Nước Mỹ đã chọn ra hai ngày quốc lễ, đó là ngày Columbus(80) và ngày Lễ Tạ ơn(81), để kỷ niệm những khoảnh khắc hào hùng khi người châu Âu “khám phá” ra Tân Thế giới. Không một ngày lễ nào được dành để tôn vinh cho những phát hiện từ rất lâu trước đó của người da đỏ. Nhưng, những khai quật khảo cổ lại cho thấy, theo dòng sự kiện, khám phá trước đó của người da đỏ đã giảm bớt vai trò của những chuyến phiêu lưu của Christopher Columbus và của những người di cư vùng Plymouth(82). Có lẽ trong khoảng ít nhất 1.000 năm tìm đường xuyên qua những dải băng trôi Bắc Cực ngang qua biên giới giữa Mỹ và Canada ngày nay, người da đỏ đã tràn xuống vùng đầu mút của Patagonia(83) và đưa dân đến cư ngụ tại hai lục địa màu mỡ chưa được khám phá trước đó. Hành trình của người da đỏ về hướng Nam là một trong những cuộc bành trướng vĩ đại nhất trong lịch sử của người tinh khôn (Homo sapien). Không có bất cứ một điều gì như thế có thể xảy ra một lần nữa trên hành tinh của chúng ta.
Việc đi về phía Nam được đánh dấu bằng một sự kiện khác. Khi những thợ săn da đỏ đến, họ thấy ở châu Mỹ có rất nhiều động vật lớn có vú mà ngày nay đã bị tuyệt chủng, như voi ma mút và voi răng mấu, những con lười sống dưới đất nặng tới ba tấn, những con tatu răng chạm nặng cả tấn, những con hải ly có kích thước của một con gấu và hổ răng kiếm, có cả sư tử châu Mỹ, báo, lạc đà, ngựa và nhiều loài khác nữa.
Nếu những con vật to lớn này có còn sống sót thì ngày nay, khách du lịch đến thăm công viên Quốc gia Yellowstone(84) có thể còn được quan sát những con voi ma mút và sư tử cùng với những con gấu và bò rừng bison. Câu hỏi rằng liệu chuyện gì đã xảy ra tại thời điểm những người thợ săn gặp những con quái thú to lớn đó vẫn còn gây nhiều tranh cãi giữa các nhà khảo cổ học và cổ sinh vật học. Theo cách giải thích có vẻ như hợp lý nhất, kết cục là dẫn tới một cuộc “chiến tranh” mà trong đó, những con quái thú to lớn nhanh chóng bị tiêu diệt, có thể chỉ trong vòng 10 năm tại một số địa điểm xác định. Nếu quan điểm này là đúng đắn, đây có thể coi là cuộc tuyệt chủng lớn nhất của các loài động vật có vú kể từ khi có sự va chạm của một tiểu hành tinh lên Trái đất, tiêu diệt loài khủng long vào 65.000.000 năm trước đây. Đó cũng có thể là trận mở màn cho một loạt các trận chiến đã phá hỏng những ảo tưởng của chúng ta về Kỷ nguyên Vàng trong sự ngây thơ về môi trường, và đã để lại một dấu mốc chưa từng có trong lịch sử nhân loại.
Cuộc đối đầu đầy kịch tính được coi như đoạn cuối cho một thiên sử thi lâu dài trong đó con người, mở rộng từ gốc rễ của chúng ta ở châu Phi, chiếm lĩnh tất cả các lục địa có thể sinh sống khác. Tổ tiên châu Phi của chúng ta đã mở rộng sang cả châu Á và châu Âu khoảng 1.000.000 năm trước đây, và từ châu Á sang châu Úc 50.000 năm về trước, để lại hai lục địa Bắc và Nam Mỹ như những lục địa cuối cùng có thể sinh sống được vẫn chưa xuất hiện người tinh khôn - Homo sapien.
