Một vài đặc điểm rõ ràng nhất trong cuộc sống thường nhật của chúng ta lại đặt ra những câu hỏi hóc búa nhất cho các nhà khoa học. Nếu bạn quan sát hầu hết các khu vực thuộc nước Mỹ hoặc Australia thì phần lớn những người mà bạn nhìn thấy sẽ có tổ tiên là người châu Âu. Chính tại những khu vực đó, khoảng 500 năm trước, mọi người, không loại trừ ai, có thể phải là thổ dân da đỏ ở nước Mỹ, hay người Australia bản địa (thổ dân) ở Australia. Tại sao những người châu Âu đã đến và thay thế hầu hết những quần thể người bản địa thuộc Bắc Mỹ và Australia thay cho việc những quần thể thổ dân da đỏ châu Mỹ hay dân bản xứ Australia thay thế hầu hết những quần thể người có nguồn gốc từ châu Âu?
Câu hỏi này có thể được nói lại cho rõ nghĩa là: Tại sao tốc độ phát triển về chính trị và kỹ thuật vào thời cổ đại lại diễn ra nhanh nhất ở đại lục Á-Âu, chậm chạp hơn ở châu Mỹ (và cả ở châu Phi, phía nam của sa mạc Sahara) và chậm nhất là ở châu Úc? Chẳng hạn như, vào năm 1492, phần lớn dân cư sống trên cựu lục địa Á-Âu đã biết sử dụng các công cụ bằng kim loại, có chữ viết và tồn tại một nền nông nghiệp, đã có những nhà nuớc với quyền lực tập trung, có những con tàu vượt biển và gần tới nguỡng của sự công nghiệp hóa. Người châu Mỹ thì mới có nền nông nghiệp, một vài nhà nuớc lớn theo kiểu tập trung, chữ viết chỉ mới xuất hiện ở một vùng lãnh thổ và không có tàu vượt biển hay những công cụ bằng kim loại và nền công nghiệp cũng như chính trị ở đây thua kém lục địa Á-Âu tới vài chục nghìn năm. Thổ dân châu Úc không hề có nông nghiệp, chữ viết, nhà nuớc hay những con tàu, họ vẫn còn nằm trong giai đoạn trước khi có sự tiếp xúc đầu tiên, và sử dụng các công cụ bằng đá tương tự với những gì đã được những cư dân ở đại lục Á-Âu làm ra hơn 10.000 năm truớc đó. Chính những khác biệt về chính trị và kỹ thuật - chứ không phải là về sinh học đã quyết định kết quả của cuộc cạnh tranh giữa các quần thể động vật - đã cho phép người châu Âu mở rộng sang các lục địa khác.
Những người châu Âu thế kỷ XIX có câu trả lời đơn giản, mang tính phân biệt chủng tộc cho những câu hỏi như thế. Họ kết luận rằng họ đã tiếp nhận đoạn khởi đầu nền văn hóa của họ qua các thế hệ cha ông thông minh hơn, và do đó họ, được sắp đặt rõ ràng là để chinh phục, thay thế hoặc giết hại những người “ở đẳng cấp thấp hơn”. Vấn đề là câu trả lời này không những ghê tởm và kiêu ngạo mà còn không đúng nữa. Hiển nhiên rằng con người khác nhau rất nhiều về mặt kiến thức mà họ thu nhận được, điều này phụ thuộc vào hoàn cảnh mà họ lớn lên. Tuy nhiên, mặc dù với rất nhiều nỗ lực tìm kiếm nhưng chúng ta không thể có bằng chứng thuyết phục nào về những khác biệt di truyền của năng lực trí tuệ giữa con người.
Chính từ việc chịu ảnh hưởng của những lời giải thích mang tính phân biệt chủng tộc này, nên toàn bộ vấn đề về sự khác biệt của con người ở mức độ nền văn minh vẫn còn là tàn dư của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Tuy nhiên, có những lý do rõ ràng lý giải tại sao vấn đề cần được giải thích một cách đúng đắn. Những khác biệt về kỹ thuật này dẫn đến những tấn thảm kịch trong vòng 500 năm qua và những ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân và việc xâm lấn vẫn tác động mạnh mẽ đến thế giới của chúng ta ngày nay. Cho đến khi chúng ta có lời giải thích khác có sức thuyết phục hoàn toàn thì sự nghi ngờ rằng những giả thuyết di truyền mang tính phân biệt chủng tộc có thể là sự thật vẫn còn rơi rớt lại.
Trong chương này, tôi sẽ tranh luận về những khác biệt trong các lục địa ở các cấp độ của nền văn minh bắt nguồn từ tác động của địa lý lên sự phát triển các dấu ấn về văn hóa của chúng ta chứ không phải từ di truyền học người. Các lục địa khác biệt nhau về nguồn tài nguyên mà nền văn minh lại phụ thuộc vào điều đó - đặc biệt là các loài động thực vật hoang dã được chứng minh là rất hữu ích cho quá trình thuần hóa. Các lục địa cũng không giống nhau trong việc các loài đã được thuần hóa có thể lan rộng dễ dàng từ một vùng ra các vùng khác. Thậm chí ngày nay, những người Mỹ và người châu Âu còn có nhận thức rất đau đớn về mức độ xa xôi của các đặc điểm địa lý ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng ta như thế nào, chẳng hạn như Vịnh Ba Tư hoặc eo biển Panama. Nhưng địa lý và địa lý sinh vật đã nhào nặn nên cuộc sống của loài người thậm chí còn sâu sắc hơn trong có hàng trăm nghìn năm.
