Loài Tinh Tinh Thứ Ba

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 85 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 16 Da Đen Và Da Trắng
Chương 16 Da Đen Và Da Trắng

❊ ❊ ❊

Khi ngày quốc khánh của bất kỳ quốc gia nào đều được coi là cớ để người dân địa phương tổ chức vui chơi kỷ niệm, thì những người dân Australia đã có một nguyên nhân thật đặc biệt vào năm 1988, nhân dịp 200 năm thành lập nước. Một vài nhóm những người đi khai phá đã phải đối mặt với những trở ngại như những người đã cập đất liền với Hạm đội đầu tiên tới vị trí chính là Sydney ngày nay vào năm 1788 đã từng đối mặt. Australia từng được coi là terra incoginita (vùng đất chưa ai biết tới): những người đi khai hoang không biết điều gì đang chờ đợi mình cũng như làm thế nào để tồn tại. Họ đã bị tách rời khỏi đất mẹ bởi một cuộc hành trình dài qua biển tới 15.000 dặm, kéo dài trong tám tháng. Họ phải trải qua hai năm rưỡi gần như chết đói cho tới khi có một tàu cung cấp thức ăn đến từ Anh cập bến. Nhiều người trong số đó là những người đã từng bị kết án và mang theo chấn thương sẵn có bởi tính chất khốc liệt của cuộc sống tăm tối thế kỷ XVIII. Bất chấp sự khởi đầu như vậy, những người định cư vẫn sống sót, giàu có, sinh sôi trên khắp lục địa mới, xây dựng cả một xã hội dân chủ và tạo lập nên những bản sắc riêng biệt của một dân tộc. Không có gì phải băn khoăn về lý do người Australia cảm thấy tự hào khi tổ chức kỷ niệm ngày thành lập đất nước mình.

Tuy nhiên, một nhóm những người phản đối đã phá hủy lễ kỷ niệm. Những người định cư da trắng thực ra không phải là người Australia đầu tiên. Thay vào đó, Australia đã được tổ tiên của những người giờ đây được biết tới như là “thổ dân Australia” và còn được biết đến ở Australia là “người da đen” định cư từ 50.000 năm về trước. Trong quá trình định cư của người Anh, phần lớn thổ dân đã bị giết chết bởi những người mới đến định cư hay chết vì những nguyên nhân khác nhau, dẫn đến một số con cháu ngày nay của những người còn sống sót tiến hành phản đối lễ kỷ niệm lần thứ 200 thay vì chào mừng nó. Trong khi những buổi lễ kỷ niệm ấy tập trung vào việc ngụ ý làm thế nào Australia đã trở thành da trắng thì tôi lại muốn bắt đầu chương này với việc nhấn mạnh vào cách mà Australia ngừng việc có màu da đen, và cách mà những người định cư Anh can đảm kia lại phạm phải tội ác diệt chủng.

E ngại rằng những người da trắng ở Australia sẽ phản đối quyết liệt, tôi muốn nói rõ rằng tôi không buộc tội tổ tiên họ làm một số điều khủng khiếp dị thường. Thay vào đó, nguyên do khiến tôi cho việc thảo luận về việc giết hại thổ dân là rất xác đáng bởi nó không phải là trường hợp cá biệt duy nhất: đó chỉ là một ví dụ đã được ghi chép rất đầy đủ về một hiện tượng mà tần số xuất hiện của nó được ít người đánh giá cao. Trong khi sự liên tưởng đầu tiên của chúng ta đến thế giới “diệt chủng” có vẻ là những cuộc giết chóc trong các trại tập trung của Đức Quốc xã, thì những cuộc tàn sát ấy lại không phải tội ác diệt chủng lớn nhất trong thế kỷ này. Những người Tasmania và hàng trăm nhóm người khác đã từng là mục tiêu hiện đại của những trại diệt chủng tập trung thành công có quy mô nhỏ hơn. Hàng loạt những con người rải rác trên khắp thế giới là những mục tiêu tiềm năng trong tương lai gần. Đúng là nạn diệt chủng là một chủ đề đau thương mà chúng ta không muốn nghĩ tới chút nào, hay chúng ta muốn tin rằng những người tử tế không thể phạm tội diệt chủng, chỉ bọn Đức Quốc xã mới làm vậy mà thôi. Nhưng chính sự từ chối của chúng ta khi nghĩ tới điều đó đã dẫn tới những hậu quả: chúng ta chỉ làm được rất ít để tạm dừng số lượng những cuộc diệt chủng diễn ra kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ II, và chúng ta vẫn không cảnh báo được về nơi điều đó sẽ diễn ra tiếp theo. Cùng với sự phá hoại của chúng ta tới môi trường tài nguyên của chính loài người, khuynh hướng diệt chủng kết hợp với bom nguyên tử giờ đây tạo nên hai phương tiện hữu hiệu nhất để đảo ngược lại tất cả quá trình tiến bộ của con người chỉ sau một đêm.

