Loài Tinh Tinh Thứ Ba

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 90 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Gốc Từ Cao Quý Của Một Từ Chẳng Cao Quý Gì

❊ ❊ ❊

Image

Hình 9: Cũng giống với trường hợp của từ “sheep”- tức là con cừu, từ có nghĩa là “đánh rắm ầm ĩ” rất giống nhau trong những ngôn ngữ Ấn-Âu có chữ viết. Điều này gợi ý rằng một dạng tổ tiên chung được suy ra phải là từ “perd” và đã được sử dụng trong tiếng Ấn-Âu nguyên thủy, ngôn ngữ gốc ban đầu mà không tồn tại dạng chữ viết.

Từ đó, dựa vào các ngôn ngữ viết, chúng ta thấy được cách các nhà ngôn ngữ học có thể đưa ra những bằng chứng của ngôn ngữ gốc thời kỳ tiền văn tự và một dòng thác cuồn cuộn. Câu hỏi hiển nhiên tiếp theo sẽ là: khi nào PIE được nói, nó được nói ra ở đâu và làm thế nào mà nó có thể lấn át được nhiều ngôn ngữ khác tới vậy? Hãy bắt đầu với vấn đề “khi nào”, một câu hỏi dường như là không thể trả lời. Thật khó khăn khi chúng ta phải suy luận những từ của một ngôn ngữ chưa từng được viết ra; vậy thì làm thế nào mà chúng ta xác định được thời điểm chúng được sử dụng?

Ít nhất chúng ta có thể bắt đầu thu hẹp các khả năng bằng cách nghiên cứu các bản mẫu chữ viết cổ nhất của ngôn ngữ Ấn-Âu. Trong một thời gian dài, những mẫu cổ nhất mà các học giả có thể nhận dạng được là những chữ Iran xuất hiện khoảng năm 1000 - 800 trCN, và chữ Sanskrit mà có thể được tạo thành khoảng năm 1200 -1000 trCN nhưng sau này mới được viết ra. Các dòng ký tự của vương quốc Lưỡng Hà có tên là Mitanni, được viết bằng ngôn ngữ phi Ấn-Âu nhưng chứa một vài từ rõ ràng là mượn của ngôn ngữ có quan hệ gần gũi với tiếng Sanskrit đã đẩy sự tồn tại được chứng minh của những ngôn ngữ giống như Sanskrit quay về gần những năm 1500 năm trCN.

Bước đột phá tiếp theo là việc khám phá ra vào cuối thế kỷ XIX một số lượng lớn các thư ngoại giao của người Ai Cập cổ đại. Phần lớn chúng được viết bằng tiếng Semitic, tuy nhiên, có hai lá thư viết bằng một ngôn ngữ chưa xác định được và vẫn còn là một bí ẩn cho đến khi những cuộc khai quật ở Thổ Nhĩ Kỳ đã phát hiện ra hàng nghìn bảng chữ được viết cùng thứ tiếng ấy. Những tấm bảng cho thấy đây là những tài liệu lịch sử của vương quốc thịnh vượng giữa những năm 1650 và 1200 trCN và đó là thứ ngôn ngữ mà ngày nay chúng ta gọi bằng tên thánh là “tiếng Hittite”.

Vào năm 1917, các học giả đã bị bất ngờ bởi một thông báo rằng ngôn ngữ Hittitie được chứng minh bằng việc giải mã là thuộc về một ngôn ngữ chưa được biết đến trước đây, rất khác biệt và cổ xưa, là nhánh ngày nay đã biến mất của hệ ngôn ngữ Ấn-Âu, được gọi là Anatolia. Một vài tên giống như Hittite được đề cập trong những bức thư trước đây của những nhà buôn người Assyria ở điểm thông thương buôn bán, gần với vị trí là thủ đô của Hittite trong tương lai, đã đẩy những đặc điểm nghi vấn tìm thấy lùi lại về những năm khoảng 1900 trCN. Điều này để lại bằng chứng trực tiếp đầu tiên của chúng ta đối với sự tồn tại của bất cứ ngôn ngữ Ấn-Âu nào.

Do đó, vào năm 1917, hai nhánh ngôn ngữ Ấn-Âu - Anatolia và Ấn-Iran - tương ứng được cho là tồn tại khoảng năm 1900 trCN và năm 1500 trCN. Một nhánh sớm thứ ba được thiết lập vào năm 1952 khi Michael Ventris, một người viết mật mã trẻ người Anh, chỉ ra rằng chữ viết Dòng B của tiếng Hy Lạp và tiếng Crete cổ, vẫn chưa được giải mã từ khi nó được phát hiện lại vào khoảng năm 1900 và là một dạng sớm của tiếng Hy Lạp. Bảng chữ cái Dòng B đó đã có niên đại từ khoảng năm 1300 trCN. Tuy nhiên, tiếng Hittite, Sanskrit và tiếng Hy Lạp cổ rất khác nhau, và tất nhiên là khác nhiều so với giữa tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha hiện đại, những ngôn ngữ chỉ mới phân hóa ra từ 1.000 năm trước. Điều này cho thấy rằng các nhánh Hittite, Sanskrit và Hy Lạp phải được tách ra từ PIE vào năm 2500 trCN hoặc sớm hơn nữa.

Vậy những khác biệt giữa các nhánh này xuất hiện sớm tới mức độ nào? Làm sao chúng ta có thể có được các yếu tố chuẩn có thể chuyển “phần trăm sự khác biệt giữa các ngôn ngữ” thành “thời điểm mà các ngôn ngữ bắt đầu phân hóa”? Một số nhà ngôn ngữ học sử dụng tốc độ thay đổi của từ trong các ngôn ngữ viết còn lưu giữ trong các văn bản lịch sử, giống như là sự thay đổi từ ngôn ngữ Anglo-Saxon sang tiếng Anh Chaucer, rồi đến tiếng Anh hiện đại. Những tính toán này thuộc về một ngành khoa học gọi là niên đại ngôn ngữ học (hay niên đại học của ngôn ngữ) đã đưa ra quy luật ngón tay cái rằng cứ sau 1.000 năm các ngôn ngữ lại thay thế khoảng 20% vốn từ vựng cơ bản của chúng một lần.