Tại sao tôi lại nhấn mạnh đến các loài động, thực vật? Như nhà sinh vật học J. B. S. Haldane nhận xét: “Nền văn minh dựa trên nền tảng, không chỉ là con người mà còn là do động, thực vật.” Nông nghiệp và chăn nuôi, cho dù cũng mang tới những khía cạnh tiêu cực như đã được bàn tới trong chương 10, vẫn giúp cho con người có đủ khả năng nuôi dưỡng thêm nhiều người trên một đơn vị diện tích đất đai hơn là khi sống dựa vào nguồn thức ăn thiên nhiên có sẵn trên cùng một diện tích đó. Những thức ăn dư thừa do một vài cá nhân trồng trọt và chăn nuôi có thể cất giữ được cho phép những người khác có thể hoàn toàn cống hiến sức lực cho những công việc chuyên môn như luyện kim hay chế tạo, viết lách hay phục vụ trong những đội quân chuyên nghiệp. Các gia súc cung cấp không chỉ thịt và sữa để nuôi con người, mà còn cung cấp lông và da để làm quần áo cho chúng ta và nguồn sức lực giúp vận chuyển người và hàng hóa. Gia súc cũng cung cấp sức mạnh để kéo cày và xe bò, và do đó, làm tăng sản lượng nông nghiệp vượt xa sản lượng có thể đạt được trước đó khi chỉ thực hiện bằng sức mạnh cơ bắp của con người.
Kết quả là dân số thế giới tăng từ con số 10.000.000 người khoảng 10.000 năm trCN, khi chúng ta mới chỉ là tập hợp những người săn bắt-hái lượm, đến trên 5 tỷ người như ngày nay. Dân số đông đúc là điều kiện tiên quyết cho sự gia tăng của các nhà nước tập trung. Dân số đông cũng thúc đẩy sự phát triển tăng tiến của các bệnh truyền nhiễm mà sau đó, một số quần thể người bị nhiễm bệnh đã tạo nên được khả năng đề kháng trong khi các quần thể khác lại không có. Tất cả những yếu tố này quyết định ai sẽ chinh phục và thống trị ai. Cuộc xâm lân châu Mỹ và châu Úc của người châu Âu không phải bắt nguồn từ việc gen của họ tốt hơn mà chính là do họ có những mầm bệnh tồi tệ hơn (đặc biệt là bệnh đậu mùa), và một nền kỹ thuật tiên tiến hơn (bao gồm vũ khí và tàu thuyền), lưu giữ thông tin thông qua chữ viết và tổ chức chính trị - tất cả những nguyên cớ ấy cuối cùng đều bắt nguồn từ những khác biệt trong các lục địa về mặt địa lý.
Hãy bắt đầu với những khác biệt ở những gia súc đã được thuần dưỡng. Khoảng 4.000 năm trCN, phía tây đại lục Á-Âu đã có “năm giống vật nuôi lớn” mà vẫn còn rất phổ biến cho đến tận ngày nay, đó là: cừu, dê, lợn, bò và ngựa. Người Đông Á thuần hóa bốn loại gia súc khác mà chính là sự thay thế có tính chất địa phương với loài bò là: bò Tây Tạng, trâu nước, bò rừng và bò banten. Như đã đề cập ở trên, những động vật này cung cấp thức ăn, sức kéo và quần áo, trong khi ngựa cũng có nhiều giá trị về mặt quân sự. (Nó chính là xe tăng, xe tải và xe jeep phục vụ trong chiến tranh cho đến tận thế kỷ XIX.) Tại sao những thổ dân châu Mỹ có những lợi ích tương tự trong việc thuần hóa các loài thú rừng bản địa của châu Mỹ tương ứng là: cừu núi, dê núi, lợn cỏ, bò rừng bison và heo vòi? Tại sao những thổ dân da đỏ lại không cưỡi heo vòi và những người Australia bản xứ thì cưỡi kangaroo, tới xâm chiếm và khiến những người dân thuộc lục địa Á-Âu hoảng sợ?
Câu trả lời là, ngày nay, người ta đã chứng minh rằng chỉ có thể thuần hóa một phần rất nhỏ các loài thú hoang dã trên thế giới. Điều này trở nên rõ ràng khi người ta xem xét lại tất cả những cố gắng đã thất bại. Rất nhiều loài đã đạt được đến bước đầu tiên cần thiết là chấp nhận việc nuôi nhốt như một loài vật nuôi thuần hóa. Ở các làng của người New Guinea, tôi thường thấy những con thú có túi và những con kangaroo đã được thuần dưỡng, trong khi tôi cũng đã thấy những thổ dân Amazon thuần hóa những con khỉ và chồn trong ngôi làng của họ. Những người Ai Cập cổ đại lại thuần hóa linh dương, sơn dương, sếu và thậm chí cả linh cẩu hay có thể là cả hươu cao cổ. Những người La Mã đã từng vô cùng sợ hãi trước những con voi châu Phi đã được thuần hóa mà người Hanibal dùng để vượt qua dãy núi Alps (không phải là những con voi châu Á, loài voi thuần hóa ở trong các rạp xiếc ngày nay).
Tuy nhiên, tất cả những cố gắng ban đầu trong việc thuần hóa đều thất bại. Thuần hóa đòi hỏi không chỉ bắt giữ các cá thể của các loài thú hoang dã và thuần hóa chúng mà còn khiến cho chúng có thể sinh sản trong điều kiện giam cầm và biến đổi chúng thông qua quá trình nhân giống có chọn lọc nhằm làm cho chúng hữu ích hơn cho chúng ta. Từ khi có sự thuần hóa ngựa vào khoảng 4.000 năm trCN và tuần lộc vào khoảng một vài nghìn năm sau đó thì không có một loài thú lớn nào ở châu Âu được thuần hóa thành công nữa. Do đó, một vài loài thú thuần hóa ngày nay được lựa ra một cách nhanh chóng từ hàng trăm các loài thú khác mà đã được thử thuần hóa và thất bại.