Từ Canada tới Tierra del Fuego(85), thổ dân da đỏ châu Mỹ ngày nay đã đồng nhất về mặt hình thể hơn so với những cư dân của bất kỳ một lục địa nào khác; điều đó cho thấy rằng họ đã đến đó trong thời gian gần với chúng ta tới mức chưa thể có những sai khác nhau về mặt di truyền. Thậm chí trước khi khảo cổ học tìm ra bằng chứng về những người da đỏ đầu tiên, đã rất rõ ràng là họ phải có nguồn gốc từ châu Á, bởi những người da đỏ hiện đại trông cũng rất giống với người Mongoloid của châu Á. Rất nhiều những bằng chứng gần đây về nhân chủng học và di truyền học đã khiến những kết luận trên trở nên chắc chắn. Liếc qua tấm bản đồ, ta sẽ thấy con đường ngắn nhất từ châu Á sang châu Mỹ là ngang qua eo biển Bering - phần chia cắt vùng Siberia ra khỏi Alaska. Cây cầu đất liền cuối cùng bắc qua eo biển này đã từng tồn tại cách đây khoảng 25.000 - 10.000 năm về trước.
Tuy nhiên, cuộc xâm chiếm Tân Thế giới đòi hỏi nhiều hơn là một cây cầu đất liền: cần phải có con người sinh sống ở vùng Siberia, phía cuối của cây cầu. Cũng bởi khí hậu khắc nghiệt mà vùng Bắc Cực thuộc Siberia cũng chưa từng có loài người đến sinh sống cho mãi tới gần đây trong lịch sử con người. Những người định cư tới vùng đất mới chắc hẳn phải đến từ những vùng hàn đới của châu Á hoặc Tây Âu, chẳng hạn như những thợ săn ở thời kỳ Đồ đá, sống ở vùng đất mà ngày nay là Ukraina và xây nhà bằng cách sắp xếp ngay ngắn những chiếc xương voi ma mút. Khoảng ít nhất 20.000 năm trước đây còn có cả những thợ săn ma mút ở vùng Bắc Cực thuộc Siberia, và cũng khoảng 12.000 năm trước các công cụ bằng đá gần giống với những công cụ của thợ săn Siberia cũng đã xuất hiện theo các tài liệu ghi chép về khảo cổ học ở Alaska.
Sau khi đi ngang qua Siberia và eo biển Bering, những thợ săn của thời kỳ Băng hà vẫn còn bị chia cắt với những vùng săn bắt trong tương lai của họ ở châu Mỹ bởi một vật cản khác: một tảng băng lớn có thể bao trùm cả vùng Greenland ngày nay, nhưng trải suốt dọc bờ biển ngang qua Canada. Trong những khoảng thời gian ngắn ở thời kỳ Băng hà, một hành lang từ Bắc xuống Nam hẹp, không bị đóng băng, được mở ra xuyên qua mỏm băng, về phía Đông của dãy Rocky Moutains. Một hành lang như thế đã đóng lại trong khoảng 20.000 năm trước, nhưng có vẻ như không một người nào ở Alaska muốn chờ đợi để vượt qua đó. Tuy nhiên, khi hành lang này, sau đó, được mở ra vào khoảng 12.000 năm về trước thì những người thợ săn dường như đã sẵn sàng, vì những công cụ bằng đá dùng để chỉ báo xuất hiện ngay sau đó không chỉ ở điểm cuối của đầu Nam của hành lang gần Edmonton (Alberta)(86) mà còn ở đâu đó phía Nam của mỏm băng. Tại điểm đó, những người thợ săn đã bắt gặp những đàn voi châu Mỹ và những con thú khổng lồ khác nữa, và một sự kiện đã bắt đầu.
