Thảm họa Chernobyl(46); formandehyde trong những bức tường xây thô; nhiễm độc chì; khói bụi; vụ tràn dầu Valdez(47); kênh đào Love(48); nhiễm độc khoáng chất amiant; chất độc màu da cam… Hiếm có tháng nào trôi qua mà không đi kèm với những bài học cho chúng ta về một phương thức khác nữa mà chúng ta và con cái chúng ta đang bị phơi nhiễm với những hóa chất độc hại do sự lơ là của những người khác. Sự xúc phạm công luận, ý thức về sự bất lực và những đòi hỏi phải có những thay đổi đang tăng lên. Vậy tại sao, sau đó, chính chúng ta lại đối xử với bản thân những điều mà ta không thể chấp nhận để người khác làm với mình. Bằng cách nào chúng ta có thể giải thích nghịch lý rằng rất nhiều người đang hấp thụ, tiêm hay hít vào cơ thể họ một cách có ý thức những hóa chất độc hại, chẳng hạn như cồn, cocain và những chất có trong khói thuốc lá? Tại sao rất nhiều biến thể của việc hủy hoại bản thân có chủ ý này lại là tự nhiên trong nhiều xã hội đương đại, từ những bộ lạc nguyên thủy tới những thành phố có công nghệ hiện đại và trải dài về tận quá khứ ngay khi con người có những tài liệu ghi chép lại. Làm thế nào mà sự lạm dụng thuốc trở thành một đặc trưng hiển nhiên độc nhất chỉ có ở loài người?
Có một vấn đề vẫn chưa được hiểu biết một cách kỹ lưỡng là tại sao chúng ta lại cứ tiếp tục sử dụng những hóa chất độc hại ấy một khi đã dính vào chúng? Một phần nào đó, là bởi sự lạm dụng các loại thuốc có thể gây nghiện. Thay vào đó, bí ẩn lớn hơn chính là xét cho cùng điều gì đã thúc đẩy chúng ta bắt đầu làm như vậy? Bằng chứng về sự hủy hoại hay những tác hại gây chết người của rượu, ma túy và thuốc lá giờ đây trở nên quá nhiều và quá quen thuộc. Chỉ có sự tồn tại của một vài động cơ phản đối mạnh mẽ mới có thể giải thích tại sao con người hấp thu những chất độc đó hoàn toàn tự nguyện thậm chí là còn hăng hái. Như thế có những chương trình không ý thức được đang dẫn dắt chúng ta làm những việc mà chúng ta biết là nguy hiểm. Vậy những chương trình đó có thể là gì?
Theo lẽ tự nhiên, sẽ chẳng có cách giải thích đơn lẻ nào hết: những động cơ khác nhau có ảnh hưởng ở mức độ khác nhau với mỗi người và trong từng xã hội riêng biệt. Chẳng hạn như, một vài người lấy rượu để giải tỏa những ức chế hay là nhập hội với bạn bè, trong khi với người khác, đó là để kìm nén cảm xúc và quên sầu, còn một số khác thì lại thích hương vị của các đồ uống có cồn. Và cũng là lẽ tự nhiên, sự khác biệt của các cộng đồng người và các tầng lớp xã hội trong quan điểm của họ về sự thỏa mãn cuộc đời chủ yếu được giải thích là do những khác biệt về mặt địa lý và giai cấp trong thói lạm dụng hóa chất. Không ngạc nhiên là, việc tự hủy hoại bản thân bằng rượu là một vấn đề nghiêm trọng hơn ở những khu vực có tỷ lệ thất nghiệp cao của Ireland so với vùng Đông Nam nước Anh, hay tệ nghiện hút ma túy, cocain thường gặp ở Harlem(49) hơn là trong những khu vực thành thị giàu có. Liệu người ta có thể bị xúi giục để không nhìn nhận việc lạm dụng thuốc như một dấu hiệu đặc trưng của loài người với những căn nguyên về văn hóa và xã hội hiển nhiên, mà không cần tìm kiếm những tiền lệ đã có ở động vật.
Tuy nhiên, chẳng có động cơ nào trong số những điều mà tôi vừa nêu trên đi thẳng vào tâm điểm của nghịch lý là con người luôn tích cực săn tìm những thứ mà chúng ta biết là có hại. Tôi sẽ đưa ra thêm một động cơ khác nữa, hướng thẳng vào nghịch lý đó. Nó nối kết việc hủy hoại bản thân bằng hóa chất của loài người trên một phương diện rộng lớn với những đặc điểm dường như là sự tự hủy hoại của các loài động vật và cùng với đó là cả một học thuyết tổng quát về những tín hiệu ở động vật. Động cơ này cũng hợp nhất một tập hợp rộng lớn những hiện tượng văn hóa của loài người, từ việc hút thuốc tới thói nghiện rượu và cả sự lạm dụng hóa chất độc hại. Điều này có giá trị giao thoa văn hóa đầy tiềm năng mà nhờ đó có thể giải thích không chỉ những hiện tượng của thế giới phương Tây mà còn cả những phong tục hết sức bí ẩn ở một nơi nào đó, chẳng hạn như việc uống dầu hỏa của những võ sư ở Indonesia. Tôi cũng sẽ quay về quá khứ và áp dụng học thuyết trên vào những tập tục dường như là rất kỳ quái trong lễ nghi cúng tế của nền văn minh Maya cổ đại.
Hãy để tôi bắt đầu bằng việc đề cập tới cách mà tôi đã nảy sinh ý tưởng này. Một ngày, tôi hoàn toàn bị sửng sốt bởi một vấn đề rắc rối là những công ty sản xuất những hóa chất độc hại cho con người quảng bá hết sức rõ ràng cho việc sử dụng sản phẩm đó. Hoạt động kinh doanh này dường như chỉ có một con đường hiển nhiên nhất là đi tới phá sản. Nhưng chưa đâu, trong khi chúng ta không dung thứ cho những quảng cáo về ma túy, thì những quảng cáo cho thuốc lá và rượu đang tràn ngập tới mức mà con người ngừng coi sự tồn tại của chúng như một sự thách đố. Điều này chỉ thực sự tác động lên tôi sau những tháng ngày sống trong rừng rậm cùng với những thợ săn người New Guinea, cách xa khỏi mọi thứ quảng cáo.