Phần lớn các học giả bác bỏ các tính toán niên đại học của ngôn ngữ, dựa trên nền tảng lý luận là tốc độ thay thế từ vựng phải khác nhau với các hoàn cảnh xã hội và với chính các từ cụ thể. Tuy nhiên, chính các học giả đó, nhìn chung lại muốn tự tính toán theo cách của riêng mình. Kết luận thường thấy từ cả niên đại ngôn ngữ học hoặc việc tự tính toán là nhóm các ngôn ngữ PIE có thể được tạo ra vào khoảng năm 3000 trCN, chắc chắn là có trước thời điểm năm 2500 trCN và không thể sớm trước năm 5000 trCN.

vẫn còn có một hướng tiếp cận hoàn toàn độc lập khác với vấn đề niên đại: một ngành khoa học gọi là cổ sinh vật học. Nếu các nhà cổ sinh vật học cố gắng phát hiện ra quá khứ như thế nào bằng việc tìm kiếm các di vật được chôn trong lòng đất thì các nhà cổ sinh học ngôn ngữ lại thực hiện công việc đó bằng cách tìm kiếm các di vật được chôn giấu trong ngôn ngữ.

Để hiểu điều này được thực hiện như thế nào, hãy nhớ lại rằng các nhà ngôn ngữ đã khôi phục được gần 2.000 từ trong số từ vựng của ngôn ngữ PIE. Không ngạc nhiên rằng những từ này bao gồm những từ giống như là “brother” (anh em) và “sky” (bầu trời) mà đã tồn tại và được đặt tên từ khi bắt đầu có ngôn ngữ của loài người. Tuy nhiên, ngôn ngữ PIE không có từ chỉ “gun” (súng) bởi vì súng chưa được phát minh ra cho mãi tận năm 1300, rất lâu sau khi những người nói ngôn ngữ PIE phân bố rải rác đã bắt đầu nói các ngôn ngữ hoàn toàn khác biệt ở Thổ Nhĩ Kỳ và Ấn Độ. Trong thực tế, từ chỉ “súng” có các nguồn gốc khác nhau trong các ngôn ngữ Ấn-Âu khác nhau: “gun” trong tiếng Anh, “fusil” trong tiếng Pháp; “ruzhyo” trong tiếng Nga và vv… Lý do rất rõ ràng: các ngôn ngữ khác nhau không thể thừa hưởng cùng một nguồn gốc cho từ “súng” trong tiếng PIE và mỗi một ngôn ngữ đó phải tự phát minh ra hoặc vay mượn từ của riêng họ khi súng được phát minh.

Ví dụ về súng gợi ý rằng chúng ta nên bám theo một chuỗi các phát minh mà chúng ta đã biết niên đại của chúng và xem ngôn ngữ nào trong số đó có hoặc không có những từ được thiết lập lại trong ngôn ngữ PIE. Bất cứ thứ gì - giống như súng - được phát minh ra sau khi ngôn ngữ PIE bắt đầu phân ly thì sẽ không có tên được sắp xếp lại. Còn những thứ - giống như là từ “anh em” - được biết đến như là một khái niệm hoặc được phát minh trước khi có sự phân ly đó thì có thể có một cái tên. (Nhưng cũng không nhất thiết phải có vì nhiều từ của ngôn ngữ PIE chắc chắn đã bị mất. Chúng ta biết những từ của ngôn ngữ PIE chỉ “mắt” và “lông mày” tuy nhiên không có từ chỉ “mí mắt” mặc dầu chắc chắn những người sử dụng ngôn ngữ PIE phải có mí mắt.)

Có thể sự phát triển chủ yếu sớm nhất mà không có những cái tên trong ngôn ngữ PIE là những cỗ chiến xa đã trở nên hết sức phổ biến giữa những năm 2000 và 1500 trCN, và sắt mà việc sử dụng chúng trở nên quan trọng giữa năm 1200 và 1000 trCN. Việc thiếu các thuật ngữ PIE cho các phát minh muộn sau này không làm cho chúng ta ngạc nhiên bởi vì những nét khác biệt trong tiếng Hittite đã hoàn toàn thuyết phục được chúng ta rằng ngôn ngữ PIE đã phân ly rất lâu trước năm 2000 trCN. Trong số các phát minh sớm không có tên trong PIE, có những từ chỉ “cừu” và “dê”, lần đầu tiên được thuần hóa khoảng năm 8000 trCN; gia súc (bao gồm các từ riêng chỉ bò, bò thiến và bò đực thiến), được thuần hóa vào năm 6400 trCN; ngựa, được thuần hóa vào khoảng năm 4000 trCN và cái cày, được phát minh trong khoảng thời gian mà ngựa được thuần hóa. Phát minh có thể xác định niên đại cuối cùng có tên trong ngôn ngữ PIE là bánh xe, được phát minh khoảng năm 3300 trCN.

Bằng những bằng chứng thuyết phục đến vậy, thậm chí không cần tới những bằng chứng khác, các nhà cổ sinh vật học về ngôn ngữ cũng có thể xác định được thời điểm sự phân ly của ngôn ngữ PIE diễn ra trước năm 2000 trCN nhưng là sau năm 3300 trCN. Kết luận này cũng tương đồng với một kết luận nghiên cứu bằng cách ngoại suy sự khác biệt giữa ngôn ngữ Hittite, Hy Lạp và Sanskrit về sau này. Nếu chúng ta mong muốn tìm được dấu vết của ngôn ngữ Ấn-Âu đầu tiên thì an toàn hơn hết là chúng ta tập trung vào các ghi chép cổ sinh học giữa năm 2500 và 5000 trCN, và có thể sớm trước đôi chút năm 3000 trCN.

Để tiến tới sự thống nhất tương đối về câu hỏi “khi nào”, hãy thử đặt câu hỏi: ngôn ngữ PIE được sử dụng ở đâu? Các nhà ngôn ngữ học đã không đồng ý về quê hương của ngôn ngữ PIE ngay khi lần đầu tiên họ bắt đầu đánh giá được tầm quan trọng của nó. Hầu như mọi khả năng đều đã được đưa ra, từ Bắc cực đến Ấn Độ và từ bờ Đại Tây Dương đến bờ biển Thái Bình Dương của đại lục Á-Âu. Như nhà cổ sinh học J. P. Mallory đưa ra, câu hỏi không còn là “Nơi nào được các học giả xác định là quê hương của ngôn ngữ Ấn-Âu?” mà phải là: “Bây giờ họ đặt quê hương của ngôn ngữ Ấn-Âu ở đâu?”