Các nhà khảo cổ học đặt tên cho những người da đỏ tiên phong cổ xưa này là người Clovis, bởi vì những dụng cụ Đồ đá của họ được tìm thấy ở một bãi khai quật gần thị trấn Clovis, khoảng 10 dặm từ trong vùng New Mexico cho tới biên giới Texas. Tuy nhiên, những công cụ của người Clovis và những thứ giống như thế còn được tìm thấy ở 48 bang gần kề nhau của nước Mỹ, và cả ở vùng Edmonton ở phía Bắc tới Mexico. Vance Haynes, một nhà khảo cổ học của Đại học Arizona, đã nhấn mạnh rằng các công cụ đó rất giống với dụng cụ của người thợ săn ma mút ở Đông Âu và ở các vùng thuộc Siberia trước đây, chỉ có một loại trừ đáng chú ý: đó là tính chất hơi bẹt của nó, lưỡi giáo bằng đá gồm hai mặt được “tạo nếp” ở mỗi mặt là kết quả của một quá trình đẽo gọt lâu dài, được gọt đẽo bớt để dễ dàng hơn trong việc buộc những hòn đá lên vị trí tay cầm. Không rõ là những đầu nhọn có khoét rãnh được đưa lên cái xiên để ném bằng tay, phóng mạnh hay đâm bằng giáo hay không. Dù sao thì những đầu nhọn cũng được đâm thẳng vào những loài thú lớn với lực mạnh đến nỗi mà đôi khi chúng cắm phập vào tới một nửa thân của con mồi hay thậm chí là vào cả xương. Các nhà khảo cổ học đã đào thấy những bộ xương của ma mút và bò rừng bison cùng với những đầu giáo của người Clovis trong một cái lồng đựng xương, bao gồm cả một con ma mút từ miền Nam Arizona trên mình bị cắm tới tám đầu giáo. Tại điểm khai quật của người Clovis, ma mút là loại con mồi phổ biến nhất (xét theo xương của chúng), những nạn nhân khác gồm có bò rừng bison, voi răng mấu, heo vòi, lạc đà, ngựa và gấu.
Một trong những phát hiện đáng kinh ngạc về người Clovis là tốc độ mở rộng của họ. Tất cả những vùng đất của người Clovis ở Mỹ đã được xác định niên đại bằng các kỹ thuật carbon phóng xạ tiên tiến nhất đều đã bị chiếm cứ vài thế kỷ trước, trong giai đoạn khoảng 11.000 năm trước đây. Một địa điểm có con người sinh sống ở điểm cực Bắc của Patagonia thậm chí còn được xác định niên đại khoảng 10.500 năm trước. Do đó, trong vòng một thiên niên kỷ xuất hiện từ hành lang không bị đóng băng ở Edmonton, con người đã trải dài lãnh thổ suốt từ bờ biển này đến bờ biển khác và chiếm lĩnh toàn bộ diện tích của Tân Thế giới.
Đáng kinh ngạc không kém là tốc độ biến đổi của nền văn hóa người Clovis. Trong khoảng 11.000 năm trước, các mũi giáo của người Clovis đã được thay thế một cách nhanh chóng bởi những cái nhỏ hơn, tinh vi hơn, tạo thành những mẫu mà ngày nay gọi là mũi giáo Folsom (đặt theo tên của một vị trí ở gần Folsom, New Mexico nơi chúng lần đầu tiên được tìm thấy). Các mũi giáo Folsom thường được tìm thấy cùng với xương của loài bò rừng bison đã tuyệt chủng chứ không phải những con ma mút ưa thích của thợ săn Clovis.
Có thể có một lý do đơn giản cho việc những thợ săn Folsom chuyển từ săn voi ma mút sang bò rừng bison: bởi chẳng còn con ma mút nào nữa. Cũng có thể không còn cả voi răng mấu, lạc đà, ngựa, những con lười giống lớn cùng hàng chục những loài động vật có vú khác.