Ngày qua ngày, những người bạn New Guinea hỏi tôi về phong tục của phương Tây và dần dần qua cách phản ứng của họ, tôi nhận ra rằng rất nhiều tục lệ của chúng ta mới vớ vẩn làm sao. Rồi những tháng ngày đi thực địa kết thúc với một sự chuyển đổi đột ngột mà phải nhờ tới phương tiện giao thông hiện đại ngày nay mới làm được. Vào ngày 25 tháng Sáu, tôi vẫn còn sống trong rừng già, dõi theo một con chim thiên đường đực có màu lông rực rỡ, đập cánh hết sức vụng về qua một khoảnh rừng thưa, kéo lê theo nó chiếc đuôi dài gần một mét. Sang ngày 26, tôi đã ngồi trên một chiếc máy bay phản lực Boeing 747, đọc những cuốn tạp chí và đuổi kịp những điều kỳ diệu của nền văn minh phương Tây.
Tôi lướt qua cuốn tạp chí đầu tiên. Nó mở ra đúng vào trang có bức hình chụp một người đàn ông rắn rỏi đang ngồi trên lưng ngựa đuổi theo những chú bò, và bên dưới đó là tên của một nhãn hiệu thuốc lá được đặt trong khổ chữ lớn. Phần người Mỹ trong tôi biết rằng, bức ảnh đó muốn nói lên điều gì. Nhưng một phần khác trong tôi, vẫn đang thuộc về rừng già nhìn bức ảnh đó hết sức ngô nghê. Có lẽ phản ứng của tôi sẽ không quá lạ lùng với bạn nếu bạn thử cố tưởng tượng ra bản thân hoàn toàn xa lạ với xã hội phương Tây, lần đầu tiên nhìn thấy quảng cáo đó và cố gắng tìm hiểu xem mối liên hệ gì giữa việc đuổi theo những con bò với việc hút (hay không hút) thuốc lá.
Phần ngây ngô trong tôi, còn tươi nguyên nét rừng già, tự nhủ: thật là một quảng cáo chống hút thuốc lá tài tình. Ai cũng biết rằng hút thuốc làm suy giảm khả năng vận động, gây ung thư và chết sớm. Còn những chàng cao bồi thì lại được hầu hết mọi người nhận định là khỏe mạnh như lực sỹ và rất đáng ngưỡng mộ. Quảng cáo này chắc hẳn phải là lời kêu gọi mới đầy ấn tượng của nhóm những người phản đối thuốc lá, nói với chúng ta rằng nếu chúng ta hút loại thuốc lá mang nhãn hiệu cụ thể đó, chúng ta chẳng bao giờ có thể trở thành những chàng cao bồi. Thật là một thông điệp đầy hiệu quả dành cho giới trẻ của chúng ta!
Nhưng rồi hiển nhiên là quảng cáo đó được đặt hàng bởi chính công ty sản xuất thuốc lá mà bằng cách nào đó hy vọng rằng độc giả sẽ hiểu chính xác thông điệp trái ngược từ nó. Làm sao mà công ty nọ có thể cho phép phòng quan hệ công chúng của mình làm cái việc có thể dẫn tới hiểu nhầm tai hại đến vậy? Chắc chắn rằng, quảng cáo đó có thể khuyên can bất kỳ ai còn quan tâm tới sức khỏe và hình tượng của bản thân ngay khi muốn bắt đầu hút thuốc.
vẫn còn một nửa đắm chìm nơi rừng sâu, tôi lại lật sang trang kế tiếp của cuốn tạp chí. Ở đây, tôi nhìn thấy một bức ảnh chụp chai rượu whisky đặt trên bàn, một người đàn ông đang nhấm nháp phần rượu trong chiếc ly và một cô gái hiển nhiên là rất trẻ trung, căng tràn nhựa sống đang đắm đuối nhìn anh ta với sự ngưỡng mộ như thể cô ta đang sắp sửa hiến dâng. Điều này là thế nào? Tôi tự hỏi bản thân. Ai cũng biết rằng rượu gây cản trở chức năng tình dục, có xu hướng làm cho đàn ông bị bất lực, khiến người say đi đứng gần như loạng choạng, hạn chế tư duy và gây ảnh hưởng cụ thể tới bệnh suy gan và những tình trạng suy nhược khác. Những lời bất hủ của người phục vụ bàn trong vở kịch Macbeth của Shakespeare là: “Nó (tức là rượu) khởi phát nên những khát vọng, nhưng lại lấy đi khả năng thực hiện điều đó.” Một người đàn ông rơi vào tình trạng khó khăn để thể hiện như thế, nên bằng mọi cách che giấu bản thân trước người đàn bà mà anh ta có ý định quyến rũ. Vậy tại sao người đàn ông trong tấm hình lại trưng ra một cách có chủ ý khuyết tật ấy của mình? Hay các nhà sản xuất rượu mạnh nghĩ rằng những bức ảnh của con người bị làm suy yếu như thế có thể giúp họ bán được hàng? Người ta có thể mong đợi rằng tổ chức Những bà mẹ Phản đối Việc say rượu trong khi Lái xe chính là người đã nghĩ ra hình ảnh quảng cáo này và rằng những công ty sản xuất rượu mạnh kia có thể kiện ra tòa nhằm ngăn chặn việc xuất bản nó?
Từng trang quảng cáo một lại khuếch trương việc sử dụng thuốc lá và rượu mạnh và gợi ý cho người ta về lợi ích của những thứ đó. Thậm chí còn có cả những bức ảnh chụp những thanh niên trẻ tuổi đang hút thuốc bên cạnh những thành viên khác giới hấp dẫn như thể để ám chỉ rằng hút thuốc còn đem lại thêm cả những cơ hội về tình dục. Không có bất kỳ người không hút thuốc nào muốn hôn (hay cố gắng để hôn) một người hút thuốc khi nhận ra hơi thở của anh (hay cô ta) khủng khiếp tới mức nào, và rồi lại còn có thể chấp nhận sự mời gọi tình dục của người đó. Những quảng cáo đầy mâu thuẫn ấy ám chỉ không riêng gì những lợi ích tình dục mà còn là cả tình bạn lý tưởng, cơ hội làm ăn, sức sống, sức khỏe và niềm hạnh phúc, khi mà kết luận chính xác từ những quảng cáo đó thực chất lại là điều ngược lại.
