Liệu rằng có những tiêu chuẩn về sắc đẹp và độ hấp dẫn chung nào của con người được chấp nhận bởi những người khác nhau về hình thức như người Trung Quốc, Thụy Điển hay Fiji(22) hay không? Nếu không, liệu chúng ta có thừa hưởng sở thích riêng về bạn đời thông qua gen, hay chúng ta học được nó thông qua việc nhìn vào những thành viên khác trong xã hội? Thực chất chúng ta đã chọn bạn tình và bạn đời của bản thân như thế nào?
Có thể bạn sẽ ngạc nhiên khi nhận ra rằng vấn đề này luôn xuất hiện mới mẻ trong suốt quá trình tiến hóa của loài người - hoặc ít nhất là đã trở nên quan trọng đối với chúng ta hơn rất nhiều so với hai loài tinh tinh còn lại. Như chúng ta đã thảo luận, hệ thống quan hệ giao phối quen thuộc của con người, theo lý tưởng, dựa vào việc tham gia duy trì của cả hai người, là một sáng tạo của con người. Loài tinh tinh lùn có sự lựa chọn về tình dục theo hướng ngược lại: con cái giao phối lần lượt với nhiều con đực, và có nhiều hoạt động giới tính hơn giữa các con cái cũng như giữa các con đực. Tinh tinh thường cũng không hoàn toàn bừa bãi - một con đực và một con cái đôi khi cũng có thể bắt đầu và “kết giao” trong một vài ngày - nhưng chúng vẫn được xem là bừa bãi so với tiêu chuẩn của con người. Tuy nhiên, con người có sự chọn lựa về tình dục nhiều hơn, bởi việc nuôi nâng một đứa trẻ là khó khăn nếu không có sự trợ giúp của người cha (ít nhất là đối với người săn bắt-hái lượm), và vì thế tình dục trở thành một phần của chất dính kết, giúp phân biệt liên minh cha mẹ(23) với những người đàn ông và những phụ nữ thường gặp khác. Việc chọn bạn đời hay bạn tình không giống nhiều lắm với một phát minh mới của loài người mà như sự sáng tạo lại một vài điều được thực hiện bởi rất nhiều loài đơn phôi (một vợ-một chồng) khác (theo danh nghĩa) với sợi dây liên kết bền chặt và đã bị mất đi từ giai đoạn tổ tiên vượn người của chúng ta. Những động vật kén chọn này bao gồm nhiều loài chim, và người họ hàng xa của chúng ta, loài vượn.
Ở chương trước chúng ta vừa thấy có một sự miêu tả lý tưởng về xã hội loài người dựa trên những cặp một vợ một chồng cùng tồn tại với rất nhiều mối quan hệ ngoài hôn nhân. Sự hấp dẫn về giới tính thậm chí còn đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn của chúng ta với bạn tình ngoài hôn nhân hơn là với bạn đời, mà phụ nữ ngoại tình có xu hướng khó tính hơn đàn ông ngoại tình. Vì thế, việc chọn lựa bạn tình, bạn đời hay gì đi chăng nữa cũng là một phần khá quan trọng của những thứ định nghĩa nên loài người. Nó là cơ sở của nguồn gốc động vật nhân hình của chúng ta cũng giống như của sự thay đổi cấu trúc xương chậu. Rồi chúng ta sẽ thấy rằng hầu hết những gì chúng ta nghĩ về sự khác biệt chủng tộc loài người có thể bắt nguồn từ kết quả phụ của những tiêu chuẩn về vẻ đẹp mà chúng ta dùng để chọn bạn tình.
Bên cạnh mối quan tâm trên lý thuyết này câu hỏi chúng ta quyết định những lựa chọn này như thế nào cũng là mối quan tâm rất cá nhân. Nó ám ảnh hầu hết chúng ta trong phần lớn cuộc đời. Trong chúng ta, những người chưa có gia đình thường mơ mộng hàng giờ đồng hồ mỗi ngày về người chúng ta sẽ kết thân hay sẽ cưới. Câu hỏi này trở nên hấp dẫn hơn khi chúng ta so sánh điều gì sẽ xảy ra với những người khác nhau trong cùng một nền văn hóa. Hãy nghĩ tới người đàn ông hay phụ nữ hấp dẫn đối với bạn. Ví dụ, như nếu bạn là đàn ông, bạn thích phụ nữ tóc vàng hay tóc đen, gầy mảnh hay đẫy đà, mắt to hay mắt nhỏ? Còn nếu bạn là phụ nữ, bạn thích đàn ông có râu quai nón hay nhẵn thín, cao hay thấp, tươi cười hay cau có? Có thể bạn không thích ai cả, nhưng chỉ có một số đặc điểm nào đó là hấp dẫn đối với bạn. Ai cũng có thể kể tên những người bạn của mình đã ly dị rồi sau đó chọn một người bạn đời thứ hai có hình thức giống hệt với người thứ nhất. Một đồng nghiệp của tôi đã từng có rất nhiều bạn gái mà họ đều giản dị, mảnh khảnh, tóc nâu và khuôn mặt tròn cho đến khi anh ấy tìm được một người thích hợp và lấy làm vợ. Bất kể sở thích của bạn ra sao, chắc chắn bạn sẽ nhận thấy một vài người bạn của bạn có sở thích hoàn toàn khác.