Bất chấp mối quan tâm tới nạn diệt chủng đã tăng lên đối với những nhà tâm lý học và sinh vật học cũng như những người không có chuyên môn khác, những câu hỏi cơ bản về điều này vẫn còn nhiều tranh cãi. Liệu có bất kỳ loài thú nào vẫn thường giết hại đồng loại, hay đó chính là một sáng tạo riêng của loài người mà không có bất cứ tiền lệ nào từ động vật? Trong suốt lịch sử loài người, diệt chủng là tội ác lầm lạc hiếm có, hay trở nên thông thường tới mức mà có thể xếp thành những dấu hiệu của loài người bên cạnh nghệ thuật và ngôn ngữ? Liệu có phải tần số xuất hiện của nó đang tăng lên, bởi những vũ khí hiện đại cho phép tiến hành cuộc diệt chủng chỉ với việc nhấn một nút bấm và như vậy giảm đi bản năng ngăn cản việc giết đồng loại của loài người chúng ta? Tại sao rất nhiều trường hợp như vậy đã từng xảy ra nhưng lại thu hút quá ít sự chú ý của loài người? Liệu những kẻ diệt chủng là những cá nhân không bình thường, hay là những người bình thường nhưng bị đặt vào tình thế bất thường?

Để hiểu về tội ác diệt chủng, chúng ta không thể tiến hành tìm hiểu theo một cách quá hạn hẹp mà phải dựa vào sinh học, đạo đức và tâm lý học. Như vậy, khám phá của chúng ta về sự diệt chủng sẽ bắt đầu bằng việc lần theo dấu vết của lịch sử sinh học, từ tổ tiên vượn người của chúng ta cho đến thế kỷ XX. Sau khi đặt ra câu hỏi làm thế nào những kẻ giết người gắn kết sự diệt chủng với những tiêu chuẩn đạo đức, chúng ta có thể kiểm tra những ảnh hướng tâm lý lên những thủ phạm đã gây ra, các nạn nhân còn sống sót và cả với những người quan sát. Nhưng trước khi chúng ta tìm kiếm được những câu trả lời cho các câu hỏi này, sẽ rất hữu ích nếu bắt đầu với sự tuyệt diệt của người Tasmania, một trường hợp nghiên cứu điển hình về sự diệt chủng trên quy mô lớn.

Tasmania là một đảo nhiều núi có diện tích gần bằng Ireland và nằm cách bờ biển Đông Nam Australia 200 dặm. Khi được những người châu Âu phát hiện ra vào năm 1642, trên đảo có khoảng 5.000 thổ dân săn bắt hái lượm, sống quây quần, có mối liên hệ với thổ dân trên đất liền Australia và tồn tại ở đây một nền công nghệ có lẽ là giản đơn nhất so với bất kỳ người hiện đại nào. Những người Tasmania chỉ làm được một vài loại đồ chế tác bằng đá và gỗ đơn giản. Giống như những thổ dân ở đất liền, họ thiếu những dụng cụ bằng kim khí, một nền nông nghiệp, thú để chăn nuôi, đồ gốm, cung và tên bắn. Nhưng không như những người sống trên đất liền, họ còn thiếu cả boomerang, chó, lưới bẫy, kiến thức về khâu vá và khả năng tạo ra lửa.

Bởi vì những con thuyền độc mộc của dân Tasmania chỉ là những cái bè có khả năng đi được hành trình rất ngắn, họ không thể có được sự liên hệ với bất kỳ nhóm người nào kể từ khi mực nước biển chia cắt Tasmania ra khỏi Australia từ 10.000 năm về trước. Bị giam cầm trong thế giới riêng suốt hàng trăm thế hệ, họ đã tồn tại với đời sống biệt lập lâu dài nhất trong lịch sử loài người hiện đại - một sự biệt lập tưởng như chỉ được mô tả trong những tiểu thuyết khoa học giả tưởng. Khi những thực dân da trắng ở Australia cuối cùng đã kết thúc sự biệt lập đó, không có bất cứ hai nhóm người nào trên Trái đất lại được trang bị ít điều kiện để hiểu nhau như giữa những người da trắng và những thổ dân Tasmania.