Tại sao những cố gắng thuần hóa phần lớn các loài động vật lại thất bại? Hóa ra rằng một loài thú hoang phải hội đủ các đặc tính khác biệt mới có thể khiến cho việc thuần hóa thành công. Đầu tiên, trong phần lớn các trường hợp, nó phải là một loài sống theo bầy đàn. Các cá thể thuộc bầy đàn có các hành vi phục tùng riêng mà chúng thể hiện đối với những cá thể vượt trội hơn, mà qua đó chúng có thể chuyển sang phục tùng con người. Những con cừu rừng châu Á (tổ tiên của cừu thuần hóa) có những hành vi như vậy nhưng những con cừu sừng lớn Bắc Mỹ lại không có điều này - sự khác biệt chủ yếu mà sau này ngăn cản thổ dân trong việc thuần hóa. Ngoại trừ mèo và linh miêu, các loài sống đơn độc theo từng khu vực lãnh thổ là không thể thuần hóa được.
Thứ hai, các loài như là hầu hết loài linh dương, hươu và sơn dương đều cao chạy xa bay ngay khi có dấu hiệu nguy hiểm thay vì đứng ung dung trên mặt đất chứng tỏ rằng chúng quá sợ hãi để xử lý tình huống. Thất bại của chúng ta trong việc thuần hóa hươu là đặc biệt nổi bật bởi chỉ có một vài loài thú hoang dã khác có liên quan mật thiết với con người trong khoảng hàng chục nghìn năm qua. Mặc dù hươu luôn luôn bị săn lùng một cách ráo riết và thường khuất phục nhưng duy nhất chỉ có tuần lộc, nằm trong số 41 loài hươu trên thế giới là được thuần hóa thành công. Các tập tính vùng lãnh thổ, các phản xạ trốn chạy hoặc cả hai đã loại bỏ trên 40 loài ứng cử viên nói trên. Chỉ có tuần lộc mới có sức chịu đựng cần thiết trước những kẻ xâm nhập và có những hành vi không phụ thuộc vào lãnh thổ.
Cuối cùng, đó là các vườn thú thường phát hiện ra những con thú bị bắt giữ, đã mất hết tinh thần của họ ngoan ngoãn và khỏe mạnh, tuy nhiên lại không thể sinh sản trong những chiếc chuồng. Bản thân bạn cũng chẳng muốn thực hiện việc tìm hiểu và giao hợp kéo dài khá lâu dưới con mắt nhòm ngó của kẻ khác, nhiều loài động vật cũng không muốn như vậy. Vấn đề bắt các con thú bị giam giữ sinh sản đã làm hỏng những cố gắng bền bỉ nhằm thuần hóa một vài loài thú có giá trị tiềm năng. Ví dụ, loại lông tốt nhất trên thế giới là lông lạc đà không bướu, một loài lạc đà nhỏ sinh sống ở dãy núi Andes. Tuy nhiên cả những người Inca và những người chủ trại nuôi súc vật ngày nay chưa khi nào có thể thuần hóa chúng và loại lông này vẫn chỉ thu được nhờ vào việc bắt giữ những con lạc đà không bướu hoang dã. Từ những nàng công chúa của vương quốc Assyria cổ đại tới những bà hoàng của Ấn Độ sống ở thế kỷ XIX đều có được những con báo săn đã được thuần hóa, loài thú nhanh nhất sống trên đất liền. Tuy nhiên, tất cả những con báo của các nàng công chúa ấy đều bị bắt từ thiên nhiên và thậm chí những vườn bách thú cũng không làm cho chúng có thể sinh sản được cho đến tận những năm 1960.
Tổng hợp lại, những lý do này giúp giải thích tại sao người dân thuộc đại lục Á-Âu lại thành công trong việc thuần hóa năm loại gia súc lớn mà không phải là các loài có quan hệ gần gũi khác và tại sao thổ dân châu Mỹ lại không thể thuần hóa bò rừng, lợn cỏ, heo vòi và cừu núi hoặc dê. Giá trị quân sự của ngựa là đặc biệt đáng chú ý nhằm minh họa rằng những sự khác biệt dường như là nhỏ nhất khiến cho một loài được ban tặng sự khác biệt độc đáo trong khi các loài khác lại gần như vô dụng. Ngựa thuộc về bộ thú gọi là Bộ ngón lẻ trong đó bao gồm các thú móng guốc với số ngón lẻ như: ngựa, heo vòi và tê giác. Trong số 17 loài hiện còn tồn tại của Bộ ngón lẻ, có tất cả bốn loài heo vòi và năm loài tê giác, cộng với năm trong số tám loài ngựa hoang dã chưa bao giờ được thuần hóa. Người châu Phi hoặc người Ấn Độ khi cưỡi trên những con tê giác hoặc heo vòi có lẽ sẽ đè bẹp bất cứ những kẻ xâm lược người châu Âu nào, tuy nhiên điều đó không bao giờ xảy ra.
Một họ hàng thứ sáu của ngựa hoang, lừa hoang châu Phi, là tổ tiên của loài lừa thuần hóa, được người ta chứng minh là đã rất thành công với số lượng đàn đông đảo nhưng không có giá trị hữu ích như ngựa chiến. Họ hàng thứ bảy của ngựa hoang, giống lừa rừng Tây Á, đã từng được sử dụng để kéo xe bò trong một vài thế kỷ sau năm 3000 trCN. Tuy nhiên, tất cả những nhận định về loài lừa rừng làm tăng lên nét tính khí xấu xa của chúng với các tính từ như là “dễ nổi nóng”, “nóng nảy”, “khó gần”, “khó thay đổi” và “vốn đã cứng đầu cứng cổ”. Những con thú hoang dã quý hiếm thì bị khóa mõm để ngăn chúng không cắn những người chăm sóc chúng. Khi những con ngựa được thuần hóa đi tới Trung Đông vào khoảng năm 2300 trCN thì giống lừa hoang cuối cùng bị đẩy tới nhóm loài động vật đã thất bại trong việc thuần hóa.