Quan niệm cụ thể của từng người trong chúng ta là một ví dụ của cái được gọi là “hình ảnh tìm kiếm”. (Một hình ảnh tìm kiếm là một hình ảnh tưởng tượng dựa vào sự so sánh của chúng ta về những sự vật và con người xung quanh để có thể nhận ra một thứ gì đó nhanh nhất, ví dụ như một chai Perrier ở giữa những chai nước khác trên giá của siêu thị, hay con nhà nào đó trong sân chơi với những đứa trẻ khác.) Vậy chúng ta xây dựng hình ảnh tìm kiếm đối với bạn đời của mình như thế nào? Liệu chúng ta có tìm người gần gũi và giống chúng ta hay người nào đó hoàn toàn khác biệt? Liệu hầu hết đàn ông châu Âu có cưới những cô vợ ở quần đảo Polynesia nếu có cơ hội không? Chúng ta có tìm một người bổ sung cho chúng ta nhằm đáp ứng trọn vẹn những mong muốn của chúng ta không? Ví dụ như, chắc chắn có những người đàn ông sống phụ thuộc, những người lấy phải những người vợ giống như mẹ của mình, nhưng những sự kết đôi đó mới điển hình làm sao.
Các nhà tâm lý học giải đáp câu hỏi này bằng cách khảo sát nhiều cặp vợ chồng, cân nhắc tới mọi thứ có thể nhận biết được từ hình thức bên ngoài của họ và các đặc điểm khác, sau đó tìm xem ai sẽ lấy ai. Một phương pháp số học đơn giản để miêu tả kết quả thông qua một chỉ số thống kê được gọi là hệ số tương quan. Nếu bạn xếp 100 ông chồng theo thứ tự của một số đặc điểm nào đó (ví dụ như chiều cao), và nếu bạn cũng xếp 100 bà vợ của họ theo thứ tự tương tự, hệ số tương quan sẽ chỉ ra một người đàn ông nào đó có thứ tự giống như thứ tự của vợ mình hay không. Một hệ số tương quan +1 cho thấv sự tương ứng hoàn hảo: người đàn ông cao nhất sẽ lấy người phụ nữ cao nhất, người đàn ông cao thứ 37 sẽ lấy người phụ nữ cao thứ 37, và cứ tiếp tục như thế. Còn một hệ số tương quan -1 lại có nghĩa là sự kết hợp hoàn hảo là theo chiều ngược lại: người đàn ông cao nhất sẽ lây người phụ nữ thấp nhất, người đàn ông cao thứ 37 sẽ lấy người phụ nữ thấp thứ 37, và cứ như vậy. Cuối cùng, một hệ số tương quan bằng không (0) sẽ có nghĩa là các cặp vợ chồng kết hợp một cách ngẫu nhiên theo chiều cao: một người đàn ông cao có thể cưới một người phụ nữ thấp cũng như một người phụ nữ cao. Những ví dụ trên là về chiều cao, tuy nhiên, hệ số tương quan cũng có thể được tính bằng bất kỳ đặc điểm gì như thu nhập hay chỉ số thông minh (IQ).
Nếu bạn xem xét được đủ những điều này từ đủ số cặp vợ chồng, thì bạn sẽ thấy được kết quả sau. Cũng không ngạc nhiên cho lắm, các hệ số tương quan cao nhất - thường vào khoảng +0,9 - là đối với các đặc điểm tôn giáo, dân tộc, chủng tộc, địa vị kinh tế xã hội, tuổi và quan điểm chính trị. Nói cách khác, hầu hết những người chồng và người vợ chứng tỏ có chung tôn giáo, dân tộc, vv… Có thể bạn cũng sẽ không ngạc nhiên nếu biết các hệ số tương quan cao nhất tiếp theo, thường rơi vào khoảng +0,4 - là cho những xem xét về tính cách và mức độ thông minh, ví dụ như tính hướng ngoại, tính khéo léo và chỉ số thông minh. Người bừa bộn có xu hướng sẽ lấy người bừa bộn, mặc dù cơ hội để một người bừa bộn cưới một người ngăn nắp không thấp như cơ hội một kẻ chống đối chính trị cưới một người cánh tả.
