Vào ngày 4 tháng Tám năm 1938, cuộc thám hiểm khám phá sinh học của Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Hoa Kỳ đã có một phát hiện nhanh chóng đưa tới giai đoạn kết thúc của một thời kỳ dài trong lịch sử của loài người. Đó là ngày mà những thành viên cuộc tuần tra tiền trạm của Chuyến thám hiểm Archbold lần thứ ba (được đặt tên theo Richard Archbold, người dẫn đầu chuyên thám hiểm đó) trở thành những kẻ xa lạ đầu tiên đến thung lũng Grand của sông Barlim, trong vùng được cho là hoang sơ phía Tây New Guinea. Trước sự ngạc nhiên của mọi người, thung lũng Grand được chứng minh rằng có một lượng cư dân đông đúc – gồm 50.000 người Papua, sống trong điều kiện như thời kỳ Đồ đá, chưa hề được phần còn lại của nhân loại biết đến trước đây và bản thân họ cũng không nhận thức được sự tồn tại của những người khác. Trong công cuộc tìm kiếm những loài chim và thú mới, Archbold đã tìm thấy một xã hội loài người chưa từng được khám phá.
Để đánh giá tầm quan trọng trong phát hiện của Archbold, chúng ta cần phải hiểu về hiện tượng “cuộc tiếp xúc đầu tiên”. Như tôi đã đề cập ở trên, phần lớn các loài động vật chiếm lĩnh một phạm vi địa lý bị giới hạn trong một phần nhỏ của bề mặt Trái đất. Trong các loài (như sư tử và gấu xám) xuất hiện ở một vài lục địa đó, không có trường hợp các cá thể từ lục địa này đến thăm các cá thể khác thuộc lục địa khác. Thay vào đó, mỗi lục địa hay thường là mỗi phần nhỏ của một lục địa có các quần thể riêng biệt của chính vùng đất đó trong mối quan hệ với các quần thể gần gũi thân cận, mà không phải là với các quần thể cùng loài ở khoảng cách xa. (Các loài chim di cư tạo thành một trường hợp ngoại lệ. Đúng là chúng di chuyển theo mùa giữa các lục địa nhưng theo một con đường đã được định sẵn và cả thời gian sinh sản mùa hè lẫn thời gian không sinh sản mùa đông của một quần thể xác định đều có xu hướng bị giới hạn.)
Sự chính xác về địa lý của các loài động vật được phản ánh trong sự đa dạng về điều kiện địa lý của chúng: các quần thể cùng một loài ở các khu vực địa lý khác nhau có xu hướng tiến hóa thành các loài phụ trông khác biệt nhau bởi vì phần lớn sự sinh sản được duy trì trong cùng một quần thể. Chẳng hạn như, không có con gorilla nào thuộc các loài ở vùng đất thấp Đông Phi tiến lên phía Tây Phi hoặc ngược lại, mặc dù các loài phụ phía Đông và phía Tây có bề ngoài đủ khác biệt để các nhà sinh học có thể nhận ra một con vật đi lang thang nếu có bất kỳ một con vật nào như thế.
Ở những khía cạnh này, chúng ta, những con người là động vật điển hình xuyên suốt phần lớn lịch sử tiến hóa của chính mình. Giống như các động vật khác, mỗi quần thể người được khuôn đúc sẵn về mặt di truyền ở các loại bệnh tật và khí hậu của khu vực nơi họ sinh sống. Nhưng những quần thể người cũng bị ngăn cản khỏi sự pha trộn một cách tự do bởi các hàng rào về ngôn ngữ và văn hóa mạnh hơn nhiều so với các động vật khác. Một nhà nhân chủng học có thể nhận biết từ sự xuất hiện thô sơ, trần trụi của một người, một cách đại thể về nguồn gốc của người ấy và một nhà ngôn ngữ hoặc một nhà nghiên cứu về phong cách ăn mặc có thể xác định nguồn gốc một cách gần gũi hơn. Đó chính là sự xác nhận cho cách mà các quần thể người ít di chuyển trông như thế nào.
Trong khi chúng ta tự cho rằng mình là những người thích đi ngao du, thì tổ tiên của chúng ta đã tương đối đối lập với điều đó trong suốt mấy nghìn năm của sự tiến hóa loài người. Mỗi một nhóm người đều ít hiểu biết về thế giới ở xa những vùng đất của chính họ và cả thế giới của những người láng giềng sát vách. Chỉ trong một vài thiên niên kỷ gần đây, những thay đổi trong tổ chức chính trị và những đổi mới về công nghệ đã cho phép một số người thường xuyên đi du lịch xa để gặp gỡ những người ở rất xa và để trực tiếp biết về nhiều nơi và nhiều người mà họ chưa đến thăm với tư cách cá nhân. Quá trình này được đẩy mạnh cùng với cuộc hành trình của Columbus vào năm 1492, cho đến tận ngày nay chỉ còn một vài bộ tộc ở New Guinea và Nam Mỹ vẫn chờ đợi cuộc tiếp xúc đầu tiên với những người xa lạ. Sự xâm nhập vào thung lũng Grand của đoàn thám hiểm Archbold sẽ được ghi nhớ như là một trong những cuộc tiếp xúc đầu tiên và cũng là cuối cùng với một quần thể dân cư lớn. Do đó, nó là một bước ngoặt trong quá trình mà nhân loại bị thay đổi từ hàng ngàn xã hội nhỏ, cùng chiếm lĩnh chỉ một phần của Trái đất, thành những người thống trị thế giới với sự hiểu biết rộng lớn.