Rồi thời gian trôi qua và tự tôi lại đắm chìm trong nền văn minh phương Tây, tôi dần dần không còn nhận ra những quảng cáo mà tưởng như là tự phản bác lại chính mình. Tôi rút về chỉ phân tích những dữ liệu trong lĩnh vực của bản thân liên quan tới tiến hóa ở các loài chim thay vì về toàn bộ một nghịch lý nào khác. Nhưng chính nghịch lý đó đã khiến tôi cuối cùng cũng hiểu ra một nhân tố hợp lý căn bản cho những quảng cáo về thuốc lá và rượu mạnh kia.
Nghịch lý mới ấy gắn liền với cái nguyên do khiến những con chim thiên đường đực có bộ lông sặc sỡ mà tôi đã ngắm nhìn vào cái ngày 25 tháng Sáu ấy lại tiến hóa để tạo nên một chướng ngại vật là cái đuôi dài một mét. Những con đực của các loài chim thiên đường khác cũng tiến hóa những trở ngại rất kỳ quái, chẳng hạn như có những chiếc lông vũ mọc ra từ lông mày của chúng, thói quen treo ngược trên cành cây, những màu sắc bộ lông rực rỡ và những tiếng kêu to rất dễ thu hút các loài diều hâu. Tất cả những đặc điểm đó chắc chắn làm giảm khả năng sống sót của những con chim đực, nhưng chúng đóng vai trò như những món hàng quảng cáo mà nhờ đó những con chim đực có bộ lông rực rỡ kia tán tỉnh bạn tình. Giống như rất nhiều các nhà sinh vật học khác, tôi cứ phân vân tự hỏi tại sao những con chim cái lại nhận thấy nét quyến rũ từ những con chim dị tật kia.
Về điểm này, tôi nhớ lại một bài báo rất đáng chú ý được nhà sinh vật học người Israel, Amotz Zahavi công bố năm 1975. Trong bài báo của mình, Zahavi đề xuất một học thuyết tổng quát mới lạ, hiện vẫn còn là đề tài tranh luận gay gắt giữa các nhà sinh vật học, về vai trò của những dấu hiệu tự chống lại bản thân hay phải trả giá đắt trong tập tính của các loài động vật. Chẳng hạn như, ông cố gắng giải thích cách mà những đặc điểm bất lợi của con đực có thể thu hút một cách rất chính xác con cái khi chúng có những dị tật ấy. Theo sự suy xét này, tôi quyết định rằng giả thuyết của Zahavi cũng có thể áp dụng cho loài chim thiên đường mà tôi đang nghiên cứu. Đột nhiên, với sự phấn khích ngày một gia tăng, tôi nhận ra rằng giả thuyết của Zahavi có lẽ cũng có thể được mở rộng để giải thích những nghịch lý trong việc sử dụng hóa chất độc hại và sự mời gọi của các quảng cáo đối với con người.
Học thuyết của Zahavi như ông đề xuất, có liên quan tới một vấn đề rất rộng lớn trong sự giao tiếp ở động vật. Tất cả các động vật đều cần thiết phải phát minh ra những tín hiệu nhanh chóng và dễ hiểu trong việc truyền đạt thông tin tới người bạn đời, bạn tình tiềm năng, con cái, cha mẹ, địch thủ và cả những loài có thể trở thành con mồi. Chẳng hạn như ta quan sát một con linh dương nhận ra là nó đang bị con sư tử rình rập. Có thể trong những mối quan tâm hàng đầu của con linh dương là làm sao đưa ra được những tín hiệu mà con sư tử có thể hiểu nghĩa là: “Tao là một con linh dương cực kỳ nhanh nhẹn! Mày sẽ chẳng bao giờ bắt được tao đâu, cho nên đừng có tốn thời gian và sức lực để cố gắng làm việc đó.” Thậm chí nếu chú linh dương đó có thực sự chạy nhanh hơn cả loài sư tử, thì việc ra tín hiệu ngăn cản sư tử không đuổi bắt cũng giúp tiết kiệm thời gian và năng lượng cho chính con linh dương đó.
Nhưng tín hiệu nào có thể nói rõ ràng với con sư tử rằng việc săn đuổi là hoàn toàn vô vọng? Con linh dương không thể tốn thời gian để chạy như trong một cuộc trình diễn qua hàng trăm mét đường để khoe khoang trước tất cả những con sư tử có mặt ở đó. Có lẽ, những con linh dương chỉ đồng tình với những tín hiệu rõ ràng mà những chú sư tử cần phải học để hiểu được, ví dụ, cào xuống đất bằng chiếc chân trái có nghĩa là: “Tôi tuyên bố là tôi chạy rất nhanh”. Tuy nhiên, những tín hiệu hoàn toàn ngẫu nhiên đó lại là gợi ý cho sự gian lận: bất cứ con linh dương nào cũng có thể dễ dàng đưa ra những tín hiệu mặc cho tốc độ của nó có là bao nhiêu. Những con sư tử sau đó sẽ bắt được rất nhiều những con linh dương mà trước đó đã đưa ra những tín hiệu dối trá như thế, và loài sư tử cũng sẽ học cách để lờ đi tín hiệu đó. Nó cũng nằm trong mối quan tâm của cả loài sư tử và những con linh dương nhanh nhẹn rằng những tín hiệu kia là có thể đáng tin cậy. Vậy loại tín hiệu nào có đủ sức thuyết phục một con sư tử về độ trung thực của con linh dương?
Tình thế tiến thoái lưỡng nan giống như vậy cũng xuất hiện trong vấn đề về sự chọn lựa tình dục và bạn đời mà tôi đã đề cập tới trong những chương trước. Đặc biệt là vấn đề về cách thức mà con cái lựa chọn con đực, do con cái đóng góp nhiều hơn trong quá trình sinh sản, mất mát nhiều thứ hơn, và do đó phải trở nên kén chọn hơn. Lý tưởng là, một con cái nên chọn một con đực có nhiều gen tốt mà nhờ đó có thể di truyền lại cho lũ con chúng sinh ra. Do bản thân gen là thứ rất khó có thể tiếp cận, nên một con cái nên tìm kiếm những vật chỉ thị nhanh chóng cho những gen quý có ở con đực, và những con đực tuyệt hảo cũng nên thể hiện bản thân qua những vật chỉ thị này. Trong tự nhiên, những đặc điểm của các con đực như bộ lông, âm thanh phát ra, và cả cách trình diễn thường được sử dụng là những vật chỉ thị. Tại sao con đực lại “lựa chọn” việc tiếp thị bản thân với những vật chỉ thị đặc biệt như vậy, tại sao mà những con cái nên tin tưởng vào sự thành thực của con đực và nhận thấy những dấu hiệu đó là quyến rũ và tại sao những điều này lại là minh chứng cho những gen quý?