Để hiểu tại sao vấn đề này lại được chứng minh khó khăn như vậy, hãy cùng nhau lần đầu tiên thử giải quyết nó nhanh chóng bằng việc nhìn vào bản đồ (Hình 7, trang 416). Kể từ năm 1492, hầu hết các nhánh Ấn-Âu còn tồn tại bị giới hạn trong Tây Âu và chỉ có nhánh Ấn-Iran mở rộng ra phía Đông của biển Caspia. Từ đó Tây Âu là một giải pháp kinh tế nhất cho việc tìm kiếm quê hương của PIE: bởi đó là giải pháp cần ít người nhất để di chuyển đến một khoảng cách xa.

Không may cho giải pháp này là vào năm 1900 một ngôn ngữ Ấn-Âu “mới” nhưng thực ra đã tồn tại từ lâu được phát hiện ở một vị trí không chắc đúng. Đầu tiên, ngôn ngữ này (bây giờ được gọi là tiếng Tocharia) xuất hiện trong một phòng ngủ bí mật đằng sau một bức tường trong một ngôi chùa thờ Phật nằm trong hang đá. Căn phòng có chứa một thư viện với các tài liệu cổ, được viết vào khoảng năm 600 - 800 bởi hội truyền giáo của những tín đồ đạo Phật và các thương nhân. Thứ hai, hội truyền giáo đặt ở vùng Turkestan thuộc Trung Quốc, nằm về phía đông cách xa tất cả những người nói ngôn ngữ Âu-Ấn hiện nay và khoảng 1000 dặm nếu so với những trụ sở gần nhất. Cuối cùng, Tocharia không có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ Ấn-Iran, nhánh ngôn ngữ Ấn-Âu gần gũi nhất về mặt địa lý, nhưng thay vào đó lại có thể có quan hệ với những nhánh ngôn ngữ hoàn toàn chỉ sử dụng ở châu Âu, cách đó hàng nghìn dặm về phía tây. Điều này giống như là chúng ta đột nhiên phát hiện ra rằng những người dân thời kỳ tiền Trung Cổ của Scotland nói một ngôn ngữ có liên quan với tiếng Trung Quốc.

Hiểu nhiên rằng những người nói tiếng Tocharia không đến vùng Turkestan thuộc Trung Quốc bằng trực thăng. Chắc chắn họ đi bộ hoặc cưỡi ngựa đến đó, và chúng ta phải thừa nhận rằng vùng Trung Á trước đây có nhiều loại ngôn ngữ Ấn- Âu khác mà đã biến mất không còn chút dấu vết nào được giữ lại thông qua những bản chữ viết trong các căn phòng bí mật như vậy. Bản đồ ngôn ngữ thuộc đại lục Á-Âu hiện đại (Hình 7) làm sáng tỏ điều đã xảy ra với ngôn ngữ Tocharia và tất cả những ngôn ngữ Ấn-Âu đã biến mất khác của Trung Á. Ngày nay cả vùng đó đã bị xâm chiếm bởi những người nói thứ tiếng Thổ hoặc Mông Cổ, con cháu của những bầy người nguyên thủy đã đi qua vùng này ít nhất từ thời kỳ của người Hung Nô cho đến Thành Cát Tư Hãn. Các học giả vẫn còn tranh cãi về việc có hay không các đội quân của Thành Cát Tư Hãn tàn sát 2.4000.000 hoặc 1.600.000 người khi họ chiếm đóng Harat, tuy nhiên, các học giả đồng ý rằng những hành động như thế đã làm biến đổi bản đồ ngôn ngữ của châu Á. Ngược lại, hầu hết các ngôn ngữ Ấn-Âu được biết là đã biến mất ở châu Âu - giống như là ngôn ngữ gốc Celt và Caesar đã từng được nói ở Gaul - lại bị thay thế bởi các ngôn ngữ Ấn-Âu khác. Trung tâm rõ ràng của các ngôn ngữ Ấn-Âu ở châu Âu vào thời điểm năm 1492 lại là một món đồ khảo cổ của việc hủy diệt hàng loạt các loại ngôn ngữ gần đây ở châu Á. Nếu quê hương của PIE thật sự nằm ở vị trí trung tâm của lãnh địa của ngôn ngữ Ấn-Âu trong khoảng năm 600, trải dài từ Ireland đến vùng Turkestan thuộc Trung Quốc, thì quê hương này chắc hẳn phải là ở thảo nguyên Nga, phía bắc của vùng Caucasus chứ không phải là ở Tây Âu.

Khi các ngôn ngữ tự bản thân chúng đã cho chúng ta một vài manh mối về thời gian xảy ra sự phân chia của ngôn ngữ PIE thì chúng cũng chứa các manh mối về vị trí quê hương của ngôn ngữ PIE. Một manh mối trong số đó là họ ngôn ngữ mà ngôn ngữ Ấn-Âu vốn có quan hệ rõ ràng nhất: tiếng Phần Lan-Hungary, họ ngôn ngữ bao gồm tiếng Phần Lan và các ngôn ngữ bản xứ khác của vùng rừng bắc nước Nga (xem Hình 7). Ngày nay, rõ ràng là, mối liên hệ giữa tiếng Phần-Hung và ngôn ngữ Ấn-Âu bị suy yếu nhiều hơn so với mối liên hệ giữa tiếng Đức và tiếng Anh bắt nguồn từ thực tế là tiếng Anh được mang đến nước Anh từ vùng Tây Bắc của nước Đức chỉ 1500 năm trước. Những mối liên hệ ấy còn yếu hơn nhiều so với mối liên hệ giữa những nhánh tiếng Đức và tiếng Slav của hệ ngôn ngữ Ấn-Âu, mà có thể được phân tách ra từ một vài nghìn năm trước. Thay vào đó, những mối liên hệ chỉ ra rằng mối quan hệ gần gũi cổ xưa hơn giữa những người nói tiếng PIE và những người nói tiếng Phần-Hung nguyên thủy. Tuy nhiên, từ khi tiếng Phần-Hung lan tới các khu rừng phía bắc nước Nga, thì điều đó lại chỉ ra rằng quê hương của ngôn ngữ PIE phải nằm ở thảo nguyên của nước Nga hướng về phía nam của những cánh rừng. Ngược lại, nếu ngôn ngữ PIE phát triển xa hơn về phía nam (chẳng hạn như là ở Thổ Nhĩ Kỳ) thì mối quan hệ gần gũi nhất của ngôn ngữ Ấn-Âu có thể lại là với những ngôn ngữ Semit thuộc vùng Cận Đông.

