sẽ đề cập tới xương, công cụ lao động và gen - những bằng chứng được lưu giữ trong tư liệu hóa sinh và khảo cổ, cho ta những thông túi trực tiếp nhất về việc loài người đã thay đổi như thế nào. Các công cụ và hóa thạch xương thường có thể xác định niên đại, cho phép chúng ta xác định thời điểm mà loài người đã biến đổi. Chúng ta sẽ kiểm chứng cơ sở cho kết luận rằng chúng ta có 98% hệ gen giống tinh tinh, và sẽ cố tìm hiểu xem 2% khác biệt kia đóng vai trò như thế nào đối với Bước Nhảy Vọt Vĩ Đại của loài người.

Phần II sẽ đề cập tới những thay đổi trong vòng đời của con người; cũng như những thay đổi về hệ xương được đề cập đến ở phần I, những thay đổi này có tầm quan trọng sống còn đối với sự phát triển ngôn ngữ và nghệ thuật. Phần này sẽ nhắc lại để nhấn mạnh rằng loài người vẫn nuôi dưỡng con cái sau khi chúng cai sữa thay vì để chúng tự kiếm thức ăn; hầu hết đàn ông và đàn bà đều sống thành từng đôi; phần lớn trong các gia đình thì cả cha và mẹ cùng chăm sóc con cái; nhiều người sống lâu cho tới khi đã thành ông, thành bà và phụ nữ đều trải qua thời kỳ mãn kinh. Đối với chúng ta ngày nay, những chuyện đó là quá bình thường, nhưng so với những chuẩn mực của các loài động vật có mối liên hệ mật thiết nhất với chúng ta thì những chuyện đó thật sự hiếm hoi. Những thay đổi tính trạng đó tạo ra những khác biệt cơ bản của con người ngày nay so với tổ tiên của chúng ta, song chúng lại không để lại những bằng chứng hóa thạch và do đó chúng ta có thể không biết chúng đã hình thành vào lúc nào. Vì lý do này, trong những cuốn sách về chủng tộc loài người, người ta bàn về những thay đổi tính trạng đó một cách sơ sài hơn so với những thay đổi về kích thước não bộ và xương chậu. Nhưng những tính trạng đó mới có tầm quan trọng then chốt đối với sự phát triển văn hóa nhân loại và đáng được chúng ta quan tâm tương xứng.

Trong khi phần I và II nghiên cứu cơ sở sinh học đã khai hóa nền văn minh nhân loại thì phần III tập trung khảo sát những đặc điểm văn hóa phân biệt con người với động vật. Những đặc điểm mà chúng ta tự hào nhất và sẽ nghĩ tới đầu tiên là: ngôn ngữ, nghệ thuật, công nghệ và nông nghiệp, những dấu ấn xác nhận sự tiến bộ của chúng ta. Tuy nhiên, những đặc điểm văn hóa đặc thù của chúng ta cũng bao gồm cả những dấu hiệu tiêu cực như sự nghiện ngập những hóa chất độc hại. Tuy một vài người có thể còn còn tranh cãi xem liệu tất cả các tính trạng đó chỉ có ở loài người hay không thì chí ít các tính trạng này đã có sự vượt trội hơn hẳn so với các tính trạng tiền thân của chúng ở loài vật. Song nếu vậy thì các tính trạng tiền thân đó ắt hẳn phải có, vì chúng chỉ mới nảy nở gần đây xét theo thước đo lịch sử tiến hóa. Vậy những tiền thân đó là gì? Có phải việc chúng phát triển thành các đặc tính riêng biệt ở loài người là điều tất yếu trong lịch sử sự sống trên Trái đất không? Tất yếu đến nỗi chúng ta buộc phải ngờ rằng còn có nhiều hành tinh khác trong vũ trụ cũng từng có những sinh vật phát triển ở mức độ cao cấp như chúng ta sinh sống?

