Cho đến tận thế hệ chúng ta, chưa ai từng có cớ để lo lắng liệu rằng hế hệ tiếp theo của loài người có thể sống sót hay tận hưởng một hành tinh vẫn còn phù hợp cho sự sống hay không. Chúng ta là thế hệ đầu tiên phải đối mặt với những câu hỏi như thế về tương lai của con cháu mình. Chúng ta đã dành rất nhiều thời gian trong cuộc đời để giáo dục con cái, để chúng có thể tụ nuôi sống mình và sống hòa thuận với mọi người. Việc chúng ta tự hỏi bản thân liệu những nỗ lực đó có trở nên vô ích đang ngày càng tăng lên.
Những lo lắng ấy nảy sinh bởi có hai bóng mây đang lơ lửng trên đầu chúng ta - những bóng mây tương tự nhau về mặt hệ quả nhưng lại được chúng ta nhìn nhận một cách rất khác nhau. Một bên là hiểm họa của việc thảm sát bằng vũ khí nguyên tử, bộc lộ lần đầu tiên qua đám mây che phủ bầu trời Hiroshima. Mọi người đều đồng tình rằng nguy cơ đó là có thật, bởi một lượng vũ khí nguyên tử khổng lồ vẫn đang tồn tại và cũng bởi các chính khách trong suốt quá trình lịch sử đôi lúc lại mắc những sai lầm về tính toán, mà không hề được công bố. Mọi người cũng đồng tình rằng, nếu một sự thảm sát khủng khiếp bằng nguyên tử thực sự xảy ra, điều đó sẽ rất tồi tệ cho chúng ta và có thể giết chết toàn bộ loài người. Hiểm họa này quyết định rất nhiều đến cục diện quan hệ ngoại giao trên thế giới hiện nay. Điều duy nhất mà chúng ta không đồng tình là làm cách nào để giải quyết vấn đề đó tốt nhất - ví dụ như, liệu chúng ta có nên giải trừ một phần hay toàn bộ quân bị hạt nhân, duy trì sự cân bằng hạt nhân hay là tăng cường hạt nhân.
Một bóng mây khác đó là hiểm họa của sự hủy diệt hàng loạt đối với môi trường, trong đó, một nguyên nhân tiềm ẩn thường được bàn luận đến là sự tuyệt chủng dần dần của hầu hết các loài sinh vật trên thế giới. Ngược lại với trường hợp về hủy diệt hạt nhân, hầu như tồn tại một sự đồng tình không hoàn toàn về việc liệu hiểm họa một cuộc tàn sát hàng loạt là có thực hay không và liệu rằng nếu điều đó thật sự xảy ra thì nó sẽ gây hại gì cho loài người. Ví dụ, một trong những ước tính thường được đề cập nhiều nhất đó là con người đã gây ra sự tuyệt chủng của 1% các loài chim trên thế giới trong những thế kỷ gần đây. Ở một thái cực nào đó, rất nhiều người có suy nghĩ chín chắn, đặc biệt là những nhà kinh tế và những người đứng đầu các ngành công nghiệp, có cả một vài nhà sinh vật học và một số những người không có chuyên môn lại cho rằng sự biến mất của 1% tổng số loài chim là không quan trọng, kể cả khi điều đó có xảy ra thật. Trên thực tế, những người đó còn cho rằng 1% là số lượng quá mức dự đoán, rằng hầu hết các loài đó là không cần thiết với chúng ta, và rằng chúng ta sẽ chẳng có hại gì nếu mất đi gấp 10 lần con số đó. Ở một thái cực đối nghịch, rất nhiều những người có suy nghĩ thận trọng khác, đặc biệt là những nhà bảo tồn sinh học và một số lượng ngày càng tăng của những người không có chuyên môn hoạt động trong các phong trào bảo vệ môi trường - lại nghĩ rằng đây là con số dự đoán dưới mức thực tế và rằng nạn tuyệt chủng hàng loạt có thể hủy hoại chất lượng và khả năng sống sót của loài người. Rõ ràng, điều này sẽ gây ra sự khác biệt rất lớn với con cháu của chúng ta về việc hai quan điểm cực đoan này thì cái nào gần sát với sự thật hơn.
Những hiểm họa về sự hủy diệt hạt nhân và môi trường ẩn chứa hai câu hỏi thực sự nghiêm trọng mà loài người đang phải đối diện hiện nay. So với hai bóng mây trên, nỗi ám ảnh thường thấy của chúng ta về bệnh ung thư, AIDS và chế độ ăn kiêng trở nên quá đỗi bình thường, bởi những vấn đề đó không đe dọa đến sự sống còn của cả nhân loại. Nếu như những hiểm họa về hạt nhân và môi trường không nên thành hiện thực thì chúng ta sẽ có rất nhiều thời gian rảnh rỗi để giải quyết những chuyện lặt vặt khác như ung thư chẳng hạn. Nếu chúng ta thất bại trong việc ngăn chặn hai hiểm họa này thì dù thế nào đi nữa, việc tìm ra phương thức chữa ung thư cũng chẳng giúp gì được chúng ta.
Vậy có bao nhiêu loài vật hiện đã bị con người thực sự đẩy vào tình trạng tuyệt chủng hoàn toàn? Còn bao nhiêu loài khác nữa có lẽ cũng sẽ tuyệt chủng trong cuộc đời của con chúng ta? Nếu càng ngày càng có nhiều loài hơn bị tuyệt chủng, vậy thì điều đó là gì? Liệu những con chim hồng tước đóng góp được bao nhiêu cho tổng sản phẩm quốc dân của chúng ta? Phải chăng việc sớm hay muộn tất cả các loài đều sẽ bị tuyệt chủng là một định mệnh? Có phải những khủng hoảng về sự tuyệt chủng hàng loạt chỉ là sự kích động quá mức, một mối đe dọa thực sự trong tương lai, hay một hiện tượng đã được chứng minh là đang đi đúng chiều hướng của nó?
Chúng ta cần phải đi qua ba bước nếu muốn có được những dự đoán thực tế liên quan đến cuộc tranh cãi về sự tuyệt chủng hàng loạt này. Thứ nhất, hãy xem có bao nhiêu loài đã tuyệt chủng ở thời hiện đại (có nghĩa là từ năm 1600). Thứ hai, ước tính có bao nhiêu loài đã tuyệt chủng từ trước năm 1600. Bước thứ ba, cố gắng dự đoán có bao nhiêu loài nữa sẽ bị như vậy trong cuộc đời của chúng ta và của con cháu chúng ta. Cuối cùng, hãy đặt câu hỏi sự thay đổi nào đã khiến tất cả những điều đó xảy ra với chúng ta.