Một manh mối thứ hai về quê hương của ngôn ngữ PIE là từ vựng của ngôn ngữ phi Ấn-Âu được tập hợp lại từ những phần nhỏ trong một vài các ngôn ngữ Ấn-Âu. Tôi đã đề cập rằng phần nhỏ này đặc biệt đáng chú ý ở ngôn ngữ Hy Lạp và nó cũng rất đáng quan tâm trong tiếng Hittite, Ireland và Sanskrit. Điều này chỉ ra rằng những vùng này từng là nơi chiếm cứ của ngôn ngữ phi Ấn-Âu và sau này bị xâm lấn bởi ngôn ngữ Ấn-Âu. Nếu như vậy, quê hương của ngôn ngữ PIE không phải Ireland hoặc Ấn Độ (nơi mà ngày nay không còn ai cho là như vậy), nhưng cũng không phải là Hy Lạp hoặc Thổ Nhĩ Kỳ (nơi mà hiện nay một số nhà học giả vẫn tin là như vậy).

Ngược lại, ngôn ngữ Ấn-Âu hiện đại vẫn giống nhất với ngôn ngữ PIE hoặc Lithuania. Những mẫu chữ Lithuania đầu tiên còn giữ được vào khoảng năm 1500 chứa nhiều các từ có nguồn gốc từ ngôn ngữ PIE cũng như là những chữ viết của ngôn ngữ Sanskrit có từ gần 3000 năm trước đó. Sự gìn giữ ấy trong ngôn ngữ Lithuania chỉ ra rằng chúng là đối tượng của một vài ảnh hưởng xáo trộn từ ngôn ngữ phi Ấn-Âu và có thể tồn tại rất gần với quê hương của ngôn ngữ PIE. Trước đây, tiếng Lithuania và các ngôn ngữ gốc Balt khác phân bố rộng hơn ở Nga, cho đến khi người Goth và Slav đã đưa người Balt quay trở lại vùng của Lithuania và Latvia đã bị thu hẹp vào thời điểm đó của họ. Do vậy, lý do này cũng chỉ ra rằng quê hương của ngôn ngữ PIE chính là nước Nga.

Manh mối thứ ba đến từ những từ vựng của ngôn ngữ PIE được khôi phục lại. Chúng ta đã thấy chúng bao gồm những từ chỉ vật quen thuộc vào năm 4000 trCN nhưng không phải đối với những vật mà chưa được biết đến cho đến tận năm 2000 trCN đã giúp xác định niên đại mà ngôn ngữ PIE được nói. Liệu chúng cũng có thể xác định được nơi mà ngôn ngữ PIE được nói? Ngôn ngữ PIE có một từ chỉ tuyết (“snoighwos”) thể hiện nhiệt độ chứ không phải là vị trí thuộc vùng nhiệt đới và chứng minh nguồn gốc của từ “tuyết” trong tiếng Anh. Trong số nhiều động vật và thực vật hoang dã có những cái tên trong ngôn ngữ PIE (như là “mus” - mouse (chuột)) thì phần lớn trong số đó lan rộng sang cả vùng ranh giới khí hậu của đại lục Á-Âu và giữ nguyên vĩ độ về quê hương của chúng chứ không phải là về kinh độ.

Đối với tôi, manh mối rõ ràng nhất trong từ vựng của ngôn ngữ PIE là cái mà chúng thiếu chứ không phải là cái mà chúng có: những từ chỉ cây trồng. Những người sử dụng ngôn ngữ PIE chắc chắn làm công việc nông trại vì họ có các từ chỉ cái cày và cái liềm. Tuy nhiên, chỉ có một từ chỉ loại ngũ cốc chưa xác định là còn tồn tại. Ngược lại, ngôn ngữ Bantu nguyên thủy của châu Phi được phục hồi và ngôn ngữ Austronesia nguyên thủy của Đông Nam Á lại có nhiều tên cây trồng. Ngôn ngữ Austronesia được nói rất lâu trước ngôn ngữ PIE, vì thế những ngôn ngữ Austronesia hiện đại có nhiều thời gian hơn để mất những cái tên cổ chỉ cây trồng hơn là những ngôn ngữ Ấn-Âu hiện đại. Mặc dầu vậy, các ngôn ngữ Ấn-Âu hiện đại vẫn còn chứa nhiều tên cổ chỉ cây trồng hơn. Những người nói tiếng PIE có thể thật sự có một vài loại cây trồng và con cháu của họ vay mượn hoặc phát minh ra các tên cây trồng khi họ di chuyển qua nhiều vùng nông nghiệp hơn.

Tuy nhiên, kết luận này lại đưa ra cho chúng ta một câu đố kép. Thứ nhất, vào năm 3500 trCN công việc nông trại trở thành một lối sống chiếm ưu thế ở hầu khắp châu Âu và phần lớn châu Á. Điều này đã thu hẹp lại các lựa chọn có thể về quê hương của ngôn ngữ PIE: Nó phải là một vùng không bình thường nơi mà công việc nông trại không chiếm ưu thế. Và thứ hai là đòi hỏi phải có câu trả lời cho câu hỏi tại sao những người nói ngôn ngữ PIE lại có thể mở rộng được. Một nguyên nhân chính của việc mở rộng ngôn ngữ Bantu và Austronesia là những người sử dụng ngôn ngữ đầu tiên của những hệ ngôn ngữ đó là những người nông dân đã xâm chiếm các vùng trước đó được chiếm cứ bởi những người săn bắt-hái lượm mà với những người này, những người nông dân có thể đông đảo hơn hoặc có nhiều ưu thế hơn. Đối với những người nói ngôn ngữ PIE, là những người nông dân thời kỳ nguyên thủy xâm lấn những khu vực trồng trọt của châu Âu tùy thuộc vào những kinh nghiệm lịch sử của họ. Do đó, chúng ta không thể giải quyết được nguồn gốc của ngôn ngữ Ấn-Âu “ở đâu” cho đến khi chúng ta tiếp cận được với câu hỏi khó nhất là: tại sao?

Ở châu Âu chỉ ngay trước thời đại chữ viết, đã xuất hiện không chỉ một mà là hai cuộc cách mạng kinh tế từ trước tới nay - tạo nên những tác động có thể gây ra dòng thác lũ mạnh mẽ về mặt ngôn ngữ. Cuộc cách mạng đầu tiên là sự xuất hiện công việc nông trại và chăn nuôi súc vật vốn có nguồn gốc từ Trung Đông khoảng năm 8000 trCN, vượt qua Thổ Nhĩ Kỳ đến Hy Lạp khoảng năm 6500 trCN, và sau đó lan rộng sang phía bắc và tây để đến Anh và Scandinavia. Công việc nông trại và chăn nuôi súc vật đã làm cho dân số loài người tăng mạnh vượt qua cả những người trước đây chỉ sống bằng săn bắt và hái lượm. Colin Renfrew, Giáo sư khảo cổ học ở Đại học Cambridge, Anh gần đây đã xuất bản một cuốn sách đầy thách thức - ông cho rằng những người nông dân từ Thổ Nhĩ Kỳ là những người nói tiếng PIE mang ngôn ngữ Ấn-Âu đến châu Âu.