Tổng cộng, trong khoảng thời gian này lục địa Bắc Mỹ đã mất tới 73%, và ở Nam Mỹ là 80% nhóm động vật có vú. Rất nhiều nhà cổ sinh vật học không đổ lỗi cho những thợ săn Clovis vì sự tuyệt chủng hàng loạt này ở châu Mỹ, bởi không có một bằng chứng sống nào của một cuộc tàn sát hàng loạt – chỉ có những mẩu xương hóa thạch của một vài xác súc vật bị giết ở đâu đó. Thay vì vậy, các nhà cổ sinh vật học cho rằng sự tuyệt chủng xảy ra là do thay đổi thời tiết và môi trường sống ở cuối thời kỳ Băng hà, trùng với thời điểm mà những thợ săn Clovis tới đó. Suy luận này cũng làm tôi phân vân ở một vài điều: môi trường không bao giờ bị đóng băng làm cho động vật có vú phát triển hơn là bị thu nhỏ lại bởi vì các dải băng nhường chỗ cho đồng cỏ và rừng; những động vật lớn có vú của châu Mỹ đã từng sống sót qua ít nhất 22 Thời kỳ Băng hà trước đó mà không hề có sự bùng phát tuyệt chủng; và còn ít sự tuyệt chủng hơn thế xảy ra ở châu Âu và châu Á khi những khối băng của các lục địa này tan chảy ra cùng thời gian đó.
Nếu sự thay đổi thời tiết là nguyên nhân, một người có thể dự đoán một hiệu ứng trái ngược nhau đối với những loài thích nghi với khí hậu nóng và lạnh. Thay vào đó, những hóa thạch đã được xác định niên đại bằng carbon phóng xạ từ Grand Canyon(87) cho thấy rằng con lười Shasta và dê núi Harrington, những loài tương ứng sống ở các vùng có khí hậu nóng và lạnh đều chết chỉ trong cùng một hoặc hai thế kỷ, khoảng 11.100 năm trước. Con lười vẫn còn rất phổ biến cho đến khi chúng bị tuyệt chủng một cách đột ngột. Trong những túi phân có kích cỡ như một quả bóng chày của chúng, vẫn còn được bảo quản trong một số hang động ở Tây Bắc nước Mỹ, các nhà thực vật học tìm thấy những phần còn sót lại của một số cây mà những con lười cuối cùng đã nhai: cây chè và cây cẩm quỳ có ở khắp nơi, loại cây vẫn còn mọc ở gần các hang động ngày nay. Thật là một nỗi hoài nghi lớn khi mà cả loài lười và dê được cho ăn uống đầy đủ của vùng Grand Canyon cùng biến mất ngay sau khi những thợ săn Clovis đến Arizona. Nếu khí hậu thực sự là nguyên nhân của những gì đã gây ra cho con lười, chúng ta lẽ ra phải tin rằng những con vật bị cho là ngu ngốc này lại có trí thông minh chẳng cần bàn cãi, bởi chúng đã chọn chết đồng loạt cùng lúc đó để lừa một vài nhà khoa học của thế kỷ XX đổ lỗi cho các thợ săn Clovis.
Một cách giải thích hợp lý khác cho sự trùng hợp này rằng đó thực sự là một trường hợp của quan hệ nhân quả. Chính Paul Martin, nhà địa lý học thuộc Trường Arizona đã miêu tả hậu quả của việc thợ săn gặp voi như là một “trận chiến”. Theo quan điểm của ông, những người thợ săn đầu tiên của hành lang không đóng băng ở Edmonton đã rất phát đạt và đông đúc, bởi vì họ tìm thấy một nguồn động vật có vú dồi dào, dễ săn và thuần tính. Bởi vì khi những con vật này bị giết chết hết ở một vùng, thì những người thợ săn và con cháu họ chỉ cần chuyển sang một khu vực khác vẫn còn nhiều con mồi rồi tiếp tục tiêu diệt thêm những quần thể của loài đó. Khi những người thợ săn cuối cùng cũng đến được điểm cực Nam của lục địa Nam Mỹ, thì hầu hết những loài thú có vú đều đã bị tiêu diệt.