Ngựa đã làm cách mạng hóa chiến tranh mà không một động vật nào khác, kể cả voi và lạc đà, có thể làm được. Ngay sau khi được thuần hóa, ngựa làm cho những người chăn nuôi gia súc nói ngôn ngữ Âu - Ấn đầu tiên bắt đầu mở rộng và dần dấn ghi dấu ấn ngôn ngữ của họ lên phần lớn các vùng trên thế giới. Một vài thiên niên kỷ sau, khi được đóng vào những chiếc chiến xa, ngựa trở thành những cỗ xe tăng Sherman không thể chặn lại trong chiến tranh cổ đại. Sau phát minh ra yên ngựa và bàn đạp, chung đã làm cho quốc vương Attila của rợ Hung phá hủy đế chế La Mã, Thành Cát Tư Hãn chinh phục một đế chế trải dài từ Nga đến Trung Quốc và các quốc gia quân sự phát triển ở Tây Phi. Một vài chục con ngựa đã giúp Cortés và Pizarro, mỗi người chỉ dẫn đầu khoảng một vài trăm người Tây Ban Nha lật đổ hai quốc gia Tân Thế giới tiên tiến và đông dân nhất, đế chế Aztec và đế chế Inca. Với cuộc chiến của kỵ binh người Hà Lan chống lại đội quân xâm lược của Hitler vào tháng Chín năm 1939 thì trải qua 6.000 năm, tầm quan trọng về quân sự của loài động vật được thuần hóa có những ưu thế phổ biến nhất trong tất cả những loài được thuần hóa cuối cùng cũng đã kết thúc.
Trớ trêu thay, các họ hàng thân thuộc của giống ngựa mà Cortés và Pizarro đã cưỡi lại chính là các loài bản địa ở Tân Thế giới. Nếu những giống ngựa này còn sống sót, có lẽ Montezuma và Atahualpa đã có thể tiêu diệt những người Tây Ban Nha đến xâm chiếm Trung và Nam Mỹ bằng những đội kỵ binh của họ. Tuy nhiên, cùng với sự trêu ngươi của số phận, những con ngựa của Nam Mỹ đã tuyệt chủng từ rất lâu trước đó, cùng với 80% hoặc 90% các loài động vật lớn khác của châu Mỹ và châu Úc. Điều này xảy ra cùng với thời điểm mà những người khai hoang đầu tiên - tổ tiên của thổ dân da đỏ hiện đại và người Australia bản xứ - đến những lục địa này. Người dân châu Mỹ không chỉ mất đi loài ngựa mà còn mất đi những loài có thể thuần hóa tiềm năng khác như lạc đà lớn, con lười và voi. Cuối cùng châu Úc và Bắc Mỹ không có một loài thú có thể thuần hóa nào ngoại trừ loài chó Indian có nguồn gốc từ chó sói Bắc Mỹ. Toàn bộ khu vực Nam Mỹ chỉ có lợn guinea (dùng làm thức ăn), lạc đà không bướu Nam Mỹ (để lấy lông) và lạc đà không bướu (được sử dụng như thú chở đồ nhưng lại quá nhỏ để chở người).
Kết quả là những loài được thuần hóa không cung cấp các nhu cầu về protein cần thiết cho người châu Úc và người châu Mỹ bản xứ, ngoại trừ ở vùng núi Andes, dù cho việc cung cấp này vẫn ít hơn nhiều so với ở Cựu Thế giới. Không một loài thú bản xứ nào của châu Mỹ và châu Úc thậm chí có thể kéo cày, xe bò hoặc chiến xa, cho sữa hoặc có thể chở người. Nền văn minh của Tân Thế giới phát triển ì ạch do chỉ dựa trên mỗi sức mạnh cơ bắp của con người, trong khi nền văn minh của Cựu Thế giới tiến nhanh nhờ vào sức mạnh của các loài động vật, gió và nước.
Các nhà khoa học vẫn còn tranh cãi xem liệu rằng sự tuyệt chủng thời tiền sử của hầu hết các thú lớn ở châu Mỹ và châu Úc có phải là do yếu tố khí hậu hay do chính những người khai hoang đầu tiên gây ra. Dù cho trong trường hợp nào cũng vậy, sự tuyệt chủng gần như bảo đảm rằng thế hệ con cháu của những người khai hoang đầu tiên sẽ bị chinh phục sau khoảng hơn 10.000 năm sau đó bởi những người đến từ đại lục Á-Âu và châu Phi, những lục địa vẫn lưu giữ được hầu hết những loài động vật lớn của chúng.
Liệu những lập luận tương tự có thể áp dụng đối với thực vật? Một vài sự so sánh ngay lập tức đã được đưa ra. Cũng giống như động vật, chỉ một phần nhỏ của tất cả những loài thực vật hoang dã thích hợp để trồng. Thí dụ như, các loài thực vật mà trong đó mỗi cá thể đều lưỡng tính và có thể tự thụ phấn (như là loài lúa mỳ) được trồng sớm hơn và dễ hơn so với những loài thụ phấn chéo (chẳng hạn giống lúa mạch đen). Lý do là các loài cây tự thụ phấn được chọn lọc dễ dàng hơn và sau đó duy trì dưới dạng các dòng thuần thực sự bởi chúng không liên tục bị trộn lẫn trở lại với những họ hàng hoang dại của chúng. Một ví dụ khác, mặc dù quả đấu của nhiều cây họ sồi là nguồn thức ăn chính trong thời tiền sử ở châu Âu và Bắc Mỹ, tuy nhiên không một cây sồi nào đã từng được thuần hóa, có lẽ bởi vì loài sóc dường như giỏi hơn con người trong việc chọn và gieo trồng quả đấu. Trong khi có những loại thực vật được con người trồng trọt mà chúng ta vẫn sử dụng ngày nay thì cũng có nhiều loài thực vật khác đã từng được thử trồng trong quá khứ và bị loại bỏ. (Người châu Mỹ nào giờ đây có thể ăn lá cây quỳ, thứ mà thổ dân da đỏ ở phía Đông nước Mỹ đã từng trồng để lấy hạt khoảng năm 2000 trCN?)