Làm sao mà một số lượng dân cư lớn đến hơn 50.000 người Papua sinh sống trong thung lũng Grand lại không được người bên ngoài biết tới cho đến tận năm 1938? Làm sao mà đến lượt mình, những người Papua này cũng hoàn toàn không biết gì về thế giới bên ngoài? Cuộc tiếp xúc đầu tiên làm thay đổi những xã hội của con người như thế nào? Tôi cho rằng thế giới này trước cuộc tiếp xúc đầu tiên - một thế giới cuối cùng kết thúc trong thế hệ của chúng ta - lưu giữ chiếc chìa khóa có thể làm sáng tỏ nguồn gốc của sự đa dạng văn hóa ở loài người. Là những người chinh phục thế giới, loài người đã đạt được số lượng trên 5 tỷ, so sánh với số nhỏ 10.000 người tồn tại trước khi có nền nông nghiệp. Mặc dầu vậy, trớ trêu thay sự đa dạng văn hóa của chúng ta lại bị giảm sút ngay cả khi số lượng người của chúng ta tăng lên.
Với những người chưa từng đến New Guinea thì sự che giấu 50.000 người ở đây dường như là điều không thể hiểu nổi. Rốt cuộc, thung lũng Grand chỉ nằm cách bờ biển phía bắc hoặc bờ biển phía nam New Guinea có 115 dặm. Những người châu Âu đã khám phá ra New Guinea vào năm 1526, những nhà truyền giáo Hà Lan đã tiến hành cư trú ở đây vào năm 1852 và chính quyền cai trị thuộc địa châu Âu được thiết lập vào năm 1884. Vậy tại sao phải mất thêm 54 năm nữa mới tìm ra thung lũng Grand?
Câu trả lời - đó là do địa hình, lương thực và những người phục vụ - trở nên hiển nhiên ngay khi ai đó bước chân đến New Guinea và cố gắng tránh khỏi con đường mòn đã được tạo ra. Trong những điều kiện tốt nhất, các đầm lầy ở vùng đất thấp, hàng dãy dài vô tận các ngọn núi đá sắc nhọn như lưỡi dao và các rừng nhiệt đới che phủ mọi thứ đã làm cản bước tiến của con người xuống chỉ còn một vài dặm một ngày. Trong chuyến thám hiểm năm 1983 của tôi đến núi Kumawa, tôi và một đội gồm 12 người New Guinea mất hai tuần để xuyên qua 7 dặm trong nội địa. Nhưng chúng tôi đã vượt qua dễ dàng hơn so với cuộc thám hiểm kỷ niệm Liên hiệp các nhà điểu học nước Anh. Vào ngày 4 tháng Một năm 1910, họ đã đến bờ biển của New Guinea và hướng tới các đỉnh núi tuyết phủ mà họ có thể nhìn thấy chỉ cách đó khoảng 100 dặm trong nội địa. Vào ngày 12 tháng Hai năm 1911, cuối cùng, họ đã từ bỏ và quay trở lại, mà mới chỉ đi được ít hơn nửa chặng đường (45 dặm) trong 13 tháng đó.
Tập hợp lại các vấn đề về địa hình đó làm cho việc sống xa khỏi đất liền là điều không thể bởi New Guinea thiếu các thú săn lớn. Trong rừng nhiệt đới ở vùng đất thấp, cây lương thực chủ yếu của người New Guinea là một loại cầy được gọi là cây cọ bột mà ruột cây sinh ra một chất cô đặc như cao su và có mùi của chất gây nôn mửa. Tuy nhiên, không một người New Guinea nào có thể tìm thấy đủ lương thực hoang dã để sống sót trên núi. Vấn đề này được minh họa qua một cảnh tượng khủng khiếp khi nhà thám hiểm người Anh Alexander Wollaston trượt ngã lúc đi xuống một con đường mòn trong rừng nhiệt đới New Guinea: xác của 30 người New Guinea mới chết và hai đứa trẻ đang hấp hối, họ đã chết đói trong khi cố gắng từ vùng đất thấp quay trở về các khu vườn trên núi của mình vì không mang đủ lương thực dự trữ.