Ban đầu, việc tính toán con số các loài đã tuyệt chủng trong thời hiện đại tưởng chừng như đơn giản khi một ai đó bắt đầu suy nghĩ về nó. Thử lấy một vài nhóm thực hoặc động vật, đếm theo một danh sách đầy đủ, tổng số lượng các loài, đánh dấu những loài đã bị tuyệt chủng từ năm 1600, và rồi cộng chúng lại. Khi một nhóm làm phép thử cho bài tập này, chim là nhóm có lợi thế nhất bởi chúng dễ bị tìm kiếm thấy và nhận dạng, và có những nhóm người chuyên quan sát các loài chim sẽ theo dõi chúng. Kết quả cho thấy, có nhiều điều được biết về các loài chim hơn là về các loài động vật khác.
Có xấp xỉ khoảng 9.000 loài chim vẫn còn tồn tại ngày nay. Chỉ còn một hoặc hai loài chưa được biết đến trước đây vẫn còn được phát hiện thêm mỗi năm, vì vậy hầu hết các loài chim đang sống đều đã được đặt tên. Tổ chức đứng đầu chịu trách nhiệm về tình trạng các loài chim trên thế giới là ủy ban Quốc tế về Bảo tồn Chim (ICBP) - liệt kê được 108 loài, bao gồm rất nhiều nòi mới được thêm vào, đã bị tuyệt chủng từ năm 1600. Hầu như tất cả những sự tuyệt chủng này bằng cách này hay cách khác đều do con người gây ra - nhiều hơn so với những gì diễn ra sau đó. 108 loài chim chiếm khoảng 1% tổng số các loài chim gồm khoảng 9.000 loài. Đó chính là cơ sở cho con số 1% mà tôi mới đề cập ở trên.
Trước khi chúng ta đưa ra kết luận cuối cùng về số lượng các loài chim hiện đại bị tuyệt chủng, hãy thử tìm hiểu xem nguồn gốc của con số 108 này. ICBP quyết định chỉ đưa vào danh sách tên loài chim bị tuyệt chủng sau khi loài đó đã được tìm kiếm một cách cẩn thận ở khu vực mà trước kia chúng được biết là đã từng xuất hiện hoặc từng đến, và sau khi chúng không được tìm thấy trong nhiều năm. Trong nhiều trường hợp, những người nghiên cứu về chim thường thấy một đàn chim bị suy thoái dần tới khi chỉ còn vài cá thể và đã lần theo số phận của những con chim cuối cùng. Ví dụ, chủng chim bị tuyệt chủng gần đây nhất ở nước Mỹ chính là loài chim sẻ vùng bờ biển có màu tro, sinh sống trong các đầm lầy gần Titusville, Florida. Khi quần thể loài chim này bị thu nhỏ do sự phá hủy những khu đầm lầy nơi chúng sinh sống, những tổ chức động vật hoang dã đã buộc những dải băng nhận dạng lên những con chim sẻ còn sót lại để chúng có thể được nhận ra riêng từng con. Khi chỉ còn lại sáu con, chúng được nuôi nhốt lại nhằm bảo vệ và tạo điều kiện cho chúng sinh sản. Không may, hết con này đến con khác bị chết. Đến con cuối cùng, và cùng với nó là cả một chủng loài đã chết vào ngày 16 tháng Sáu năm 1987.
Do đó, không còn chút hồ nghi gì về việc loài chim sẻ sống ở đầm lầy đã bị tuyệt chủng. Tương tự như vậy, chỉ còn rất ít nghi ngờ liên quan tới nhiều loài phụ khác và toàn bộ 108 loài chim được đưa vào danh sách những loài tuyệt chủng. Những loài chim có trong danh sách đã biến mất khỏi Bắc Mỹ khi người châu Âu đến định cư và những thời điểm mà từng con cuối cùng trong loài chết là: chim anca lớn (1844), chim cốc (1852), vịt Labrador (1875), loài bồ câu di cư theo mùa (1914) và vẹt đuôi dài Carolina (1918). Loài chim anca lớn đã từng xuất hiện trước đây ở châu Âu, nhưng không một loài chim châu Âu nào khác được liệt vào danh sách đã bị tuyệt chủng từ sau năm 1600, bởi một số loài đã biến mất tại châu Âu nhưng vẫn còn sống sót ở các châu lục khác.
Vậy còn những loài chim còn lại mà không thỏa mãn các tiêu chí khắt khe về sự tuyệt chủng của ICBP thì sao? Liệu chúng ta có chắc chắn rằng chúng còn tồn tại hay không? Đối với hầu hết các loài chim ở Bắc Mỹ và châu Âu thì câu trả lời là có. Hàng trăm nghìn người say mê việc quan sát chim vẫn giám sát được tất cả các loài chim trên các lục địa này mỗi năm. Càng những loài chim hiếm thì càng có những cuộc tìm kiếm tỉ mỉ diễn ra hằng năm. Không một loài chim châu Âu hay Bắc Mỹ nào có thể đang có nguy cơ tuyệt chủng mà chúng ta không hề nhận ra. Chỉ có một loại chim Bắc Mỹ mà sự tồn tại của chúng gần đây là không chắc chắn, đó là loài chim chích Bachman; sự tồn tại của chúng lần cuối cùng được ghi chép lại một cách chắc chắn là vào năm 1977. Nhưng ICBP vẫn không từ bỏ hy vọng lại tìm thấy loài chim ấy bởi những bằng chứng chưa được chứng thực gần đây. (Chim gõ kiến mỏ sừng cũng có thể đã tuyệt chủng, nhưng quần thể loài chim này ở Bắc Mỹ “chỉ là” loài phụ, một số ít cá thể những loài phụ khác của loài chim gõ kiến này vẫn còn sống sót ở Cuba.) Do đó, số lượng các loài chim tuyệt chủng ở Bắc Mỹ từ năm 1600 chắc chắn là không ít hơn năm và cũng không nhiều hơn sáu. Tất cả các loài trừ chim chích Bachman, có thể được phân vào một trong hai nhóm: “chắc chắn tuyệt chủng” hoặc “chắc chắn còn tồn tại“. Tương tự như vậy, số lượng các loài chim châu Âu tuyệt chủng từ năm 1600 chắc chắn là một loài - không thể khác, chỉ duy nhất một loài mà thôi.