Học thuyết của Martin đã thu hút được những lời phê bình sôi nổi, hầu hết tập trung vào bốn nghi vấn chính: Liệu một nhóm khoảng 100 thợ săn đến Edmonton có lập gia đình rồi sinh con đẻ cái đủ nhanh để có thể định cư trên cả một Bán cầu trong hàng nghìn năm không? Liệu họ có thể phát triển đủ nhanh để có thể sinh sống trải dài trên 8.000 dặm từ Edmonton tới Patagonia tại thời điểm đó? Thợ săn Clovis có thực sự là những người đầu tiên tới được Tân Thế giới? Và liệu những thợ săn thời kỳ Đồ đá thực sự có thể săn bắt hàng triệu con vật lớn hiệu quả đến nỗi mà không một con nào còn sống sót, trong khi chỉ để lại rất ít bằng chứng hóa thạch về các cuộc đi săn của họ?
Trả lời cho câu hỏi đầu tiên về tốc độ sinh sản. Dân số của một nhóm thợ săn hiện đại trên một bãi đất săn bắn tốt nhất cũng chỉ vào khoảng một người trên một dặm vuông. Do đó, một khi cả vùng Tây Bán cầu có người định cư, dân số của nhóm thợ săn phải lên tới nhiều nhất là 10.000.000 người, bởi vì diện tích của Tân Thế giới ngoài Canada và các vùng bị bao phủ bởi sông băng ở thời Clovis là khoảng 10.000.000 dặm vuông. Theo những dẫn chứng hiện nay, khi những người đi xâm chiếm đến vùng không có người ở, tốc độ phát triển dân số của họ vào khoảng 3,4% trong một năm. Tỷ lệ tăng trưởng đó phản ánh rằng mỗi cặp vợ chồng có bốn con và một thế hệ trung bình sống trong 20 năm, nhân với 100 thợ săn được 10.000.000 người trong 340 năm. Do đó, các thợ săn Clovis có thể dễ dàng tăng lên đến 10.000.0000 dân trong một thiên niên kỷ.
Con cháu của những người tiên phong Edmonton có thể đi đến điểm cực Nam của Nam Mỹ trong 1.000 năm không? Khoảng cách thẳng đường bộ là xấp xỉ 8.000 dặm, và họ có thể đi trung bình tám dặm trong một năm. Đó là một nhiệm vụ bình thường: Bất cứ một thợ săn dù là nam hay nữ cũng đều có thể đạt được chỉ tiêu đó của cả một năm chỉ trong một ngày và không phải di chuyển trong 364 ngày còn lại. Mỏ đá nơi mà công cụ Clovis được tạo ra thường được nhận biết bởi chính các loại đá địa phương, và chúng ta biết cách những công cụ đó được di chuyển đi từ nơi này tới cách đó trên 200 dặm. Những người di cư Zulu ở Nam Phi hồi thế kỷ XIX có có thể sinh sống phân tán rộng trên một diện tích khoảng 3.000 dặm chỉ vỏn vẹn trong có 50 năm.
Liệu những người thợ săn Clovis có phải là những người đầu tiên đi tới phía Nam của dải băng thuộc Canada? Đó thực sự là một câu hỏi khó, và gây tranh cãi lớn giữa các nhà khảo cổ học. Việc đổ lỗi trước tiên cho người Clovis chắc hẳn là dựa vào những bằng chứng không tích cực: không có một nhóm người khả thi nào khác hay các đồ tạo tác được công nhận trên toàn cầu ở thời Clovis vẫn còn ở Tân Thế giới, phía Nam của dải băng Canada trước đây. Xin lưu ý các bạn rằng, có hàng chục những tuyên bố về việc xác định địa điểm với những bằng chứng về con người trước thời Clovis, nhưng tất cả hoặc hầu hết số đó đều bị loại bỏ bởi những câu hỏi quan trọng nhất như liệu các vật liệu sử dụng cho việc xác định niên đại bằng carbon phóng xạ có bị tạp nhiễm bởi những loại carbon có từ thời trước đó? Hoặc là những vật liệu đã được xác định niên đại thực sự có liên quan với những gì còn sót lại của con người đã từng sống ở đó, hay những công cụ được cho là do con người tạo ra thực chất lại là một tảng đá được hình thành bởi tự nhiên? Hai ý kiến gần như thuyết phục nhất trong số này đã cho rằng địa điểm trước thời Clovis là rặng núi đá Meadowcroft ở Pennsylvania, có niên đại khoảng 16.000 năm trước, và Monte Verde ở Chile, ít nhất có từ 13.000 năm trước. Monte Verde được biết đến như là một nơi mà rất nhiều loại đồ tạo tác của con người được bảo tồn tốt đến đáng kinh ngạc, nhưng những kết quả này chưa được công bố chi tiết, do đó, chúng chưa được đánh giá một cách xác đáng. Ở Meadowcroft xảy ra một cuộc tranh cãi vẫn chưa thể giải quyết về việc xác định niên đại bằng carbon phóng xạ có thể gây ra sai sót, nhất là khi các loài động thực vật ấy lại là những loài được dự đoán là chỉ mới sống ở vị trí đó hơn 16.000 năm về trước.
