Mỗi phần của Trái đất thật thiêng liêng đối với nhân dân tôi. Mỗi lá thông ngập nắng, mỗi bãi biển đầy cát, mỗi hạt sương trong rừng tối, mỗi con côn trùng vo ve và phát sáng đều thật linh thiêng trong ký ức và trải nghiệm của nhân dân… Người da trắng… là một người lạ đến trong màn đêm và lấy đi từ đất đai tất cả những gì anh ta muốn. Trái đất không phải là người anh em của anh ta mà chính là kẻ thù… Nếu cứ tiếp tục bôi bẩn lên chiếc giường của anh, rồi đến một đêm anh sẽ bị chết ngạt trong đống rác do chính mình tạo nên.
- Trích từ lá thư đã được người tù trưởng của bộ lạc Duwa thuộc bộ tộc những thổ dân da đỏ châu Mỹ, viết gửi Tổng thống Franklin Pierce vào năm 1855.
Những nhà hoạt động môi trường chán ngán với những hư hại mà xã hội công nghiệp đang gây ra cho thế giới, thường nhìn lại quá khứ như là một Kỷ nguyên Vàng. Khi người châu Âu bắt đầu đặt chân lên châu Mỹ, không khí và những dòng sông thật tinh khiết, những đồng cỏ xanh ngắt một màu, vùng Đồng bằng Lớn tràn ngập những đàn bò rừng bison. Ngày nay, chúng ta hít thở trong khói thuốc, lo lắng về những hóa chất độc hại trong nước uống, những con đường rải nhựa phủ lên trên những vùng đất, và hiếm khi còn nhìn thấy bất kỳ động vật hoang dã lớn nào. Những điều tồi tệ chắc chắn sẽ đến. Trước thời điểm những đứa con trai còn đang ẵm ngửa của tôi tới tuổi nghỉ hưu, một nửa sinh vật trên thế giới này có lẽ sẽ bị tuyệt chủng, không khí nhiễm chất phóng xạ, và những bãi biển thì bị ô nhiễm bởi dầu.
Không còn nghi ngờ gì nữa, có hai lý do đơn giản giải thích tình trạng tồi tệ của chúng ta: kỹ thuật hiện đại với sức mạnh vượt bậc gây ra sự tàn phá hơn bất kỳ những chiếc rìu đá nào trong quá khứ, và hiện đang có quá nhiều người sinh sống hơn bất kỳ thời kỳ nào trước đây. Tuy nhiên, một yếu tố thứ ba cũng có thể góp phần vào vấn đề này: sự thay đổi trong thái độ. Không giống như những cư dân của các đô thị hiện đại, ít nhất thì một vài người thuộc thời kỳ tiền công nghiệp - như những thổ dân Duwa, mà lời người thủ lĩnh của họ đã được tôi trích dẫn ở trên, phụ thuộc và tôn kính môi trường tự nhiên của họ. Có nhan nhản những câu chuyện về cách mà những người này trong thực tế là những nhà bảo tồn thiên nhiên bằng hành động. Như lời một người trong bộ lạc ở New Guinea đã từng giải thích với tôi: “Đó là một tập tục của chúng tôi, nếu một người thợ săn trong một ngày giết một con chim bồ câu theo một hướng đi từ làng, anh ta phải đợi một tuần trước khi săn bắn bồ câu một lần nữa, và sau đó đi theo hướng ngược lại”. Chúng ta mới chỉ bước đầu nhận ra những chính sách bảo vệ môi trường của những người được gọi là người nguyên thủy đó thực sự tinh tế tới nhường nào. Ví dụ như, những chuyên gia người nước ngoài có thiện chí đã tạo ra những sa mạc bên ngoài những vùng rộng lớn của châu Phi. Trong khi những vùng giống như vậy, người dân địa phương sống thành bầy đàn đã phát triển qua nhiều thiên niên kỷ do những cuộc di cư hằng năm mà làm cho đất đai này không bao giờ bị chăn thả quá mức.
Quan điểm luyến tiếc cho đến gần đây đã được chia sẻ bởi phần lớn những đồng nghiệp làm công tác bảo vệ môi trường của tôi và chính tôi là một phần khuynh hướng nhân văn coi quá khứ như một Kỷ nguyên Vàng ở nhiều khía cạnh khác. Người trình bày nổi tiếng quan điểm này là triết gia người Pháp thế kỷ XVIII, Jean-Jacques Rousseau mà tác phẩm Luận về nguồn gốc của sự bất công của ông đã lần theo sự suy thoái của chúng ta từ Kỷ nguyên Vàng đến nỗi khốn khổ của con người mà Rousseau đã nhìn thấy quanh ông. Khi những nhà thám hiểm của châu Âu thế kỷ XVIII đối mặt với những người tiền công nghiệp như người Polynesia và những người da đỏ châu Mỹ, thì những người này đã được lý tưởng hóa trong các phòng trưng bày ở châu Âu như là “những người nguyên thủy cao quý” sống trong một Kỷ nguyên Vàng đang tiếp diễn, không thể bị những nguyền rủa của nền văn minh như sự không dung thứ về tôn giáo, chính sách chuyên chế và sự bất công bằng trong xã hội chạm tới.
Thậm chí ngày nay, thời đại Hy Lạp và La Mã cổ vẫn được nhiều người cho là Kỷ nguyên Vàng của nền văn minh phương Tây. Trớ trêu thay, cả người Hy Lạp và La Mã đều xem bản thân họ như là sự suy thoái từ một Kỷ nguyên Vàng trước kia. Tôi có thể trích dẫn lại một phần những dòng thơ của nhà thơ La Mã Ovid mà tôi nhớ được từ môn tiếng Latin hồi lớp Mười, “Aurea prima sata est aetas, quae vindice nullo…”: “Kỷ nguyên Vàng tới lần đầu tiên khi con người trung thực, ngay thẳng trong ý chí tự do của bản thân”. Ovid đã đối lập những đức hạnh đó với thói phụ bạc đầy rẫy và những cuộc chiến tranh thời kỳ của ông. Tôi không nghi ngờ rằng bất cứ người nào vẫn còn sống trong khói bụi phóng xạ của thế kỷ XXII sẽ viết một cách lưu luyến và công bằng về kỷ nguyên của chúng ta, mà dường như không gặp phải khó khăn nào trong sự so sánh.
Có được niềm tin phổ biến này về một Kỷ nguyên Vàng nên một vài phát hiện gần đây của các nhà khảo cổ và nhà cổ sinh vật học đã tạo nên một cú sốc. Rõ ràng là, những xã hội tiền công nghiệp đã dần dần tiêu diệt các loài sinh vật, phá hủy môi trường sống, và hủy hoại sự tồn tại của chính họ trong hàng ngàn năm. Một vài những ví dụ có dẫn chứng xác đáng nhất liên quan tới người Polynesia và người da đỏ châu Mỹ, những người từng được cho là khuôn mẫu của chủ nghĩa bảo vệ môi trường. Không cần thiết phải nói rằng, quan điểm của người theo chủ nghĩa xét lại đang được tranh cãi một cách sôi nổi, không chỉ trong những hội nghị hàn lâm mà còn giữa những người không có chuyên môn ở Hawaii, New Zealand và những vùng khác, cả những vùng có nhiều người Polynesia hoặc những dân tộc da đỏ thiểu số. Phải chăng những “phát hiện” mới đó chỉ là một phần khác của thứ khoa học giả hiệu mang tính phân biệt chủng tộc mà những người định cư da trắng tìm kiếm để bào chữa cho việc trục xuất những người dân bản xứ? Làm thế nào mà những khám phá này có thể phù hợp với tất cả bằng chứng cho những hành động bảo vệ môi trường tự nhiên bởi những người tiền công nghiệp hiện đại? Nếu những phát hiện này là đúng, thì liệu chúng ta có thể sử dụng chúng như bằng chứng lịch sử để giúp ta dự đoán số phận mà những chính sách môi trường có thể đem lại cho chúng ta? Liệu những phát hiện gần đây có thể giải thích những sự sụp đổ đầy bí ẩn khác của những nền văn minh cổ đại, như những nền văn minh của đảo Phục Sinh hoặc của thổ dân Maya?
Trước khi chúng ta có thể trả lời những câu hỏi gây tranh cãi này, chúng ta cần hiểu bằng chứng mới làm nhầm lẫn về thời kỳ Kỷ nguyên Vàng trong quá khứ của thuyết môi trường.
Đầu tiên, chúng ta hãy cùng xem xét bằng chứng về những làn sóng hủy diệt rồi đến bằng chứng về sự tàn phá môi trường sống trong quá khứ.
Khi thực dân Anh bắt đầu đặt chân lên New Zealand vào thế kỷ XVIII, họ không tìm thấy bất kỳ một loài thú nào sống trên đất liền bản địa, ngoại trừ những loài dơi. Điều đó không có gì đáng ngạc nhiên: New Zealand là một hòn đảo biệt lập nằm quá xa so với những lục địa làm cho những con thú không biết bay không thể đến được. Tuy nhiên, sự đào xới của những người đi xâm chiếm đã phát hiện ra xương và vỏ trứng của những loài chim lớn đã hoàn toàn tuyệt chủng, nhưng những người Maori (những người Polynesia định cư trước đó ở New Zealand) vẫn còn nhớ tên chúng là “moa”. Từ những bộ xương nguyên vẹn mà một vài trong số chúng rõ ràng là mới gần đây và vẫn còn lại da và lông, chúng ta có một ý tưởng hay về những con “moa” trông như thế nào khi chúng còn sống: những con chim trông giống như đà điểu gồm 12 loài, và xếp loại từ những con nhỏ “chỉ” cao khoảng một mét và nặng 20 kg, đến những con khổng lồ nặng tầm 300 kg và cao bốn mét.