Tôi miêu tả vấn đề như thể một con linh dương hay một con đực đang thể hiện việc tán tỉnh tự nguyện chọn ra một số những vật chỉ thị từ rất nhiều những thứ có khả năng, và như thể theo sự suy xét đó, một con sư tử hay một con cái quyết định xem đó có phải thực sự là những chỉ thị đúng đắn về tốc độ hay là về gen tốt. Tất nhiên, trong hành động thực tế những “chọn lựa” này là kết quả của quá trình tiến hóa và trở nên được quy định thông qua gen. Những con cái nào lựa chọn con đực dựa trên nền tảng là những vật chỉ thị mà chúng thực sự biểu lộ những gen quý của con đực, và cả những con đực có sử dụng những dấu hiệu mập mờ về nguồn gen tốt để tự quảng bá bản thân, chính là những con có xu hướng sinh ra nhiều thế hệ con cái nhất, giống như việc sư tử và linh dương loại trừ mình ra khỏi những cuộc săn đuổi không cần thiết.
Như điều đó chỉ ra, rất nhiều những tín hiệu quảng cáo được tiến hóa bởi các loài động vật đưa lại một nghịch lý tương tự như những gì đã thể hiện thông qua quảng cáo thuốc lá. Những vật chỉ thị dường như thường không gợi ý về tốc độ hay những gen tốt mà thay vào đó là những đặc điểm bất bình thường, phải trả giá hay chứa đầy sự nguy hiểm. Ví dụ như, một tín hiệu của con linh dương dành cho con sư tử mà nó nhìn thấy đang tiến lại gần ẩn chứa một hành vi dị thường được gọi là “những cú đá nông nổi”. Thay vì chạy ra xa càng nhanh càng tốt, con linh dương đi chậm rãi trong khi liên tục nhảy vọt lên với những cú nhảy cứng cáp. Làm thế nào mà loài linh dương tự cho phép mình có những hành động trình diễn dường như là tự hủy hoại bản thân, trong đó có sự lãng phí thời gian và năng lượng và mang lại cho sư tử cơ hội để có thể đuổi kịp nó? Hay nghĩ tới những con đực của rất nhiều loài động vật khác khi chúng trưng ra những cấu trúc rất lớn, như chiếc đuôi công hay bộ lông của loài chim thiên đường khiến cho sự di chuyển rất khó khăn. Con đực của rất nhiều loài động vật khác nữa có bộ lông màu sắc rất rực rỡ, phát ra âm thanh rất to hay những đặc điểm khác dễ nhận thấy khiến thu hút những con vật ăn mồi. Tại sao một con đực lại nên quảng cáo những vật cản như thế, và tại sao mà con cái lại có thể thích được chúng? Những mâu thuẫn đó vẫn tồn tại như một vấn đề quan trọng chưa thể giải thích trong tập tính của động vật ngày nay.
Học thuyết của Zahavi đã đánh thẳng vào trung tâm của nghịch lý đó. Theo học thuyết của ông, những cấu trúc và hành vi có hại chính là những vật chỉ thị có giá trị mà qua đó tín hiệu ở loài vật trở nên hết sức trung thực trong tuyên bố về sự vượt trội hơn. Một tín hiệu mà chẳng đòi hỏi việc vay mượn cho bản thân để lừa dối, do thậm chí một động vật chậm chạp, hạ cấp cũng có thể thực hiện được những tín hiệu đó. Chỉ có những tín hiệu có hại hay phải trả giá mới là sự bảo đảm cho tính trung thực. Ví dụ như, một con linh dương chậm chạp đã thực hiện hành vi “nhảy bồng bột” trước một con sư tử đang tiến lại gần có thể định đoạt số phận của nó, trong khi một con linh dương nhanh nhẹn vẫn có thể trốn thoát khỏi sư tử sau những cú nhảy của mình. Qua việc thể hiện bản thân bằng những cú nhảy, con linh dương khoe mẽ trước con sư tử rằng: “Tao nhanh nhẹn tới mức mà tao vẫn có thể trốn thoát khỏi mày thậm chí sau khi thực hiện sự khởi đầu như thế này.” Con sư tử, do vậy, phải dừng lại vì tin vào sự trung thực của con linh dương, và cả hai con, sư tử cũng như linh dương đều có lợi trong việc không tốn thời gian và công sức để tiến hành việc đuổi bắt mà kết quả của nó là đã rõ ràng.
Tương tự như thế, áp dụng đối với việc những con đực thể hiện trước những con cái, học thuyết của Zahavi lý giải rằng bất cứ con đực nào đều cố gắng để sống sót bất chấp những khuyết tật của một chiếc đuôi lớn hay những giọng hót gây sự chú ý chắc rằng phải có những gen đặc biệt ở những khía cạnh khác. Nó phải chứng minh rằng nó thực sự nổi trội hơn hẳn trong việc trốn thoát khỏi con vật săn mồi, tìm kiếm thức ăn và chống lại bệnh tật. Với những khuyết tật càng lớn thì con vật càng phải vượt qua những cuộc kiểm tra nghiêm khắc hơn. Việc con cái lựa chọn bạn tình trong số những con đực giống như những gì mà trinh nữ thời Trung Cổ thử thách các hiệp sỹ muốn cầu hôn mình qua việc chứng kiến họ giết chết những con rồng. Khi cô ta nhìn thấy một người hiệp sỹ chỉ còn một cánh tay vẫn có thể giết chết con rồng, thì có thể cô biết rằng cuối cùng cũng đã tìm được một chàng hiệp sỹ với những gen tuyệt vời nhất. Và người hiệp sỹ kia, thông qua việc khoe khoang những khuyết tật thực chất chính là anh ta đang khoe mẽ tính ưu việt của bản thân.