Sự khan hiếm lương thực hoang dại trong rừng nhiệt đới buộc các nhà thám hiểm phải đi qua các vùng không có người ở hoặc không thể hy vọng lấy được thức ăn từ các mảnh vườn bản địa, phải mang theo khẩu phần thức ăn cho họ. Một người phục vụ có thể mang được 18 kg, trọng lượng của thức ăn cần thiết để nuôi anh ta trong vòng 14 ngày. Do đó, trước khi có sự xuất hiện của máy bay khiến cho khả năng thả đồ vật xuống bằng dù thực hiện được, tất cả các cuộc thám hiểm New Guinea hơn bảy ngày đi bộ từ bờ biển (cuộc hành trình khứ hồi trong 14 ngày) được thực hiện bởi có các đội phục vụ đi đi lại lại, xây dựng các kho chứa thức ăn trong nội địa. Đây là một kế hoạch điển hình: 50 người phục vụ bắt đầu đi từ bờ biển với lương thực đủ dùng trong ngày cho 700 người, để lại lượng lương thực dùng cho một ngày của 200 người ở trong đất liền và quay trở lại bờ biển trong vòng năm ngày, sau khi tiêu thụ hết 500 suất lương thực còn lại (50 người nhân với 10 ngày) trong khi vẫn đang thực hiện cuộc hành trình. Sau đó 50 người phục vụ tiến vào kho chứa thứ nhất, lấy ngày lương thực cho 200 người dự trữ, gửi vào nơi chứa lương thực cho đủ 50 suất ăn trong ngày sau năm ngày tiến vào sâu hơn trong nội địa và quay trở lại kho chứa đầu tiên (được cung cấp lại trong quá trình chờ đợi), sau khi tiêu thụ hết 150 suất lương thực trong ngày trong suốt quá trình đó. Cứ tiếp tục như thế…
Cuộc thám hiểm tiến gần sát nhất tới việc khám phá ra thung lũng Grand trước chuyến đi của Archbold là chuyến thám hiểm của Kremer vào những năm 1921-1922, đã sử dụng tới 800 người phục vụ, 200 tấn lương thực và 10 tháng chuyển thức ăn cho bốn nhà thám hiểm tiến sâu vào trong nội địa đến ngay gần thung lũng Grand. Thật không may cho Kremer, cuộc hành trình của ông tình cờ lại đi qua một vài dặm phía Tây của thung lũng ấy mà ông không ngờ đến sự tồn tại của nó bởi có sự chen vào của những đỉnh núi và rừng nhiệt đới.
Ngoài những khó khăn về tự nhiên, vùng nội địa của New Guinea dường như không hấp dẫn đối với những người truyền giáo hoặc đối với những chính quyền thuộc địa bởi người ta tin rằng ở đó hầu như không có người ở. Những nhà thám hiểm châu Âu đặt chân đến bờ biển hoặc các con sông khám phá ra nhiều bộ lạc ở vùng đất thấp sống nhờ vào bột cọ sagu và cá, nhưng một vài người cố gắng để sống ở những chân đồi dốc đứng. Từ cả bờ biển phía Bắc và phía Nam, dãy núi trung tâm tuyết phủ tạo thành xương sống của New Guinea có bề mặt dốc đứng. Người ta cho rằng các mặt phía Bắc và phía Nam nối nhau ở đỉnh núi. Điều không thể thấy được từ các bờ biển là sự tồn tại của các thung lũng rộng mênh mông giữa các núi, ẩn sau các mặt đó và thích hợp cho việc trồng trọt.
Đối với phía Đông New Guinea, bí mật về một vùng đất nội địa trống chỉ được khám phá vào ngày 26 tháng Năm năm 1930 khi hai thợ mỏ người Australia, Michael Leahy và Michael Dwyer, đi qua đỉnh núi Bismarch để tìm vàng, nhìn xuống thung lũng phía xa vào buổi đêm và hoảng sợ khi nhìn thấy vô số các châm ánh sáng: các đốm lửa nấu nướng của hàng ngàn người. Đối với phía Tây New Guinea, bí mật kết thúc với chuyến bay khảo sát lần thứ hai của Archbold vào ngày 23 tháng Bảy năm 1938. Sau hàng giờ bay qua rừng nhiệt đới với một số dấu hiệu của con người, Archbold đã ngạc nhiên với những đốm nhỏ của thung lũng Grand, trông giống như là Hà Lan: một phong cảnh không có rừng nhiệt đới, được chia ra một cách gọn gàng thành các cánh đồng nhỏ được tạo ra bởi các mương tưới và với các làng nhỏ rải rác. Phải mất thêm hơn sáu tuần trước khi Archbold tạo ra các doanh trại, các hồ và sông gần nhất, nơi mà chiếc thủy phi cơ của ông có thể hạ cánh và trước khi đội tuần tra từ các trại đó có thể đến được thung lũng Grand để tạo ra cuộc tiếp xúc đầu tiên với những cư dân ở đây.
Đó là lý do tại sao thế giới bên ngoài không biết đến thung lũng Grand cho đến tận năm 1938. Tại sao các cư dân của thung lũng, ngày nay được gọi là những người Dani, không biết về thế giới bên ngoài?
Tất nhiên, một phần nguyên nhân cũng là do những vấn đề có tính logic mà đoàn thám hiểm Kremer phải đối mặt trong suốt hành trình trên đất liền, nhưng theo những cách thức trái ngược. Tuy nhiên, những vấn đề đó không quan trọng đối với những vùng của thế giới có địa hình thoai thoải và nhiều nguồn lương thực hoang dã hơn New Guinea và do đó, họ không giải thích tại sao tất cả các xã hội khác của con người trên thế giới thường sống trong sự cách ly tương đối. Thay vào đó, về điểm này chúng ta phải tự nhắc lại bản thân về một viễn cảnh hiện đại mà chúng ta luôn tin chắc. Viễn cảnh của chúng ta không áp dụng được đối với New Guinea cho đến tận gần đây và nó cũng không áp dụng được bất cứ nơi nào trên thế giới 10.000 năm trước.