Thức ăn của chúng có thể được suy luận dựa vào những chiếc mề chim đã được bảo quản, trong đó có chứa những nhánh cây và lá của hàng chục các loại cây khác nhau, từ đó chỉ ra rằng chúng là loài động vật ăn cỏ. Chúng đã từng được coi là những thú ăn cỏ lớn của New Zealand như loài hươu và sơn dương.
Trong khi những con “moa” là những con chim bị tuyệt chủng nổi tiếng nhất ở New Zealand thì nhiều con vật khác đã được miêu tả qua những bộ xương hóa thạch, tổng cộng có ít nhất 28 loài đã biến mất trước khi người châu Âu đến. Bên cạnh những con “moa” thì cũng có một số ít những loài thú lớn và không bay được, bao gồm loài vịt lớn, chim sâm cầm khổng lồ và ngỗng lớn. Những loài chim không bay được này là con cháu của những loài chim bình thường đã bay tới New Zealand và sau đó đã tiến hóa để mất đi những cơ cánh quý giá trong vùng đất không có bọn thú dữ ăn thịt. Những loài chim đã bị biến mất khác như loài bổ nông, thiên nga, quạ lớn và đại bàng khổng lồ hoàn toàn có khả năng bay được.
Với cân nặng lên tới 15 kg, đại bàng là loài chim ăn thịt lớn nhất và mạnh nhất trong thế giới mà nó sống. Nó đã bị nhỏ lại thậm chí chỉ còn bằng loài chim ưng lớn nhất hiện đang tồn tại, loài chim đại bàng hung dữ của vùng nhiệt đới châu Mỹ. Đại bàng New Zealand có thể là loài thú ăn thịt duy nhất có khả năng tấn công những con moa trưởng thành. Mặc dù một vài loài moa nặng gần gấp 20 lần loài chim đại bàng nhưng chim đại bàng vẫn có thể giết chết chúng bằng việc tận dụng dáng đứng thẳng trên hai chân của loài moa, làm què chúng bằng cách mổ vào những cái chân dài, sau đó giết chúng bằng cách tấn công vào đầu và chiếc cổ dài của loài moa, và cuối cùng phải mất nhiều ngày để ăn hết cái xác, giống như loài sư tử cũng mất thời gian để ăn hết một con hươu cao cổ. Những tập tính của chim đại bàng có thể giải thích việc người ta tìm thấy rất nhiều bộ xương của loài moa không có đầu.
Dựa vào điểm này, tôi đã thảo luận về những loài thú lớn tuyệt chủng của New Zealand. Nhưng những người đi tìm kiếm hóa thạch cũng đã phát hiện ra xương của những loài thú nhỏ có kích cỡ bằng loài chuột nhắt. Việc chạy lướt hay trườn bò trên mặt đất ít nhất có ở ba loài chim không bay được hoặc bay kém, một vài loài ếch, những con ốc sên khổng lồ, nhiều loài côn trùng giống dế khổng lồ có trọng lượng gấp đôi một con chuột, và những loài dơi giống chuột lạ thường - chúng thường cuộn tròn đôi cánh lại mà chạy. Một vài loài trong số những loài động vật nhỏ bé này đã hoàn toàn bị tuyệt chủng trước khi người châu Âu đến. Những loài khác vẫn tồn tại trên những hòn đảo nhỏ ngoài khơi gần New Zealand, nhưng những xương hóa thạch của chúng chỉ ra rằng trước đây chúng rất đông đúc trên đất liền ở New Zealand. Tất cả những loài hiện nay đã tuyệt chủng này đã cùng tiến hóa biệt lập sẽ làm cho New Zealand có sự tương đương về sinh thái với những loài thú không biết bay ở đất liền mà chưa bao giờ đến đây: loài moa thay cho loài hươu, loài ngỗng và loài sâm cầm không bay được thay cho thỏ; những loài dế lớn, những loài chim nhỏ và loài dơi thay cho chuột và những con đại bàng khổng lồ thay cho loài báo.
Những bằng chứng sinh hóa và hóa thạch chỉ ra rằng tổ tiên của loài moa đã tới New Zealand hàng triệu năm trước đây. Khi nào và tại sao, sau khi sống sót lâu đến thế, cuối cùng những con moa đã bị tuyệt chủng? Thảm họa nào có thể hủy diệt quá nhiều loài khác nhau như là dế, đại bàng, vịt và loài moa? Cụ thể hơn, liệu những sinh vật lạ lùng này có còn sống khi tổ tiên của người Maori đến đây khoảng năm 1000?
Tại thời điểm mà tôi đến New Zealand lần đầu tiên vào năm 1966, những hiểu biết thời đó cho rằng loài moa chết do sự thay đổi khí hậu và rằng bất cứ loài moa nào sống sót để chào đón những người Maori đầu tiên đều bước đi trên những đôi chân bóng bẩy cuối cùng của chúng. Những người New Zealand coi việc những người Maori như những nhà bảo tồn tự nhiên và không giết hại loài moa là một niềm tin tôn giáo. Không còn nghi ngờ gì nữa, người Maori, giống như những người Polynesia khác sử dụng các công cụ bằng đá, sống chủ yếu bằng nghề nông và bắt cá, thiếu sức mạnh hủy diệt của những xã hội công nghiệp hiện đại. Nhiều nhất thì người ta cũng chỉ cho rằng người Maori đã đưa ra phát súng kết liễu với những quần thể đang trên bờ tuyệt chủng. Tuy nhiên, có ba nhóm phát hiện đã đánh đổ nhận thức này.
Đầu tiên, trong suốt thời kỳ Băng hà cuối cùng, rất nhiều vùng của New Zealand đã bị bao phủ bởi những dòng sông băng hàn hay những vùng lãnh nguyên lạnh giá mà điều này đã kết thúc khoảng 10.000 năm trước đây. Từ đó đến nay, khí hậu ở New Zealand đã trở nên dễ chịu hơn nhiều, với nhiệt độ ấm áp hơn và sự trải rộng của những cánh rừng tuyệt đẹp. Những con moa cuối cùng đã chết với những cái mề đầy ắp thức ăn, và thích thú với thời tiết tốt nhất mà chúng được nhìn thấy trong suốt hàng chục ngàn năm.
Thứ hai, những mảnh xương chim được xác định niên đại bằng carbon phóng xạ từ những di chỉ khảo cổ thuộc thời đại của người Maori đã chứng minh rằng tất cả những loài moa được biết tới vẫn còn rất phong phú khi người Maori lần đầu tiên đặt chân tới lên hòn đảo này. Với những con ngỗng, vịt, thiên nga, đại bàng và những loài chim khác được biết đến ngày nay chỉ qua những bộ xương hóa thạch cũng như vậy. Trong vòng một vài thế kỷ, loài moa và phần lớn những loài chim khác đã bị tuyệt chủng. Đó quả là một sự trùng hợp đáng kinh ngạc nếu hàng tá những sinh vật riêng lẻ đã từng thống trị New Zealand trong hàng triệu năm đã lựa chọn thời điểm địa chất chính xác là khi có sự xuất hiện của loài người như là dịp để đồng loạt chết đi.
Cuối cùng, hơn một trăm di chỉ khảo cổ học được biết tới - một vài trong số chúng rộng tới hàng chục mẫu đất - nơi những người Maori đã làm giảm số lượng khổng lồ những con moa bằng cách nấu chúng trong những chiếc lò nung đất và vứt bỏ những thứ dư thừa. Họ đã ăn thịt những con moa, sử dụng da làm quần áo, dùng những chiếc xương làm lưỡi câu hay đổ trang sức và đập vỡ vỏ trứng để làm thùng chứa nước. Trong suốt thế kỷ XIX, từ những địa điểm đó, những mảnh xương của loài moa đã được chờ đi trên những chiếc xe ngựa. Số lượng bộ xương của loài moa có ở trong những di chỉ khảo cổ được biết đến như những nơi mà người Maori săn bắt moa, được ước tính là lên tới khoảng 100.000 đến 500.000 địa điểm, gấp khoảng 10 lần số moa được cho là sống ở New Zealand ở bất kỳ địa điểm nào khác. Người Maori chắc hẳn đã tàn sát những loài moa trong rất nhiều thế hệ.
Như vậy, rõ ràng là người Maori đã hủy diệt những loài moa, ít nhất một phần bằng việc giết hại chúng, phần khác là do cướp đi những quả trứng từ ổ của chúng, và có lẽ một phần nào đó là do chặt phá một số khu rừng nơi loài moa cư trú. Bất kỳ người nào đã từng leo lên những dãy núi ghồ ghề ban đầu sẽ hoài nghi về quan điểm này. Chỉ bằng việc hình dung, ta cũng có thể tưởng tượng ra những bức tranh phong cảnh của vùng Fiorland của New Zealand với những trườn dốc cheo leo có độ sâu tới 3.000 m, lượng mưa khoảng 1.000 cm một năm và những mùa đông lạnh giá. Thậm chí ngày nay, những người đi săn chuyên nghiệp được trang bị súng có gắn kính viễn vọng và được trợ giúp từ những chiếc máy bay phản lực cũng không thể kiểm soát được số lượng sơn dương sống trong những dãy núi này. Làm thế nào mà chỉ vài nghìn người Maori sống ở Nam Đảo và đảo Stewart thuộc New Zealand chỉ sử dụng rìu đá và gậy dài, và di chuyển bằng đôi chân đã hạ sát tới những con moa cuối cùng?