Xem xét vấn đề như vậy giúp giải thích cho tốc độ phát triển kỹ thuật chậm ở châu Úc. Sự tương đối nghèo nàn về các loài thực vật hoang dã thích hợp cho trồng trọt, nuôi dưỡng của lục địa này cũng giống như sự ít ỏi của những động vật hoang dã thích hợp cho thuần hóa, không nghi ngờ gì nữa, đã góp phần vào thất bại của thổ dân Australia trong việc phát triển nông nghiệp. Tuy nhiên, cũng không rõ ràng là tại sao nền nông nghiệp của châu Mỹ lại tụt hậu so với nền nông nghiệp của Cựu Thế giới. Rốt cuộc, nhiều cây lương thực ngày nay có tầm quan trọng trên toàn thế giới đã được trồng trọt ở Tân Thế giới, có thể kể ra một số như: ngô, khoai tây, cà chua và bí. Câu trả lời cho câu hỏi hóc búa này đòi hỏi phải có sự nghiên cứu sâu hơn về nguồn gốc của loài ngô, loại cây trồng quan trọng nhất của Tân Thế giới.
Ngô là một loại ngũ cốc, một loại cây thân cỏ, có hạt giàu chất tinh bột có thể ăn được, giống như là hạt lúa mạch hoặc hạt lúa mỳ. Ngũ cốc vẫn cung cấp phần lớn lượng calorie mà con người tiêu thụ. Trong khi tất cả các nền văn minh đều phải dựa vào ngũ cốc thì các loại ngũ cốc bản địa khác nhau lại đã được trồng cấy, thuần hóa ở các nền văn minh khác nhau: ví dụ như lúa mỳ, lúa mạch, yến mạch và lúa mạch đen được thuần hóa ở Trung Đông và châu Âu; lúa, kê đuôi cáo và kê đậu chổi ở Trung Quốc và Đông Nam Á; cây lúa miến, kê ngọc trai và kê ngón tay ở vùng phụ cận Sahara thuộc châu Phi; tuy nhiên, lại chỉ có ngô được thuần hóa ở Tân Thế giới. Ngay sau khi Columbus phát hiện ra châu Mỹ, ngô được những người thám hiểm đầu tiên mang trở lại châu Âu và lan ra khắp thế giới đến mức mà ngày nay chúng đã vượt qua diện tích trồng trọt của tất cả các loại cây trồng khác trên thế giới, ngoại trừ lúa mỳ. Do đó, tại sao ngô lại không làm cho nền văn minh của thổ dân da đỏ của châu Mỹ phát triển nhành như nền văn minh của Cựu Thế giới vốn sống dựa vào lúa mỳ và các loại ngũ cốc khác?
Hóa ra là ngô rất khó khăn trong giai đoạn thuần hóa và sinh trưởng ban đầu và cho ra sản phẩm kém hơn. Đó quả là những lời khiêu chiến cho tất cả những ai, giống tôi, yêu thích món ngô rang bơ nóng. Suốt tuổi thơ của tôi, tôi mong đợi cho đến cuối mùa hè để được dừng lại ở bên đường và bẻ những bắp ngô tươi ngon nhất. Ngô là cây trồng quan trọng nhất ở Mỹ ngày nay, có giá trị lên tới 22 tỷ đô la đối với nước Mỹ và 50 tỷ đô la đối với thế giới. Tuy nhiên, trước khi bạn buộc tội những điều tôi nói là không đúng thì hãy thử nghe tôi phân tích sự khác biệt giữa ngô và các loại ngũ cốc khác.
Cựu Thế giới có trên một tá các loài cây thân cỏ mọc hoang dại, dễ dàng cho việc trồng trọt và sinh trưởng. Những hạt lớn của chúng, thích hợp với khí hậu liên tục thay đổi theo mùa như ở vùng Trung Đông, khiến những người nông dân đầu tiên nhận ra được giá trị rõ ràng của chúng. Họ có thể dễ dàng thu hoạch số lượng lớn chỉ với một cái liềm, dễ dàng xay, dễ dàng chuẩn bị cho nấu nướng và dễ dàng để gieo hạt. Lợi thế khác do nhà thực vật học Hugh Iltis của Đại học Wisconsin phát hiện ra là: chúng ta không tự mình nhận thấy rằng những loài thực vật này có thể tích trữ được, bởi vì những loài gặm nhấm ở Trung Đông cũng đã tích trữ được tới 27 kg những hạt cây thân cỏ hoang dại đó.
Các loại ngũ cốc của Cựu Thế giới cũng đã được sản xuất ở trong tự nhiên: một người có thể gặt tới trên 300 kg ngũ cốc trên một mẫu đất trồng những cây lúa mỳ hoang dã mọc tự nhiên trên sườn đồi ở Trung Đông. Trong một vài tuần, một gia đình có thể gặt một lượng đủ để nuôi sống họ trong một năm. Do đó, thậm chí trước khi lúa mỳ và lúa mạch được trồng thì đã có nhiều làng định cư ở Palestine đã phát minh ra liềm, cối, chày và những cái hầm để tích trữ, và họ đã tự nuôi dưỡng bằng những cây ngũ cốc hoang dại.