Phản ứng đầu tiên của tôi khi đọc cuốn sách của Renfrew là: “Tất nhiên, ông ấy hẳn là đúng.” Công việc nông trại đã phải tạo ra sự dịch chuyển của ngôn ngữ ở châu Âu, giống như là nó đã làm ở châu Phi và Đông Nam Á. Như các nhà di truyền học đã chỉ ra, điều này đặc biệt có vẻ phù hợp khi những người nông dân đầu tiên tạo ra những đóng góp to lớn nhất cho bộ gen của những người châu Âu hiện đại.

Tuy nhiên, giả thuyết của Renfrew lại lờ đi hoặc nói qua loa tất cả các bằng chứng ngôn ngữ. Những người nông dân đến châu Âu hàng nghìn năm trước thời điểm được cho là có ngôn ngữ PIE. Cái những người nông dân đầu tiên này không có được nhưng những người nói tiếng PIE lại có là những phát minh mới như là cái cày, bánh xe và những con ngựa được thuần hóa. Đáng chú ý là ngôn ngữ PIE thiếu những từ chỉ cây trồng dùng để xác định đặc điểm những người nông dân đầu tiên. Tiếng Hittite, ngôn ngữ Ấn-Âu cổ nhất của Thổ Nhĩ Kỳ được biết đến, không phải là ngôn ngữ Ấn-Âu gần gũi với ngôn ngữ PIE thuần túy như mọi người vẫn nghĩ từ giả thuyết Thổ Nhĩ Kỳ của Renfrew, tuy nhiên, ngược lại, phần lớn mọi người đều bị lầm lẫn. Giả thuyết của Renfrew dựa trên phương pháp suy luận: công việc nông trại có thể tạo ra một dòng thác lũ cuốn trôi mọi thứ, sức mạnh ghê gớm của ngôn ngữ PIE cần phải có một nguyên nhân, vì thế công việc nông trại được cho là nguyên nhân đó. Những thứ khác chỉ ra rằng công việc nông trại thay vào đó, mang đến châu Âu những ngôn ngữ cổ hơn mà ngôn ngữ PIE đã lan qua, như là ngôn ngữ vùng Etruria và Basque.

Nhưng khoảng năm 5000 - 3000 trCN - ngay tại thời điểm mà ngôn ngữ PIE bắt đầu - cuộc cách mạng kinh tế thứ hai xảy ra ở lục địa Á-Âu. Cuộc cách mạng muộn này trùng với việc bắt đầu có nghể luyện kim và liên quan đến việc sử dụng mở rộng trên quy mô lớn các động vật được thuần hóa - không chỉ lấy thịt và da, như con người đã từng sử dụng các động vật hoang dã trong 1.000.000 năm, mà với các mục đích mới bao gồm tạo ra sữa và len, kéo cày, kéo các phương tiện có bánh xe và cưỡi ngựa. Cuộc cách mạng phản ánh một cách phong phú từ vựng của ngôn ngữ PIE qua các từ chỉ “đòn gánh” và “cái cày”, “sữa” và “bơ”, “len” và “kiểu dệt” và một loạt các từ liên quan với các phương tiện có bánh xe (“bánh xe”, “trục xe”, “càng xe”, “bộ yên cương ngựa”, “trục bánh xe” và “đai ngựa”).

Ý nghĩa kinh tế của cuộc cách mạng này là tăng dân số và sức mạnh của con người vượt ra xa mức mà công việc nông trại và chăn nuôi súc vật đơn thuần có thể tạo ra được. Thí dụ, qua sữa và các sản phẩm từ sữa, một con bò dần dần cung cấp nhiều năng lượng hơn so với chỉ duy nhất từ thịt. Cái cày giúp cho người nông dân trồng được nhiều diện tích hơn là ông ta có thể tạo ra chỉ với một cái cuốc hoặc cái xẻng. Các phương tiện do động vật kéo làm cho con người khai thác nhiều vùng đất hơn và còn mang các sản phẩm của chúng về làng để chế biến.

Đối với một vài lợi thế này thì khó có thể nói rằng chúng bắt nguồn từ đâu bởi vì chúng lan rộng quá nhanh. Ví dụ, các phương tiện có bánh xe chưa được biết đến trước năm 3300 trCN, tuy nhiên chỉ trong vòng vài thế kỷ của thời đại đó chúng đã được ghi nhận phổ biến trên khắp châu Âu và Trung Đông. Nhưng có một lợi thế chủ yếu mà nguồn gốc của chúng có thể xác định được: sự thuần hóa ngựa. Ngay trước khi có sự thuần hóa ngựa, những con ngựa hoang không có ở Trung Đông và phía nam châu Âu, hiếm thấy ở Bắc Âu và có nhiều chỉ ở các thảo nguyên của Nga về phía đông. Bằng chứng đầu tiên của việc thuần hóa ngựa là ở nền văn hóa Sredny Stog khoảng năm 4000 trCN, ở những vùng thảo nguyên ở phía bắc của Hắc Hải, nơi mà nhà khảo cổ học David Anthony đã xác định được những dấu hiệu trên răng của ngựa chứng tỏ ngựa đã được sử dụng để cưỡi.

Trên khắp thế giới, bất cứ nơi đâu và bất cứ khi nào những con ngựa thuần hóa được đưa vào sử dụng chúng cũng đều tạo ra những lợi ích to lớn cho xã hội loài người. Lần đầu tiên trong quá trình tiến hóa của loài người, con người có thể đi sang các vùng đất khác nhanh hơn đôi chân của họ có thể đưa họ đi. Tốc độ giúp những người săn bắt đuổi kịp con mồi và giúp những người chăn giữ vật nuôi có thể quản lý được những con cừu và gia súc của họ trên những vùng rộng lớn. Quan trọng hơn là tốc độ giúp các chiến binh thực hiện những cuộc đột kích bất ngờ nhanh chóng lên những kẻ thù ở xa và lại rút quân trước khi kẻ thù có thời gian nhận ra cuộc tấn công của đối phương. Do đó, trên khắp thế giới ngựa đã cách mạng hóa chiến tranh và tạo điều kiện cho những người sở hữu ngựa đe dọa những người hàng xóm của họ. Khuôn mẫu mà người Mỹ chinh phục vùng Đồng bằng Lớn của thổ dân da đỏ khi những chiến binh cưỡi ngựa đáng sợ thực sự được tạo ra gần đây, trong một vài thế hệ từ năm 1660 đến năm 1770. Kể từ khi những con ngựa châu Âu đến được miền Tây nước Mỹ do sự xâm nhập của những người châu Âu và các hàng hóa châu Âu khác thì chúng ta có thể chắc chắn rằng chỉ với ngựa, người ta đã làm thay đổi xã hội của thổ dân da đỏ ở những vùng Đồng bằng.