Tuy nhiên, có một sự khác nhau quan trọng giữa sơn dương và loài moa. Sơn dương đã được chọn lọc tự nhiên trong suốt hàng chục ngàn năm, qua rất nhiều thế hệ để trốn chạy khỏi những người thợ săn, trong khi những con moa chưa bao giờ trông thấy người cho tới khi người Maori đến. Như những con thú ngờ nghệch trên đảo Galápagos ngày nay(76), những con moa có thể bị thuần phục dễ dàng đến nỗi những người thợ săn có thể tiến lại gần và dùng gậy đánh chúng. Không như sơn dương, những con moa có lẽ có tỷ lệ sinh nở thấp đến mức mà khi một vài người thợ săn tới một thung lũng chỉ một lần trong một vài năm cũng giết hại moa nhiều hơn số con chúng có thể sinh sản thêm. Đó chính xác là điều đang xảy ra ngày nay đối với loài thú bản địa lớn nhất còn tồn tại ở New Guinea, một loại kangaroo sống trên cây ở vùng núi Bewani hẻo lánh. Ở những vùng có con người đến sinh sống, loài kangaroo sống trên cây ăn đêm, hay xấu hổ, và do đó, khó săn hơn so với những loài moa. Bất chấp điều đó, và bất chấp cả số cư dân rất ít ỏi của loài người ở vùng núi Bewani, những ảnh hưởng tích lũy của những ngày hội đi săn đôi khi diễn ra - thường cứ vài năm lại tới vùng thung lũng một lần - cũng đủ khiến loài kangaroo này đi tới bờ tuyệt chủng. Chứng kiến những gì xảy ra với kangaroo sống trên cây, giờ đây tôi không quá khó khăn để hiểu được điều gì đã xảy ra với những loài moa.
Không chỉ có loài moa mà tất cả những loài chim đã bị tuyệt chủng khác ở New Zealand đều còn sống khi người Maori đặt chân lên đất liền. Hầu hết chúng biến mất sau đó vài thế kỷ. Những con lớn hơn - như thiên nga và bồ nông, những con ngỗng và sâm cầm không biết bay chắc chắn đã bị săn bắt để lấy thịt. Tuy nhiên, loài đại bàng khổng lồ, thì lại bị người Maori giết nhằm mục đích tự vệ. Bạn có nghĩ tới điều gì đã xảy ra khi con đại bàng đó, chuyên đi tấn công và giết hại những con mồi di chuyển bằng hai chân cao từ một đến bốn mét trông thấy những người Maori đầu tiên, chỉ cao 1,80 m? Thậm chí ngày nay, những con đại bàng Manchurian được huấn luyện để săn mồi cũng thỉnh thoảng giết chính những người huấn luyện chúng, nhưng những con chim đại bàng Manchurian đó chỉ là loài nhỏ bé so với những loài chim khổng lồ của New Zealand, vốn đã được thích nghi từ trước đó để trở thành kẻ giết người.
Cho dù là vậy thì chắc chắn rằng, việc tự vệ hay săn bắn để lấy thức ăn không giải thích được sự biến mất nhanh chóng của những loài dế khác thường, ốc sên, chim hồng tước và loài dơi của New Zealand. Tại sao có quá nhiều những sinh vật như thế, hoặc là toàn bộ những phân nhóm của chúng hay ở mọi nơi khác ngoại trừ trên một vài hòn đảo xa đất liền đã bị tuyệt chủng? Việc tàn phá rừng có lẽ là một phần của câu trả lời, nhưng lý do chủ yếu là do những loài săn mồi khác mà người Moari đã vô tình hay cố ý mang theo cùng với họ ví dụ như loài chuột! Cũng như việc loài moa tiến hóa khi không có mặt của con người, đã hoàn toàn không có sự tự vệ nào đối với con người, những con thú nhỏ sống trên đảo kia trải qua quá trình tiến hóa mà không có loài chuột nên không có gì bảo vệ để chống lại loài chuột. Chúng ta đều biết rằng loài chuột được phát tán bởi người châu Âu, những người đã đóng vai trò quan trọng trong sự tuyệt diệt gần đây của rất nhiều loài chim trên đảo Hawaii và những hòn đảo khác thuộc đại dương vốn chưa từng có chuột. Chẳng hạn như, khi loài chuột cuối cùng cũng đã tới được hòn đảo Big South Cape thuộc New Zealand vào năm 1962, chỉ trong vòng ba năm chúng hủy diệt hay tàn sát những quần thể của tám loài chim và một loài dơi. Đó là lý do tại sao có quá nhiều loài ở New Zealand hiện nay đã chỉ tập trung trên những hòn đảo chưa bị chuột xâm chiếm tới, nơi duy nhất chúng còn có thể tồn tại khi lũ chuột cùng với người Maori tràn qua những vùng đất chính của New Zealand.
Như vậy, khi người Maori đặt chân lên hòn đảo, họ đã tìm thấy ở New Zealand một khu vực sinh sống còn nguyên vẹn của những loài lạ lùng đến nỗi mà chúng ta có lẽ sẽ nhầm tưởng chúng như những tưởng tượng khoa học hoang đường nếu chúng ta không có trong tay những mẫu xương hóa thạch để khẳng định sự tồn tại của chúng trước đây. Hình ảnh này gần giống với những gì mà chúng ta có thể sẽ trông thấy nếu chúng ta đặt chân tới một hành tinh màu mỡ khác nơi có sự sống tồn tại. Chỉ trong một thời gian ngắn, rất nhiều loài trong cộng đồng đó đã sụp đổ trong sự tàn sát khủng khiếp về mặt sinh học, và những loài còn tồn tại trong cộng đồng ấy cũng đã suy sụp trong cuộc tàn sát thứ hai sau sự xâm chiếm của người châu Âu. Kết quả cuối cùng là New Zealand ngày nay chỉ còn lại khoảng một nửa loài chim đã từng chào đón sự xuất hiện của người Maori, và rất nhiều loài còn sống sót ấy giờ đây cũng đang đứng bên bờ vực của sự tuyệt chủng hoặc thu hẹp trên một số đảo mà chỉ có một ít loài thú được đưa tới. Việc săn bắn trong một vài thế kỷ đã gây nên sự kết thúc cho hàng triệu năm tồn tại trong lịch sử của loài moa.
Không chỉ ở New Zealand mà còn trên tất cả những hòn đảo xa xôi khác thuộc Thái Bình Dương nơi những nhà khảo cổ học nghiên cứu gần đây, xương của rất nhiều loài chim hiện đã tuyệt chủng được tìm thấy ở những địa điểm có con người đầu tiên đến cư trú, cũng chứng minh cho mối liên quan ở một mức độ nào đó giữa sự tuyệt chủng của các loài chim và những cuộc thuộc địa hóa của con người. Từ tất cả những hòn đảo chính thuộc quần đảo Hawaii, hai nhà cổ sinh vật học Storrs Olson và Helen James thuộc Viện nghiên cứu Smithson đã nhận dạng những mẫu hóa thạch của các loài chim vốn đã biến mất trong suốt quá trình định cư của người Polynesia bắt đầu từ năm 500. Những hóa thạch này bao gồm không chỉ là những loài vật biết bò hút mật nhỏ bé có mối quan hệ với những loài còn tồn tại ngày nay mà còn có cả loài ngỗng và cò quăm kỳ dị không bay được hiện không có bất cứ họ hàng thân thuộc nào của chúng còn tồn tại. Trong khi Hawaii quá nổi tiếng với sự tuyệt chủng của những loài chim trên đảo diễn ra sau khi người châu Âu xâm chiếm đảo, thì một làn sóng tuyệt chủng sớm hơn đã không được biết đến cho tới khi Olson và James bắt đầu công bố những phát hiện của họ vào năm 1982. Những cuộc tuyệt chủng được biết đến của các loài chim trên quần đảo Hawaii trước khi Thuyền trưởng Cook tới giờ đây tổng cộng lại là một con số khó tưởng tượng nổi với ít nhất là 50 loài, gần một phần mười số lượng những loài chim sinh sản được trên lục địa Bắc Mỹ.
Điều đó không nói lên rằng tất cả những con chim Hawaii này đã bị săn bắt cho tới mức tuyệt chủng. Mặc dù những con ngỗng có lẽ thực sự đã bị tuyệt chủng vì nạn săn bắt quá mức, thì giống với loài moa, những loài chim nhỏ có lẽ đã bị tiêu diệt bởi những con chuột tới cùng với cư dân Hawaii đầu tiên, hay theo cách khác là do sự phá hủy những khu rừng mà người Hawaii đã chặt hạ để làm đất nông nghiệp. Những phát hiện tương tự về các loài chim bị tuyệt chủng ở những địa điểm khai quật khảo cổ của người Polynesia đầu tiên cũng đã được tìm thấy trên những hòn đảo như Tahiti, Fiji, Tonga, New Caledonia và các quần đảo như Marquesa, Chatham, Cook, Solomon và quần đảo Bismarck.
Một cuộc xung đột đặc biệt hấp dẫn giữa loài chim và người Polynesia đã diễn ra trên đảo Henderson, một dải đất nhỏ cực kỳ xa xôi thuộc vùng biển nhiệt đới Thái Bình Dương, cách đảo Pitcaim khoảng 125 dặm về phía đông, vốn đã nổi tiếng vì sự biệt lập của nó. (Hãy nhớ lại rằng, đảo Pitcairn xa xôi tới mức mà những người nổi loạn chiếm lấy con tàu HMS Bounty của Thuyền trưởng Bligh đã sống trên đảo mà không hề bị phát hiện ra trong suốt 18 năm trời cho tới khi hòn đảo được tái phát hiện.) Đảo Henderson có những rặng san hô rậm rạp đầy bí ẩn với những khe nứt và hoàn toàn không thích hợp cho việc trồng trọt. Một cách tự nhiên, hòn đảo bây giờ bị bỏ hoang và vẫn nguyên sơ như lúc những người châu Âu lần đầu tiên phát hiện ra nó vào năm 1606. Henderson thường được cho là một trong những môi trường sống nguyên thủy nhất, hầu như không chịu ảnh hưởng bởi con người.