Việc trồng lúa mỳ và lúa mạch không phải là một hành động có ý thức. Đó không phải là trường hợp mà một vài người săn bắt-hái lượm ngồi lại một ngày, than khóc về sự tuyệt chủng của những con thú ăn thịt lớn, bàn luận về loại lúa mỳ nào là tốt nhất, gieo hạt của những cây đó và do vậy, trở thành những người nông dân vào năm kế tiếp. Thay vào đó, quá trình mà chúng ta gọi là trồng cây - sự thay đổi các cây hoang dại bằng trồng trọt - là sản phẩm phụ không nằm trong dự tính trước của con người khi quan tâm hơn về một số loài cây hoang dại so với các loài cây khác, và do đó, ngẫu nhiên nhân rộng hạt của những cây mà họ quan tâm. Trong trường hợp của những cây ngũ cốc hoang dại thì con người tự nhiên quan tâm hơn đến việc thu hoạch những cây có hạt lớn, những cây mà hạt dễ dàng lấy ra khỏi vỏ bọc của chúng và những cây có thân cứng nên có thể giữ tất cả các hạt cùng nhau. Chỉ bằng một vài đột biến nhờ quá trình chọn lọc không ý thức của con người, mà đã tạo ra những loại ngũ cốc cứng, hạt lớn khác nhau mà chúng ta gọi là các giống cây thuần hóa để trồng trọt chứ không còn là hoang dại.
Khoảng 8.000 năm trCN, những dấu vết còn lại của lúa mỳ và lúa mạch tìm được trong những cuộc khai quật khảo cổ từ những ngôi làng Trung Đông cổ đại bắt đầu chỉ ra những thay đổi này. Sự phát triển của lúa mỳ dùng làm thức ăn, sự đa dạng các cây trồng được thuần dưỡng khác và ngay sau đó là việc gieo hạt có chủ đích. Dần dần, những dấu vết ít ỏi hơn của những thực phẩm hoang dại cũng được tìm thấy ở những vị trí này. Năm 6000 trCN, việc trồng trọt theo mùa vụ đã kết hợp với việc chăn nuôi theo bầy trở thành một hệ thống sản xuất lương thực hoàn chỉnh ở Trung Đông. Bất chấp kết quả tốt hay xấu, con người không còn là những người săn bắt-hái lượm nữa mà đã trở thành người trồng trọt và chăn giữ vật nuôi trên con đường đi đến văn minh.
Bây giờ hãy cùng so sánh những phát triển tương đối dễ dàng của Cựu Thế giới với những gì đã xảy ra ở Tân Thế giới. Bởi vì các vùng của châu Mỹ, nơi việc trồng trọt được bắt đầu không có sự thay đổi khí hậu liên tục theo mùa như ở vùng Trung Đông nên ở đây không có các cây thân cỏ hạt lớn mà thực sự cho năng suất cao trong tự nhiên. Những người dân Bắc Mỹ và thổ dân ở Mexico đã bắt đầu thuần dưỡng ba loại cây thân cỏ hoang dại hạt nhỏ - cây sơn trà gai, lúa mạch nhỏ và kê hoang dại - tuy nhiên, những cây này đều đã bị thay thế khi xuất hiện giống ngô và sau đó là ngũ cốc đến từ châu Âu. Thay vào đó, tổ tiên của ngô là một giống cây thân cỏ hoang dại của Mexico không có lợi thế hạt to nhưng ở khía cạnh khác, nó dường như là một cây lương thực đầy tiềm năng: đó là một loài cây thu hoạch hằng năm.
Các bắp của giống ngô hàng năm trông rất khác biệt so với bắp của loại ngô thường ngày nay đến mức mà các nhà khoa học đã tranh cãi về vai trò chính xác của ngô hằng năm trong nguồn gốc của loài ngô cho đến mãi tận gần đây, và thậm chí là đến bây giờ, một số nhà khoa học vẫn không tin vào điều này. Không một cây trồng nào khác trải qua những thay đổi mạnh mẽ như vậy trong việc đưa vào trồng trọt như là loài ngô hằng năm. Ngô hằng năm chỉ có từ sáu đến 12 hạt trong một bắp và chúng không ăn được bởi vì chúng được bao quanh bởi một lớp vỏ cứng như đá. Người ta có thể nhai lõi của cây ngô hằng năm như ăn mía, như những người nông dân Mexico vẫn thường làm. Nhưng ngày nay không ai còn sử dụng hạt của loại cây này và do đó cũng không có dấu hiệu rằng ai đó đã sử dụng chúng trước đây.
Hugh Iltis xác định bước quan trọng trong việc làm cho ngô hằng năm có thể sử dụng được là: một sự thay đổi về giới tính lâu dài. Ở ngô hằng năm, các nhánh bên kết thúc ở những cụm hoa hình đuôi sóc là những hoa đực; ở cây ngô thường, các nhánh bên kết thúc bằng cấu trúc cơ quan sinh sản cái: bắp ngô. Mặc dầu điều này nghe có vẻ như là một sự khác biệt lớn nhưng nó thật sự là một sự thay đổi điều khiển hormon đơn giản mà có thể bắt đầu bởi một loài nấm, một loại virus hoặc sự thay đổi khí hậu. Khi một vài bông hoa ở cụm hoa hình đuôi sóc thay đổi thành giống cái thì chúng sẽ tạo ra những hạt trần có thể ăn được giống như là việc thu hút được sự chú ý của những người săn bắt-hái lượm đang đói. Nhánh chính của cụm hoa hình đuôi sóc sau đó sẽ bắt đầu tạo thành bắp ngô. Các địa điểm khảo cổ học đầu tiên ở Mexico đã phát hiện ra tàn tích của những bắp ngô cỡ nhỏ, chỉ dài 1,5 inch và giống như loại bắp tí hơn của giống ngô Tom Thumb mà chúng ta có ngày nay.