Đối với tôi, học thuyết của Zahavi áp dụng cho rất nhiều những hành vi phải trả giá đắt và nguy hiểm của con người chỉ nhằm mục đích giành được địa vị xã hội nói chung hay những lợi ích về tình dục nói riêng. Ví dụ như, những người đàn ông thường quyến rũ phụ nữ với những món quà đắt tiền và những cách thể hiện sự giàu có khác mà thực chất là để nói rằng: “Tôi có rất nhiều tiền để có thể chu cấp cho em và con cái chúng ta, và em có thể tin tưởng vào sự khoe mẽ của tôi bởi em có thể nhìn thấy tôi đang tiêu nhiều tiền tới mức nào mà không hề lo sợ trắng tay.” Người nào trưng ra những đồ trang sức đắt tiền, những chiếc ô tô thể thao hay các tác phẩm nghệ thuật thì có thể giành được vị thế cao bởi những dấu hiệu đó không thể là giả mạo, và mọi người khác đều biết những đồ vật phô trương ra đó đắt giá tới mức nào. Những thổ dân châu Mỹ ở vùng Tây Bắc Thái Bình Dương thường tìm kiếm địa vị bằng việc ganh đua nhau để cho đi càng nhiều tài sản càng tốt trong những lễ hội được biết tới như là nghi thức ban phát quà tặng. Trong những thời kỳ trước khi nền y học hiện đại xuất hiện, việc xăm mình không chỉ là sự đau đớn mà còn rất nguy hiểm bởi nguy cơ bị nhiễm trùng, do đó, những người mang hình xăm trên thực tế đã bộc lộ hai khía cạnh trong sức mạnh của họ, đó là sự trơ lỳ với bệnh tật cùng với sức chịu đựng trước những đau đớn. Những người đàn ông thuộc hòn đảo Makekula ở Thái Bình Dương có truyền thống thể hiện bản thân qua những trò nguy hiểm tới mức điên cuồng, mà giờ đây đang được bắt chước ở một vài nơi khác gọi là nhảy “bungee”, chính là việc họ xây nên những cái tháp cao rồi nhảy lao đầu xuống sau khi buộc một đầu sợi dây lấy từ cành nho chắc chắn vào cổ chân còn đầu kia là vào đỉnh của ngọn tháp. Chiều dài của sợi dây được tính toán sao cho có thể vượt qua được độ cao mà những kẻ khoe khoang, khoác lác dám liều mạng trong khi đầu của anh ta thì vẫn còn cách đất vài mét. Những người sống sót được chính là bảo đảm cho việc những người nhảy phải là những người cực kỳ dũng cảm, tính toán kỹ lưỡng và là những nhà xây dựng giỏi.
Học thuyết của Zahavi cũng có thể được mở rộng cho việc con người lạm dụng các hóa chất. Đặc biệt là ở lứa tuổi thanh niên và vị thành niên, là những thời điểm khi mà sự lạm dụng những hóa chất độc hại thường bắt đầu, và chúng ta thường tiêu tốn quá nhiều năng lượng cho việc xác nhận vị thế của bản thân. Tôi thì cho rằng chúng ta cũng có chung bản năng không thể nhận thức rõ, chính là điều khiến cho những loài chim muốn hướng tới thông qua những màn trình diễn nguy hiểm. 10.000 năm trước đây, chúng ta “thể hiện” mình bằng việc thách thức một con sư tử hay những đối thủ thuộc bộ lạc khác. Ngày nay, chúng ta thể hiện điều này theo những cách khác, chẳng hạn như lái xe nhanh hay nốc thật nhiều những viên thuốc nguy hiểm.
Những thông điệp về những cách thể hiện mới và cũ tuy thế vẫn có những điểm giống nhau đó là: Tôi mạnh khỏe và tôi là ưu việt nhất. Thậm chí ngay cả khi mới chỉ hút thuốc lá có một hay hai lần, tôi cũng đủ khỏe để có thể vượt qua những cảm giác bỏng rát hay buồn nôn của việc hút điếu thuốc lá đầu tiên, hay lấn át được sự khủng khiếp của dư vị còn sót lại sau lần nốc rượu đầu tiên trong đời. Nếu để chuyện đó diễn ra trường kỳ mà vẫn sống sót và mạnh khỏe, tôi chắc phải là người giỏi nhất (đó là tôi nghĩ vậy). Nó là thông điệp cho những đối thủ của chúng ta, những bạn bè cùng trang lứa, hay những người có khả năng trở thành bạn đời của chúng ta và cho chính bản thân chúng ta nữa. Nụ hôn của những người hút thuốc có thể có mùi vị rất khó chịu, và những người uống rượu chẳng còn làm nổi chuyện gì ở trên giường nữa, nhưng anh (hay cô) ta hy vọng có thể gây ấn tượng hay hấp dẫn những bạn tình qua những thông điệp tiềm ẩn về sự ưu việt của mình.
Than ôi, thông điệp đó có thể mang giá trị đối với loài chim, nhưng với con người chúng ta đó lại là một sai lầm. Giống như rất nhiều những bản năng loài vật còn tồn tại trong con người chúng ta, điều này thể hiện sự thích nghi không tốt trong xã hội hiện đại của con người. Nếu bạn vẫn có thể tự đi sau khi uống hết một chai rượu whisky, điều đó có thể chứng minh rằng bạn có nồng độ enzym dehydrogenase lọc rượu trong gan cao, nhưng điều đó cũng không nói lên rằng bạn ưu việt hơn ở những khía cạnh khác. Nếu bạn không bị mắc bệnh ung thư phổi sau khi hút vài bao thuốc mỗi ngày trong một thời gian dài, có lẽ là bạn có một thứ gen miễn dịch với bệnh ung thư phổi, nhưng gen đó không quy định cả sự thông minh, nhạy bén trong kinh doanh hay khả năng tạo ra hạnh phúc cho người bạn đời và những đứa con của bạn.