Vì vậy, thật ngạc nhiên khi Olson và người trợ thủ của ông, nhà cổ sinh vật học David Steadman gần đây đã nhận dạng được xương của hai loài bồ câu lớn, một loài bồ câu khác nhỏ hơn và ba loài chim biển đã biến mất trên đảo Henderson vào khoảng thời gian cách đây từ 500 tới 800 năm. Sáu loài giống hệt như vậy hay những họ hàng gần của chúng cũng đã được tìm thấy ở các địa điểm khai quật khảo cổ trên một vài hòn đảo có người Polynesia sinh sống, nơi mà rõ ràng chúng đã bị hủy diệt bởi con người. Mâu thuẫn hiển nhiên trong việc những loài chim đã bị tuyệt chủng ở nơi không hề có con người sinh sống hay dường như không thể có người sinh sống như trên đảo Henderson đã được trả lời bằng sự phát hiện ra ở đó địa điểm cư ngụ của những người Polynesia trước đây với hàng trăm đồ tạo tác, chứng minh rằng hòn đảo này thực sự từng là nơi có người Polynesia sinh sống trong một vài thế kỷ. Ở cùng địa điểm giống như thế, cùng với những mẫu xương của sáu loài chim đã bị hủy diệt như trên đảo Henderson, còn có xương của những loài chim khác đã sống sót và rất nhiều loài cá.
Như vậy, người Polynesia đầu tiên đi xâm chiếm đảo Henderson hiển nhiên là đã tồn tại chủ yếu dựa vào những con chim bồ câu, chim biển và cá cho tới khi họ tàn sát những quần thể loài chim tới mức hủy diệt hết nguồn thức ăn cung cấp, và hoặc là chết vì đói hoặc là đã bỏ chạy khỏi hòn đảo này. Biển Thái Bình Dương chứa đựng ít nhất là 11 hòn đảo “bí ẩn” như thế ngoài đảo Henderson, những hòn đảo tưởng như không bị người châu Âu sinh sống khi họ phát hiện ra các bằng chứng khảo cổ học cho thấy đã có sự thống trị trước đó của người Polynesia. Một vài hòn đảo trong số những hòn đảo này đã được định cư từ hàng trăm năm về trước khi những cư dân trên đảo cuối cùng đã chết hoặc bỏ đi. Tất cả chúng đều nhỏ và theo một khía cạnh khác là hoàn toàn không thích hợp cho việc trồng trọt, khiến cho những cư dân sinh sống ở đó phải phụ thuộc rất lớn vào chim hay những con thú làm thức ăn khác. Việc nêu ra bằng chứng phổ biến về sự khai thác quá mức các loài động vật hoang dã này bởi những người Polynesia đầu tiên, không chỉ trên đảo Henderson mà cả những hòn đảo bí ẩn khác nữa có thể là điển hình cho những nghĩa địa của các nhóm cư dân đã hủy diệt nguồn tài nguyên của chính họ.
ít nhất, tôi cũng có ấn tượng rằng người Polynesia theo một cách nào đó như là những người hủy diệt thời kỳ tiền công nghiệp độc nhất, giờ thì chúng ta hãy cùng vượt qua gần một nửa quả địa cầu để tới hòn đảo lớn thứ tư trên thế giới, đảo Madagasca, nằm ở Ấn Độ Dương, ngoài bờ biển châu Phi. Khi những người thám hiểm Bổ Đào Nha đến đây vào khoảng năm 1500, họ nhận thấy Madagasca đã bị những người mà ngày nay gọi là người Malagasy thống trị trước đó. Dựa vào khoảng cách địa lý, bạn có thể nghĩ rằng ngôn ngữ của những người này có quan hệ với ngôn ngữ của người châu Phi chỉ ở cách đó khoảng 320 km về phía Tây, trên bờ biển của Mozambique. Ngạc nhiên thay, người ta thực ra đã chứng minh rằng nó thuộc về một nhóm ngôn ngữ được sử dụng trên hòn đảo Borneo của Indonesia, nằm về phía đối diện của Ấn Độ Dương, cách đó hàng nghìn kilomet về phía Đông bắc. Theo quy luật tự nhiên, diện mạo bên ngoài của người Malagasy thay đổi từ người Indonesia tới người da đen điển hình ở Đông Phi. Những nghịch lý này là do người Malagasy đã tới đây từ khoảng 1.000 đến 2.000 năm trước, kết quả của những chiếc thuyền buôn người Indonesia đi khắp các bờ biển thuộc Ấn Độ Dương đến Ấn Độ và cuối cùng là đến Đông Phi. Ở đảo Madagasca, họ tiến hành xây dựng một xã hội dựa vào việc chăn nuôi gia súc, dê và lợn, trồng trọt và đánh cá, kết nối với vùng bờ biển Đông Phi nhờ những thương gia người Hồi giáo.
Cũng thú vị như những con người ở Madagasca là những động vật hoang dã sống ở đó và cả những loài không có ở đó. Sống trong sự thừa mứa trong lục địa châu Phi gần kề đó là nhiều loài thú lớn và dễ phát hiện ra chạy trên mặt đất và thường hoạt động vào ban ngày - loài sơn dương, đà điểu, ngựa vằn, khi đầu chó và sư tử thu hút du khách hiện đại tới Đông Phi. Không một loài nào trong số những loài kể trên, và không có loài động vật nào gần giống với chúng được tìm thấy trên hòn đảo Madagasca ngày nay. Chúng đã bị ngăn lại bởi khoảng cách trên 300 km từ bờ biển châu Phi cho tới Madagasca, cũng giống như việc biển khơi đã khiến cho các loài thú có túi nhỏ của Australia không thể tới được New Zealand. Thay vào đó, ở Madagasca chỉ tồn tại khoảng trên hai chục loài linh trưởng nhỏ, giống với khi được gọi là vượn cáo - lemur, có cân nặng chỉ khoảng 9 kg và hầu như chỉ hoạt động vào ban đêm và sống trên cây. Rất nhiều các loài thuộc bộ gặm nhấm, dơi, hay các loài ăn sâu bọ, và họ hàng của loài cầy mangút cũng cư ngụ ở đây, nhưng con lớn nhất cũng chỉ nặng có khoảng 11 kg.
Tuy nhiên, những bãi biển đầy rác rưởi ở Madagasca là bằng chứng cho sự biến mất của những loài chim khổng lồ, với vô số vỏ trứng có kích cỡ bằng quả bóng đá. Hiển nhiên là, những mẫu xương được tìm thấy không chỉ của loài chim đẻ ra những quả trứng đó mà còn của một dạng đặc biệt của các loài thú lớn và bò sát. Những loài đẻ ra các quả trứng đó gồm có sáu loài là loài chim không biết bay, cao tới gần 3,5 m và nặng tới 450 kg, giống với loài moa và đà điểu nhưng còn to hơn vì thế, hiện nay, còn được gọi là những con chim voi. Về bò sát thì gồm có hai loài rùa đất khổng lồ với những chiếc mai dài gần một mét, vốn rất phổ biến trước đây, và điều này được thể hiện qua sự dư thừa những bộ xương của chúng. Còn phân hóa nhiều hơn cả những loài chim lớn hay những loài bò sát kể trên là hơn một chục các loài vượn cáo có thể đạt tới kích cỡ của một con gorilla, tất cả đều lớn hơn hay ít nhất cũng bằng những loài vượn cáo đang tồn tại. Qua việc đánh giá kích thước nhỏ của hốc mắt trong hộp sọ của chúng, thì tất cả hay hầu hết những loài vượn cáo đã tuyệt chủng có lẽ thường hoạt động vào ban ngày nhiều hơn là về đêm. Một vài loài trong số chúng rõ ràng đã sống trên mặt đất như những loài khỉ đầu chó, trong khi những con khác thì sống trên cây như những loài đười ươi và gấu túi.
Như thể tất cả những điều này vẫn là chưa đủ, Madagasca còn tạo ra những mảnh xương của những con hà mã “lùn” đã tuyệt chủng (chỉ to bằng một con bò), lợn đất và một loài ăn thịt lớn có quan hệ gần gũi với loài cầy mangut, mà cơ thể giống với loài báo sư tử chân ngắn. Cùng với nhau, những động vật lớn đã tuyệt chủng này trước đây đã mang lại cho Madagasca chức năng giống như những loài thú lớn vẫn còn tồn tại để du khách tràn tới các công viên châu Phi - giống như loài moa và các loài chim lạ khác ở New Zealand đã làm được. Những con rùa, chim voi và hà mã nhỏ là những động vật ăn cỏ thay thế cho sơn dương và ngựa vằn; còn vượn cáo sẽ thay thế khỉ đầu chó và động vật nhân hình lớn; cầy mangut ăn thịt thay cho loài báo hay loài sư tử mà số lượng đang giảm sút.
Điều gì đã xảy ra với tất cả những loài thú to lớn, bò sát và chim đã tuyệt chủng này? Chúng ta có thể chắc chắn rằng ít nhất một vài trong số chúng vẫn còn sống để biểu lộ ánh mắt mừng vui chào đón sự xuất hiện của những người Malagasy đầu tiên, những người đã lấy trứng chim voi làm thùng chứa nước và vứt bỏ xương của loài hà mã nhỏ và một vài loài khác vào đống rác của họ. Thêm vào đó, xương của những loài tuyệt chủng khác được biết tới ngày nay qua những vị trí khảo cổ chỉ mới có cách đây khoảng vài nghìn năm. Do việc những loài này chắc hẳn đã tiến hóa và tồn tại suốt hàng triệu năm cho tới thời điểm mà, không chắc chắn là tất cả những loài thú này nhìn thấy trước được khả năng bị tiêu diệt chỉ trong một vài khoảnh khắc cuối cùng trước khi những con người dang đói khát kia tràn tới. Trên thực tế, một vài loài vẫn còn được nhìn thấy ở những phần đất xa xôi của Madagasca khi người châu Âu tới, bởi vào thế kỷ XVII, thống lĩnh quân đội Pháp, ngài Flacourt đã miêu tả một loài thú mà rất có thể là loài vượn cáo - có kích cỡ của một con gorilla. Những con chim voi có thể đã sống sót đủ lâu để được những thương nhân Arab ở Ấn Độ Dương biết tới, và phát triển thành loài chim khổng lồ trong truyền thuyết về chàng thủy thủ Sinbad.