Thế còn việc kết hợp giữa những người chồng và người vợ dựa trên các đặc điểm thể chất? Câu trả lời không phải giống như suy nghĩ ban đầu của bạn nếu như bạn chỉ nhìn vào một số ít cặp vợ chồng. Đó là bởi vì chúng ta không lựa chọn bạn đời của mình vì hình thức của họ cẩn thận như chúng ta lựa chọn bạn tình cho chú chó biểu diễn, chú ngựa đua hay chú bò của mình. Tuy nhiên, chúng ta cũng có sự lựa chọn. Nếu như bạn xem xét đủ số cặp vợ chồng, câu trả lời cuối cùng sẽ đơn giản hơn mức chúng ta tưởng tượng: xét về trung bình, các cặp vợ chồng giống nhau không nhiều nhưng đáng kể ở hầu hết mọi đặc điểm thể chất được xem xét tới.
Điều này là đúng đối với tất cả những tính trạng thấy được mà bạn nghĩ tới đầu tiên khi được hỏi về người bạn đời lý tưởng của mình - chiều cao, cân nặng, màu tóc, màu mắt và màu da của anh ấy hay cô ấy. Nhưng kết luận đó cũng đúng với một loạt các tính trạng đáng ngạc nhiên khác mà bạn có thể không đề cập đến trong bản mô tả về người bạn đời hoàn hảo. Những tính trạng này rất đa dạng từ bề rộng của mũi, chiều dài của dái tai hay ngón tay giữa, vòng eo, khoảng cách giữa hai mắt và thể tích phổi! Các nhà nghiên cứu đã thu được kết quả này từ rất nhiều nhóm người khác nhau như người Ba Lan ở Ba Lan, người Mỹ ở Michigan, người châu Phi ở Chad. Nếu bạn không tin, bạn có thể thử để ý màu mắt (hay đo chiều dài dái tai) của những cặp vợ chồng dự bữa tiệc sắp tới của bạn, và khi đó hãy sử dụng máy tính bỏ túi để tính hệ số tương quan.
Hệ số của các tính trạng thể chất trung bình là +0,2 - không quá cao như các tính trạng về tính cách (+0,4) hay tôn giáo (+0,9), nhưng vẫn rõ ràng là cao hơn 0. Hệ số tương quan của một số tính trạng thể chất thậm chí còn cao hơn 0,2 - ví dụ như hệ số 0,61 rất đáng ngạc nhiên của chiều dài ngón tay giữa, ít nhất, một cách vô thức, con người quan tâm đến chiều dài ngón tay giữa của vợ hay chồng mình hơn là màu mắt và chỉ số thông minh!
Tóm lại là ai, như thế nào thì cũng sẽ lấy người như thế ấy(24). Trong số những lời giải thích rõ ràng cho những kết quả này thì có một giải thích là do sự gần gũi: chúng ta có xu hướng sống trong một vùng được xác định bởi địa vị kinh tế xã hội, tôn giáo và dân tộc. Chẳng hạn như trong các thành phố lớn ở Mỹ, ta có thể chỉ ra đâu là vùng giàu có, đâu là vùng nghèo khổ, và cũng có thể chỉ đâu là khu người Do Thái, đâu là khu người Hoa, khu người Ý, người da đen, vv… Chúng ta gặp những người cùng chung tôn giáo khi chúng ta đi nhà thờ, và chúng ta có xu hướng gặp những người có chung địa vị kinh tế xã hội hay quan điểm chính trị trong rất nhiều hoạt động hàng ngày của chúng ta. Vì những mối quan hệ đó có thể cho chúng ta nhiều cơ hội để gặp những người giống chúng ta hơn là gặp những người khác chúng ta về những mặt trên, và lẽ tất nhiên, chúng ta có nhiều khả năng kết hôn với người có cùng tôn giáo, địa vị kinh tế xã hội vv… Nhưng chúng ta không hề sống trong một khu vực gồm những người có cùng chiều dài dái tai, chính vì vậy, chắc chắn phải có những lý do khác giải thích việc các cặp vợ chồng cũng có xu hướng phù hợp với nhau về nét tính trạng đó.