Bằng chứng khảo cổ học cho thấy rõ ràng rằng những giống ngựa nội địa tương tự cũng làm biến đổi xã hội loài người ở miền thảo nguyên của nước Nga sớm hơn nhiều, vào khoảng năm 4000 trCN. Môi trường sống ở đồng cỏ rộng lớn của thảo nguyên gây khó khăn cho con người trong việc khai thác cho đến khi họ có thể sử dụng ngựa để giải quyết các vấn đề về khoảng cách và vận chuyển. Nơi cư ngụ của con người ở vùng thảo nguyên nước Nga tăng lên nhanh chóng với sự thuần hóa ngựa và sau đó bùng nổ với việc phát minh các phương tiện có bánh xe bò kéo khoảng năm 3300 trCN. Nền kinh tế của thảo nguyên dựa vào sự kết hợp của cừu và gia súc cho thịt, sữa và len, với ngựa và các phương tiện có bánh xe để vận chuyển và được bổ sung nhờ chút ít công việc nông trại.

Không có bằng chứng nào đối với việc tích trữ thực phẩm và nền nông nghiệp chuyên sâu ở những thảo nguyên đầu tiên đó, trái ngược đáng kể với nhiều bằng chứng ở các vị trí của Trung Đông và châu Âu khác vào cùng thời điểm. Những cư dân của thảo nguyên không có những khu định cư cố định rộng lớn mà rõ ràng là thường thay đổi - một lần nữa lại ngược với những ngôi làng với những dãy hàng trăm ngôi nhà hai tầng ở Đông Nam châu Âu cùng thời kỳ đó. Điều mà những kị sỹ thiếu trong nghệ thuật kiến trúc được bù đắp bằng sự nhiệt huyết quân sự như được thấy trong các ngôi mộ rất phong phú của họ (chỉ dành cho đàn ông!), trong đó chứa đầy một số lượng lớn dao găm và các vũ khí khác, và đôi khi thậm chí cả xe bò và bộ xương ngựa.

Vậy nên, sông Dnieper của Nga (xem Hình 10 bên dưới) đánh dấu một đường biên giới văn hóa rời rạc: về phía đông nơi những kị sỹ được trang bị đầy đủ; còn về phía tây là những ngôi làng làm công việc nông trại giàu có với những kho thóc của họ. Sự gần gũi của chó sói và cừu đó được đánh vần là N-Ỗ-I-R-Ắ-C-R-Ố-I. Khi phát minh ra bánh xe hoàn thành gói hàng kinh tế của những kị sỹ thì các đồ tạo tác chỉ ra sự lan rộng rất nhanh hàng nghìn dặm về phía đông qua các thảo nguyên của Trung Á (xem bản đồ). Từ sự dịch chuyển đó, tổ tiên của người Tocharia có thể xuất hiện. Những người sống ở thảo nguyên tràn về phía đông được đánh dấu bằng sự tập trung của những ngôi làng làm nghề nông trại ở châu Âu, nằm gần nhất với các thảo nguyên thành những khu định cư phòng thủ lớn, sau đó là sự sụp đổ của các xã hội này và sự xuất hiện những mồ chôn thảo nguyên đặc trưng ở châu Âu cũng như về phía tây như Hungary.

Trong những cách tân đã tạo nên dòng lũ cuốn ghê gớm của những người dân thảo nguyên thì có một thứ duy nhất mà họ tin tưởng hoàn toàn đó chính là sự thuần hóa ngựa. Họ cũng có thể phát triển các phương tiện có bánh xe, lấy sữa và công nghệ len của nền văn minh Trung Đông một cách độc lập, tuy nhiên, họ lại vay mượn cừu, gia súc, nghề luyện kim và có thể cả cái cày từ Trung Đông hoặc châu Âu. Do đó, không có “vũ khí bí mật” đơn lẻ nào có thể tự mình giải thích được sự mở rộng của các thảo nguyên. Thay vào đó, với việc thuần hóa ngựa, người dân thảo nguyên trở thành những người đầu tiên đặt chung lợi ích về kinh tế với lợi ích quân sự, do đó, đã giúp họ trở thành kẻ thống trị thế giới trong 5.000 năm tới - đặc biệt sau khi họ phát triển thêm cả nền nông nghiệp chuyên canh cùng với sự xâm lấn về phía Đông Nam châu Âu. Vậy nên, thành công của họ, giống như là sự mở rộng của châu Âu ở giai đoạn hai bắt đầu năm 1492, là một sự tình cờ của sinh địa lý học. Họ trở thành những người có quê hương gắn liền với nhiều loại ngựa hoang dã và mở rộng các thảo nguyên ra tới tận vùng trung tâm của nền văn minh ở Trung Đông và châu Âu.

Như nhà cổ sinh vật học Liên bang Xô Viết Marija Gimbutas đã từng tranh cãi, những người trên thảo nguyên miền Tây, những con người vùng núi Ural của nước Nga ở thiên niên kỷ thứ IV trCN đã trùng khớp với bức tranh mặc định về những người Ấn-Âu nguyên thủy, cội nguồn của chúng ta. Họ đã sống vào đúng thời điểm đó. Văn hóa của họ bao gồm những yếu tố kinh tế quan trọng được tái cơ cấu trong ngôn ngữ PIE (chẳng hạn như bánh xe ngựa kéo và ngựa), đã thiếu những yếu tố đang còn thiếu trong ngôn ngữ PIE (giống như những chiến xa và rất nhiều từ chỉ mùa vụ). Họ đã sống ở đúng địa điểm dành cho ngôn ngữ PIE: thời tiết ôn hòa, phía nam của những người Finno-Ugric, gần quê hương về sau này của người Lithuania và và những người Balt khác.