Chắc chắn là một vài hay có lẽ tất cả những động vật khổng lồ đã bị biến mất ở Mandagasca theo một cách nào đó, đã bị sát hại bởi hoạt động của những người Malagasy thuở sơ khai. Không có gì là khó hiểu về lý do loài chim voi đã trở nên tuyệt chủng khi mà trứng của chúng có thể làm thành những thùng đựng chứa được trên 10 lít nước rất tiện lợi. Trong khi những người Malagasy là những người sống dựa vào chăn nuôi và đánh bắt cá hơn là những thợ đi săn những loại thú lớn, những con thú lớn khác có thể cũng dễ dàng trở thành con mồi giống như loài moa ở New Zealand, bởi vì chúng chưa từng nhìn thấy người trước đây. Có thể đoán được tại sao những con vượn cáo lớn dễ dàng bị phát hiện và dễ bị tóm đó đủ lớn để bị tàn sát - những loài lớn, hoạt động ban ngày và sống trên mặt đất đều bị tuyệt chủng, trong khi tất cả những loài thú nhỏ, sống về đêm và ở trên cây thì vẫn còn sống sót. Tuy nhiên, tác động không mong muốn của những người Malagasy vô tình có thể khiến nhiều loài động vật bị giết chết hơn là bị săn bắn. Việc làm cháy sạch những cánh rừng để lấy đồng cỏ và kích thích sự phát triển của nhiều loại cỏ mới hằng năm đã phá hủy môi trường sinh sống của các loài thú lớn. Gia súc ăn cỏ và những loài dê cũng đã làm biến đổi môi trường, cũng như cạnh tranh trực tiếp về thức ăn với những loài rùa ăn cỏ và chim voi. Những con chó và con lợn được mang đến cũng đe dọa các động vật sống trên mặt đất, lũ con non và trứng của chúng. Cùng thời gian người Bồ Đào Nha đến, những con chim voi một thời đông đúc ở Madagascar, tất cả, đều đã giảm xuống chỉ còn lại là cái vỏ trứng trôi nổi trên bờ biển, những bộ xương vương vãi trên mặt đất và ký ức còn lại về những con chim khổng lồ.
Người Madagasca và người Polynesia chỉ đơn thuần mang đến những ví dụ với đầy đủ dẫn chứng về những làn sóng tuyệt chủng có lẽ đã diễn ra trên tất cả các hòn đảo lớn ngoài đại dương được con người thống trị từ trước khi có sự mở rộng xâm lấn của người châu Âu cách đây khoảng 500 năm. Tất cả những hòn đảo như vậy, nơi mà sự sống tiến hóa vắng mặt con người đã từng có những loài thú lớn độc nhất mà những nhà động vật học hiện đại không bao giờ nhìn thấy còn sống sót nữa. Những hòn đảo thuộc Địa Trung Hải như đảo Crete và Cyprus đã có những con hà mã nhỏ và rùa khổng lồ (giống như ở Madagasca), cũng như loài voi lùn và loài dê lùn. Miền Tây Ấn đã mất những con khỉ, con lười trên mặt đất, một loài gặm nhấm to cỡ gấu và những loài cú đủ các cỡ: bình thường, lớn, khổng lồ và lớn phi thường. Dường như những con chim, thú và rùa lớn này cũng đều bằng cách này hay cách khác không chống đỡ nổi với các cư dân Địa Trung Hải đầu tiên hay những thổ dân da đỏ tới đây. Không chỉ loài chim, thú và rùa cạn là những nạn nhân duy nhất: thằn lằn, ếch, ốc sên, và thậm chí cả những loài côn trùng lớn cũng không còn xuất hiện nữa, tổng cộng có hàng nghìn loài khác nhau như thế khi chúng ta cộng lại trên tất cả những hòn đảo ngoài đại dương. Olson miêu tả sự tuyệt chủng ở ngoài những hòn đảo này là: “một trong số những thảm họa sinh học nhanh chóng nhất và cũng sâu sắc nhất trong lịch sử thế giới”. Tuy nhiên, chúng ta sẽ không thể chắc chắn rằng con người có phải chịu trách nhiệm hoàn toàn cho tới khi xương của những động vật cuối cùng và những thứ còn lại của những con người thuở sơ khai đó được xác định niên đại một cách chính xác hơn trên những hòn đảo khác, như những gì đã diễn ra đối với người Polynesia và Madagasca.
Bên cạnh làn sóng hủy diệt thời kỳ tiền công nghiệp trên những hòn đảo, những loài sinh vật khác còn là nạn nhân của những làn sóng hủy diệt trên những lục địa trong quá khứ xa xôi hơn nữa. Khoảng 11.000 năm trước đây, vào khoảng thời gian mà tổ tiên đầu tiên của những thổ dân da đỏ đặt chân lên Tân Thế giới, hầu hết những loài thú lớn đã bị tuyệt chủng trải dài suốt toàn bộ lục địa Bắc Mỹ và Nam Mỹ. Cuộc tranh cãi lâu dài diễn ra thật khốc liệt để xem liệu những con thú lớn này đã bị giết bởi những người thợ săn da đỏ hay do chúng không thích ứng được với những thay đổi khí hậu diễn ra trong cùng thời gian đó. Tôi sẽ giải thích ở chương sau tại sao cá nhân tôi lại nghĩ là chính những người thợ săn đã gây ra điều đó. Tuy nhiên, việc xác định ngày tháng và nguyên nhân của những sự kiện đã xảy ra 11.000 năm trước đây khó hơn rất nhiều so với việc xác định những sự kiện gần đây, ví dụ như cuộc xung đột giữa người Maori và loài moa chỉ trong khoảng 1.000 năm trở lại đây. Tương tự như vậy, khoảng 50.000 năm trước, nước Australia đã bị thống trị bởi tổ tiên của những người thổ dân Australia ngày nay và đã mất đi hầu hết những loài thú lớn. Những loài thú này đã bao gồm kangaroo khổng lồ, loài “sư tử có túi” và “tê giác có túi” (được cho là diprotodont), cùng với những con thằn lằn khổng lồ, rắn, cá sấu và những loài chim. Tuy nhiên, chúng ta vẫn không biết liệu có phải việc di cư đến Australia của con người bằng cách nào đó đã gây ra sự biến mất những loài động vật khổng lồ của châu Úc. Cho dù, giờ đây có một sự chắc chắn khá hợp lý khi cho rằng những người đầu tiên thuộc thời kỳ tiền công nghiệp tiến đến các đảo đã gây nên sự sát hại các loài sinh vật sống trên đảo, thì sự phán xét vẫn còn đặt ra câu hỏi liệu điều này có xảy ra cả ở những lục địa hay không.
Từ tất cả những bằng chứng rằng thời kỳ Kỷ nguyên Vàng đã bị làm nhơ bẩn bởi việc tiêu diệt các loài sinh vật, bây giờ chúng ta chuyển sang những bằng chứng về sự phá hủy môi trường sống. Ba ví dụ sâu sắc có liên quan tới những vấn đề nổi tiếng nhưng khó giải đáp của ngành khảo cổ: Những bức tượng đá khổng lồ ở đảo Phục Sinh, những thị trấn trù phú ở vùng Nam Mỹ và những tàn tích còn sót lại của Petra.
Một điều bí ẩn thoáng qua vẫn tồn tại ở đảo Phục Sinh kể từ khi hòn đảo này và cư dân người Polynesia sống trên đảo được nhà thám hiểm người Hà Lan Jakob Roggeveen phát hiện ra vào năm 1722. Nằm trên vùng biển Thái Bình Dương cách Chile 3.600 km về phía Tây, đảo Phục Sinh thậm chí còn vượt qua cả đảo Henderson để trở thành một trong những mảnh đất biệt lập nhất của thế giới. Hàng trăm bức tượng, nặng tới 85 tấn và cao tới 12 m, được chạm khắc từ mỏ đá núi lửa, đã được con người vận chuyển xa tới vài kilomet, và dựng thẳng đứng vuông góc với những chiếc bục, điều này được những con người không hề có kim loại hay bánh xe và không có nguồn năng lượng nào khác ngoài cơ bắp thực hiện. Thậm chí tàn tích của nhiều bức tượng chưa được hoàn thành còn trong những mỏ đá, hay đã hoàn tất nhưng bị kẹt lại giữa khu mỏ đá và những chiếc bục. Quang cảnh ngày hôm nay như thể là những người thợ chạm khắc và những người di chuyển đột nhiên từ bỏ công việc và để lại một vùng đất yên lặng kỳ quái.
Khi Roggeveen đến, rất nhiều bức tượng đá vẫn còn nằm đây, mặc dù những bức tượng mới đã không được làm thêm nữa. Trước năm 1840, tất cả những bức tượng có dáng đứng thẳng đó đã bị đổ xuống một cách có tính toán bởi chính những người dân sống trên đảo Phục Sinh. Vậy làm thế nào mà những bức tượng khổng lồ đến thế đã được vận chuyển và chạm khắc, tại sao cuối cùng chúng đã bị kéo đổ xuống, và tại sao công việc chạm khắc này bị ngừng lại?