Ngược lại, bằng chứng về người Clovis là không thể chối cãi, đã được người ta tìm thấy ở tất cả 48 bang liền kề nhau ở nước Mỹ, và được tất cả các nhà khảo cổ học công nhận. Bằng chứng về sự định cư sớm ở những châu lục khác của người nguyên thủy cũng không hề gây nghi ngờ và được công nhận trên toàn cầu. Tại một địa điểm của người Clovis, bạn có thể nhìn thấy một lớp các đồ tạo tác của người Clovis và xương của những loài có vú lớn đã bị tuyệt chủng. Ngay ở trên lớp của người Clovis (có nghĩa là trẻ hơn), là lớp đồ tạo tác của người Folsom nhưng không còn xương của loài động vật có vú đã bị tuyệt chủng nào ngoại trừ loài bò rừng bison; và ngay bên dưới lớp đất đá của người Clovis, là các lớp khác trải dài hàng nghìn năm trước thời Clovis, phản ánh điều kiện môi trường ôn hòa, và đây những xương của các loài động vật lớn đã tuyệt chủng nhưng lại không hề có một loại đồ tạo tác của loài người nào. Làm thế nào mà người ta lại có thể định cư ở Tân Thế giới trước thời Clovis mà không để lại một dấu vết có bằng chứng nào đủ để thuyết phục các nhà khảo cổ học, như là các công cụ bằng đá, bếp lửa, những hang động cư trú, và đôi khi là những bộ xương với niên đại được xác định chính xác bằng phương pháp carbon phóng xạ? Làm sao có thể có con người ở đây trước thời Clovis mà lại không để lại một dấu vết về sự có mặt của họ ở vị trí của người Clovis, mặc dù trong những điều kiện sống thuận lợi? Làm thế nào mà người ta có thể đi từ Alaska tới Pennsylvania hay Chile, nếu không phải là bằng máy bay, mà không để lại những bằng chứng xác thực về sự có mặt của họ ở tất cả những vùng lãnh thổ đã đi qua? Bởi những lý do trên, tôi thấy hợp lý hơn khi cho rằng việc xác định niên đại ở các vùng Meadowcroft và Monte Verde phần sai nhiều hơn phần đúng. Cách giải thích về nhóm người đầu tiên là người Clovis có phần hợp lý hơn so với sự tồn tại của người trước thời kỳ Clovis.
Một cuộc tranh cãi kịch liệt khác liên quan đến học thuyết về cuộc tấn công chớp nhoáng của Martin nói rằng việc săn bắn quá mức có chủ ý và hủy diệt các động vật lớn có vú. Dường như khó có thể tưởng tượng được làm thế nào mà những thợ săn thời kỳ Đồ đá có thể giết một con ma mút, từ đó dù ít hay nhiều cũng khiến loài voi ma mút đi đến chỗ tuyệt chủng. Thậm chí nếu như những thợ săn này có thể sát hại những con ma mút thì tại sao họ lại muốn làm như vậy? Và bây giờ những bộ xương đó ở đâu?