Nếu sự trùng khớp này là chính xác, tại sao học thuyết nguồn gốc thảo nguyên của hệ ngôn ngữ Ấn-Âu vẫn còn gây ra quá nhiều tranh cãi? Sẽ không có sự tranh cãi nào nếu những nhà khảo cổ học có thể chứng minh sự mở rộng nhanh chóng của văn hóa thảo nguyên từ miền nam nước Nga theo mọi ngả đường đến được tới Ireland khoảng năm 3000 trCN. Nhưng điều đó đã không xảy ra: bằng chứng trực tiếp của chính những cuộc mở rộng của những kẻ xâm lược thảo nguyên không vượt xa hơn phía Tây Hungary. Thay vào đó, xung quanh hoặc sau năm 3000 trCN, một người tìm thấy một sự bố trí gây hoang mang của những văn hóa khác đang phát triển tại châu Âu và được đặt tên theo những bằng chứng khảo cổ của họ (ví dụ như văn hóa của những đồ có sọc nổi và văn hóa của chiến tranh có sử dụng búa rìu). Những nền văn hóa mới xuất hiện này của Tây Âu kết hợp những yếu tố thảo nguyên như ngựa và tính hiếu chiến với những yếu tố cũ của nền văn minh Tây Âu mà đặc biệt trong đó là nền nông nghiệp đã được thiết lập. Những thực tế này là nguyên nhân khiến cho nhiều nhà khảo cổ học coi nhẹ giả thuyết thảo nguyên được phát triển cùng với đó, và nhìn nhận văn hóa xuất hiện ở Tây Âu như là sự phát triển địa phương.

Nhưng có một lý do hiển nhiên giải thích tại sao văn hóa thảo nguyên không thể mở rộng ảnh hưởng tới Ireland. Bản thân thảo nguyên cũng chỉ vươn tới giới hạn về phía Tây là trong những vùng thảo nguyên bằng phẳng ở Hungary. Đó là nơi tất cả những kẻ xâm lược thảo nguyên tiếp sau của châu Âu, như những người Mông Cổ dừng lại. Để mở rộng hơn, xã hội thảo nguyên phải thích ứng với vùng đất rừng của Tây Âu - thông qua việc tiếp nhận nền nông nghiệp chuyên sâu hay thâu tóm những xã hội châu Âu đang tồn tại và tạo ra con lai với những người ở đó. Hầu hết vốn gen của những xã hội được lai tạo ấy chứa đựng những gen có ở người châu Âu cổ.

Nếu những người thảo nguyên áp đặt ngôn ngữ PIE, tiếng mẹ đẻ của họ, lên phía Đông Nam châu Âu cho tới tận Hungary, và rồi biến nó trở thành một thành viên của nền văn hóa Ấn-Âu thì nó không còn là văn hóa thảo nguyên chính gốc, mà rồi đã mở rộng ra những nền văn hóa con cháu bắt nguồn sau đó ở những nơi khác nữa của châu Âu. Bằng chứng khảo cổ học của sự thay đổi văn hóa chủ yếu đề xuất rằng những nền văn hóa con cháu này có thể mở rộng ra khắp châu Âu và tới vùng Đông Ấn khoảng giữa những năm 3000 và 1500 trCN. Nhiều ngôn ngữ không phải hệ ngôn ngữ Ấn-Âu đã tồn tại đủ lâu dài để được lưu giữ bằng văn bản (như tiếng vùng Etruria), và tiếng của người xứ Basque vẫn còn tồn tại cho tới ngày nay. Như vậy, dòng thác cuốn của ngôn ngữ Ấn-Âu đã không phải là một làn sóng đơn lẻ, mà là một chuỗi dài của những sự kiện diễn ra trong suốt 5.000 năm.

Tương tự như vậy, hãy xem xét hệ ngôn ngữ Ấn-Âu đã đến thống trị miền Bắc và Nam Mỹ hiện nay. Chúng ta có rất nhiều bản chữ viết nói lên rằng chúng bắt nguồn từ những cuộc khai phá của người nói tiếng Ấn-Âu đến từ châu Âu. Nhưng những người di cư này của châu Âu đã không làm chủ được châu Mỹ chỉ trong thời gian ngắn, và những nhà khảo cổ học không tìm thấy những di chỉ của những nền văn hóa châu Âu không bị biến đổi trong suốt thế kỷ XVI ở Tân Thế giới. Nền văn hóa đó thật vô ích ở biên giới nước Mỹ. Thay vào đó, văn hóa của những người thực dân đã bị biến đổi mạnh hay gọi là dạng con lai, kết hợp giữa hệ thống ngôn ngữ Ấn-Âu và công nghệ châu Âu (như súng và thép) với những cách thức trồng trọt của thổ dân châu Mỹ (đặc biệt ở Trung và Nam Mỹ) và nguồn gen của thổ dân. Một vài vùng ở Tân Thế giới đã khiến cho hệ ngôn ngữ và nền kinh tế Ấn-Âu phải mất tới nhiều thế kỷ mới có thể kiểm soát nổi. Sự thống trị ấy đã không tới được Bắc Cực cho tới tận thế kỷ này. Và tới tận giờ, họ mới kiểm soát được nhiều vùng thuộc Amazon, còn vùng núi Andes ở Peru và Bolivia chắc rằng sẽ vẫn duy trì văn minh thổ dân trong một thời gian lâu dài nữa.

Image

Hình 10: Bản đồ này chỉ ra bằng cách nào những ngôn ngữ Ấn- Âu còn tồn tại có thể lan rộng ra. Quê hương được suy đoán của ngôn ngữ Ấn-Âu nguyên thủy, thứ ngôn ngữ cổ ban đầu, được sử dụng tại những vùng của nước Nga tiến về phía Bắc tới vùng biển Đen và nằm về phía đông của con sông Dnieper.

Giả sử rằng một vài nhà khảo cổ học tương lai tiến hành khai quật ở Brazil, sau khi những bản chữ viết đã bị phá hủy và ngôn ngữ Ấn-Âu không còn tồn tại ở châu Âu. Những nhà khảo cổ này sẽ tìm thấy những đồ chế tác của châu Âu đột nhiên xuất hiện trên những bãi biển của Brazil vào khoảng những năm 1530, nhưng rất lâu sau đó họ mới thống trị được Amazon. Những con người mà các nhà khảo cổ tìm thấy sống ở vùng Amazon thuộc Brazil sẽ là một đống hỗn tạp về di truyền giữa những thổ dân châu Mỹ, châu Phi da đen, người châu Âu và người Nhật Bản, và lại nói tiếng Bồ Đào Nha. Nhà khảo cổ ấy chưa chắc đã nhận ra rằng tiếng Bò Đào Nha là một thứ ngôn ngữ xâm nhập, được những người xâm chiếm mang tới và tạo nên một xã hội lai tạo mang tính địa phương.