Câu hỏi đầu tiên trong số đó đã được trả lời khi những người dân hiện sống trên đảo chỉ cho Thor Heyerdahl cách thức mà tổ tiên của họ đã sử dụng những khúc gỗ tròn như những con lăn để chuyển các pho tượng và sau đó thành đòn bẩy để dựng chúng lên. Những câu hỏi khác cũng đã được trả lời bằng những nghiên cứu cổ sinh vật học và khảo cổ học sau đó, đã khám phá ra lịch sử khủng khiếp của đảo Phục Sinh. Khi những người Polynesia đặt chân lên đảo Phục Sinh vào khoảng năm 400, hòn đảo đã được bao phủ bởi khu rừng mà họ dần dần đã đốn sạch, để trồng trọt và sử dụng những khúc gỗ tròn làm xuồng nâng những bức tượng. Đến trước năm 1500, số dân trên đảo đã lên tới khoảng 7.000 (tức là 150 người trên 2,5 km2), và khoảng 1.000 bức tượng đã được chạm khắc, ít nhất 324 bức trong số đó đã được dựng lên. Nhưng những khu rừng đã bị phá hủy đến mức không còn một cây nào sống sót.
Một kết quả ngay tức khắc của sự hủy hoại hệ sinh thái mà họ tự gây ra là những thổ dân không còn một khúc gỗ nào để vận chuyển và chạm khắc tượng đá nữa, vì thế công việc đã bị ngừng lại. Nhưng sự phá rừng cũng mang lại hai hậu quả gián tiếp dẫn tới nạn đói: đó là, sự xói mòn đất, mùa màng thất bát, cộng với việc thiếu gỗ để làm thuyền nhỏ, và rồi thu được ít cá hơn. Kết quả là, dân số trên đảo giờ đây đã lớn hơn những gì đất đai có thể cung cấp, và xã hội trên đảo sụp đổ trong sự hủy diệt khủng khiếp của những cuộc nội chiến và tục ăn thịt người. Một tầng lớp chiến binh đã tiếp quản, một lượng lớn giáo xiên đã được tạo ra trở thành đống rác thải trên đảo; bên thua trận sẽ bị ăn thịt hoặc trở thành nô lệ; những thị tộc đối thủ đã đẩy ngã những bức tượng của bên kia xuống; và con người sống trong những hang động để tự bảo vệ. Điều gì đã khiến cho một hòn đảo đã từng rất sung túc, để lại cho thế giới một trong những nền văn minh đáng chú ý nhất đã bị suy tàn thành hòn đảo Phục Sinh ngày nay: chỉ còn lại dải đất cỏ cằn cỗi với những bức tượng ngã đổ, và chỉ nuôi sống đủ cho ít hơn một phần ba so với dân số trước đây của nó.
Trường hợp nghiên cứu thứ hai của chúng ta về việc phá hủy môi trường sống thời kỳ tiền công nghiệp chính là sự sụp đổ của một trong những nền văn minh tiến bộ nhất của thổ dân da đỏ ở Bắc Mỹ. Khi những người thám hiểm Tây Ban Nha đặt chân tới miền Tây Nam châu Mỹ, họ phát hiện ra những ngôi nhà nhiều tầng khổng lồ không hề có người vẫn tồn tại ở đó, nằm giữa sa mạc không cây cối. Ví dụ như, ngôi nhà 650 phòng ở khu tưởng niệm quốc gia Chaco Canyon, vùng New Mexico cao tới 5 tầng, dài 233 m, và rộng 105 m2, là tòa nhà lớn nhất được dựng lên ở Bắc Mỹ và vẫn đứng cao hơn cả những tòa nhà chọc trời khung thép được xây dựng hồi cuối thế kỷ XIX. Những người da đỏ Navajo ở vùng này gọi những người thợ xây dựng đã biến mất này là người “Anasazi”, có nghĩa là “những người cổ đại”.
Những nhà khảo cổ học sau đó đã nêu lên rằng việc xây dựng những ngôi nhà như Chaco bắt đầu khoảng năm 900, và việc định cư ở đó đã bị ngừng lại vào thế kỷ XII. Tại sao những người Anazasi dựng lên một thành phố ở một khu vực đất đai dư thừa và rất cằn cỗi này? Họ đã lấy ở đâu củi và những cây xà dài tới 5,5 m làm mái nhà (mà có tới 200.000 cây như thế!)? Tại sao sau đó họ lại từ bỏ cái thành phố mà họ đã mất bao nhiêu công sức xây dựng?
Quan điểm truyền thống giống như việc cho rằng những con chim voi ở Madagasca và loài moa ở New Zealand đã bị chết vì những thay đổi tự nhiên về khí hậu, cũng cho rằng sự từ bỏ khu nhà Chaco Canyoy là do hạn hán. Tuy nhiên, một cách giải thích khác đã xuất hiện từ nghiên cứu cổ thực vật học của Julio Betancourt, Thomas Van Devender và những cộng sự của họ, những người đã sử dụng kỹ thuật tài tình để giải mã những thay đổi của thảm thực vật ở Chaco theo thời gian. Phương pháp của họ phụ thuộc vào loài gặm nhấm nhỏ được gọi là loài chuột sống theo bầy, thu nhặt những cây cỏ và những thứ vật liệu khác về chỗ chúng trú ẩn (được gọi là những đống phân) mà cuối cùng chúng cũng đã từ bỏ sau khoảng từ 50 tới 100 năm nhưng vẫn được bảo quản trong tình trạng tốt dưới những điều kiện ở sa mạc. Những cây này có thể được nhận dạng vài thế kỷ sau đó, và đống phân có thể được xác định niên đại bằng kỹ thuật carbon phóng xạ. Vì vậy, mỗi đống phân gần như một vỏ bao bọc qua thời gian của những loài thực vật địa phương.
Bằng phương pháp này, Betancourt và Van Devender có thể tái tạo một loạt những sự kiện tiếp sau. Tại thời điểm những ngôi nhà Chaco được dựng lên, chúng không bị bao quanh bởi sa mạc khô cằn mà là rừng cây thông-bách xù(77) và những rừng thông lấy gỗ ngay gần kề. Phát hiện này một lần nữa giải thích bí mật về việc người ta đã lấy củi và gỗ xây dựng ở đâu, và loại bỏ đi nghịch lý hiển nhiên là một nền văn minh tiến bộ lại xuất hiện từ một vùng sa mạc khô cằn. Tuy nhiên, khi mà sự sống vẫn còn tiếp diễn ở Chaco thì những khu đất trồng cây và những cánh rừng đã bị đốn sạch cho tới khi môi trường trở thành một vùng đất bỏ hoang không còn chút cây cối nào như nó đang tồn tại ngày nay. Những thổ dân sau đó đã phải đi tới 16 km để lấy gỗ và hơn 40 km để đốn được những cây gỗ thông. Khi rừng gỗ thông đã bị chặt hết, họ đã xây dựng một hệ thống đường tinh vi để vận chuyển gỗ vân sam và những cây gỗ thông sam từ những các dốc núi cách đó trên 60 km bằng sức người. Thêm vào đó, những người Anasazi cổ đại đã phải giải quyết vấn đề nông nghiệp ở môi trường khô cằn bằng việc xây dựng những hệ thống tưới tiêu để tập trung nguồn nước quý giá vào những hố sâu ở vùng trũng. Khi việc phá rừng là nguyên nhân của sự gia tăng ngày một nhanh của việc xói mòn và cạn kiệt nguồn nước, và mực nước ở những kênh tưới cuối cùng xuống thấp hơn những cánh đồng ở Anazasi, làm cho việc tưới tiêu mà không có bơm hút trở nên không thể tiến hành. Vì vậy, trong khi hạn hán có lẽ chỉ đóng góp chút ít vào việc ra đi của người Anazasi ở Chaco Canyon thì thảm họa sinh thái học cho những con người này gây ra mới là nhân tố chính.
Ví dụ còn lại của chúng ta minh họa cho sự phá hủy môi trường sống ở thời kỳ tiền công nghiệp đã làm chuyển biến dần dần sự biến đổi địa lý ở trung tâm quyền lực của nền văn minh cổ đại phương Tây. Xin nhớ rằng trung tâm quyền lực đầu tiên và tiên phong là vùng Trung Đông, nơi có rất nhiều phát triển quan trọng như là nông nghiệp, thuần hóa gia súc, chữ viết, một loạt những đế chế đấu trường đua xe ngựa và những điều khác nữa. Uy quyền này được chuyển từ người Assyria, Babylon, Ba Tư, và đôi khi là người Ai Cập hay Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng vẫn duy trì ở bên trong hay gần khu vực Trung Đông. Với việc Alexander Đại đế đánh bại hoàn toàn Đế chế Ba Tư, uy thế này cuối cùng đã chuyển hướng sang phương Tây, đầu tiên là Hy Lạp, sau đó tới La Mã và tiếp nữa là tới vùng Tây và Bắc của châu Âu. Tại sao vùng Trung Đông, Hy Lạp và La Mã lại lần lượt mất đi quyền lực của nó? (Sự quan trọng tạm thời của vùng Trung Đông hiện nay, chỉ do nguồn tài nguyên duy nhất còn lại là dầu hỏa và điều này chỉ đơn thuần nhấn mạnh thêm những yếu kém hiện tại của khu vực này trong những lĩnh vực khác). Tại sao những siêu cường quốc trong thời hiện đại lại bao gồm những nước như Mỹ, Liên Xô cũ, Đức, Anh, Nhật và Trung Quốc, chứ không còn là Hy Lạp hay Ba Tư nữa?
