Một bài báo theo học thuyết cổ điển của George Williams, mà trong đó ông đã giới thiệu một học thuyết tiến hóa về sự già đi đó là: “Pleiotropy, natural selection, and the evolution of senescence,” EvolutionII: 398-411 (1957). Những bài báo khác cũng có những cách tiếp cận mới trong lĩnh vực nghiên cứu tiến hóa đó là của G. Bell, “Evolutionary and nonevolutionary theories of senescence,” American Naturalist 124: 600-603(1984); E. Beutler, “Planned obsolescence in humans and in other biosystems,” Perspectives in Biology and Medicine 29: 175-179(1986); R. J. Goss, “Why mammals don’t regenerate - or do they?” News in Physiological Sciences 2:112-115 (1987); L. D. Mueller, “Evolution of accelerated senescence in laboratory populations of Drosophila,” Proceedings of the National Academy of Sciences 84:1974-1977 (1987); và T. B. Kirkwood, “The nature and causes of ageing,” trang 193-206 trong một cuốn sách được biên tập bởi D. Evered và J. Whelan, Research and the Ageing Population (Chichester: John Wiley, 1988).
Hai cuốn sách nêu ra những thí dụ về những những cách tiếp cận của sinh lý học (nguyên nhân-gần đúng) đối với tuổi già được viết bởi R. L. Walford, The Immunologic Theory of Aging (Copenhagen: Munksgaard, 1969), và tác giả MacFartane Burnett, Intrinsic Mutagenesis: A Genetic Approach to Ageing (New York: John Wiley, 1974).
Một vài bài báo nếu thí dụ cho những luận cứ khoa học của những sửa chữa sinh học và những bài báo lấn sân sang lĩnh vực này bao gồm: R. w. Young, “Biological renewal: applications to the eye,” Transactions of the Ophthalmological Societies of the United Kingdom 102: 42-75 (1982); A. Bernstein và cộng sự, “Genetic damage, mutation, and the evolution of sex,” ence 229: 1277-1281 (1985); J. F. Dice, “Molecular determinants of protein half-lives in eukaryotic cells,” Federation of American Societies for Experimental Biology Journal 1: 349-357 (1987); p. c. Hanawalt, “On the role of DNA damage and repair processes in aging: evidence for and against,” trang 183-198 trong cuốn sách được biên tập bởi H. R. Warner và cộng sự, Modem Biological Theories of Aging (New York: Raven Press, 1987); và những tác giả M. Radman và R. Wagner, “The high fidelity of DNA duplication,” Scientific American 259, no.2: 40-46 (tháng Tám 1988).
Trong khi tất cả mọi độc giả đều sẽ cảm nhận được sự thay đổi của cơ thể họ theo tuổi tác, thì ba bài báo sau miêu tả những sự thực thật khủng khiếp về ba hệ cơ quan khác nhau đó là mùi vị, sự thụ tinh và bộ não của con người: R. L. Doty và cộng sự, “Smell identification ability: changes with age,” Science 226: 1441-1443 (1984); J. Menken và cộng sự, “Age and infertility,” Science 233; 1389-1394 (1986); và R. Katzman, “Normal aging and the brain,” News in Physiological Sciences 3:197-200 (1988).
“Cuộc phiêu lưu của người đàn ông trườn bò - The adventure of the Creeping Man” là một câu chuyện nằm trong tác phẩm của nhà văn Arthur Conan Doyle: tập truyện The Complete Sherlock Holmes (New York: Doubleday, 1960). Trong trường hợp bạn nghĩ rằng những cố gắng tự làm trẻ hóa bản thân đó nhờ vào những liều tiêm hormon chỉ nằm trong sự tưởng tượng của nhà văn Doyle, thì hãy đọc về việc điều đó đã thực sự được cố gắng tới mức nào trong cuốn sách: David Hamilton, The Monkey Gland Affair (London: Chatto and Windus, 1986).