Một lý do hiển nhiên khác cho việc tại sao con người thường muốn lấy người giống mình đó là bởi việc kết hôn không phải chỉ là một lựa chọn mà còn là một sự thương lượng. Chúng ta không phải ra ngoài tìm kiếm cho đến khi tìm được một người có màu mắt và chiều dài ngón tay giữa thích hợp và tuyên bố rằng “Em/ anh sẽ kết hôn với tôi”. Đối với hầu hết chúng ta, hôn nhân là kết quả của một lời cầu hôn chứ không phải từ một tuyên bố đơn phương, và lời cầu hôn là cực điểm của một số kiểu thương lượng. Một người đàn ông và một người phụ nữ càng giống nhau về quan điểm chính trị, tôn giáo, tính cách thì việc thương lượng lại càng suôn sẻ hơn. Sự tương đồng trong các tính trạng thuộc về nhân cách xét trung bình đối với các cặp vợ chồng là cao hơn các cặp đang yêu, và trong các cặp vợ chồng hạnh phúc cao hơn các cặp vợ chồng không hạnh phúc, các cặp vợ chồng đang chung sống cao hơn các cặp đã ly dị. Nhưng điều này vẫn không lý giải nổi sự tương đồng của các cặp vợ chồng ở chiều dài dái tai, cái họa hoằn lắm mới được dẫn ra như một nhân tố dẫn đến ly dị.
Bên cạnh mối quan hệ gần gũi và mức độ suôn sẻ của việc thương lượng, nhân tố còn lại quyết định bạn lựa chọn sẽ kết hôn với ai chắc chắn là từ sự quyến rũ thể xác dựa tren diện mạo bên ngoài. Điều này, bản thân nó không phải điều bất ngờ. Hầu hết chúng ta nhận ra sở thích của mình qua một số đặc điểm thể chất mà chúng ta thường không nhận ra như dái tai, ngón tay giữa và khoảng cách giữa hai mắt. Tuy nhiên tất cả những đặc điểm đó đều âm thầm đóng góp vào quyết định bất thần khi chúng ta được giới thiệu cho ai đó và có một tiếng nói bên trong bảo chúng ta rằng, “Cô ấy chính là mẫu người mà tôi muốn!”
Đây là một ví dụ. Khi vợ tôi và tôi được giới thiệu với nhau, ngay tức khắc, tôi thấy Marie thật quyến rũ và ngược lại. Khi hồi tưởng lại, tôi có thể hiểu tại sao, bởi chúng tôi đều có mắt màu nâu, tương đồng trong chiều cao, vóc dáng và màu mắt… Nhưng mặt khác tôi cũng có cảm giác về một điều gì đấy ở Marie mà không thật sự phù hợp với khuôn mẫu lý tưởng của tôi, mặc dù tôi không thể chỉ ra được điều đó chính xác là gì. Tôi đã không giải đáp được thắc mắc này cho đến khi lần đầu tiên Marie và tôi đi xem múa ba lê cùng nhau. Tôi đưa Marie mượn chiếc kính xem nhạc kịch, và khi cô ấy đưa trả lại, tôi nhận ra rằng cô ấy đã đẩy hai mắt kính gần lại đến mức tôi không thể nhìn qua được cho đến khi tôi đẩy lại chúng ra xa nhau. Khi đó, tôi biết Marie có cặp mắt gần nhau hơn tôi và hầu hết những người phụ nữ mà tôi theo đuổi trước kia đều có cặp mắt với khoảng cách giống như tôi. Nhưng nhờ dái tai và những đức hạnh khác của Marie mà tôi có thể dung hòa được sự không phù hợp của khoảng cách giữa hai mắt của tôi và Marie. Tuy nhiên, tình tiết chiếc kính nhạc kịch đã giúp tôi hiểu rõ giá trị của cái nhìn lần đầu tiên khi tôi luôn bị kích thích bởi một cặp mắt xa nhau mặc dù trước đây tôi chưa bao giờ có nhận thức về điều đó.
Như vậy chúng ta có xu hướng sẽ kết hôn với người giống chúng ta. Nhưng hãy đợi một chút. Những người đàn ông trông giống với một người phụ nữ nhất là những người có một nửa số gen giống với người phụ nữ ấy: đó chính là bố và anh/ em trai cô ta! Tương tự như vậy bạn đời phù hợp nhất với một người đàn ông chính là mẹ và chịem gái anh ta! Hiện tại hầu hết chúng ta đều tuân theo sự kiêng kỵ tội loạn luân và rõ ràng là không kết hôn với bố mẹ hay anh chị em của mình.