Việc chuyển đổi quyền lực về mặt địa lý này là quá lớn và kéo dài một dạng thức đã xuất hiện một cách tình cờ. Một giả thuyết đáng tin cậy đóng góp cho mỗi trung tâm của nền văn minh cổ đại, mà cũng vì thế phá hủy nguồn tài nguyên cơ bản của nó. Vùng Trung Đông và Địa Trung Hải không phải luôn chỉ là những vùng đất suy kiệt mà chúng ta nhìn thấy ngày nay. Trong thời cổ đại, phần lớn những vùng này vẫn còn đầy những quả đồi tươi tốt và thung lũng trù phú. Hàng ngàn năm liền chịu đựng việc phá rừng, tiêu thụ cây cỏ quá mức, xói mòn đất và việc đọng bùn trong những thung lũng đã biến trái tim của nền văn minh phương Tây thành mảnh đất tương đối khô, cằn cỗi, ngày nay. Những nghiên cứu khảo cổ học về người Hy Lạp cổ đại đã khám phá ra một vài chu trình tăng trưởng dân số, sau đó được thay thế bằng việc tụt giảm dân số và sự rời đi của người dân địa phương. Trong giai đoạn tăng trưởng, nền đất cao và những cái đập ban đầu đã bảo vệ mảnh đất này cho tới khi những rừng cây bị đốn hết, phát quang những dốc đứng để trồng trọt, sự tiêu thụ quá mức các loại thực vật bởi có quá nhiều loại gia súc được nuôi, và việc trồng trọt có những khoảng nghi quá ngắn lấn át quá mức toàn bộ hệ thống. Kết quả mỗi lần như vậy là sự xói mòn khủng khiếp hàng loạt quả đồi, gây lũ lụt cho những vùng thung lũng và sự sụp đổ của những cộng đồng cư dân địa phương. Một trong những sự kiện như thế đã xảy ra trùng khớp với (và có thể là nguyên nhân gây ra) một sự sụp đổ bí ẩn khác của nền văn minh Mycene huy hoàng thời Hy Lạp cổ đại, mà sau đó Hy Lạp chìm trong một thời kỳ tăm tối mù chữ nhiều thế kỷ.
Những nguồn tài liệu ủng hộ cho quan điểm về sự phá hủy môi trường cổ đại này là bản miêu tả cùng thời và các bằng chứng khảo cổ học. Nhưng một vài hình ảnh sau đó có thể bao gồm những kiểm chứng có tính quyết định hơn so với tất cả các bằng chứng cổ sinh vật kết hợp lại. Nếu chúng ta có những bằng chứng trực diện về những gì diễn ra cùng một sườn đồi của Hy Lạp trong khoảng hàng nghìn năm, chúng ta có thể xác định những cây cỏ, đo đạc được vùng đất bao phủ, và tính toán sự chuyển đổi từ rừng cây tới những loài cây bụi chỉ dành cho dê. Từ đó, chúng ta có thể đưa ra thống kê cho phạm vi của sự suy thoái môi trường.
Hãy tiến về những đống phân để một lần nữa tìm ra lời giải đáp. Trong khi vùng Trung Đông không có loài chuột sống theo bầy đàn thì nó có những con thú cỡ con thỏ, và loài vật trông giống như con macmot được gọi là loài đa man, cũng tạo nên những đống phân giống như đàn chuột đã làm. (Ngạc nhiên là, họ hàng gần nhất hiện còn tồn tại của loài đa man này lại là loài voi). Ba nhà khoa học người Arizona - Patricia Fall, Cynthia Lindquist và Steven Falconer - đã nghiên cứu những đống phân của loài đa man tại thành phố đã biến mất rất nổi tiếng của người Jordan ở Petra, thành phố điển hình cho nghịch lý của nền văn minh phương Tây cổ đại. Petra hiện giờ đặc biệt quen thuộc với những người say mê các bộ phim của đạo diễn Steven Spielberg và George Lucas, trong những tập phim Indiana Jones và cuộc thập tự chinh cuối cùng với câu chuyện về Sean Connery và Harrison Ford(78) tìm kiếm Chiếc chén Thánh thần kỳ trong những khu mộ đá lộng lẫy và những thánh đường ẩn giữa vùng cát sa mạc ở Petra. Bất kỳ ai xem những hình ảnh này về Petra sẽ tự hỏi làm thế nào một thành phố giàu có như thế có thể trở thành một vùng đất hoang vắng. Trên thực tế, có một ngôi làng Neolithic đã ở gần Petra năm 7000 trCN, và nghề nông cùng chăn nuôi đã xuất hiện ở đây từ rất sớm. Dưới thời vua Nabatean, nơi đây đã tùng là thủ đô, Petra đã từng rất thịnh vượng do là trung tâm thương mại kiểm soát việc buôn bán giữa châu Âu, Arab và phương Đông. Thành phố đã phát triển ngày một lớn hơn và giàu có hơn dưới thời Đế quốc La Mã, sau đó, do Đế quốc La Mã phương Đông kiểm soát. Nhưng rồi, thành phố đã bị bỏ lại và gần như chìm vào quên lãng rồi biến mất mà không bị ai phát hiện lại cho tới tận năm 1812. Cái gì đã là nguyên nhân cho sự sụp đổ ở Petra?
Mỗi đống phân của loài đa man ở Petra lưu giữ tới hơn một trăm loài sinh vật, và môi trường sống thịnh hành khi chủ của mỗi đống phân này còn sống có thể được xác định bằng việc so sánh những phân tử phấn hoa trong đống phân với những thứ có ở môi trường sống hiện đại. Từ những đống phân đó, con đường của sự suy thoái môi trường ở Petra đã được khôi phục lại như sau:
Petra nằm ở một khu vực có khí hậu Địa Trung Hải khô không giống như khí hậu ở những vùng rừng núi ngay sau ngôi nhà của tôi ở Los Angeles. Thảm thực vật nguyên gốc nơi đây là vùng cây cối, được thống trị bởi những cây sồi và cây hổ trăn. Trước thời đại Đế chế La Mã và Đế quốc La Mã phương Đông (Byzantine), phần lớn những loại cây này đã bị đốn ngã, và những vùng bao quanh đã bị suy thoái để trở thành những đồng cỏ lớn, được thể hiện trong thực tế là chỉ có 18% hạt phấn hoa trong các đống phân là từ các loài cây, phần còn lại là từ những cây bụi. (Trong khi đó để so sánh, ta thấy các loài cây đóng góp từ 40% đến 85% lượng phấn hoa trong những rừng cây ở vùng Địa Trung Hải hiện đại, 18% ở những vùng rừng - thảo nguyên.) Khoảng năm 900, một vài thế kỷ sau khi Đế quốc La Mã phương Đông thống trị Petra kết thúc, hai phần ba những cây còn lại đã biến mất. Thậm chí cây bụi, thảo mộc và cỏ đã giảm xuống, biến đổi môi trường thành hoang mạc như chúng ta nhìn thấy hiện nay. Những cây còn lại tới ngày nay có những nhánh thấp hơn đã bị những con dê gặm bớt và bị phân tán trên những nhánh đá có dê hay trong những lùm cây được bảo vệ khỏi những con dê.
Việc đặt những cứ liệu thu dược từ các đống phân đa man này cạnh dữ liệu cổ sinh vật học và văn học mang lại lời giải thích sau: Sự thoái hóa rừng từ Neolithic đến thời đại quân chủ đã khiến đất trồng cho nông nghiệp bị dọn sạch, cỏ của loài cừu và dê bị ăn sạch, củi và gỗ cần thiết để xây dựng nhà cửa bị đốn sạch. Thậm chí những ngôi nhà Neolithic không chỉ được hỗ trợ bởi số lượng lớn gỗ xây dựng mà còn dùng đến khoảng 13 tấn gỗ xây dựng cho mỗi căn nhà để đắp lên những bức tượng và lát sàn nhà. Sự bùng nổ dân số của đế quốc đã nhanh chóng phá hủy và làm hoang hóa bề mặt khu rừng. Hệ thống phức tạp của những kênh đào, đường ống và bể chứa đã được cần đến để gom và dự trữ nước cho những vườn cây ăn quả và thành phố.
Sau khi chính quyền La Mã phương Đông sụp đổ, những vườn cây bị bỏ lại và dân số đã bị giảm đi, nhưng sự thoái hóa đất vẫn tiếp diễn bởi vì những người cư trú còn lại đã trở nên quá phụ thuộc vào việc thả súc vật cho ăn cỏ. Những con dê tham lam quá độ bắt đầu ăn theo cách của chúng xuyên qua những cây bụi, thảo mộc và cỏ. Chính phủ Ottoman đã tàn phá những cây gỗ còn tồn tại trước Chiến tranh thế giới thứ I để lấy số gỗ cần thiết cho đường xe lửa Hejaz. Tôi và nhiều người xem phim đã kinh sợ trước cảnh những chiến sỹ du kích Arab được lãnh đạo bởi Lawrence của người Arab (do Peter O’Toole thủ vai) thổi bay tuyến đường sắt đó trong màn ảnh rộng đa màu sắc, mà không nhận ra rằng chúng tôi đang xem hành động cuối cùng trong sự phá hủy những khu rừng của Petra.
Mảnh đất Petra bị tàn phá hôm nay là một phép ẩn dụ cho những điều đã xảy ra đối với những phần còn lại vốn là gốc rễ của nền văn minh phương Tây. Những vùng hiện đại bao quanh Petra không còn chút khả năng nào để nuôi sống một thành phố đã từng kiểm soát những tuyến đường buôn bán chính của thế giới cũng như việc những vùng hiện đại bao quanh Persepolis có thể nuôi sống được thủ đô của một đế chế hùng mạnh như là Đế quốc Ba Tư một thời xa xưa. Những tàn tích còn sót lại đối với những thành phố này, cả ở Athens và Roma là những tượng đài kỷ niệm cho những quốc gia đã phá hoại những phương thức tồn tại của họ. Không chỉ có nền văn minh thuộc Địa Trung Hải là những xã hội văn minh duy nhất đã phạm tội tự hủy diệt hệ sinh thái. Sự sụp đổ của nền văn minh trong quá khứ của người Maya ở trung tâm châu Mỹ và nền văn minh Harappa ở thung lũng sông Ấn của người Ấn Độ là những ứng viên hiển nhiên cho những thảm họa về sinh thái bởi sự mở rộng dân số của con người quá mức đối với môi trường ở đó. Trong khi những bài học về lịch sử các nền văn minh thường chỉ nói về các vị vua và những cuộc xâm lược tàn khốc thì phải chăng chính sự phá hoại rừng và làm xói mòn đất trong một thời gian lâu dài mới là tác nhân chính nhào nặn nên lịch sử loài người.