Với sự biến đổi về mặt cơ quan sinh sản bất ngờ đó, loài ngô hằng năm (còn gọi là bắp) cuối cùng cũng được đưa vào trồng trọt. Tuy nhiên, ngược lại với trường hợp ngũ cốc của Trung Đông, hàng ngàn năm phát triển vẫn còn ở phía trước đối với những loài ngô có sản lượng cao, có khả năng cung cấp đủ cho các ngôi làng hoặc các thành phố. Đối với những người nông dân da đỏ sản phẩm cuối cùng vẫn rất khó để tạo ra hơn so với công việc của những người nông dân ở Cựu Thế giới với các loại ngũ cốc. Bắp ngô được thu hoạch từng chiếc một bằng tay chứ không phải là thu hoạch lượng lớn bằng liềm; lõi ngô được bỏ đi; hạt ngô không rơi ra nhưng phải được cạo ra hoặc cắn; và gieo hạt có liên quan đến việc trồng từng cây một chứ không tung rắc với số lượng lớn. Và kết quả thu được cho thấy chúng vẫn nghèo chất dinh dưỡng hơn so với ngũ cốc của Cựu Thế giới: hàm lượng protein thấp hơn, thiếu các axit amin quan trọng về dinh dưỡng, thiếu các vitamin B6 (nguyên nhân gây ra bệnh nứt da) và cần phải được xử lý chất kiềm trong hạt nhằm giải quyết phần nào những thiếu hụt này.
Nói tóm lại, các đặc điểm của cây lương thực chính của Tân Thế giới đã làm cho giá trị tiềm năng của chúng khó nhận thấy hơn trong những cây trồng hoang dại, khó hơn trong việc phát triển bằng trồng trọt, và gây khó khăn cho việc thu hoạch thậm chí là sau khi đã được trồng. Phần lớn sự tụt hậu giữa nền văn minh của Tân Thế giới và Cựu Thế giới có thể là do những tính chất riêng biệt ấy của một loại cây trồng.
Từ trước tới nay, tôi mới chỉ bàn luận về vai trò địa lý sinh vật của các đặc điểm địa lý trong việc cung cấp các loài động thực vật hoang dã địa phương, thích hợp để thuần hóa. Tuy nhiên, có một vai trò chính khác của địa lý cũng đáng được đề cập đến. Mỗi một nền văn minh phụ thuộc vào không chỉ các cây lương thực được trồng ở địa phương mà còn phụ thuộc vào các cây lương thực khác xuất hiện sau khi được trồng đầu tiên ở đâu đó. Khuynh hướng nghiêng hẳn sang trục bắc - nam của Tân Thế giới đã làm cho sự phát tán các cây lương thực trở nên khó khăn; trong khi sự phân bố theo trục đông - tây của Cựu Thế giới lại làm cho sự phát tán của chúng dễ dàng hơn (xem Hình 6).
Ngày nay, chúng ta trộn lẫn rất nhiều loại cây trồng tới mức khiến cho chúng ta ít khi dừng lại để suy nghĩ về nguồn lương thực của mình bắt nguồn từ đâu. Một bữa ăn điển hình của người Mỹ hoặc người châu Âu có thể có gà (bắt nguồn từ Đông Nam Á) với ngô (từ Mexico) hoặc khoai tây (từ phía Nam của dãy Andes), gia vị là hạt tiêu (từ Ấn Độ), kèm với một mẩu bánh mỳ (từ lúa mỳ Trung Đông) và bơ (từ gia súc của Trung Đông) và tráng miệng bằng một cốc café (từ Ethiopia). Tuy nhiên, sự khuếch tán của các cây trồng và động vật có giá trị không chỉ bắt đầu ở thời hiện đại, mà nó đã xảy ra cách đây hàng nghìn năm.
Các cây trồng và động vật lan rộng nhanh chóng và dễ dàng trong một vùng khí hậu mà chúng đã thích nghi. Để lan rộng ra khỏi vùng này, chúng phải phát triển các giống mới có thể chịu được các khí hậu khác nhau. Bản đồ của Cựu Thế giới ở Hình 6 cho thấy cách mà các loài có thể vượt qua những khoảng cách xa mà không gặp phải một sự thay đổi về khí hậu. Phần lớn những sự thay đổi này cho thấy tầm quan trọng to lớn trong việc bắt đầu sự trồng trọt hay chăn thả vật nuôi ở những vùng mới hoặc làm cho chúng phong phú hơn ở những vùng cũ. Các loài di chuyển giữa Trung Quốc, Ấn Độ, Trung Đông và châu Âu mà không rời khỏi những vĩ độ có nhiệt độ ôn hòa của bán cầu bắc. Mỉa mai thay, bài ca đầy tinh thần yêu nước của người Mỹ có tên “Vẻ đẹp Mỹ” đã nhắc tới những bầu trời rộng lớn của riêng nước Mỹ, những cánh đồng trồng ngũ cốc như làn sóng hổ phách. Trên thực tế, bầu trời rộng lớn nhất của bán cầu bắc là ở Cựu Thế giới, nơi mà những làn sóng hổ phách của những loại ngủ cốc gần gũi trải dài 7.000 dặm từ Kênh đào Anh đến biển Đông.
Người La Mã cổ đại đã trồng lúa mỳ và lúa mạch có nguồn gốc từ Trung Đông, đào và cam quýt từ Trung Quốc, dưa chuột và vừng đến từ Ấn Độ, cây gai dầu và cây hành từ Trung Á cùng với yến mạch và cây anh túc bắt nguồn ở châu Âu. Ngựa được phát tán từ Trung Đông đến Tây Phi đã gây nên cuộc cách mạng hóa các chiến thuật quân sự ở đó, trong khi cừu và gia súc phát tán từ trên cao nguyên Đông Phi đã gây dựng nên những công việc chăn thả gia súc ở vùng Nam Phi, nơi những người Hottento sinh sống, những người mà ở vùng bản địa không có các loài động vật thích hợp cho việc thuần hóa. Cây lúa miến và cây bông của châu Phi đến Italia vào khoảng năm 2000 trCN, trong khi chuối và khoai lang từ vùng nhiệt đới Đông Nam Á qua Ấn Độ Dương đã làm phong phú cho nền nông nghiệp nhiệt đới châu Phi.