Hãy nhớ lại rằng toàn bộ Trái đất ngày nay được chia thành các quốc gia chính trị mà cư dân của họ hưởng nhiều hoặc ít hơn sự tự do đi lại trong đường biên giới của quốc gia đó và thăm các quốc gia khác. Bất kỳ ai có thời gian, tiền bạc và mong muốn đều có thể thăm hầu hết bất kỳ đất nước nào ngoại trừ một vài quốc gia bài ngoại như Bắc Triều Tiên. Kết quả là con người và hàng hóa được đưa đi khắp địa cầu và nhiều mặt hàng như là Coca-cola ngày nay phổ biến trên khắp các lục địa. Tôi khá bối rối khi nhớ lại chuyến đi vào năm 1976 đến một hòn đảo ở Thái Bình Dương có tên gọi là Rennell, có vị trí bị cách ly với các mỏm đá gần biển dựng thẳng đứng, không có bãi biển và các vùng san hô nứt đã gìn giữ nền văn hóa Polynesia của nó không đổi cho đến tận gần đây. Khởi hành chuyến đi vào lúc rạng đông từ bãi biển, tôi đi qua khu rừng nhiệt đới không có dấu vết của con người. Vào lúc chiều muộn, cuối cùng tôi đã nghe thấy một giọng phụ nữ phía trước và thoáng thấy một túp lều nhỏ, đầu óc tôi quay cuồng trong sự tưởng tượng về một thiếu nữ Polynesia xinh đẹp, ngoan ngoãn, váy bằng lá và cỏ dại, ngực trần đang chờ đợi tôi ở nơi xa xôi này trên quần đảo tách biệt này. Thật tồi tệ là người phụ nữ đó rất béo và đang ở với chồng của mình. Sự bẽ bàng của tôi khi tự nhận mình là một nhà thám hiểm can đảm chính là chiếc áo phông của Đại học Wisconsin mà cô ta mặc.
Ngược lại, trong toàn bộ lịch sử của loài người ngoại trừ 10.000 năm trở lại đây, những cuộc du hành không bị giới hạn là điều không thể và sự truyền bá của áo phông thì rất hạn chế. Mỗi một làng hoặc một nhóm tạo thành một đơn vị chính trị, sống trong tình trạng liên tục thay đổi bởi chiến tranh, hòa giải, liên kết và thương mại buôn bán với các nhóm thân cận. Vì thế những người dân vùng cao nguyên New Guinea sống cả cuộc đời chỉ trong vòng mười dặm xung quanh nơi họ sinh ra. Thỉnh thoảng họ có thể lén lút đi sang các vùng đất bao quanh làng khi xảy ra một cuộc đột kích hoặc được phép sang đó khi diễn ra ngừng chiến nhưng họ không có một cơ cấu xã hội cho việc chu du ngay cả những vùng đất xung quanh. Khái niệm về sự khoan dung đối với những người lạ mặt không thân thích là không thể hiểu nổi cũng giống như là đối với bất cứ người lạ mặt nào dám xuất hiện.
Thậm chí ngày nay, luật lệ mang nặng tính tâm lý về việc không thể xâm phạm này vẫn tiếp tục tồn tại ở nhiều nơi trên thế giới. Bất cứ khi nào tôi đi quan sát nhận dạng chim ở New Guinea, tôi phải mất công dừng lại ở ngôi làng gần nhất để xin phép được quan sát chim ở vùng đất hoặc các dòng sông thuộc địa phận làng đó. Có hai lần tôi quên xin phép (hoặc xin phép ở sai làng) và bắt đầu chèo thuyền ngược sông, tôi thấy những người dân làng đã chắn ngang dòng sông khi tôi quay trở lại bằng xuồng và ném đá, giận dữ vì tôi đã xâm phạm lãnh thổ của họ. Khi tôi sống cùng những người của bộ tộc Elopi ở phía tây New Guinea và muốn qua lãnh thổ của bộ tộc Fayu bên cạnh để đến ngọn núi gần đó, người Elopi đã giải thích cho tôi hoàn toàn trung thực rằng người Fayu sẽ giết tôi nếu tôi cố gắng làm điều đó. Từ viễn cảnh ở New Guinea, điều này dường như là bản chất tự nhiên và tự nó đã giải thích tất cả. Đương nhiên là người Fayu sẽ giết bất kỳ người nào dám xâm phạm, các bạn chắc chắn không cho rằng họ ngu ngốc đến mức cho phép người lạ mặt vào lãnh thổ của họ? Những người lạ sẽ săn bắt các thú săn của họ, quấy nhiễu những người phụ nữ của họ, mang đến bệnh tật và thăm dò địa hình của họ nhằm tiến hành cuộc đột kích sau này.
Trong khi phần lớn những người thuộc thời kỳ trước khi có cuộc tiếp xúc đầu tiên có quan hệ buôn bán với những người hàng xóm của mình thì cũng có nhiều người lại cho rằng họ là những người duy nhất còn tồn tại. Có thể do khói từ những đám lửa hoặc do một chiếc xuồng không có người trôi nổi trên sông đã chứng minh rằng có sự tồn tại của những người khác. Nhưng việc dám bước vào lãnh thổ của ai đó để gặp họ, ngay cả khi những con người ấy chỉ sống cách xa một vài dặm, cũng giống như là tự sát. Khi một người dân vùng cao nguyên New Guinea nhớ lại cuộc sống của anh ta trước cuộc viếng thăm đầu tiên của những người da trắng vào năm 1930, “Chúng tôi chưa từng nhìn thấy một nơi nào ở xa. Chúng tôi chỉ biết mỗi vị trí này của ngọn núi. Và chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi là những người sống sót duy nhất.”