Thậm chí sau khi có sự mở rộng ngôn ngữ Ấn-Âu vào khoảng thiên niên kỷ thứ IV trCN, những tương tác mới giữa những con ngựa kéo, con người của thảo nguyên và những ngôn ngữ PIE đã tiếp tục định dạng lịch sử của đại lục Á-Âu. Công nghệ ngựa kéo trong văn hóa PIE còn rất nguyên sơ và có lẽ chỉ tiến hóa chút ít với một dây chão nhỏ và việc cưỡi ngựa không cần tới yên cương. Hàng ngàn năm sau đó, giá trị quân sự của những con ngựa đã tiếp tục được cải thiện với những phát minh bắt nguồn từ kim loại và sự dàn trận với ngựa chiến khoảng năm 2000 trCN cho tới giày làm từ da ngựa, bàn đạp ngựa và yên ngựa của những kỵ binh sau này. Trong khi hầu hết những tiến bộ này đã không phải có nguồn gốc từ thảo nguyên, những người thảo nguyên vẫn là những người được hưởng lợi nhiều nhất, bởi vì họ luôn có nhiều bãi cỏ và do đó có thể có nhiều ngựa hơn.

Cùng với sự phát triển của công nghệ ngựa, châu Âu cũng bị xâm lược bởi rất nhiều người khác nữa ở thảo nguyên, mà trong số đó những người Hung, Thổ Nhĩ Kỳ và Mông Cổ được biết tới nhiều nhất. Những người này đã tạo nên những thành công trên quy mô rất lớn, với những triều đại ngắn ngủi, trải dài từ vùng đồng cỏ cho tới tận Đông Âu. Nhưng không bao giờ những người ở thảo nguyên lại có thể áp đặt ngôn ngữ của họ lên vùng Tây Âu. Họ thích thú với ưu điểm lớn nhất của bản thân ngay từ lúc bắt đầu, khi những người thuộc hệ ngôn ngữ PIE cưỡi ngựa không yên lan rộng ra khắp châu Âu mà không cần tới những con ngựa của chính châu Âu.

Đã có sự khác nhau khác giữa những cuộc xâm lược được ghi lại sau đó và cuộc xâm lược của ngôn ngữ PIE từ sớm hơn chưa được ghi lại. Những kẻ xâm lược sau không còn là những người nói tiếng Ấn-Âu đến từ những thảo nguyên miền Tây, mà chính là những người nói tiếng Thổ Nhĩ Kỳ và Mông Cổ tới từ những thảo nguyên miền Đông. Trớ trêu là, những con ngựa đã giúp cho các bộ lạc Thổ Nhĩ Kỳ ở vùng trung tâm của châu Á trong thế kỷ XI có thể xâm chiếm đất đai của người Hittite - người có chữ viết đầu tiên thuộc hệ ngôn ngữ Ấn-Âu. Như vậy, bước tiến quan trọng nhất của những người Ấn-Âu đầu tiên đã quay ra chống lại con cháu của họ. Những người Thổ Nhĩ Kỳ chủ yếu là những người châu Âu cùng gen với họ, nhưng không nói tiếng Ấn-Âu (mà là tiếng Thổ). Tương tự, một cuộc xâm lược miền Đông vào năm 869 đã khiến cho người Hungary hiện đại phần lớn mang gen giống với người châu Âu nhưng lại nói tiếng Phần-Hung. Bằng việc minh họa cách một nhóm nhỏ những người cưỡi ngựa trên thảo nguyên có thể áp đặt ngôn ngữ của họ lên cả xã hội châu Âu, Thổ Nhĩ Kỳ và Hungary đã cung cấp những hình mẫu về việc làm thế nào mà phần còn lại của châu Âu cũng trở thành khu vực nói tiếng Ấn-Âu.

Cuối cùng, những người trên thảo nguyên nói chung, không quan tâm tới ngôn ngữ của họ, dành thắng lợi liên tục trên phương diện công nghệ hàng đầu của Tây Âu. Khi có kết quả thì kết quả đã bị biến đổi. Vào năm 1241, người Mông Cổ đã đạt tới một đế quốc thảo nguyên lớn nhất từng tồn tại, trải dài từ Hungary tới Trung Quốc. Nhưng sau khoảng năm 1500, hệ ngôn ngữ Ấn-Âu của người Nga đã bắt đầu chiếm lại những vùng thảo nguyên đó từ hướng Tây. Chỉ mất vài thế kỷ, chế độ Nga Hoàng đã thống trị những người cưỡi ngựa trên thảo nguyên - những người đã từng chiếm lĩnh châu Âu và Trung Quốc trong hơn 5.000 năm. Ngày nay, những vùng thảo nguyên đã được ngăn đôi bởi nước Nga và Trung Quốc, và chỉ còn người Mông Cổ vẫn đang duy trì một chút ít tàn tích của vùng thảo nguyên độc lập.

Rất nhiều lời nói vô căn cứ của những người phân biệt chủng tộc đã được ghi chép lại bàn về sự ưu việt của bản thân những người Ấn-Âu. Việc tuyên truyền của Đức Quốc xã đã viện dẫn đến một cuộc đua của người Aryan thuần chủng. Trên thực tế hệ ngôn ngữ Ấn-Âu chưa bao giờ được thống nhất kể từ sự mở rộng ngôn ngữ PIE từ 5.000 năm trước đây, và thậm chí bản thân những người nói ngôn ngữ PIE cũng bị chia cắt bởi những nền văn hóa gần gũi với nhau. Một vài trận chiến cay đắng nhất và những thành tích đáng kinh tởm nhất mà lịch sử đã ghi lại được là lúc một nhóm người Ấn-Âu chống lại nhóm khác. Người Do Thái, dân Gypsy và người Slav những chủng người mà Đức Quốc xã đã tìm kiếm nhằm tiêu diệt hoàn toàn, cũng trao đổi bằng ngôn ngữ thuộc hệ ngôn ngữ Ấn-Âu, giống như kẻ thù của họ. Những người nói tiếng Ấn-Âu nguyên thủy chỉ đơn thuần là đã ở đúng địa điểm và đúng thời gian để tập hợp hàng loạt những công nghệ hữu ích. Nhờ vào sự may mắn đáng kinh ngạc đó, ngôn ngữ của họ trở thành tiếng mẹ đẻ mà những ngôn ngữ bắt nguồn từ nó giờ đã được sử dụng bởi phân nửa người trên Trái đất ngày nay.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.