Tuy nhiên ở Tân Thế giới, vùng khí hậu ôn đới đặc trưng của Bắc Mỹ được cách ly với vùng khí hậu ôn đới của dãy núi Andes và vùng phía nam của đại lục Nam Mỹ bởi một khoảng cách dài hàng ngàn dặm có khí hậu nhiệt đới mà ở đó, những loài của vùng ôn đới không thể tồn tại. Kết quả là, lạc đà không bướu, lạc đà paca và chuột lang của vùng Andes không bao giờ đến được Bắc Mỹ hoặc thậm chí là Mexico ở thời tiền sử, điều này đã khiến cho không có bất kỳ loài thú nào được thuần hóa có thể thồ hàng hoặc cung cấp len hay thịt (ngoại trừ loài chó ăn ngũ cốc). Khoai tây cũng thất bại trong việc phát tán từ vùng Andes đến Mexico hoặc Bắc Mỹ, trong khi hoa hướng dương không bao giờ phát tán được từ Bắc Mỹ đến vùng Andes. Nhiều cây trồng hình như cùng chung nguồn gốc lịch sử giữa Bắc và Nam Mỹ, đã thực sự xuất hiện những chủng loại khác biệt hoàn toàn, hoặc thậm chí thành những loài khác nhau ở hai lục địa khác nhau này, điều này cho thấy rằng chúng được trồng, thuần hóa độc lập với nhau ở cả hai vùng. Chẳng hạn như, điều này có vẻ là đúng đối với trường hợp của cây bông, đậu, đậu lima, hạt tiêu và cây thuốc lá. Ngô chắc hẳn đã phát tán từ Mexico đến cả Bắc và Nam Mỹ tuy nhiên điều này rõ ràng là không dễ bởi thời gian chúng cần để tạo nên các giống ngô thích hợp với các vĩ độ khác nhau. Cho đến tận năm 900 - hàng nghìn năm sau khi ngô xuất hiện ở Mexico - thì nó mói trở thành lương thực chủ yếu ở thung lũng Mississippi, do đó đã gây ra sự phát triển chậm chạp của nền văn minh xây dựng trên những mô đất bí ẩn của vùng Trung Mỹ.
Nếu như Cựu Thế giới và Tân Thế giới mỗi nơi quay thêm 90 độ thì trục của sự phát tán các cây trồng và vật nuôi thuần hóa sẽ xảy ra chậm hơn ở Cựu Thế giới và nhanh hơn ở Tân Thế giới. Tốc độ phát triển của nền văn minh theo đó cũng khác nhau. Ai biết được liệu rằng sự khác nhau đó đủ để làm cho Montezuma hoặc Atahualpa xâm chiếm châu Âu bất chấp việc họ không có ngựa?

Do đó, tôi cho rằng những khác biệt của các lục địa về tốc độ phát triển của các nền văn minh không phải là ngẫu nhiên được hình thành bởi một vài nhà thiên tài đơn độc. Chúng cũng không được tạo ra từ những khác biệt về mặt sinh học quyết định kết quả của cuộc cạnh tranh giữa các quần thể động vật - ví dụ như, một vài quần thể trở nên chạy nhanh hơn hoặc tiêu hóa thức ăn hiệu quả hơn là các quần thể khác. Chúng cũng không phải là kết quả của sự khác biệt trung bình giữa các nhóm người về tính sáng tạo, không có bằng chứng nào cho thấy có những sự khác biệt này. Thay vào đó, chúng được quyết định bởi tác động của địa sinh vật lên sự phát triển văn hóa. Nếu châu Âu và châu Úc xảy ra sự hoán đổi các quần thể người cho nhau từ 12.000 năm về trước thì có lẽ những người châu Úc bản xứ trước đây sẽ chuyển sang sinh sống tại châu Âu, nhưng cuối cùng lại xảy ra quá trình chinh phục châu Mỹ và châu Úc bởi những người đến từ châu Âu.
Địa lý đã tạo ra các quy luật chung cho sự tiến hóa cả về sinh học và văn hóa của tất cả các loài, bao gồm cả loài người chúng ta. Vai trò của địa lý trong việc quyết định lịch sử chính trị hiện đại của chúng ta thậm chí còn rõ ràng hơn là vai trò của chúng trong việc quyết định tốc độ chúng ta thuần hóa động vật và thực vật. Từ viễn cảnh này, dường như là rất nực cười khi biết rằng một nửa học sinh Mỹ không biết Panama ở đâu, tuy nhiên, không còn là chuyện nực cười nữa khi các chính trị gia cũng thể hiện sự tảng lờ tương tự. Trong số các ví dụ nổi tiếng về những thảm họa gây ra bởi sự thiếu hiểu biết của các chính trị gia về địa lý, có hai thảm họa: biên giới phi tự nhiên đưa vào bản đồ của châu Phi chính là do các chính quyền thuộc địa châu Âu thế kỷ XIX đặt ra, do đó làm hủy hoại sự ổn định một vài quốc gia châu Phi hiện đại hiện có những đường biên giới này; và đường biên giới của Đông Âu được nêu ra trong Hiệp ước Versailles năm 1919 bởi các chính trị gia biết quá ít về vùng này, do đó đã châm ngòi cho Chiến tranh thế giới lần thứ II.
Địa lý đã là môn học bắt buộc trong trường phổ thông và đại học từ một vài thập kỷ trước khi nó bắt đầu được đưa vào từ nhiều chương trình học. Những suy nghĩ sai lầm xuất hiện sau đó cho rằng địa lý ngoài việc ghi nhớ tên của một vài thủ đô thì không còn gì khác. Tuy nhiên, 20 tuần học địa lý ở lớp Bảy không đủ để dạy cho những chính trị gia tương lai của chúng ta về tác động của bản đồ đối với chúng ta. Máy fax và truyền thông tin qua vệ tinh mở rộng trên khắp Trái đất không thể xóa được sự khác biệt giữa chúng ta mà được tạo ra do những khác biệt về vị trí. Trong thời gian dài và trên quy mô lớn, nơi mà chúng ta sống sẽ góp phần rất lớn để làm rõ cho việc chúng ta là ai.