Có một sự thật là động vật với những cuộc sống và thời gian tán tỉnh rất ngắn ngủi đã không còn ngoại lệ nào khác thay thế để phát triển những vật chỉ thị nhanh chóng, do những đối tượng giao phối trong tương lai của nó không có đủ thời gian để tìm hiểu giá trị thực của những con vật đó. Nhưng chúng ta, với cuộc sống lâu dài, thời gian tìm hiểu lâu hơn và những mối quan hệ làm ăn lâu dài, có dư thời gian để xem xét kỹ lưỡng giá trị của nhau. Chúng ta không cần phải dựa vào những vật chỉ thị chỉ mang tính hình thức và dễ gây nhầm lẫn đó. Việc lạm dụng hóa chất là một ví dụ cổ điển của những bản năng đã từng có giá trị - sự phụ thuộc vào những dấu hiệu khuyết tật - mà giờ đây đã trở nên sai lầm đối với chúng ta. Nó chỉ là một bàn năng cũ mà nhờ đó những công ty sản xuất rượu cũng như thuốc lá dẫn tới những quảng cáo hết sức thông minh, nhưng cũng cực kỳ xấu xa của mình. Nếu chúng ta cũng hợp pháp hóa ma túy, những ông chủ của chúng cũng rất nhanh chóng đưa ra những quảng cáo hấp dẫn về chính bản năng này. Bạn có thể dễ dàng hình dung ra nó: bức ảnh một chàng cao bồi trên lưng ngựa, hay một người đàn ông lịch lãm và những thiêu nữ quyến rũ quây quanh, bên dưới là một gói bột trắng được trưng bày hết sức đáng thèm muốn.
Giờ, hãy thử cùng kiểm tra giả thuyết của tôi bằng việc chuyển từ xã hội công nghiệp phương Tây sang một thế giới khác cùng tồn tại trên Trái đất. Lạm dụng thuốc không bắt nguồn từ cuộc cách mạng công nghiệp. Thuốc lá có nguồn gốc từ sự trồng trọt của thổ dân châu Mỹ, còn đồ uống có cồn đã có ở khắp nơi trên thế giới, còn ma túy và thuốc phiện đến với chúng ta từ những xã hội khác. Những bộ luật được ban hành còn lưu giữ được đến tận ngày nay, là của vị vua Lưỡng hà Hammurabi (1792-1650 trCN) trong đó đã bao gồm một điều khoản về giới hạn việc uống rượu ở nhà. Nên theo giả thuyết của tôi, nếu điều đó là có thực, cũng nên được áp dụng cho cả các xã hội khác nữa. Như một ví dụ về sức mạnh có thể lý giải sự giao thoa giữa các nền văn hóa, tôi sẽ trích dẫn một hoạt động mà chắc rằng bạn đã từng nghe tới: việc uống dầu hỏa của những người luyện tập kungfu.
Tôi được biết đến hành động này khi tôi tiến hành nghiên cứu tại Indonesia với một nhà sinh vật học trẻ tuổi rất tuyệt có tên là Ardy Irwanto. Ardy và tôi đã rất quý mến nhau và tìm thấy những điểm tốt ở mỗi người. Vào một lần, khi chúng tôi đi đến một địa điểm có nhiều mối đe dọa và tôi thể hiện sự lo lắng về những người nguy hiểm mà chúng tôi có thể bắt gặp. Ardy quả quyết với tôi rằng: “Không sao đâu, Jared. Tôi đã đạt tới trình độ thứ tám trong kungfu cơ đấy.” Anh ấy giải thích là anh luyện tập tinh thần thượng võ phương Đông của môn kungfu và đạt tới sự thành thục ở cấp độ cao, tới mức mà anh có thể một mình đánh tay đôi với một nhóm gồm tám người tấn công mình. Để chứng minh, Ardy cho tôi xem một vết bớt trên lưng của anh, dấu vết một vụ tấn công của tám kẻ côn đồ. Một tên trong đó đã dùng dao đâm Ardy, rồi thì anh đã bẻ gãy tay của hai tên, đập đầu tên thứ ba, còn những đứa khác chạy trốn hết. Anh ấy nói với tôi rằng tôi chẳng có gì phải sợ khi đi cùng với anh.
Một buổi tối, ở khu cắm trại của chúng tôi, Ardy cầm trên tay một chiếc cốc uống nước và đi tới thùng đựng xăng của chúng tôi. Như thường lệ: chúng tôi có hai chiếc can: một chiếc màu xanh đựng nước và chiếc màu đỏ đựng karosene, loại xăng dùng cho chiếc đèn cao áp của chúng tôi. Trong sự nghiêng mình kính phục của bản thân, tôi nhìn thấy Ardy rót từ chiếc can màu đỏ ra, đổ chất lỏng vào cốc và nâng cốc lên miệng mình. Nhớ lại khoảnh khắc kinh khủng từ một chuyến đi lên núi khi tôi vô tình uống phải một ngụm nhỏ dầu hỏa, và mất cả ngày hôm sau để nôn nó ra hết, tôi hét lên với Ardy dừng việc đó lại. Nhưng anh giơ tay và nói rất bình tĩnh: “Không sao đâu, Jared. Tôi đạt tới trình độ thứ tám trong kungfu cơ mà.”
Ardy giải thích rằng kungfu cho anh sức mạnh, nhưng buộc anh và những người đồng môn là những chuyên gia võ thuật phải trải qua sự kiểm tra hằng tháng bằng việc uống một cốc dầu hỏa. Không có kungfu, tất nhiên, dầu hỏa có thể khiến một người yếu ớt hơn Ardy chắc chắn sẽ bị ốm; tạo hóa đã cấm những người như tôi chẳng hạn không nên thử nó. Nhưng nó thì lại chẳng gây hại nổi Ardy bởi vì anh ta có kungfu. Anh bình tĩnh quay về lều của mình để uống hết cốc dầu hỏa, và xuất hiện vào ngày hôm sau vẫn mạnh khỏe và vui vẻ như bình thường.
Tôi không thể tin là dầu hỏa không làm hại gì tới Ardy. Tôi ước sao anh có thể tìm ra một cách nào khác ít độc hại hơn để tiến hành những bài kiểm tra định kỳ về sự chuẩn bị sẵn sàng của mình. Nhưng với anh ta và những người cùng tập luyện kungfu với anh, điều đó thể hiện như một chỉ thị cho sức mạnh của họ và trình độ tăng tiến trong môn võ kungfu. Chỉ những con người thực sự tráng kiện mới có thể vượt qua được thử thách đó. Uống dầu hỏa minh họa cho học thuyết bất lợi trong việc sử dụng các hóa chất nguy hại, theo cách thức như là sự khó chịu kinh khủng đối với chúng ta, cũng giống như việc những điếu thuốc và chai rượu là điều quá sức đối với Ardy.