Tất nhiên, khi chúng ta đứng bên dưới một bộ xương ma mút trong viện bảo tàng, ý nghĩ rằng sử dụng một cái giáo có đầu bằng đá để tấn công một con vật lớn như vậy đúng là một hành động tự sát thực sự. Những người châu Á và châu Phi hiện đại với những vũ khí đơn giản tương tự như thế đã thành công trong việc giết loài voi này, thường là săn theo nhóm dựa vào việc phục kích và lửa, nhưng đôi khi cũng có một người thợ săn duy nhất cầm theo một cái giáo hay cung tên tẩm độc lén theo một con voi. Những thợ săn voi hiện đại vẫn được xếp vào dạng nghiệp dư, so với những thợ săn voi ma mút thời Clovis - những người thừa kế hàng trăm nghìn năm kinh nghiệm săn bắt với các dụng cụ bằng đá. Các nghệ sĩ ở bảo tàng muôn thể hiện những thợ săn ở cuối thời kỳ đồ đá như những kẻ cục súc, trần truồng, liều mạng sống của mình ném những hòn đá cuội lớn vào những con ma mút làm cho chúng phát điên lên, và một vài thợ săn bị giẫm chết trên mặt đất. Điều đó thật ngớ ngẩn. Nếu có thợ săn nào đã bị chết trong một cuộc đi săn ma mút như thế thì những con voi ma mút có thể đã giết chết những người thợ săn hơn là ngược lại. Thay vào đó, một bức tranh thực tế hơn là các tay thợ chuyên nghiệp với trang phục ấm áp, an toàn với những chiếc giáo mác sẵn sàng mai phục và đâm vào những con ma mút đang khiếp sợ lẩn trốn trong những vùng khe suối nhỏ hẹp. Cũng phải nhắc lại rằng những động vật có vú lớn của Tân Thế giới có thể chưa từng nhìn thấy con người trước đó, nếu những thợ săn Clovis này trên thực tế là những người đầu tiên đến với Tân Thế giới. Chúng ta biết từ Bắc Cực cho tới đảo Galapagos có những loài thú dễ thuần hóa và không đáng sợ chút nào đã tiến hóa trong sự vắng mặt của con người. Khi tôi đến thăm những ngọn núi Foja độc lập của New Guinea, nơi mà không có con người sinh sống, tôi đã tìm thấy những con kangaroo lớn sống trên cây, hiền đến nổi mà tôi có thể đến gần chúng chỉ cách vài mét. Có thể những con vật có vú lớn của Tân Thế giới cũng ngây thơ như thế và đã bị giết trước khi chúng có thời gian để sợ hãi trước con người.
Liệu thợ săn Clovis có thể giết những con ma mút nhanh tới mức đủ để hủy diệt chúng? Lại giả định rằng trung bình một dặm vuông có thể nuôi sống được một người thợ săn và một con ma mút (bằng cách so sánh với loài voi châu Phi ngày nay), và 1/4 dân số Clovis là những người đàn ông đi săn bắt, cứ hai tháng anh ta lại có thể giết một con ma mút. Như vậy có nghĩa là sáu con voi ma mút đã bị giết trên bốn dặm vuông trong một năm, do đó, số ma mút sẽ phải sinh sản với chu kỳ ngắn hơn một năm để có thể chống chọi với sự chết chóc. Nhưng những con voi ngày nay là loài sinh sản chậm tới mức mà chúng phải cần tới khoảng 20 năm để tái tạo lại dân số ban đầu, và rất ít những loài có vú to lớn khác có thể sinh sản nhanh đủ để tái sinh số lượng của chúng trong ít hơn ba năm. Do vậy, có vẻ hợp lý khi thợ săn Clovis chỉ mất vài năm để giết hết bọn voi ma mút lớn trong vùng và chuyển sang vùng bên cạnh. Các nhà khảo cổ học cố gắng dẫn chứng bằng tài liệu về những cuộc thảm sát ngày nay nhằm tìm kiếm dấu vết trong đống hóa thạch hỗn độn đó: những bộ xương của voi ma mút bị giết trong vòng vài năm lẫn trong xương của tất cả những con ma mút chết một cách tự nhiên hàng trăm nghìn năm trước. Không còn nghi ngờ rằng rất ít xương ma mút được tìm thấy cùng với các đầu giáo của người Clovis giữa đống xương đã được tìm thấy.