Những điều kể trên là các phát hiện gần đây, chúng khiến cho học thuyết về môi trường của Kỷ nguyên Vàng trong quá khứ ngày càng trở nên hoang đường. Giờ ta hãy cùng quay lại những vấn đề lớn hơn mà tôi đã nêu ra ở phần mở đầu. Đầu tiên, làm thế nào mà những phát hiện về sự hủy hoại môi trường trong quá khứ này có thể tương ứng với những đóng góp của hoạt động bảo vệ môi trường của những người tiền công nghiệp hiện đại? Hiển nhiên là, không phải tất cả những loài sinh vật đều đã bị hủy diệt, và không phải môi trường sống nào cũng đã bị hủy hoại vì vậy, Kỷ nguyên Vàng không phải là tăm tối.
Tôi đưa ra câu trả lời như một giả thuyết cho nghịch lý này như sau. vẫn hoàn toàn đúng là những xã hội nhỏ, được thành lập từ rất lâu, và những xã hội theo chủ nghĩa quân bình có khuynh hướng phát triển những hoạt động bảo vệ môi trường, bởi họ có nhiều thời gian để hiểu biết môi trường xung quanh và nhận thức được mối quan tâm của chính bản thân họ. Thay vào đó, sự hủy hoại thường xảy ra khi con người đột nhiên thống trị một môi trường không quen thuộc (như là người Maori và những cư dân đầu tiên của đảo Phục Sinh); hay khi người ta lần đầu tiên tiến tới một biên giới mới (như những thổ dân da đỏ đầu tiến tới châu Mỹ), để họ chỉ việc chuyển sang một biên giới khác khi họ vừa hủy hoại vùng đất họ bỏ lại; hay khi người ta làm chủ một công nghệ mới mà người ta chưa có đủ thời gian để đánh giá sức mạnh hủy diệt của nó (như vùng New Guinea hiện đại, nơi loài bồ câu đang bị hủy diệt bởi những khẩu súng ngắn). Sự hủy hoại cũng thường xảy ra với những quốc gia có quyền lực tập trung, nơi của cải nằm trong tay những người thống trị, những người chẳng quan tâm gì tới vấn đề môi trường. Và một vài loài sinh vật cũng như môi trường sống của chúng dễ bị tổn hại hơn so với những sinh vật khác - chẳng hạn như những loài chim không bay được, và chưa bao giờ nhìn thấy con người (như loài moa và những con chim voi), hay những môi trường khô, dễ bị tổn hại, tại đó, những nền văn minh của người Địa Trung Hải và thổ dân Anasazi đã phát triển.
Thứ hai, liệu có bất cứ bài học thực tiễn nào cho chúng ta từ những phát hiện khảo cổ học gần đây không? Khảo cổ học thường được xem như một quy tắc lý thuyết không quá cần thiết cho xã hội và trở thành mục tiêu đầu tiên cho việc cắt giảm ngân sách mỗi khi chúng ta gặp khó khăn về tài chính. Trên thực tế, nghiên cứu về cổ sinh vật học là một trong những thỏa thuận có lợi nhất được đưa ra đối với những nhà hoạch định chính sách của chính phủ. Trên toàn thế giới, chúng ta đạt được những phát triển có tiềm năng gây ra những hủy hoại không thể đảo ngược, và điều đó thật sự chỉ là những cách thức thể hiện ý tưởng mạnh mẽ hơn nếu so sánh với những hoạt động của các xã hội trong quá khứ. Chúng ta không thể trả giá cho sự thử nghiệm ở năm nước phát triển theo năm cách khác nhau và nhìn bốn nước trong số đó đi đến sự diệt vong. Thay vào đó, sẽ tiết kiệm cho chúng ta hơn rất nhiều trong thời gian lâu dài, nếu ta thuê những nhà khảo cổ học nhằm tìm ra điều gì đã xảy ra trong quá khứ còn hơn là chúng ta cứ lặp lại những sai lầm như vậy một lần nữa.
Dưới đây chỉ là một ví dụ. Miền Tây Nam nước Mỹ có trên 100.000 dặm vuông rừng thông mà chúng ta đang khai thác ngày càng nhiều để làm củi đun. Không may là, ủy ban Phục hồi Rừng Quốc gia Mỹ có rất ít dữ liệu có giá trị để giúp họ tính toán hiệu suất bền vững và tốc độ hồi phục của những cánh rừng đó. Những người Anazasi đã từng cố gắng tiến hành thí nghiệm đó và đã tính toán sai, mà kết quả là đất rừng vẫn chưa hề hồi phục ở Chaco Canyon sau hơn 800 năm. Trả tiền cho một số vài nhà nghiên cứu khảo cổ học để tái tạo lại lượng gỗ đã sử dụng của người Anazasi sẽ rẻ hơn việc phạm phải sai lầm tương tự và hủy hoại 100.000 dặm vuông đất rừng của nước Mỹ như chúng ta đang làm hiện nay.
Cuối cùng chúng ta hãy cùng đối mặt với câu hỏi dễ gây đụng chạm nhất. Ngày nay, những nhà bảo vệ môi trường coi những người giết hại sinh vật và hủy diệt môi trường sống như là những người vi phạm đạo đức tồi tệ. Những xã hội công nghiệp nhảy bổ vào với bất cứ lý do nào phỉ báng những người tiền công nghiệp nhằm mục đích để thanh minh cho việc giết hại họ và lấn chiếm đất đai của họ. Liệu những phát hiện mới có chủ ý về loài moa và hệ thực vật ở Chaco Canyon có phải chỉ là sự phân biệt chủng tộc phi khoa học khi nói rằng: người Maori và thổ dân da đỏ không đáng được đối xử công bằng bởi vì họ thật tồi tệ?
Điều phải được ghi nhớ là luôn rất khó khăn đối với con người để biết được tỷ lệ mà ở đó họ có thể an toàn thu hoạch tài nguyên sinh vật lâu dài mà không làm hủy diệt chúng. Một sự giảm sút nghiêm trọng về tài nguyên thật không dễ để phân biệt với sự dao động thông thường từ năm này qua năm khác. Thậm chí còn khó khăn hơn để đánh giá tốc độ khôi phục của những nguồn tài nguyên. Tới thời điểm mà những dấu hiệu của sự giảm sút là đủ rõ ràng để thuyết phục được tất cả mọi người thì có lẽ đã quá muộn để cứu lấy những sinh vật và môi trường sống. Như vậy, những người tiền công nghiệp, những con người không thể duy trì được nguồn tài nguyên của họ, không vi phạm đạo đức nhưng họ phải chịu thất bại trong việc giải quyết một vấn đề sinh thái thật sự khó khăn. Những thất bại này là bi kịch, bởi vì chúng gây ra sự sụp đổ về lối sống của chính những con người ấy.
Những thất bại bi kịch chỉ trở thành những tội ác mang tính đạo đức khi con người có lẽ nên hiểu biết tốt hơn ngay từ đầu. Theo đó, có hai điều khác biệt lớn giữa chúng ta và những thổ dân da đỏ Anasazi sống ở thế kỷ XI: sự hiểu biết về khoa học và văn chương. Chúng ta chứ không phải họ biết làm thế nào để vẽ nên những biểu đồ đánh dấu những nguồn tài nguyên bền vững tương đương với quy mô dân số nhằm duy trì tỷ lệ khai thác tài nguyên. Chúng ta có thể đọc về tất cả những thảm họa sinh thái trong quá khứ; còn người Anasazi thì không. Cho dù thế hệ chúng ta vẫn tiếp tục săn bắn cá voi và triệt hạ những khu rừng nhiệt đới như thể chưa từng có ai săn loài moa và chặt phá những khu rừng gỗ thông. Quá khứ vẫn còn là một Kỷ nguyên Vàng đã bị phớt lờ, trong khi hiện tại là một Kỷ nguyên sắt với những con người cố tình không muốn nhìn nhận.
Theo quan điểm này, việc nhìn những xã hội hiện đại lặp lại sự mất kiểm soát gây ra tự hủy diệt hệ sinh thái trong quá khứ, với nhiều công cụ có sức phá hủy mạnh mẽ hơn trong tay của nhiều người hơn là vượt quá sự hiểu biết. Như thể là chúng ta chưa tham gia một bộ phim đặc biệt đó rất nhiều lần trong lịch sử loài người, và như thể là chúng ta không biết tới những hậu quả chắc chắn xảy ra. Bản sonnet Ozymandias của Shelley gợi lên rất rõ ràng ký ức về người Persepolis, Tilka và cư dân của đảo Phục Sinh; có lẽ một ngày nào đó nó sẽ gợi lên cho chúng ta về sự tàn lụi của nền văn minh thuộc về chính mình.
Tôi đã gặp anh, người khách đến từ miền đất cổ
Anh kể về những tượng đá khổng lồ không thân
Đứng trên sa mạc. Bầu bạn với cát
Nửa thân chìm nằm đó với khuôn mặt u buồn
Nụ cười nhăn nheo và nét môi khinh lạnh
Kể cho ta nghe về niềm đam mê của người điêu khắc
Thứ còn lại cho những gì đã chết
Cánh tay xem thường và trái tim nuốt chửng
Và trên bệ: những dòng chữ hiện lên
“Tên của ta: Ozymandias, vị vua vĩ đại nhất
Hãy nhìn vào những gì ta đã tạo nên, sự hùng vĩ và cả nỗi tuyệt vọng!”
Nhưng còn sót lại đây, đống hoang tàn mục nát
Của một vùng đất mênh mông trơ trụi đã suy tàn
Kéo dài sự cô đơn cùng cát hoang vô tận.