Thay vào đó, tôi muốn nói rằng con người thường có xu hướng kết hôn với người trông giống bố mẹ hay anh chị em khác giới với mình. Đó là bởi từ khi còn là những đứa trẻ, chúng ta đã bắt đầu xây dựng hình ảnh tìm kiếm đối với người bạn tình trong tương lai của mình, và hình ảnh đó bị ảnh hường rất lớn bởi những người khác giới mà chúng ta thường xuyên gặp nhất. Đối với hầu hết chúng ta thì đó chính là mẹ (hay bố), chị/ em gái (hay anhem trai) và những người bạn thân thời niên thiếu. Những hành vi của chúng ta được tóm tắt lại trong một bài hát nổi tiếng của những năm 1920,
Tôi muốn một cô gái
Chỉ đơn giản là giống với cô gái
Đã cưới người cha yêu quý của tôi…
Đến lúc này có thể bạn đang quay sang người bạn đời hay người quan trọng khác của mình, kéo thước dây ra và khám phá những sự ghép cặp rõ ràng không tương xứng giữa dái tai của bạn và của anh ấy (hay cô ấy). Hoặc có thể bạn đang lấy ảnh của mẹ hay em gái bạn ra và không phát hiện những điểm tương đồng mờ nhạt nhất khi để bức ảnh đó bên cạnh người vợ của mình. Nếu vợ của bạn không giống mẹ của bạn như đúc thì cũng đừng ngừng đọc, và ngược lại cũng đừng lo lắng mà đến gặp một bác sĩ tâm thần bởi vì hình ảnh tìm kiếm bệnh hoạn của mình. Sau cùng, hãy nên nhớ rằng:
1. Các nghiên cứu luôn luôn chỉ ra rằng những nhân tố như tôn giáo và tính cách có ảnh hưởng đến sự lựa chọn người bạn đời nhiều hơn rất nhiều so với ảnh hưởng của hình thức bên ngoài. Tôi chỉ đơn thuần nói rằng các dặc điểm thể chất cũng có một số ảnh hưởng. Trên thực tế, tôi dự đoán hệ số tương quan của các đặc điểm thể chất đối với những cặp đang yêu nhau cao hơn nhiều so với những cặp vợ chồng. Đó là bởi vì chúng ta có thể lựa chọn những bạn tình thông thường chỉ dựa trên sự hấp dẫn thể chất mà không cần xem xét đến tôn giáo và tư tưởng chính trị. Dự đoán này vẫn còn đang chờ đợi được kiểm nghiệm.
2. Cũng nên nhớ rằng hình ảnh tìm kiếm của bạn có thể bị ảnh hưởng bởi bất kỳ người khác giới nào bạn thường xuyên nhìn thấy khi bạn đang lớn. Những người này có thể bao gồm bạn bè, anh chị em cũng như bố mẹ. Có thể vợ của bạn giống với cô bé hàng xóm hơn là giống mẹ bạn.
3. Cuối cùng hãy nhớ rằng cần rất nhiều những đặc điểm thể chất độc lập cũng nằm trong những hình ảnh tìm kiếm của bạn, vì thế hầu hết chúng ta sẽ dừng tìm kiếm ở một người bạn đời giống ta ở nhiều đặc điểm với mức độ tương đối trung bình hơn là ở một số ít đặc điểm với mức độ giống nhau cao. Ý tưởng này được biết đến như là “học thuyết tóc xù hoe đỏ” anh ta sẽ có thể lớn lên với ý nghĩ là những người có tóc xù hoe đỏ rất thú vị. Những người có tóc hoe đỏ đã khá hiếm, người có tóc xù hoe đỏ còn hiếm hơn. Hơn nữa, sở thích của đàn ông kể cả đối với bạn tình thường phụ thuộc vào một số đặc điểm thể chất khác nữa, và tất nhiên sở thích của anh ta đối với người vợ còn phụ thuộc vào quan điểm của cô ấy về con cái, chính trị và tiền bạc. Kết quả là trong số một nhóm những người con của các bà mẹ tóc xù hoe đỏ, chỉ một số người may mắn tìm được một cô gái giống với mẹ mình ở hai phương diện trên, một số chỉ lấy được người có tóc xù nhưng không hoe đỏ, một số khác lấy người tóc hoe đỏ nhưng không xù, và hầu hết là lấy người tóc đen không xù bình thường.
Bạn cũng có thể phản đối rằng luận điểm của tôi chỉ có thể áp dụng được cho những xã hội được chọn vợ, chọn chồng. Như những người bạn Ấn Độ và Trung Quốc đã nhanh chóng nhắc nhở tôi, đó là một thói quen đặc biệt của nước Mỹ và châu Âu thế kỷ XX. Nó không đúng với nước Mỹ và châu Âu trong quá khứ và vẫn không phù hợp với hiện thực ngày nay ở phần lớn thế giới, nơi mà thay vì vậy, các cuộc hôn nhân được dàn xếp bởi gia đình. Chú rể và cô dâu thậm chí thường không được giới thiệu với nhau cho đến tận ngày cưới. Vậy luận điểm của tôi làm thế nào để có thể áp dụng cho những cuộc hôn nhân kiểu này?