Do đó, chúng ta có một câu trả lời chính xác và rõ ràng cho câu hỏi có bao nhiêu loài chim Bắc Mỹ và châu Âu đã tuyệt chủng tính từ năm 1600. Nếu chúng ta có thể xác định một cách chính xác đối với các nhóm loài khác thì bước đầu tiên trong việc đánh giá cuộc tranh luận về sự tuyệt chủng hàng loạt có thể hoàn tất. Không may, tình huống chẳng có gì mới mẻ này lại không thể áp dụng cho thực vật hay các nhóm động vật khác, cũng không thể áp dụng cho bất cứ nơi nào khác trên thế giới - hay ít nhất cũng là ở vùng nhiệt đới, nơi mà đa số các loài vượt trội sinh sống. Hầu hết các nước nhiệt đới có rất ít hoặc không có những người theo dõi chim, và không có những hoạt động giám sát loài chim theo từng năm. Rất nhiều các vùng nhiệt đới chưa từng được giám sát trở lại kể từ khi chúng được phát hiện về mặt sinh học lần đầu tiên rất nhiều năm về trước. Tình trạng rất nhiều loài thuộc vùng nhiệt đới không được biết đến, bởi không ai còn được nhìn thấy lại chúng hay tìm kiếm chúng một cách tỉ mỉ kể từ khi chúng được phát hiện. Ví dụ, trong số những loài chim ở New Guinea mà tôi nghiên cứu, chim chủng viện Brass được biết chỉ từ 18 mẫu vật bị bắn tại một vùng phá thuộc dòng sông Indenburg trong các ngày từ 22 tháng Ba đến ngày 29 tháng Tư năm 1939. Không một nhà khoa học nào thăm lại vùng phá đó, vì vậy chúng ta không biết gì về tình trạng hiện nay của loài chim chủng viện Brass.
Ít nhất thì chúng ta cũng biết phải tìm loài chim chủng viện đó ở đâu. Rất nhiều loài khác được miêu tả từ những mẫu vật được thu thập sau những cuộc thám hiểm hồi thế kỷ XIX mà những chuyến thám hiểm này chỉ cung cấp được những dấu hiệu không rõ ràng về vị trí thu thập chúng, chẳng hạn như Nam Mỹ. cố gắng tìm hiểu tình trạng hiện tại của một vài loài quý hiếm trong khi ta lại chỉ có một gợi ý quá chung chung về địa điểm tìm kiếm! Những giọng hót, hành vi và nơi sinh sống ưa thích của những loài như thế cũng không được biết tới. Vì vậy chúng ta không biết phải tìm chúng ở đâu hay nhận ra chúng bằng cách nào nếu có nghe thấy hoặc thoáng thấy chúng.
Vì vậy, tình trạng của rất nhiều loài thuộc vùng nhiệt đới không thể liệt vào là “chắc chắn tuyệt chủng” hay “chắc chắn còn tồn tại“, mà chỉ là “chưa rõ”. Thay vào đó, điều này trở thành vấn đề về cơ hội khi mà loài nào đó có thể thu hút được sự chú ý của các nhà điểu học, rồi trở thành mục tiêu của những cuộc tìm kiếm đặc biệt, và nhờ thế mà được nhận ra là có thể đã tuyệt chủng.
Dưới đây là một ví dụ như thế. Quần đảo Solomon là vùng đất ưa thích khác mà tôi dành cho việc quan sát các loài chim ở vùng nhiệt đới Thái Bình Dương, và những người Mỹ và Nhật cao tuổi nhớ lại ở đó đã diễn ra những trận chiến khốc liệt nhất của cuộc Chiến tranh thế giới thứ II. (Bạn có nhớ những cái tên như Guadalanca, cánh đồng Henderson, con tàu PT của Tổng thống Kenedy, tờ Thời báo Tokyol) ICBP đã đưa vào danh sách một trong số những loài chim ở Solomon, loài bồ câu nữ hoàng Meek là đã tuyệt chủng. Nhưng khi tôi lập bảng kê tất cả những quan sát gần đây về 164 loài chim Solomon được biết tới, tôi nhận ra rằng 12 trong số 164 loài đó vẫn chưa bị bắt gặp từ năm 1953. Một vài trong số 12 loài chim này chắc chắn đã tuyệt chủng, bởi trước đây, chúng rất đông đúc và dễ bị phát hiện, hay bởi vì những người dân đảo Solomon đã nói với tôi rằng những loài chim đó đã bị loài mèo tiêu diệt.
Mười hai loài có thể đã bị tuyệt chủng trong tổng số 164 loài vẫn có vẻ không khiến chúng ta phải quá lo lắng. Tuy nhiên, quần đảo Solomon vẫn duy trì một trạng thái môi trường tốt hơn rất nhiều so với hầu hết các vùng nhiệt đới còn lại trên thế giới, và vì những hòn đảo này có tương đôi ít dân cư sinh sống, ít loài chim, kinh tế phát triển chậm và còn nhiều những cánh rừng tự nhiên. Điển hình hơn cho những vùng nhiệt đới là Malaysia, nơi rất phong phú về số lượng loài và phân lớn những rừng cây ở các vùng đất thấp đã bị chặt hạ. Những nhà thám hiểm sinh vật học đã xác định 266 loài cá sống ở vùng nước ngọt trong những con sống gần vùng rừng của Malaysia. Một cuộc tìm kiếm gần đây kéo dài trong bốn năm đã chỉ tìm thấy có 122 trong tổng số 266 loài ấy - chỉ còn ít hơn một nửa. 144 loài cá nước ngọt ở Malaysia khác hoặc là đã tuyệt chủng, hoặc còn rất hiếm, chỉ trong những khu vực nhỏ mà thôi. Chúng đã đi tới tình trạng này trước khi ai đó kịp nhận ra.
Malaysia là vùng nhiệt đới điển hình cho những áp lực mà nó phải đối mặt từ con người. Cá là loài điển hình cho tất cả các loài sinh vật bên cạnh loài chim trong việc chúng chỉ thu hút được những chú ý khoa học lẻ tẻ. Do đó, việc ước đoán rằng Malaysia đã mất (hoặc gần như đã mất) một nửa loài cá nước ngọt là một con số hợp lý chung cho tình trạng của các loài thực vật, động vật không xương sống và có xương sống ngoại trừ loài chim ở phần lớn phần còn lại của vùng nhiệt đới.