Sự cách ly này tạo ra sự đa dạng di truyền rất lớn. Mỗi một thung lũng ở New Guinea không chỉ có ngôn ngữ và văn hóa riêng của họ mà còn có sự khác biệt về di truyền và các bệnh mang tính địa phương. Thung lũng đầu tiên nơi tôi làm việc là nơi ở của những người Foré, địa điểm nổi tiếng trong khoa học vì sự ưu phiền có một không hai của họ với một căn bệnh virus chết người gọi là “kuru”, hoặc bệnh cười, chiếm tới trên một nửa nguyên nhân của tất cả những cái chết (đặc biệt trong số những phụ nữ) và làm cho đàn ông đông hơn phụ nữ, ba người đàn ông mới có một người phụ nữ, ở một vài làng của người Foré. Ở Karimui, nằm cách 60 dặm từ phía tây của vùng Foré, người ta lại không biết đến bệnh kuru và thay vào đó họ có tỷ lệ mắc phải bệnh phong cao nhất thế giới. Mặc dù vậy, các bộ tộc khác có tần số xuất hiện các bệnh câm điếc, hoặc bệnh lưỡng tính giả của nam mà thiếu đi dương vật, hoặc già sớm hoặc dậy thì muộn khá cao.
Ngày nay, chúng ta có thể tưởng tượng ra các vùng của thế giới mà chúng ta chưa từng đặt chân tới qua phim ảnh và vô tuyến. Chúng ta có thể đọc được về chúng qua sách. Các cuốn từ điển tiếng Anh đi kèm với tất cả các ngôn ngữ chính trên thế giới đã xuất hiện và phần lớn các ngôi làng nói các ngôn ngữ thiểu số thì vẫn có những người hiểu được một trong những ngôn ngữ chính của thế giới. Thí dụ, các nhà truyền giáo và ngôn ngữ phải học chữ viết của hàng trăm ngôn ngữ của New Guinea và vùng Nam Mỹ trong một vài thập kỷ gần đây và tôi nhận ra rằng một vài người nói cả tiếng Indonesia hoặc NeoMelanesia ở các làng New Guinea mà tôi đã đến, bất kể chúng ở xa đến mức nào. Vì thế, các rào cản về ngôn ngữ không ngăn được dòng thông tin của thế giới rộng lớn. Ngày nay, hầu như mọi ngôi làng trên thế giới đã có sự mô tả khá rõ về thế giới bên ngoài và cũng đã biết khá rõ về chính bản thân họ.
Ngược lại, những người thuộc thời kỳ trước khi có cuộc tiếp xúc đầu tiên không thể nào tưởng tượng ra thế giới bên ngoài hoặc biết về nó một cách trực tiếp. Thay vào đó, thông tin được chuyển đến thông qua chuỗi dài của các thứ ngôn ngữ với độ chính xác mất dần qua từng bước - giống như trong một trò chơi của trẻ em là “điện thoại”, trong đó, một đứa trẻ trong một vòng tròn nói thầm một thông điệp cho đứa trẻ kế tiếp, đứa trẻ này đến lượt nó lại nói thầm cho đứa trẻ cạnh nó, cứ như thế cho đến khi thông điệp được nói thầm lại cho đứa trẻ đầu tiên thì ý nghĩa của thông điệp đã thay đổi không còn nhận ra được nữa. Kết quả là những người dân vùng cao nguyên New Guinea không có khái niệm gì về đại dương nằm cách họ 100 dặm và không biết gì về người da trắng, những người đang xâm nhập vào bờ biển của họ trong một vài thế kỷ. Khi những người dân cao nguyên cố gắng để tìm hiểu tại sao những người da trắng đầu tiên đến đây lại mặc quần và thắt lưng thì một giả thuyết là những quần áo đó để che đậy một cái dương vật dài khổng lồ quấn quanh thắt lưng. Một vài người Dani tin rằng một nhóm người New Guinea cạnh đó nhai cỏ và có đôi bàn tay nối liền với lưng của họ.
Những cuộc tuần tra nhằm tạo nên sự tiếp xúc đầu tiên đã có tác động không tốt và những tác động này khó mà tưởng tượng nổi bởi người trong số chúng ta sống trong một thế giới hiện đại. Những người cao nguyên do Michael Leahy phát hiện vào những năm 1930 và được phỏng vấn vào 50 năm sau đó, vẫn nhớ lại nơi họ ở và việc họ đang làm vào thời điểm có cuộc tiếp xúc đầu tiên. Đối với những người châu Mỹ và châu Âu hiện đại, có thể sự so sánh gần nhất là sự hồi tưởng về một hoặc hai trong số các sự kiện chính trị quan trọng nhất trong cuộc đời của chúng ta. Phần lớn những người Mỹ cùng tuổi tôi đều nhớ lại thời điểm ngày 7 tháng Mười hai năm 1941 khi họ nghe tin cuộc tấn công của người Nhật vào Trân Châu Cảng. Kết quả của thông tin đó là ngay lập tức chúng tôi biết rằng cuộc sống của chúng tôi sẽ rất khác trong những năm tới. Tuy nhiên, thậm chí ảnh hưởng của Trân Châu Cảng và ảnh hưởng của chiến tranh sau đó lên xã hội Mỹ vẫn rất nhỏ khi so sánh với tác động của cuộc tuần tra tiếp xúc đầu tiên với những người dân vùng cao nguyên New Ghinea. Vào ngày đó, thế giới của họ bị thay đổi mãi mãi.