Tất nhiên là không thể, nếu ai đó đang chỉ nói tới những cuộc hôn nhân hợp pháp. Nhưng luận điểm của tôi vẫn có thể được áp dụng để lựa chọn bạn tình, những người có thể sản sinh một số lượng không hề nhỏ những đứa trẻ, giống như các nghiên cứu về nhóm máu đã chứng minh cho trường hợp của những đứa trẻ Mỹ và Anh. Trên thực tế tôi cho rằng nếu như việc có con ngoài giá thú xảy ra thường xuyên trong những xã hội mà phụ nữ đã có thể áp dụng sở thích của mình trong việc chọn chồng, thì nó sẽ càng phổ biến hơn trong xã hội với hôn nhân dàn xếp, nơi mà sự lựa chọn của phụ nữ chỉ có thể được thể hiện ngoài hôn nhân. Đây không còn chỉ là một trường hợp người đàn ông Fiji thích phụ nữ Fiji hơn phụ nữ Thụy Điển và ngược lại: “các hình ảnh tìm kiếm của chúng ta còn cụ thể hơn thế rất nhiều. Tuy nhiên, vẫn còn những câu hỏi chưa được giải đáp. Liệu tôi có được di truyền hay tiếp thu hình ảnh tìm kiếm ai đó giống mẹ tôi không? Nếu tôi được đề nghị lựa chọn quan hệ với em gái hay với một phụ nữ không quen biết, chắc chắn tôi sẽ từ chối đề nghị với em gái mình và có thể là cả cô em họ đời thứ nhất, nhưng liệu tôi có thích cô em họ đời thứ hai hơn là một người phụ nữ lạ không (bởi Vì em họ thường giống với tôi hơn)? Đã có một số thí nghiệm quan trọng mà có thể giúp trả lời những câu hỏi này - ví dụ như giữ một người đàn ông trong một cái lồng lớn với các chị em họ đời thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư và thứ năm, đếm số lần anh ta quan hệ với từng người, và lập lại thí nghiệm với rất nhiều đàn ông (hoặc phụ nữ) và anh chị em họ của họ. Than ôi, những thí nghiệm này rất khó có thể thực hiện trên người, nhưng chúng tôi đã thực hiện trên một vài loài động vật, và có được kết quả bổ ích. Tôi sẽ đưa ra ba ví dụ: chim cút yêu anh em họ, chuột nhất và chuột cống được xức nước hoa. (Chúng ta không thể sử dụng những người họ hàng gần gũi của chúng ta, ví dụ như những loài tinh tinh, bởi chúng không có tính chọn lựa cao.) Đầu tiên hãy xét đến trường hợp của những con chim cút Nhật Bản, loài thường lớn lên với bố mẹ đẻ và các anh chị em. Tuy nhiên, cũng có thể tạo ra những chú chim cút được “chăm sóc chéo” bằng cách tráo đổi trứng giữa các chim cút mẹ và tổ của chúng trước khi trứng nở. Bằng cách đấy, một chú chim cút con có thể được chăm sóc bởi bố mẹ nuôi và lớn lên cùng với những “anh chị em giả” - tức là cùng lứa nhưng không có quan hệ di truyền.
Sở thích của những chú chim cút đực được thử nghiệm bằng cách đặt một chim trống vào lồng với hai chim mái và quan sát chim trống dành thời gian hay quan hệ với chim mái nào nhiều hơn. Khi chim trống được lựa chọn giữa các chim mái mà nó chưa từng thấy bao giờ (kể cả một số chim mái là họ hàng với nó nhưng đã bị cách ly từ trước khi nở), chim trống vẫn thích chim mái họ đời thứ nhất hơn chim mái họ đời thứ ba hoặc chim mái không có quan hệ họ hàng, nhưng chim trống cũng thích chim mái giả đời thứ nhất hơn chị em ruột. Hiển nhiên rằng, con chim cút trống khi lớn lên đã thu nhận những hình ảnh của các chị em (hay mẹ) mà nó đã sinh sống cùng, và sau đó tìm bạn tình rất giống, nhưng không quá giống với họ. Theo ngôn ngữ có tính kỹ thuật hết sức lạ thường, các nhà sinh học đặt tên cho tập tính này là Nguyên lý của sự tương đồng trung gian tối ưu. Giống như những sự việc khác trong cuộc sống, nội giao phối có vẻ như chỉ tốt nếu không là thái quá - nội giao phối ở mức độ nhỏ, nhưng không quá nhiều. Ví dụ như, trong số các chim mái không có họ hàng, chim trống thích chim mái không giống hơn là chim mái giống với những chim mái lớn lên cùng nó (một “chị em giả” - con chim mái đã nhấn vào đặc điểm không-quá-loạn-luân của chú chim đực đó).