Thật sự là phức tạp khi cố gắng xác định số lượng các loài tuyệt chủng từ năm 1600: tình trạng của nhiều hay hầu hết những loài đã được biết tên đều không được biết tới. Nhưng có một sự phức tạp còn nhiều hơn thế. Do đó, chúng ta đang cố gắng đánh giá sự tuyệt chủng của những sinh vật đã được phát hiện rồi và được miêu tả (định danh). Liệu có thể còn những loài nào đã tuyệt chủng trước khi chúng được miêu tả không?
Tất nhiên điều đó là có thể, khi những quy trình lấy mẫu nêu lên rằng con số thực tế của các loài trên thế giới là gần 30.000.0000 loài, nhưng chỉ có ít hơn 2.000.0000 loài đã được miêu tả. Hai ví dụ minh họa cho sự tuyệt chủng diễn ra trước khi chúng ta miêu tả loài vật đó được nêu ra dưới đây. Nhà thực vật học Alwyn Gentry đã khảo sát những thực vật ở một vùng biệt lập của Ecuador được gọi là Centinela, nơi ông đã tìm thấy 38 loài sinh vật mới đặc hữu cho vùng đó. Chỉ một thời gian rất ngắn sau đó, vùng này đã bị đốn chặt và những loài thực vật ở đây đã bị hủy diệt. Trên đảo Grand Cayman ở Carribean, nhà động vật học Fred Thompson đã phát hiện ra hai loài ốc sên đất mới trên đất chỉ sinh sống giới hạn trong khu rừng trên những tảng đá vôi, vậy mà chỉ một vài năm sau loài này đã hoàn toàn bị diệt sạch do sự phát triển của nhà ở.
Những lần tình cờ mà Gentry và Thompson ghé thăm các vùng đó trước khi chúng bị tuyệt diệt đồng nghĩa rằng chúng ta đã có tên của những loài sinh vật bị tuyệt chủng đó. Nhưng phần lớn những khu vực nhiệt đới đang được phát triển đã không được các nhà sinh vật học nghiên cứu trước đó. Chắc hẳn phải có những loài ốc sên đất ở vùng Centinela, những thực vật và ốc sên là không thể đếm hết ở những vùng nhiệt đới khác mà chính chúng ta đã hủy diệt trước khi kịp phát hiện ra.
Tóm lại, vấn đề xác định số lượng những cuộc tuyệt chủng trong thời hiện đại ban đầu dường như thật đơn giản và dẫn tới những cách ước tính giản dị nhất - ví dụ, chỉ có năm hay sáu loài chim tuyệt chủng trên cả hai vùng Bắc Mỹ và châu Âu. Mặc dù vậy, suy nghĩ kỹ lại, chúng ta đánh giá cao hai lý do giải thích nguyên nhân những danh sách của các loài được biết là đã tuyệt chủng phải được gộp chung cùng với những phỏng đoán về số lượng thực sự của các loài bị tuyệt chủng. Đầu tiên, thông qua định nghĩa, danh sách đã được công bố chỉ xem xét tới những loài đã được đặt tên, trong khi một lượng lớn các loài sinh vật khác (ngoại trừ những nhóm đã được nghiên cứu cẩn thận như trong lớp chim) vẫn chưa từng được đặt tên. Thứ hai, bên ngoài Bắc Mỹ và châu Âu, ngoại trừ các loài chim, danh sách này chỉ bao gồm một số ít loài đã được đặt tên mà một vài nhà sinh vật học đột nhiên quan tâm vì những lý do này hay lý do khác và phát hiện ra chúng đã tuyệt chủng. Trong số tất cả những loài sinh vật hiện còn tồn tại nhưng chưa rõ tình trạng ra sao, rất nhiều loài có lẽ đã tuyệt chủng hoặc gần như tuyệt chủng: chẳng hạn như khoảng một nửa số lượng những loài cá nước ngọt ở Malaysia.
Bây giờ, chúng ta hãy cùng chuyển sang bước thứ hai trong việc đánh giá cuộc tranh cãi về sự tuyệt chủng hàng loạt. Những đánh giá của chúng ta về vấn đề này mới chỉ quan tâm những loài sinh vật bị tuyệt chủng từ năm 1600, khi sự phân loại loài một cách khoa học đã bắt đầu. Những cuộc hủy diệt này vẫn đang diễn ra bởi dân số thế giới đã phát triển rất đông, xâm chiếm cả những vùng đất trước kia con người chưa từng sinh sống, và việc ngày càng gia tăng những phát minh của công nghệ hủy diệt. Liệu có phải những nhân tố này đã tăng lên một cách đột biến vào năm 1600, sau vài triệu năm lịch sử loài người? Và phải chăng là không hề có bất cứ sự hủy diệt nào xảy ra trước năm 1600 hay không?
Tất nhiên là không. Cho tới tận 50.000 năm về trước, con người đã bị bó hẹp ở châu Phi cộng với một vài nơi có khí hậu ấm áp ở châu Âu và châu Á. Từ khoảng thời gian đó cho tới năm 1600, loài người chúng ta đã trải qua một sự mở rộng về mặt địa lý to lớn đưa chúng ta tới châu Úc và New Guinea, rồi sau đó tới Siberi và hầu khắp Bắc và Nam Mỹ, cuối cùng là tới phần lớn những vùng đảo xa xôi ngoài đại dương chỉ khoảng năm 2000 trCN. Chúng ta cũng đã trải qua một sự mở rộng to lớn về số lượng, từ có lẽ chỉ khoảng một vài triệu người cách đây 50.000 năm tới khoảng nửa tỷ người vào năm 1600. Và sự phá hủy của chúng ta cũng đã tăng lên cùng với sự phát triển của những kỹ thuật săn bắt được cải tiến từ 50.000 năm về trước, sáng chói lên với những công cụ bằng đá và một nền nông nghiệp khoảng 10.000 năm trước, rồi những công cụ làm bằng kim loại cách đây 6.000 năm.