Những cuộc tuần tra đã tiến hành cách mạng hóa nền văn hóa vật liệu của những người dân cao nguyên bằng việc mang tới rìu thép và diêm, những vật liệu hiển nhiên là tốt hơn so với chiếc rìu đá và cái đánh lửa trước đây. Những người truyền giáo và những quan chức chính phủ đi theo các cuộc tuần tra đã ngăn cấm các thói quen văn hóa thâm căn cố đế như là tục ăn thịt người, tình trạng lấy nhiều vợ, đồng tính luyến ái và chiến tranh. Các thói quen khác được loại bỏ một cách tự nhiên bởi chính những người của bộ lạc, ủng hộ các thói quen mới mà họ chứng kiến. Nhưng cũng có một cuộc cách mạng đáng lo hơn theo quan điểm của những người dân vùng cao nguyên về những điều tạo nên vũ trụ này. Họ và những người hàng xóm của mình sẽ không còn là những người duy nhất với cách thức sống duy nhất.
Quyển sách của Bob Connolly và Robin Anderson có tựa đề Cuộc tiếp xúc đầu tiên thuật lại một cách sâu sắc thời điểm đó ở vùng phía đông cao nguyên, khi những người New Guinea và người da trắng, những người mà vào thời điểm tiếp xúc ở những năm 1930 vẫn còn trẻ hoặc là trẻ con, nhớ lại khi họ về già. Những người dân cao nguyên sợ hãi khi cho rằng những người da trắng là những hồn ma trở về cho đến tận những người New Guinea đào xới và nghiên cứu cẩn thận phân của người da trắng đã được chôn lấp, và đưa những cô gái trẻ đang rất sợ hãi đến quan hệ tình dục với những người xâm nhập và khám phá ra rằng những người da trắng cũng chỉ là con người như họ. Leahy viết trong cuốn nhật ký của ông là những người dân vùng cao nguyên có mùi rất khó chịu trong khi cùng lúc đó người dân vùng cao nguyên thấy mùi của người da trắng lạ và đáng sợ. Nỗi ám ảnh của Leahy về vàng kỳ lạ đối với những người dân vùng cao nguyên cũng giống như nỗi ám ảnh của những con người này với dạng của cải và tiền tệ của chính họ - vỏ ốc vốn rất kỳ lạ với Leahy. Đối với những người còn sống sót trong số những người Dani sống ở thung lũng Grand và các thành viên của cuộc thám hiểm Archbold vốn đã gặp gỡ nhau vào năm 1938, thì những dẫn liệu về cuộc tiếp xúc đầu tiên vẫn chưa từng được viết ra.
Tôi đã nói ở phần mở đầu rằng việc tiến vào vào thung lũng Grand của Archbold không chỉ là một bước ngoặt đối với người dân Dani mà còn là một phần của bước ngoặt trong lịch sử của loài người. Điều đó đã tạo nên sự khác biệt gì mà tất cả các nhóm người sống trong sự tương đối biệt lập chờ đợi ở cuộc tiếp xúc đầu tiên, trong khi chỉ một vài nhóm người đó còn tồn tại cho đến ngày nay? Chúng ta có thể suy luận ra câu trả lời bằng cách so sánh những vùng trên thế giới, nơi mà sự cách ly đã kết thúc rất lâu trước đây với các vùng khác, nơi mà sự cách ly vẫn tồn tại cho đến bây giờ. Chúng ta cũng có thể nghiên cứu những thay đổi mạnh mẽ xảy ra sau những cuộc tiếp xúc đầu tiên có tính chất lịch sử. Những so sánh này chỉ ra rằng sự tiếp xúc giữa những người cách xa nhau dần dần làm mất đi phần lớn sự đa dạng văn hóa đã phát triển trong suốt nhiều thiên niên kỷ bị cách ly của loài người.
Sự đa dạng về nghệ thuật là một ví dụ điển hình. Các thể loại điêu khắc, âm nhạc và khiêu vũ rất khác nhau giữa các làng ở New Guinea. Một vài người dân sống dọc theo sông Sepik và ở đầm lầy Asmat đã tạo ra nghệ thuật chạm khắc mà chất lượng của chúng bây giờ được cả thế giới biết đến. Nhưng những người dân New Guinea ngày càng bị ép buộc hoặc bị thuyết phục bỏ truyền thống nghệ thuật của họ. Khi tôi đến thăm một thành viên của bộ lạc bị cách ly gồm 578 người ở Bomai vào năm 1965, người truyền bá sở hữu cửa hàng bách hóa duy nhất đã lôi kéo mọi người đốt tất cả tác phẩm nghệ thuật của họ. Hàng thế kỷ phát triển nền văn hóa có một không hai (những người truyền giáo gọi nó là “những đồ vật không văn minh”) đã bị phá hủy trong một buổi sáng. Vào chuyến thăm đầu tiên của tôi đến các ngôi làng xa xôi của New Guinea vào năm 1964, tôi còn nghe thấy tiếng trống gỗ và những bài hát truyền thống; nhưng trong những chuyến đi của tôi vào thập kỷ 80, tôi nghe thấy tiếng guitar, nhạc rock và những chiếc hộp phát ra âm thanh chạy bằng pin. Bất kỳ người nào đã từng thấy nghệ thuật chạm khắc của người Asmat ở Bảo tàng Nghệ thuật thành phố New York hoặc được nghe thấy tiếng trống gỗ chơi trong bản nhạc hát đôi ở tốc độ nhanh ngoạn mục, có thể đánh giá bi kịch kinh khủng của sự mất mát nghệ thuật sau quá trình tiếp xúc.