Như một ví dụ cuối cùng, tôi tổng kết lại học thuyết của mình trên phương diện rộng lớn hơn bằng việc mở rộng những ứng dụng của nó trong quá khứ - trong trường hợp này, là đối với nền văn minh của thổ dân Maya, đã phát triển vượt bậc ở khu vực Trung Mỹ khoảng 1.000 - 2.000 năm về trước. Các nhà khảo cổ học đã rất say mê với những thành công của người Maya trong việc sáng tạo một thế giới phát triển nằm ở trung tâm những cánh rừng nhiệt đới bạt ngàn. Rất nhiều những thành tựu của người Maya, chẳng hạn như lịch, chữ viết, những kiến thức thiên văn và những hoạt động nông nghiệp ngày nay được biết tới dưới rất nhiều góc độ khác nhau. Nhưng những nhà khảo cổ đã bị đánh đố rất lâu bởi những chiếc ống mỏng manh chẳng rõ dùng để làm gì mà họ thường tìm thấy trong các khu khai quật của nền văn minh Maya.
Chức năng của những cái ống cuối cùng cũng trở nên rõ ràng cùng với sự phát hiện ra những chiếc bình được sơn màu vẽ lên, trên đó miêu tả những cảnh sử dụng chiếc ống đó: chúng được dùng để tiến hành nghi lễ thụt rửa do việc nhiễm độc. Những chiếc bình mô tả những con người có địa vị cao, hẳn phải là thầy tu hay một vị hoàng tử, tiếp nhận nghi lễ thụt rửa trước mặt những người khác. Ống thụt được biết là có sự liên hệ với một chiếc túi chứa một loại đồ uống giống bia, dạng sủi bọt - trong đó có thể chứa ma túy hoặc chất gây ảo giác hay cả hai loại, theo sự gợi ý của những bộ tộc khác. Rất nhiều những bộ lạc của thổ dân da đỏ Trung và Nam Mỹ trước đây thường tiến hành những nghi lễ thụt rửa tương tự khi lần đầu tiên những người khai phá tới vùng đất này và một số vẫn còn tiến hành điều đó cho đến tận ngày nay. Những loại hợp chất được sử dụng có thể là từ cồn (được tạo ra từ việc lên men nhựa cây thùa hay vỏ của cây này), tới thuốc lá hay chất gây ảo giác lấy từ cây xương rồng, các dẫn xuất của LSD(50), và cả loại nấm sản sinh ra hallucinogens. Do đó, việc thụt rửa mang tính nghi lễ tương tự với việc hấp thu những chất độc hại qua đường miệng, nhưng có bốn lý do giải thích tại sao việc thụt rửa lại là một vật chỉ thị có hiệu quả và giá trị hơn để biểu hiện sức mạnh hơn so với khi uống chúng.
Đầu tiên, đó có thể là do việc uống rượu thường diễn ra đơn lẻ, vì thế mất đi cơ hội để thể hiện địa vị cao của người nào đó so với những người còn lại. Tuy nhiên, sẽ là khó khăn cho những trường hợp chỉ có một mình, nhưng vẫn buộc phải kiểm soát lượng đồ uống có cồn đưa vào cơ thể mà không có được sự trợ giúp của việc thụt tháo. Sự thụt tháo khuyến khích một người hòa nhập với những người khác, và từ đó tự động sáng tạo nên cơ hội để thể hiện bản thân. Thứ hai, cần có thêm sức khỏe để chịu đựng lượng cồn như là một chất thụt tháo hơn là một thứ đồ uống, do cồn ngấm trực tiếp vào ruột và từ đó ngấm vào máu, mà trước đó nó không được hoà trộn với thức ăn có trong dạ dày. Thứ ba, sự hấp thu một loại thuốc ở những đoạn ruột non sau khi chúng được đưa vào từ miệng sẽ được chuyển ngay sang gan, nơi mà rất nhiều loại thuốc được khử độc trước khi chúng được đưa tới bộ não và những nội quan nhạy cảm khác. Nhưng những loại thuốc được ngấm vào từ trực tràng sau một lần thụt rửa có thể vượt qua việc lọc bỏ của gan. Cuối cùng là, những cơn buồn nôn có thể hạn chế việc ai đó uống rượu chứ không phải là việc thụt ra. Do vậy, một sự thụt tháo với tôi dường như là một thứ quảng cáo có sức thuyết phục về sự ưu việt hơn so với những quảng cáo rượu whisky của chúng ta. Tôi đã đề cao nhận định này với một công ty quan hệ công chúng đang có nhiều tham vọng cạnh tranh để có được hợp đồng với một trong những nhà sản xuất rượu lớn nhất.
Giờ thì hãy cùng tôi quay ngược trở lại và tổng kết viễn cảnh về nạn lạm dụng hóa chất mà tôi vừa đề cập. Cho dù, sự tự hủy hoại thường xuyên bằng hóa chất có thể chỉ tồn tại độc nhất ở loài người, tôi nhìn nhận nó trong sự phù hợp với những hình mẫu phổ biến hơn về những hành vi cư xử của loài vật và do đó có rất nhiều những tiền lệ có sẵn từ động vật. Tất cả các động vật đều tiến hóa những dấu hiệu để có thể truyền đạt những thông điệp của chúng tới các loài khác. Nếu những dấu hiệu đó là những gì mà một con vật riêng lẻ có thể làm chủ hay bắt chước được, chúng có thể vay mượn vô số những dấu hiệu đó cho bản thân thông qua cách đánh lừa, và do đó là không đáng tin cậy nữa. Để trở nên có giá trị và đáng tin cậy, một dấu hiệu phải là thứ đảm bảo tính trung thực của kẻ phát ra tín hiệu đó, kèm theo những cái giá phải trả, sự mạo hiểm hay gánh nặng mà chỉ những cá nhân thực sự xuất sắc mới có thể chịu đựng nổi. Rất nhiều những dấu hiệu ở động vật bằng cách khác có thể tác động đến chúng ta như một thứ phản tác dụng - chẳng hạn như “những cú nhảy nông nổi” ở loài linh dương, hay những bộ phận trên cơ thể phải trả giá đắt và những cách trình diễn mạo hiểm mà qua đó con đực dùng để quyến rũ con cái - có thể được hiểu theo cách này.