Ở mọi vùng đất trên thế giới nơi những nhà cổ sinh vật học đã nghiên cứu và là nơi con người đã đặt chân tới trong khoảng 50.000 năm trở lại đây, sự di chuyển tới của con người gần như trùng khớp với những cuộc tuyệt chủng hàng loạt thời tiền sử. Madagasca, New Zealand, Polynesia, Australia, vùng Tây Ấn, châu Mỹ và những hòn đảo thuộc Địa Trung Hải, nơi tôi đã miêu tả quá trình tuyệt chủng trong hai chương trước. Suốt từ đó tới nay, những nhà khoa học dần nhận thức được về những làn sóng tuyệt chủng thời kỳ tiền sử có liên quan tới sự xuất hiện của con người, các nhà khoa học này vẫn còn đang tranh cãi xem liệu con người có phải chính là nguyên nhân hay chỉ đến đúng vào khi các loài đang không chịu nổi những sự thay đổi của khí hậu. Trong trường hợp những làn sóng tuyệt chủng ở các đảo thuộc Polynesia, giờ đây không còn nghi ngờ nào là hợp lý nữa khi cho rằng sự xuất hiện của người Polynesia theo cách này hay cách khác đã gây nên những cuộc tuyệt chủng. Sự tuyệt chủng của các loài chim trùng hợp với sự xuất hiện của người Polynesia trong vòng khoảng vài thế kỷ tại thời điểm khi không hề có một sự thay đổi khí hậu lớn nào xảy ra, và xương của hàng nghìn những con moa bị nướng thịt đã được tìm thấy ở những cái lò của người Polynesia. Sự trùng họp về thời gian này cũng đúng trong trường hợp ở Madagasca. Nhưng những nguyên nhân của những cuộc tuyệt chủng sớm trước đó, đặc biệt là ở châu Úc và châu Mỹ vẫn còn đang gây tranh cãi.
Như tôi đã giải thích về những cuộc tuyệt chủng diễn ra ở châu Mỹ trong chương trước, với tôi các bằng chứng là không thể cưỡng lại được khi cho rằng con người cũng đóng một vai trò trong những cuộc tuyệt chủng thời kỳ tiền sử ngoài những trường hợp ở Polynesia và Madagasca. Ở mỗi phần của thế giới, làn sóng tuyệt chủng đã xảy ra sau khi có sự xuất hiện lần đầu tiên của con người, nhưng đã không xảy ra đồng thời ở những khu vực khác có những biến đổi khí hậu tương tự, và đã không xảy ra ở chính vùng đất đó mỗi khi có sự biến đổi khí hậu tương tự xảy ra trước đây.
Vì thế tôi nghi ngờ việc khí hậu đã gây nên điều này. Thay vào đó, tất cả những người bạn của tôi đã đến thăm Bắc Cực hay đảo Galápagos sẽ biết việc những loài thú hiền lành tới mức nào, và mãi cho tới gần đây, chúng mới lẩn trốn con người. Những nhà nhiếp ảnh vẫn có thể đi bộ tới gần những con thú ngây thơ này dễ dàng như những người thợ săn xa xưa đã từng làm. Tôi giả sử rằng những người thợ săn đầu tiên tới những vùng đất ở một nơi nào đó trên Trái đất, cũng đi bộ tiến tới những con voi ma mút và loài moa ngây thơ, trong khi những con chuột đi cùng với con người đầu tiên cũng chậm rãi tiến tới những con chim ngây thơ bé nhỏ ở Hawaii và những hòn đảo khác.
Không phải chỉ ở những vùng chưa từng có con người sinh sống trước đây thì con người thời tiền sử mới có thể đã hủy hoại các loài sinh vật. Trong khoảng 20.000 năm trở lại đây, đã có những cuộc tuyệt chủng diễn ra ở những nơi mà con người đã từng sinh sống trong một thời gian dài - chẳng hạn như ở đại lục Á-Âu, nơi tê giác lông mịn, voi ma mút và loài dê khổng lồ (loài dê Ireland) đã bị chết sạch, và ở châu Phi đã mất hết loài trâu khổng lồ, linh dương có sừng cong và ngựa khổng lồ. Những loài vật to lớn này có lẽ cũng nằm trong số những nạn nhân của những người tiền sử vốn đã săn bắt chúng trong một thời gian lâu dài nhưng về sau ngày càng có thể săn bắt chúng với những thứ vũ khí tốt hơn bất kỳ giai đoạn nào trước đó. Những loài thú ở đại lục Á-Âu và châu Phi không hề ngờ nghệch trước con người, nhưng chúng đã biến mất bởi cùng hai lý do đơn giản mà loài gấu xám California, gấu, chó sói và hải ly ở Anh vừa mới đầu hàng trong khoảng thời gian gần đây, sau hàng nghìn năm bị con người bức hại. Nguyên do chính là việc có nhiều người hơn và những thứ vũ khí tốt hơn.
Liệu ít nhất, chúng ta có thể ước tính có bao nhiêu loài sinh vật đã bị cuốn vào những cuộc tuyệt chủng thời kỳ tiền sử? Chưa từng có ai cố gắng phỏng đoán được số lượng những loài thực vật, động vật không có xương sống và những con thằn lằn đã bị tuyệt chủng bởi tập quán hủy hoại môi trường sinh thái thời tiền sử. Nhưng hầu như ở tất cả những hải đảo đã được những nhà cổ sinh vật học khám phá ra đều đã tìm thấy những vết tích còn lại của những loài chim mới bị tuyệt chủng gần đây. Phép ngoại suy đối với những mảnh đất này không hẳn là khai quật về mặt cổ sinh vật học đã gợi ý rằng có khoảng 2.000 loài chim - tức là khoảng một phần năm tổng số những loài chim đã tồn tại cách đây vài nghìn năm - là những loài chim trên những hòn đảo này đã hoàn toàn tuyệt chủng từ thời kỳ tiền sử. Con số này chưa kể đến những loài chim trên những lục địa đã tuyệt chủng từ thời kỳ tiền sử. Trong số những họ thú lớn, có khoảng 73%, 80% hay 86% số loài tương đương đã bị tuyệt chủng ở lục địa Bắc Mỹ, Nam Mỹ và châu Úc tại cùng thời điểm hoặc sau khi có sự xuất hiện của con người.
Bước còn lại trong việc đánh giá cuộc tranh cãi về sự tuyệt chủng hàng loạt là việc dự báo cho tương lai. Liệu đỉnh cao của làn sóng tuyệt chủng mà con người từng gây ra có phải đã diễn ra trong quá khứ hay vẫn còn chưa đến? Có hai cách thức để đánh giá câu hỏi này.