Chúng ta cũng có sự tổn thất lớn về ngôn ngữ. Ví dụ, ngày nay, châu Âu chỉ có khoảng 50 ngôn ngữ, hầu hết thuộc về một họ ngôn ngữ đơn (Ấn-Âu). Trái lại, New Guinea, chiếm ít hơn một phần mười diện tích châu Âu và ít hơn một phần một trăm dân số châu Âu, có khoảng 1.000 ngôn ngữ mà phần lớn không liên quan tới bất kỳ ngôn ngữ được biết đến khác ở New Guinea hoặc một nơi nào khác. Ngôn ngữ New Guinea thông thường được nói bởi một vài nghìn người sống trong một bán kính 10 dặm. Khi tôi đi 60 dặm từ Okapa đến Karimui ở cao nguyên phía đông New Guinea, tôi đã thấy sáu ngôn ngữ, bắt đầu với Foré (một ngôn ngữ có nhiều hậu tố, như là Finish (kết thúc)) và kết thúc bởi thứ tiếng Tudawhe (một ngôn ngữ với các âm điệu biến đổi và nguyên âm nói bằng giọng mũi, giống như là tiếng Trung Quốc).
New Guinea đã cho các nhà ngôn ngữ học biết rằng thế giới đã từng như thế nào, mỗi một bộ tộc bị cách ly có ngôn ngữ riêng của họ, cho đến tận khi sự phát triển của nông nghiệp cho phép một số nhóm nhỏ mở rộng và lan truyền ngôn ngữ của họ trên những vùng rộng lớn. Chỉ khoảng 6.000 năm trước thì sự mở rộng Ấn-Âu bắt đầu, dẫn đến sự tiêu diệt tất cả các ngôn ngữ trước đó của vùng phía tây châu Âu ngoại trừ tiếng xứ Basque. Sự mở rộng của nhóm dân tộc Bantu trong vòng vài thiên niên kỷ gần đây, tương tự, cũng tiêu diệt phần lớn các ngôn ngữ khác của vùng nhiệt đới và cận Sahara châu Phi, giống như là sự mở rộng của người Austronesia ở Indonesia và Philippine. Chỉ riêng ở Tân Thế giới, hàng trăm ngôn ngữ Mỹ - Ấn đã mất trong mấy thế kỷ gần đây.
Phải chăng sự mất mát ngôn ngữ là một điều tốt bởi vì ít ngôn ngữ hơn cũng có nghĩa giao tiếp giữa những người trên thế giới thuận lợi hơn? Có thể, nhưng ở một khía cạnh khác nó là điều không tốt. Các ngôn ngữ khác nhau về cấu trúc và từ vựng, về cách người ta biểu hiện kết quả, cảm xúc và trách nhiệm của bản thân, vì thế quyết định cả suy nghĩ của chúng ta. Không có thứ ngôn ngữ nào tốt nhất về một mục đích đơn lẻ, thay vào đó các ngôn ngữ khác nhau phù hợp hơn cho các mục đích khác nhau. Ví dụ, không phải ngẫu nhiên mà Plato và Aristotle viết bằng tiếng Hy Lạp, trong khi Kant viết bằng tiếng Đức. Các thành tố ngữ pháp của hai loại ngôn ngữ đó cùng với sự dễ dàng trong việc tạo thành các từ ghép khiến chúng là những ngôn ngữ ưu việt của triết học phương Tây. Một ví dụ khác quen thuộc với tất cả chúng ta - những người học tiếng Latin, là những ngôn ngữ lan truyền nhanh (những ngôn ngữ mà kết thúc từ đủ để chỉ ra cấu trúc của câu) có thể sử dụng sự biến đổi trật tự từ để chuyển sắc thái điều mà không thể có trong tiếng Anh. Trật tự từ tiếng Anh của chúng ta bị hạn chế khắt khe bởi được dùng như là manh mối chính của cấu trúc câu. Tiếng Anh không thể trở thành thứ ngôn ngữ cho toàn thế giới, bởi tiếng Anh chỉ tất yếu là ngôn ngữ tốt nhất dành cho ngoại giao mà thôi.