Sự va chạm bi kịch của hai nhóm người này đã dẫn tới xung đột hầu như ngay lập tức khi những người đi biển và những người định cư đến từ nước Anh tới đây vào khoảng năm 1800. Những người da trắng đã bắt cóc trẻ con Tasmania để biến thành nô dịch, bắt cóc phụ nữ làm trò mua vui, bức hại hoặc giết chết những người đàn ông, xâm chiếm những địa bàn săn bắn và cố gắng cách ly những người Tasmania ra khỏi đất đai của họ. Vì vậy, xung đột nhanh chóng tập trung vào không gian sinh tồn, điều mà qua các thời đại lịch sử luôn là nguyên nhân thông thường nhất cho các cuộc diệt chủng. Kết quả của những cuộc vây bắt đó là, dân số bản địa của người Tasmania ở vùng Đông Bắc vào tháng Mười một năm 1830 đã giảm tới mức chỉ còn lại 72 người đàn ông trưởng thành, ba người phụ nữ và không còn một đứa trẻ nào cả. Một người dẫn đường đã bắn 19 người Tasmania bằng khẩu súng được nạp đầy đạn đinh. Bốn người dẫn đường khác đã mai phục một nhóm người bản địa, giết chết 30 người, và ném thân thể họ vào vách núi đá mà được nhớ đến cho tới tận hôm nay chính là Đồi Victoria (Đồi Chiến thắng).

Một cách tự nhiên, người Tasmania phải chống đỡ, và thế là những người da trắng cũng đã trả đũa ngược lại. Để kết thúc sự leo thang, Chính phủ Athur vào tháng Tư năm 1828 đã ra lệnh tất cả những người Tasmania phải rời khỏi những phần đất đai vốn đã bị xâm chiếm hoàn toàn bởi những người châu Âu. Để thực hiện lệnh này, những nhóm người hỗ trợ chính phủ được gọi là “nhóm lưu động”, bao gồm những người bị kết án tù được dẫn đầu bằng cảnh sát, đã truy lùng và giết chết người Tasmania. Với tuyên bố áp đặt tình trạng thiết quân luật vào tháng Mười một năm 1828, những người lính đã được lệnh có quyền giết bất kỳ người Tasmania nào lảng vảng quanh những khu vực đã được định cư. Tiếp đó, một phần thưởng đã được tuyên bố dành cho những người bản địa: 5 bảng Anh (đơn vị tiền tệ trước kia của nước Anh) cho một người trưởng thành và hai bảng cho một đứa trẻ con nếu bắt sống được. “Tóm lấy bọn da đen” là tên của chiến dịch này dựa trên màu da đen của người Tasmania, đã trở thành công việc kinh doanh béo bở lôi cuốn những cá nhân và cả các đảng phái chính quyền lưu động. Cùng lúc đó, một khoản hoa hồng đã được trao cho William Broughton, phó chủ giáo giáo phái Anh ở Australia, nhằm đưa ra đề xuất một chính sách tổng thể dành cho dân bản địa. Sau khi cân nhắc những để xuất như bắt giữ họ bán làm nô lệ, hạ độc, đánh bẫy, hay săn lùng họ với những con chó, những nhiệm vụ được nêu ra cùng với những khuyên khích gia tăng và sử dụng tới cả những cảnh sát ở các vùng núi.

Vào năm 1830, với một sứ mệnh rất đáng chú ý, George Augustus Robinson(58), đã được thuê để dồn những người Tasmania còn lại và đưa họ tới Đảo Flinder cách đó khoảng 30 dặm. Người ta đoán chắc là Robinson sẽ thực hiện những điều tốt đẹp cho người Tasmania. Ông ta đã được trả trước 300 bảng và 700 bảng còn lại sau khi mọi việc đã xong. Trải qua những nguy hiểm và khó khăn thực sự, và thêm vào đó là sự dũng cảm của một người phụ nữ bản địa tên là Truganini, ông ta đã thành công trong việc mang những người bản địa còn lại - ban đầu, bằng việc thuyết phục họ rằng có một số phận đang rất tồi tệ chờ đợi họ nếu họ không đầu hàng, rồi sau đó là việc chĩa súng vào họ. Rất nhiều người bị Robinson bắt giữ đã chết trên đường tới Flinder, nhưng khoảng 200 người đã tới đó, những người cuối cùng của một dân tộc có tới 5.000 người.

Image

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.