Tại sao những người thợ săn Clovis vẫn cứ giết một con ma mút sau khoảng hai tháng một, khi mà một con ma mút nặng 2.250 kg có thể cung cấp 1.100 kg thịt cho một người, như vậy chúng đủ để cung cấp 4,5 kg thịt mỗi ngày cho mỗi người trong suốt hai tháng cho anh ta, vợ và hai con anh ta? 4,5 kg nghe có vẻ là một khối lượng lớn, nhưng nó thực sự mới chỉ đạt được tỷ lệ thịt mỗi ngày cho một người ở vùng biên giới của Mỹ hồi cuối thế kỷ XX. Giả sử rằng thợ săn Clovis thật sự đã ăn hết toàn bộ hơn 1.000 kg thịt voi ma mút, nhưng để giữ được số thịt đó trong hai tháng thì phải rang khô chúng: Bạn sẽ làm công việc làm khô hàng tấn thịt chứ, trong khi bạn chỉ cần đi giết thêm vài con ma mút để lấy thịt còn tươi. Như Vance Haynes đã nói, việc săn voi ma mút thời Clovis đã được chứng minh là chỉ có một phần bị giết để lấy thịt, cho thấy việc sử dụng thịt rất lãng phí và kén chọn bởi con người sống giữa những cuộc săn bắt quá dồi dào. Một số cuộc đi săn có khi còn không phải để lấy thịt mà để lấy ngà, da tươi, hay chỉ là thể hiện lòng tự tôn của kẻ nam nhi. Hải cẩu và cá voi cũng từng bị săn tương tự như vậy ở thời hiện đại để lấy dầu hay da, còn thịt thì để thối rữa. Ở làng chài New Guinea tôi thường được thấy những bộ xương của cá mập lớn bị vứt bỏ, chúng bị giết chỉ vì sụn vây của chúng được dùng để làm cao lương mỹ vị trong món súp vây cá mập.
Chúng ta quá quen thuộc với những trận chiến chớp nhoáng mà tại đó những thợ săn châu Âu gần như tàn sát hết loài bò rừng bison, cá voi, hải cẩu và rất nhiều động vật to lớn khác. Những phát hiện khảo cổ gần đây trên nhiều đảo ngoài đại dương đã cho thấy những cuộc chiến chớp nhoáng đó là hậu quả khi những thợ săn trước đây đến một vùng đất mà ở đó các loài vật còn quá xa lạ với con người. Do những cuộc chạm chán giữa con người và những loài động vật to lớn hiền lành này luôn kết thúc bằng việc hủy diệt hàng loạt, làm sao có thể khác được khi những thợ săn Clovis lần đầu tiên đặt chân lên một Tân Thế giới còn quá hiền hòa?
Kết cục này, mặc dù, những thợ săn đầu tiên đến Edmonton khó đoán trước, chắc hẳn đó phải có một khoảnh khắc rất kịch tính khi họ đặt chân đến hành lang không đóng băng từ vùng đất Alaska vốn có quá nhiều người sinh sống và bị săn bắn quá nhiều, họ được thấy từng bầy voi ma mút hiền lành, lạc đà và những con vật to lớn khác. Trước mắt họ là vùng đất bằng phẳng Đồng bằng Lớn trải dài tới đường chân trời. Khi họ bắt đầu khám phá vùng đất mới, họ chắc hẳn đã nhận ra rằng không có người nào tới trước họ, và họ thực sự là những người đầu tiên đến mảnh đất màu mỡ này. Vậy thì những người di cư Edmonton cũng có lý do để kỷ niệm ngày Lễ Tạ ơn.