Bên cạnh nạn nghiện ngập, các tính trạng tiêu cực khác còn bao gồm hai vấn đề nghiêm trọng có thể dẫn tới sự suy vong của loài người. Phần IV sẽ xét tới vấn đề thứ nhất: xu hướng giết người khác nhóm giữa các nhóm người với nhau. Tính trạng này có nguồn gốc động vật trực tiếp - vẫn được gọi là mâu thuẫn giữa các cá thể và các nhóm cạnh tranh, và có thể được giải quyết bằng hành động giết lẫn nhau trong nhiều loài kể cả con người. Trong phần IV chúng ta sẽ xét tính bài ngoại và sự cô lập sâu sắc vốn là nét đặc trưng của loài người trước khi các nhà nước xuất hiện khiến loài người trở nên đồng nhất hơn về văn hóa. Chúng ta cũng tìm hiểu xem công nghệ, văn hóa và địa lý đã ảnh hưởng thế nào tới kết cục của hai trong số các cuộc chiến nổi tiếng nhất trong lịch sử giữa các nhóm người. Chúng ta sẽ nghiên cứu những tư liệu lịch sử trên toàn thế giới về các cuộc thảm sát vì nguyên nhân bài ngoại. Đây là một chủ đề đau xót, nhưng trên hết nó là bằng chứng cho thấy chính thái độ quay lưng lại với lịch sử nhân loại đã khiến con người tái phạm các sai lầm trong quá khứ ở mức độ còn nguy hiểm hơn.

Tính trạng tiêu cực thứ hai đe dọa sự tồn tại của chúng ta chính là hành vi đối xử ngày một tàn bạo của con người đối với môi trường. Hành vi này cũng có nguồn gốc trực tiếp từ động vật. Các quần thể động vật mà vì lý do này hay lý do khác đã thoát khỏi sự khống chế về số lượng bởi các loài thú ăn thịt và các loại ký sinh thì trong một số trường hợp cũng thoát khỏi sự khống chế nội bộ của chính chúng, từ đó chúng cứ nhân lên liên tục cho tới khi hủy hoại hết nguồn sống của chính mình và có khi đi tới chỗ tuyệt diệt. Nguy cơ này tác động đặc biệt tới con người vì các loài ăn thịt người ngày nay không còn đáng kể, không có sinh cảnh nào nằm ngoài tầm kiểm soát của con người, trong khi khả năng của con người để hủy diệt các động vật và phá hoại môi trường thì chưa có tiền lệ trong lịch sử.

Thật không may, nhiều người vẫn vin vào học thuyết Rousseau và nhầm tưởng rằng bản chất con người là thánh thiện và hành vi này của con người mãi tới tận Cách mạng công nghiệp mới xuất hiện, còn trước đó con người vốn dĩ sống hòa bình với Tự nhiên. Nếu đúng là như vậy thì chúng ta đã chẳng phải học hỏi gì từ quá khứ trừ việc con người từng nhân đức như thế nào và đã trở nên tàn ác ra sao. Phần V bác bỏ luận điệu này bằng cách đối diện với thực trạng là con người đã luôn luôn quản lý môi trường một cách yếu kém trong suốt chiều dài lịch sử. Ở phần V cũng giống với phần IV, tập trung vào việc nhận thức rằng tình trạng hiện thời của chúng ta không phải chưa từng có, khác chăng chỉ là về mức độ. Trong lịch sử, con người đã không hiếm lần thực hiện thí nghiệm nhằm quản lý tốt xã hội loài người song lại quản lý tồi môi trường sống của xã hội đó, và kết quả của thí nghiệm đó giờ đây là một bài học đắt giá cho chúng ta.

Cuốn sách này kết thúc với phần kết tóm lược lại sự phát triển của loài người từ tư cách một loài động vật. Lời kết này cũng truy nguyên quá trình tăng tốc các phương tiện đưa con người tới sự suy vong. Tôi hẳn đã không viết cuốn sách này nếu nghĩ rằng nguy cơ đó còn xa, nhưng tôi cũng sẽ không viết cuốn sách này nếu tin rằng chúng ta sắp tới ngày tận thế. Để không một độc giả nào vì quá nản lòng trước bảng “thành tích” của con người trong quá khứ và tình thế nan giải hiện tại của loài người mà bỏ qua thông điệp đó, tôi cũng chỉ ra những dấu hiệu khả dĩ cho ta hy vọng, cũng như những phương thức qua đó con người có thể học hỏi từ quá khứ.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.