Chuột nhắt và chuột cống đều thu nhận từ lúc còn nhỏ những đặc điểm nên tìm thấy ở bạn tình, nhưng chúng chọn lựa bằng khứu giác hơn là hình thức. Khi chuột nhắt cái con được nuôi dưỡng bởi bố mẹ được xịt nước hoa Parma Violet thường xuyên, khi trưởng thành, chuột cái này sẽ tìm kiếm chuột đực có mùi nước hoa Parma Violet và ưa thích những con đực dạng ấy hơn chuột đực không có mùi nước hoa. Trong một thí nghiệm khác, chuột cống đực con được nuôi dưỡng bởi chuột cống mẹ có núm vú và âm đạo được xịt hương chanh, chuột đực này khi đã trưởng thành được nuôi trong lồng với các con chuột cái có hương chanh và chuột cái không có mùi hương. Mỗi lần tiếp xúc đều được thu băng lại và phát lại để ghi nhớ thời điểm của những sự kiện chủ yếu. Nhờ đó, người ta đã phát hiện ra rằng những con chuột đực có mẹ được xịt nước hoa nhảy lên con cái và xuất tinh khi tiếp xúc với con cái có mùi nước hoa nhanh hơn với con cái không có mùi, và ngược lại đối với trường hợp của những con chuột đực có mẹ không có mùi nước hoa. Ví dụ như chuột đực con của những chuột mẹ có mùi nước hoa bị kích thích bởi bạn tình có mùi nước hoa đến mức chúng xuất tinh chỉ trong 11,5 phút, trong khi đó chúng cần đến 17 phút để xuất tinh với những bạn tình không có mùi nước hoa. Nhưng chuột đực con của những chuột mẹ không có mùi nước hoa cần 17 phút với bạn tình có mùi nước hoa và chỉ 12 phút với bạn tình không có mùi nước hoa giống như mẹ nó. Rõ ràng là chuột đực đã học được hứng thú tình dục từ mẹ có mùi thơm (hoặc không có mùi thơm), chứ chúng không được di truyền kiến thức này.
Vậy những thí nghiệm trên chim cút, chuột nhắt và chuột cống đã cho thấy điều gì? Kết quả là khá rõ ràng: những con vật thuộc các loài này học cách nhận biết bố mẹ và anh chị em khi chúng lớn lên, và sau đó chúng được lập trình để tìm kiếm một con vật khác khá giống với bố mẹ hoặc anh chị em thuộc giới khác - nhưng không phải là bản thân mẹ hoặc em gái chúng. Chúng có thể thừa kế vài hình ảnh tìm kiếm về những gì cấu tạo nên một con chuột cống nhưng rõ ràng là chúng học hỏi từ những hình ảnh tìm kiếm của mình người bạn tình nào là đặc biệt xinh đẹp, như một cô chuột cống cái thích hợp chẳng hạn.
Ngay lập tức, chúng ta có thể đánh giá được đúng những thí nghiệm nào là cần thiết để thu nhận được chứng cứ rõ ràng về giả thuyết này ở con người. Chúng ta có thể chọn lấy một gia đình hạnh phúc ở mức độ trung bình, xịt nước hoa Parma Violet cho người bố hàng ngày, xịt dầu hương chanh lên núm vú của mẹ hàng ngày khi người mẹ đó đang cho con bú và đợi 20 năm để xem con trai và con gái của họ sẽ lấy ai. Than ôi, chúng ta sẽ nản chí bởi những chướng ngại khi thiết lập Sự thật khoa học cho con người. Nhưng một số quan sát và thí nghiệm ngẫu nhiên vẫn giúp chúng ta nhích dần đến sự thật.
Hãy xét luật cấm loạn luân. Các nhà khoa học đang tranh luận về việc cấm đoán trong cộng đồng người là do bản năng hay do học tập. Căn cứ vào việc bằng cách này hay cách khác chúng ta có được sự kiêng kỵ loạn luân, vậy chúng ta học được từ ai đó để áp dụng nó hay chúng ta được thừa hưởng thông qua gen? Thông thường chúng ta lớn lên cùng những người họ hàng gần gũi nhất (bố mẹ và anh chị em ruột), vì thế việc tránh để họ trở thành bạn tình của chúng ta là do di truyền và học tập góp phần ngang nhau. Nhưng việc anh chị em nuôi cũng tránh loạn luân cho thấy sự kiêng kỵ này là do học tập.