Dường như, với tôi triển vọng này đóng góp cho tiến hóa không chỉ trong nghệ thuật của loài người mà còn là với thói quen lạm dụng các loại hóa chất. Cả nghệ thuật và sự lạm dụng hóa chất đều là những dấu hiệu phổ biến và tất đặc trưng của những đặc điểm tiêu biểu trong phần lớn các xã hội loài người. Cả hai đều đòi hỏi phải có sự giải thích, bởi không phải ngay lập tức chúng ta đã hiểu: tại sao chúng lại thúc đẩy sự sống sót của chúng ta vượt lên chọn lọc tự nhiên, hay tại sao chúng giúp chúng ta giành được bạn tình thông qua sự chọn lọc tình dục. Tôi đã tranh luận từ trước rằng nghệ thuật thường được sử dụng như một dấu hiệu nhận biết có giá trị cho tính ưu thế của mỗi cá nhân hay là địa vị của họ, bởi nghệ thuật cần kỹ năng để sáng tạo nên hay đòi hỏi địa vị hay tiền bạc mới có thể đáp ứng nổi. Nhưng nhờ thế, các cá nhân ấy mới nhận được sự đánh giá cao từ những người trong cùng một cộng đồng và có những địa vị đáng mơ ước, qua đó giành được khả năng gia tăng cơ hộiquyền sử dụng nguồn tài nguyên và cả bạn tình. Vấn đề tôi đang tranh luận ở đây là việc con người tìm kiếm những địa vị thông qua rất nhiều những cuộc trình diễn phải trả giá đắt mà ngoài nghệ thuật còn một số những thể hiện khác nữa (như việc nhảy từ các tháp cao xuống, lái xe nhanh hay lạm dụng hóa chất) là quá đỗi nguy hiểm. Những màn trình diễn phải trả giá đắt trước hết là để khoe khoang sự giàu có và địa vị; và sau đó những việc nguy hiểm như thế là để quảng cáo rằng cá nhân người tham gia phần trình diễn đó có thể đương đầu với những mạo hiểm đến như vậy, do đó, họ chắc chắn phải là người giỏi nhất.
Tôi không tuyên bố, dù rằng triển vọng này có thể tạo ra những hiểu biết toàn bộ về nghệ thuật và sự lạm dụng hóa chất. Như tôi đã đề cập trong mối liên hệ với nghệ thuật, những hành vi cư xử phức tạp đạt được cuộc sống của bản thân chúng, vượt xa khỏi mục đích ban đầu của nó (nếu trước đó từng chỉ có một mục đích duy nhất), và thậm chí có thể ban đầu phục vụ cho nhiều chức năng Chi với nghệ thuật mà thôi, ngày nay nó đã được thúc đẩy vượt xa khỏi việc giải trí đơn thuần bởi sự cần thiết của những công việc quảng cáo cho nó, nạn lạm dụng hóa chất giờ cũng đã rõ ràng hơn so với việc chỉ nhằm mục đích quảng cáo. Đó cũng là cách vượt lên những hạn chế, giảm bớt đau khổ hay chỉ là thưởng thức một đồ uống có mùi vị thơm ngon.
Tôi cũng không phủ nhận rằng, thậm chí cả trong những triển vọng tiến hóa, vẫn còn tồn tại những khác biệt căn bản giữa việc lạm dụng hóa chất của con người và những tiền lệ động vật của nó. Những cú nhảy ngờ nghệch, những chiếc đuôi dài và tất cả những tiền lệ ở động vật mà tôi đã mô tả đều có giá của nó, nhưng những hành vi này vẫn tồn tại được là nhờ những trả giá đó còn ít hơn nhiều so với giá trị thực sự của nó. Một con linh dương với cú nhảy của nó có thể bỏ lỡ mất cơ hội để bắt đầu chạy trốn trong cuộc rượt đuổi, nhưng cuối cùng lại nhận được cơ hội là có thể giảm khả năng con sư tử sẽ lao vào cuộc rượt đuổi nguy hiểm ấy. Một con chim đực có chiếc đuôi rất dài gây trở ngại cho việc tìm kiếm thức ăn và trốn thoát khỏi những con vật săn mồi, nhưng những nhược điểm cho sự tồn tại ấy lại được chọn lọc tự nhiên lợi dụng, và được đền bù thỏa đáng hơn nhiều bởi những thuận lợi có được trong quá trình lựa chọn bạn tình. Sự cân bằng tổng số là nhiều hơn so với việc truyền đạt gen của con đực cho ít con hơn. Do vậy, những đặc điểm động vật này không thể coi là sự tự hủy hoại, mà chúng thực chất là việc tự nâng tầm giá trị của bản thân.
Trong trường hợp của việc lạm dụng hóa chất ở chúng ta, thì cái giá vượt quá cả lợi ích của nó. Những người nghiện ngập và những kẻ say xỉn không chỉ đi tới có cuộc sống ngắn ngủi, mà họ còn mất nhiều hơn thế, không có được nét hấp dẫn trong con mắt của những người có thể trở thành bạn đời lương lai, và mất đi khả năng chăm sóc cho những đứa con của chính họ. Những đặc điểm này không thể tồn tại lâu dài nếu những ưu điểm ẩn giấu kém xa so với cái giá phải trả, chúng tồn tại chủ yếu bởi chúng là những chất gây nghiện. Nói chung, chúng là những hành vi tự hủy hoại, chứ không phải là tự nâng giá trị cho bản thân nữa. Trong khi những con linh dương có thể thỉnh thoảng mắc sai lầm trong những cú nhảy bồng bột của mình, chúng không tự tìm đến cái chết chỉ vì mê đắm niềm hân hoan của những cú nhảy đó. Chỉ riêng về mặt này, sự lạm dụng các hóa chất để hủy hoại bản thân đã thực sự tách ra khỏi những tiền lệ ở động vật, để trở thành một dấu hiệu đặc trưng chỉ có ở loài người.