Một cách đơn giản là cho rằng những loài sinh vật sẽ tuyệt chủng trong tương lai không xa là những loài hiện đang bị đe dọa. Liệu có bao nhiêu loài sinh vật vẫn đang tồn tại có số lượng cá thể giảm xuống ở mức thấp đáng báo động? ICBP ước tính rằng có ít nhất 1.666 loài chim hoặc đang trong vòng nguy hiểm hoặc đứng trước nguy cơ tuyệt chủng - chiếm khoảng 20% những loài chim trên thế giới. Tôi đã nói “ít nhất là 1.666 loài” bởi vì con số này là số dự báo dưới mức với cùng một lý do mà tôi đã nếu ở trên là ICBP cũng ước tính con số thấp hơn những loài bị tuyệt chủng. Cả hai con số này đều dựa trên những loài sinh vật mà tình trạng của chúng đã thu hút được sự chú ý của các nhà khoa học, chứ không phải dựa trên một nhận định mới về tình trạng của tất cả các loài chim.
Một cách phỏng đoán khác về những điều sẽ đến là hiểu cơ chế mà chúng ta hủy diệt các loài. Sự tuyệt chủng do con người gây nên có lẽ sẽ tiếp tục gia tăng cho tới khi dân số loài người và công nghệ đạt tới trạng thái bình ổn, nhưng vẫn chưa có bất cứ dấu hiệu nào cho sự bình ổn đó. Dân số của chúng ta, vốn đã tăng trưởng gấp 10 lần từ nửa tỷ người vào năm 1600 tới trên 5 tỷ người như hiện nay, và vẫn sẽ tăng trưởng với mức gần mức 2% mỗi năm. Mỗi ngày đều mang đến những bước tiến mới về công nghệ nhằm thay đổi Trái đất và những cư dân sống ở đó. Có bốn cơ chế chính mà thông qua đó sự gia tăng dân số của chúng ta hủy hoại các loài sinh vật: đó là việc săn bắn quá mức, di chuyển các loài sinh vật, hủy diệt môi trường sống và những hiệu ứng dây chuyền. Chúng ta hãy cùng xem xét liệu bốn cơ chế này đã đạt tới trạng thái ổn định hay chưa.
Săn bắn quá mức - giết hại những loài động vật nhanh hơn mức chúng có thể sinh sôi là cơ chế chính để chúng ta hủy diệt các loài động vật lớn từ loài voi ma mút đến gâu xám California (mà sau này xuất hiện trên lá cờ của bang California, nơi tôi sinh sống nhưng rất nhiều người bạn là người California như tôi không nhớ ra rằng chúng ta đã hủy diệt biểu tượng của bang mình từ rất lâu rồi). Liệu rằng chúng ta có tiêu diệt hoàn toàn tất cả những loài thú lớn mà chúng ta có lẽ đã giết? Hiển nhiên là không. Trong khi số lượng ít ỏi của loài cá voi dẫn đến một điều luật quốc tế về việc cấm săn bắn cá voi vì mục đích thương mại trên toàn thế giới; thì Nhật Bản sau đó thông báo quyết định của họ tăng gấp ba lượng cá voi mà nước này giết hại “vì mục đích khoa học”. Chúng ta đều đã từng nhìn thấy những tấm ảnh của cuộc tàn sát nhanh chóng loài voi và tê giác ở châu Phi để lấy ngà và sừng của chúng. Với tốc độ thay đổi như hiện nay, không chỉ voi và tê giác mà phần lớn những quần thể loài thú lớn của châu Phi và Đông Nam Á sống bên ngoài khu vực công viên và sở thú sẽ bị tuyệt chủng chỉ trong một hoặc hai thập kỷ nữa.
Cơ chế thứ hai mà chúng ta tiêu diệt các loài đó là bằng cách vô tình hay hữu ý đưa một số loài đến các vùng trên thế giới nơi mà chúng chưa từng sống trước đây. Những ví dụ quen thuộc của sự di chuyển các loài vật mà giờ đây chắc chắn đã tồn tại ở nước Mỹ như là loài chuột Na Uy, chim sáo đá châu Âu, mọt ngũ cốc và các loại nấm gây bệnh cho cây du gốc Hà Lan hay loài nấm gây bệnh tàn lụi cho cây hạt dẻ. Châu Âu cũng buộc phải tiếp nhận những loài vật được chuyển đến, trong đó chẳng hạn loài chuột Na Uy bị nhầm tên là một ví dụ (chúng có nguồn gốc từ châu Á, chứ không phải là Na Uy). Khi các loài được đưa từ vùng này sang một vùng khác, chúng thường gây ra sự hủy diệt một vài loài bản địa mà chúng chạm trán, bằng cách ăn thịt hoặc gây bệnh tật cho những loài ấy. Những nạn nhân đó tiến hóa khi không có mặt loài vật nuôi được chuyển đến và chưa hề phát triển cơ chế tự bảo vệ khỏi những loài đó. Những cây hạt dẻ châu Mỹ gần như bị phá hủy theo cách này bởi loài nấm gây tàn lụi cây, loài nấm châu Á mà những cây hạt dẻ châu Á có thể kháng cự lại được. Tương tự như vậy, dê và chuột cũng giết hại rất nhiều loài thực vật và chim chóc trên những đảo ngoài đại dương.
Phải chăng chúng ta đang phát tán tất cả những loài có thể trở thành vật nuôi ra khắp thế giới? Tất nhiên là không: vẫn có rất nhiều đảo không hề có dê hay loài chuột Na Uy, có nhiều loài côn trùng và bệnh tật đang được phòng chống ở nhiều quốc gia bởi việc kiểm dịch. Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ đã tiến hành thử nghiệm với nguồn kinh phí rất lớn, nhưng rõ ràng là không đạt hiệu quả để ngăn chặn sự xuất hiện của loài ong độc và ruồi Địa Trung Hải. Trên thực tế điều sẽ có thể chứng minh rằng làn sóng tuyệt chủng lớn nhất gây ra bởi những loài thú ăn thịt mới nhập cư trong thời hiện đại chỉ mới bắt đầu ở Hổ Victoria thuộc châu Phi, ngôi nhà của hàng trăm loài cá đặc hữu, không thể tìm thấy ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới. Một loài cá ăn thịt cỡ lớn được gọi là cá rô vùng sông Nile, đã được đưa vào có chủ định trong những nỗ lực sai lầm nhằm thiết lập nên một loài cá đánh bắt mới, hiện đang ăn thịt chính những loài cá quý hiếm chỉ có duy nhất ở hổ này.
Phá hủy nơi cư ngụ, môi trường sống là cách thứ ba mà chúng ta đang tàn sát các loài. Hầu hết các loài động vật chỉ tồn tại trong một số môi trường sống nhất định: chim chích đầm lầy sống ở các vùng đầm lầy, trong khi chim chích thông sống trong những rừng thông. Nếu ai đó làm cạn đầm lầy, hay chặt phá rừng thông thì sẽ tiêu diệt những loài vật sống phụ thuộc vào môi trường đó như thể chúng ta bắn hạ từng cá thề trong quần thể loài đó vậy. Ví dụ, khi tất cả các cánh rừng ở đảo Cebu, Phillipines bị đốn ngã, chín trong số 10 loài chim quý hiếm ở Cebu đã trở nên tuyệt diệt.