Phạm vi của các thói quen văn hóa ở New Guinea che khuất trong các vùng tương đương ở nơi nào đó trên thế giới hiện đại bởi vì các bộ tộc bị cách ly có thể sống ngoài các thí nghiệm xã hội của chúng ta mà các bộ tộc khác cảm thấy hoàn toàn không chấp nhận được. Các hình thức tự cắt xẻo và tục ăn thịt người khác biệt nhau ở những bộ tộc khác nhau. Tại thời điểm xảy ra cuộc tiếp xúc đầu tiên, một vài bộ tộc không có gì che thân, một số khác thì che đậy cơ quan sinh dục của họ và có sự thẹn thùng về giới tính, và một số bộ tộc khác (bao gồm những người Dani của thung lũng Grand) lại phô ra một cách rõ ràng dương vật và tinh hoàn với các đồ dùng trình diễn khác nhau. Thói quen nuôi dạy trẻ từ mức độ rất dễ dãi (bao gồm việc để cho đứa trẻ Foré tự do vồ lấy vật nóng và tự làm bỏng chúng) đến việc trừng phạt những cư xử xấu bằng cách cọ xát mặt đứa trẻ Baham bằng những cây tầm gai nhọn, hay đến mức đàn áp quá khích dẫn đến sự tự sát của đứa trẻ Kukukuku. Những người đàn ông Barua lại đeo đuổi sự lưỡng tính thể chế hóa bằng cách sống cùng với những bé trai trong ngôi nhà chung có kích thưóc lớn, của những người đồng tính, trong khi mỗi người lại có một ngôi nhà nhỏ, riêng biệt sống với những người khác như vợ, những đứa con gái và con trai nhỏ. Những người Tudawhe, thay vào đó, lại có căn nhà hai tầng mà phụ nữ, trẻ em, những cô gái chưa lập gia đình và lợn sống ở tầng thấp hơn, trong khi những người đàn ông và những chàng trai chưa lập gia đình sống ở tầng cao hơn, và họ lên đó bằng một chiếc thang riêng biệt đặt trên mặt đất.
Chúng ta không thể nuối tiếc cho sự đa dạng văn hóa của thế giới hiện đại bị thu hẹp lại nếu điều đó chỉ có nghĩa là sự kết thúc của tục tự cắt xẻo mình và sự tự sát của trẻ em. Nhưng những xã hội có các hoạt động văn hóa lấn át, đã được chọn chỉ vì sự thành công trong kinh tế và quân sự. Những đặc trưng này lại không có ở những xã hội chú trọng đến hạnh phúc và thúc đẩy sự tồn tại của con người một cách lâu dài. Việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và khai thác môi trường có lợi cho chúng ta ở thời hiện tại nhưng được báo trước là sẽ xấu đi trong tương lai. Các đặc trưng của xã hội Mỹ được coi là những thảm họa trong mọi quyển sách bao gồm các cách đối xử của chúng ta với người già, sự rối loạn ở tuổi thanh thiếu niên, việc lạm dụng các hóa chất tác động đến tâm thần và sự bất bình đẳng hiển nhiên. Đối với mỗi vấn đề này, có nhiều xã hội ở New Guinea (hoặc đã có nhiều xã hội trước cuộc tiếp xúc đầu tiên) đã tìm ra những giải pháp tốt hơn nhiều.
Thật không may, các mô hình thay thế của xã hội loài người đang biến mất một cách nhanh chóng và phải mất nhiều thời gian khi con người cố thử tìm các mô hình trong sự biệt lập mới. Chắc chắn rằng không còn một quần thể nào chưa được tiếp xúc còn sót lại ở bất cứ đâu lại lớn như quần thể mà cuộc tuần tra của Archbold đã chạm trán vào cái ngày tháng Tám năm 1938 ấy. Khi tôi làm việc trên dòng sông Rouffaer ở New Guinea vào năm 1979, những nhà truyền giáo gần đó đã tìm thấy một bộ tộc 400 người dân du cư, và những người đó đã thông báo rằng họ thấy một nhóm người chưa được tiếp xúc khác trong những ngày tháng di chuyển ngược dòng sông. Những nhóm nhỏ cũng xuất hiện ở một vài vùng xa xôi của Peru và Brazil. Nhưng tại một vài thời điểm trong vòng thập kỷ cuối cùng(57) của thế kỷ XX, chúng ta có thể mong đợi cuộc tiếp xúc đầu tiên cuối cùng và sự kết thúc cuộc thử nghiệm riêng rẽ cuối cùng trong việc phác họa xã hội của loài người.
Trong khi cuộc tiếp xúc đầu tiên cuối cùng đó không có nghĩa là kết thúc sự đa dạng văn hóa của con người, phần nhiều trong số đó đang chứng minh khả năng tồn tại trên truyền hình và du lịch, điều đó cũng có nghĩa là sự thu nhỏ mạnh mẽ. Mất mát đó thật đáng tiếc bởi những lý do mà tôi đã bàn luận ở trên. Nhưng sự bài ngoại của chúng ta có thể tha thứ được chỉ khi tất cả những phương thức giết hại lẫn nhau vẫn bị giới hạn gây ra sự sụp đổ giống nòi của chúng ta. Khi tôi cố gắng đưa ra các lý do tại sao vũ khí hạt nhân không kết hợp một cách vững chắc với các xu hướng diệt chủng của loài người để phá vỡ những kỷ lục mà chúng ta đã lập ra đối với sự diệt chủng trong nửa đầu của thế kỷ XX, thì sự đồng nhất văn hóa một cách nhanh chóng của chúng ta là một trong những cơ sở chủ yếu mà tôi có thể thấy được để hy vọng. Mất sự đa dạng văn hóa có thể là cái giá mà chúng ta phải trả để tồn tại.