Kết luận này được củng cố bởi một loạt các quan sát thú vị ở khu định cư của người Do Thái - một tập hợp những người sống, học tập và chăm sóc trẻ con theo một nhóm lớn. Trẻ con trong khu định cư sống từ khi nhỏ cho đến lúc mới trưởng thành trong một hội thân thiết với nhau, giống như một gia đình khổng lồ gồm các anh chị em, Nếu như quan hệ gần gũi là nhân tố chính ảnh hưởng đến việc chúng ta sẽ lấy ai thì hầu hết các trẻ em trong khu định cư sẽ lấy người trong khu định cư. Trên thực tế một nghiên cứu về 2.769 cuộc hôn nhân của những đứa trẻ được nuôi nấng trong khu định cư cho thấy chỉ 13 trường hợp là giữa những đứa trẻ trong cùng một khu định cư; tất cả những đứa trẻ khác đều lấy người ở ngoài khu định cư khi đến tuổi trưởng thành.
Kể cả 13 trường hợp đó cũng là ngoại lệ và tuân theo một quy tắc: tất cả những cặp vợ chồng đều có một trong hai người được chuyển vào khu định cư sau sáu tuổi! Trong số những đứa trẻ được nuôi nấng trong cùng một nhóm ngang hàng, không những không có đám cưới nào mà còn không hề có trường hợp quan hệ tình dục khác giới nào của thanh niên hay người lớn. Đây quả là một sự kiềm chế đáng ngạc nhiên của gần 3.000 đàn ông và phụ nữ trẻ tuổi, những người hàng ngày vẫn có được những cơ hội quan hệ tình dục với nhau, mà có rất ít cơ hội quan hệ với những người bên ngoài. Nó làm sáng tỏ một cách sâu sắc rằng lứa tuổi từ lúc sinh ra đến khi sáu tuổi là một quãng thời gian quyết định cho việc hình thành sở thích về giới tính cua chúng ta. Chúng ta học tập, tuy một cách vô thức, rằng bạn thân của chúng ta từ khoảng thời gian đó không thể là bạn tình khi chúng ta trưởng thành.
Xem ra chúng ta cũng học được một phần trong hình ảnh tìm kiếm cho chúng ta biết chúng ta đang tìm ai chứ không phải chỉ là phần cho chúng ta biết chúng ta nên tránh ai. Chẳng hạn như một người bạn của tôi gốc Hoa 100% tình cờ lớn lên trong một cộng đồng đều là những gia đình da trắng. Cuối cùng khi trưởng thành, cô ấy chuyển đến một vùng có nhiều người đàn ông Trung Quốc, và đôi lúc cô ấy hẹn hò với cả đàn ông Trung Quốc và đàn ông da trắng, nhưng đã nhận ra rằng người đàn ông da trắng mới chính là người hấp dẫn cô ấy. Cô ấy đã kết hôn hai lần, cả hai lần đều là với đàn ông da trắng. Kinh nghiệm của bản thân đã khiến cô ấy hỏi những người bạn nữ Trung Quốc về lai lịch của họ. Kết quả là hầu hết những người bạn của cô ấy được nuôi nấng trong khu vực của người da trắng sẽ kết hôn với người da trắng, trong khi đó, những người lớn lên giữa vùng của người Trung Quốc sẽ kết hôn với người Trung Quốc - mặc dù tất cả họ đều có rất nhiều đàn ông thuộc cả hai nguồn gốc để lựa chọn trong suốt quãng thời gian trưởng thành trẻ tuổi. Vì thế, những người sống xung quanh khi chúng ta lớn lên mặc dù không phải là sẽ bạn tình của chúng ta, nhưng lại định hình tiêu chuẩn về sắc đẹp và hình ảnh tìm kiếm của chúng ta.
Bây giờ hãy nghĩ về bản thân bạn: kiểu người nào bạn cho là hấp dẫn về mặt hình thức, và bạn xây dựng được sở thích đó từ đâu? Tôi đoán rằng hầu hết mọi người, giống như tôi, có thể phát hiện thấy sở thích của mình là từ hình thức của bố mẹ hoặc anh chị em ruột hoặc bạn bè thời niên thiếu. Vì thế đừng chán nản bởi tất cả những đúc kết của cha ông về sự hấp dẫn giới tính – “Đàn ông thích phụ nữ tóc vàng hoe”, “Đàn ông hiếm khi để ý những cô gái đeo kính”, vv… Mỗi “quy tắc” như vậy chỉ áp dụng với một số người trong chúng ta, và ngoài kia có rất nhiều đàn ông có mẹ tóc đen và cận thị. May mắn là cả vợ tôi và tôi, đều có tóc đen và đeo kính, được sinh ra bởi bố mẹ tóc đen và đeo kính - vẻ đẹp nằm trong mắt của người thưởng thức mà thôi.