Trong trường hợp của sự phá hủy môi trường sống, điều tồi tệ nhất vẫn còn chưa tới bởi chúng ta chỉ mới bắt đầu sốt sắng trong việc phá hủy những cánh rừng nhiệt đới, môi trường cư ngụ đa dạng sinh vật nhất trên thế giới. Sự giàu có của những cánh rừng nhiệt đới quả thực là rất diệu kỳ, ví dụ như: trên 1.500 loài bọ cánh cứng sống ở vùng mưa nhiệt đới đơn lẻ ở Panama. Rừng nhiệt đới chỉ chiếm khoảng 6% diện tích bề mặt của Trái đất nhưng lại nuôi dưỡng một nửa số lượng loài vật toàn cầu. Mỗi vùng rừng nhiệt đới đều có số lượng lớn những loài động vật quý hiếm độc nhất chỉ có ở vùng đó. Chỉ riêng đề cập tới một vài những vùng rừng nhiệt đới cá biệt hiện đang bị tàn phá, bao gồm sự chặt phá của vùng rừng Đại Tây Dương thuộc Brazil và vùng rừng trũng của Malaysia gần như bị phá hủy hoàn toàn, các cánh rừng của Borneo và Philippines có lẽ sẽ bị đốn hết chỉ trong hai thập kỷ nữa. Khoảng giữa thế kỷ tới, số lượng rừng nhiệt đới còn tồn tại có lẽ chỉ là một phần của Zaire và vùng đồng bằng châu thổ sông Amazon.
Mỗi loài vật đều phụ thuộc vào những loài khác để sử dụng làm thức ăn hay cung cấp cho nó chỗ trú ẩn. Vì vậy, các loài sinh vật có mối liên hệ lẫn nhau như các nhánh của trò Domino. Chỉ cần làm đổ một quân Domino trong hàng cũng dẫn đến việc làm đổ các quân khác. Và cũng như vậy, việc hủy diệt một loài động vật có thể dẫn tới việc đánh mất một loài khác, hoặc từ đó đẩy các loài khác đến bờ vực nguy hiểm. Cơ chế thứ tư này của sự tuyệt chủng có thể được miêu tả như một hiệu ứng dây chuyền. Tự nhiên bao gồm rất nhiều loài, liên kết với nhau theo nhiều cách thức phức tạp, mà hầu như không thể đoán trước được nơi nào những hiệu ứng dây chuyền của sự tuyệt chủng của bất cứ một loài cụ thể nào có thể dẫn đầu.
Chẳng hạn như, 50 năm về trước không ai có thể dự đoán được sự tuyệt chủng của một số loài động vật ăn thịt lớn (như báo, sư tử và đại bàng) ở đảo Barro Colorado thuộc Panama lại có thể dẫn đến sự tuyệt chủng của những loài chim ăn kiến nhỏ bé ở đó, và có ảnh hưởng lớn đến thành phần của các loài thực vật trong rừng cây trên đảo. Nhưng điều đó đã xảy ra bởi những loài thú ăn thịt lớn thường ăn những loài thú ăn thịt cỡ vừa như lợn cỏ, khỉ, loài coatimundis và những động vật ăn cỏ cỡ vừa như chuột lang aguti và sóc. Với sự biến mất của các loài thú ăn thịt lớn, sự bùng nổ dân số của những loài ăn thịt cỡ vừa xảy ra, điều này dẫn đến việc chúng sẽ ăn thịt các loài chim ăn kiến nhỏ và trứng của chúng. Những loài thú ăn thực vật vừa phải cũng phát triển nhanh chóng và ăn hết những hạt cây lớn trên mặt đất, do đó, ngăn chặn quá trình phát triển của những loài thực vật có hạt cây lớn, và thay vào đó, kích thích sự phát triển của các cây có hạt nhỏ. Sự xáo trộn trong thành phần thực vật được kỳ vọng là qua đó tạo nên sự phát triển của các loài chuột, loài sống bằng hạt nhỏ, và do đó tiếp đến tạo ra sự gia tăng đột biến của các loài săn chuột như mèo rừng, cú, diều hâu. Do vậy, sự biến mất của ba loài thú không phổ biến lắm trong số những loài thú ăn thịt lớn có thể gây ra một chuỗi thay đổi trong tổng thể giới động - thực vật, bao gồm cả sự biến mất của rất nhiều loài khác nữa.
Qua bốn cơ chế trên đây - săn bắn quá mức, di chuyển các loài tới môi trường mới, phá hủy môi trường sống và những hiệu ứng dây chuyền, có lẽ quá nửa số loài vật hiện còn tồn tại sẽ bị tuyệt chủng hay bị nguy hiểm đe dọa vào giữa thế kỷ tới, khi những đứa trẻ mới sinh của năm nay đạt tới độ tuổi 60. Giống như rất nhiều những người cha khác, tôi vẫn thường tự hỏi làm thế nào tôi có thể miêu tả cho hai đứa con trai sinh đôi của mình về thế giới nơi tôi lớn lên mà chúng không còn thấy được. Trước khi chúng đủ trưởng thành để có thể cùng tôi tới New Guinea, một trong những hệ sinh thái quý giá nhất trên thế giới, nơi mà tôi đã làm việc trong 25 năm vừa qua, thì phần lớn những cánh rừng phía Đông của cao nguyên New Guinea có lẽ đã bị hủy diệt hoàn toàn.
Khi ai đó gộp chung những sự tuyệt chủng mà chúng ta đã gây ra với những gì mà con người đang sắp gây ra, thì rõ ràng là làn sóng tuyệt chủng hiện nay vượt quá cả vụ va chạm của tiểu hành tinh đã khiến những loài khủng long biến mất. Động vật có vú, thực vật và rất nhiều loài sinh vật khác đã sống sót, gần như vô sự trong cú va chạm đó, trong khi làn sóng tuyệt chủng hiện nay ảnh hưởng đến tất cả các loài từ đỉa đến hoa ly và cả những loài sư tử. Do vậy, sự khủng hoảng tuyệt chủng được cảnh báo không phải là một ảo ảnh hão huyền hay chỉ là hiểm họa nghiêm trọng trong tương lai. Thay vào đó, nó là một sự kiện ngày càng gia tăng trong 50.000 năm và sẽ bắt đầu đạt tới sự phá hủy trong đời con cháu của chúng ta.
Cuối cùng, chúng ta hãy cùng quan tâm tới hai luận điểm rằng chấp nhận tính thực tế của cuộc khủng hoảng tuyệt chủng nhưng bỏ qua ý nghĩa, tầm quan trọng của nó. Đầu tiên, chẳng phải tuyệt chủng chính là một quá trình diễn ra một cách tự nhiên hay sao? Nếu vậy, tại sao phải quan tâm quá mức tới những cuộc tuyệt chủng hiện đang diễn ra?
Câu trả lời cho cuộc tranh luận đầu tiên là tỷ lệ của các cuộc tuyệt chủng do con người gây ra hiện nay cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ tự nhiên. Nếu ước đoán rằng một nửa số loài trong 30.000.000 loài sẽ tuyệt chủng vào thế kỷ tới là chính xác, thì số lượng loài rơi vào tình trạng tuyệt chủng với tốc độ sẽ là khoảng 150.000 loài mỗi năm và 17 loài mỗi giờ. Khoảng 9.000 loài chim trên thế giới sẽ tuyệt chủng với tỷ lệ ít nhất là hai loài một năm. Nhưng tỷ lệ số loài chim tuyệt chủng trong điều kiện tự nhiên là dưới một loài trong một thế kỷ, như vậy tỷ lệ hiện tại cao gấp 200 lần bình thường. Sự nhầm lẫn cuộc khủng hoảng tuyệt chủng dựa trên nền tảng coi tuyệt chủng là một phương thức tự nhiên giống như nhầm lẫn giữa nạn diệt chủng dựa trên quan điểm coi cái chết là số mệnh tự nhiên tất yếu của tất cả mọi con người.
Luận điểm thứ hai là một điều đơn giản: “Vậy thì sao?” Chúng ta quan tâm đến con cháu mình, chứ đâu phải những con bọ cánh cứng hay ốc sên, ai cần quan tâm đến việc 10.000.000 con bọ cánh cứng sẽ tuyệt chủng cơ chứ? Câu trả lời cho cuộc tranh luận này cũng hoàn toàn đơn giản. Giống như tất cả các loài động vật khác, theo nhiều cách khác nhau, chúng ta dựa vào các loài động vật khác để tồn tại. Một trong những cách thức hiển nhiên nhất là một số loài cung cấp khí oxy cho chúng ta thở, hấp thụ khí carbonic mà chúng ta thở ra, phân hủy rác thải, cung cấp thức ăn, giữ cho đất đai màu mỡ và cung cấp gỗ và giấy.
Vậy liệu chúng ta có thể chỉ bảo tồn những loài riêng biệt mà chúng ta cần và để cho các loài khác tuyệt chủng? Tất nhiên là không, bởi các loài mà chúng ta cần cũng phải dựa vào những loài khác để sinh tồn. Giống như loài chim ăn kiến ở Panama không thể nhận biết sự cần thiết của loài báo, vòng tròn của hệ sinh thái quá phức tạp đối với chúng ta để có thể tìm hiểu xem loài nào chúng ta có thể bỏ qua. Ví dụ: ai có thể vui lòng trả lời cho ba câu hỏi: Mười loại cây nào sản xuất ra nhiều gỗ nhất cho thế giới? Trong mỗi một loại cây đó, có 10 loài chim nào ăn nhiều sâu gây hại cho cây nhất, tên của 10 loài sâu bọ giúp cho quá trình thụ phấn nhiều hoa của những cây đó nhất và 10 loài động vật nào có khả năng phát tán hạt của cây nhiều nhất? Những loài sinh vật nào mà 10 loài chim, sâu bọ và động vật trên phụ thuộc vào? Bạn sẽ phải trả lời những câu hỏi rất khó này nếu bạn là giám đốc của một công ty gỗ đang cố gắng tìm ra những loài cây nào mà bạn có thể để cho tuyệt chủng.
Nếu bạn đang thử đánh giá một vài dự án phát triển có thể đem lại hàng triệu đô la nhưng cũng có nguy cơ hủy diệt một vài loài, việc lựa chọn lợi nhuận chắc chắn vẫn có ưu thế hơn những mối nguy hiểm mơ hồ. Vậy hãy đánh giá những suy luận sau đây. Giả sử có người đề nghị bạn một triệu đô la để đổi lấy việc cắt đi hai ounce(88) thịt của bạn - không hề gây đau đớn. Bạn nghĩ rằng hai ounce chỉ là một phần một nghìn trọng lượng cơ thể bạn, vì vậy bạn vẫn còn 999 phần, như vậy là rất nhiều. Điều này sẽ ổn nếu hai ounce bị cắt từ phần mô mỡ và bởi một bác sỹ giỏi. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu người bác sỹ lấy bất kỳ hai ounce ở một phần thuận tiện nào đó trên cơ thể bạn, hoặc không biết phần nào là quan trọng? Bạn nhận ra rằng hai ounce kia là ở phần niệu đạo. Và nếu bạn dự định bán phần còn lại của cơ thể của mình - như việc chúng ta đang dự định vứt bỏ đi phần lớn môi trường sinh thái trên Trái đất, cuối cùng thì bạn chắc chắn nhận ra rằng mình bị mất đi phần niệu đạo.
Kết luận lại, hãy đặt những vấn đề liên quan trong viễn cảnh bằng cách so sánh hai bóng mây mà tôi đề cập đến ở phần đầu khi chúng ta nói về tương lai. Thảm họa hạt nhân chắc chắn là thảm khốc, nhưng hiện tại nó chưa xảy ra, và có thể sẽ xảy ra hay không trong tương lai. Thảm họa môi trường là vô cùng thảm khốc, nhưng nó đang trong quá trình diễn ra. Nó bắt đầu cách đây 10.000 năm, và đang càng ngày càng gây ra nhiều nguy hiểm hơn bao giờ hết, và thực tế nó đang tiến triển nhanh hơn, có thể lên tới đỉnh điểm trong khoảng một thế kỷ nếu không được kiểm soát. Nhưng điều không chắc chắn duy nhất là liệu rằng hậu quả của thảm họa này sẽ ảnh hưởng đến con hay cháu chúng ta, và liệu rằng giờ đây chúng ta có phải lựa chọn để chấp nhận rất nhiều những biện pháp đối phó rõ ràng.