Những tác phẩm vạch ra nguồn gốc mối quan hệ giữa con người và các động vật linh trưởng khác nhờ phương tiện là chiếc đồng hồ ADN bao gồm những bài báo mang tính kỹ thuật được đăng trên các tạp chí khoa học. C. G. Sibley và J. E. Ahlquist giới thiệu những nghiên cứu của họ trong ba bài báo: “The phylogeny of the hominoid primates, as indicated by DNA-DNA hybridization,” Journal of Molecular Evolution 20: 2-15 (1984); “DNA hybridization evidence of hominoid phylogeny; results from an expanded data set,” Journal of Molecular Evolution 26: 99-121 (1987); và bài báo của các tác giả C. G. Sibley, J. A. Comstock và JE. Ahlquist, “DNA hybridization evidence of hominoid phylogeny: a reanalysis of the fata.” Journal of Molecular Evolution 30: 202-236 (1990). Rất nhiều các nghiên cứu của Sibley và Ahquist về mối quan hệ thân thuộc của các loài chim cũng thông qua các phương pháp tương tự trên ADN đã được tổng kết trong hai cuốn sách: CG. Sibley và JEAhlquist, CG. Sibley và JEAhlquist: Phylogeny and Classification of Birds (New Haven: Yale University Press, 1990); c. G. Sibley và B. L. Monroe, Jr., Distribution and Taxonomy of the Birds of the World (New Haven: Yale University Press, 1990).
Những kết luận tương tự về loài người và mối quan hệ với các loài động vật nhân hình thu được thông qua sự so sánh ADN, sử dụng một phương pháp khác (được gọi là phương pháp tetraethylammonium chloride, có hiệu quả cao hơn là phương pháp hydroxyapatite được Sibley và Ahlquist sử dụng). Những kết quả này được mô tả bởi A. Caccone và J. R. Powell trong bài báo, “DNA divergence among hominoids,” Evolution 43: 925-942 (1989). Một bài báo cũng của tác giả trên đã giải thích về sự tương đồng ở mức độ nào giữa những loại ADN có thể được suy ra từ những điểm hòa trộn tan chảy ADN: A. Caccone, R. DeSalle và J. R. Powell, “Calibration of the changing thermal stability of DNA duplexes and degree of base pair mismatch,” Journal of Molecular Evolution 27: 212-216 (1988).
Những bài báo trên so sánh toàn bộ vật chất di truyền (ADN) của hai loài thông qua cách thức xét tới các điểm hòa trộn tan chảy nhằm mục đích thu được một phép tính đơn lẻ về sự tương đồng tổng số. Theo nhiều cách chọn lựa, một phương thức có rất nhiều yếu tố thực nghiệm thì cũng cung cấp một lượng lớn các thông tin chi tiết về một phần nhỏ nhoi của ADN tổng số tồn tại trong mỗi loài, nhằm xác định trình tự chính xác của các đơn vị phần tử cấu trúc nên phần AND đó. Có năm nghiên cứu được thực hiện từ một phòng thí nghiệm đơn lẻ và áp dụng kỹ thuật đó trong việc xem xét mối quan hệ giữa loài người và các loài động vật nhân hình bao gồm: M. M. Miyamoto và cộng sự, “Phylogenetic relations of humans and African apes from DNA sequence in the globin region,” Science 238: 369-373 (1987); M. M. Miyamoto và cộng sự, “Molecular systematic of higher primates: genealogical relations and classification,” Proceedings of the National Academy of Sciences 85: 7627-7631 (1988); M. Goodman và cộng sự, “Molecular phytogeny of the family of apes and humans,” Genome 31: 316-335 (1989); M. M. Miyamoto và M. Goodman, “DNA systematics and evolution of primates,” Annual Reviews of Ecology and Systematic 21: 197-220; và M. Goodman và cộng sự, “Primate evolution at the DNA level and a classification of hominoids,” Journal of Molecular Evolution 30: 260-266 (1990). Nguyên tắc chung ấy cũng được áp dụng để xem xét mối quan hệ giữa các loài cá cichclid sống ở hồ Victoria, được A. Meyer và cộng sự, nghiên cứu trong bài báo “Monophyletic origin of Lake Victoria cichlid fishes suggested by mitochondria! DNA sequences,” Nature 347: 550-553 (1990).
Hai bài báo phản đối kịch liệt nguyên lý đồng hồ ADN nói chung, và một trong những ứng dụng của nó đã được Sibley và Ahlquist áp dụng đối với mối quan hệ giữa loài người - các động vật nhân hình nói riêng, đó là: J. Marks, c. w. Schmidt, và V. M. Sarich, “DNA hybridization as a guide to phylogeny: relationships of the Hominoidea,” Journal of Human Evolution 17: 769-786 (1988); và V. M. Sarich, c. w. Schmidt và J. Marks, “DNA hybridization as a guide to phylogeny: a critical analysis,” Cladistics 5: 3-32 (1989). Theo tôi, những quan điểm phản đối của Marks, Schmidt và Sarich đã được giải đáp thỏa đáng. Những đồng thuận tốt trong những kết luận về mối quan hệ giữa con người với những loài vượn người dựa trên đồng hồ ADN được miêu tả bởi Sibley và Ahlquist, và chiếc đồng hồ ADN được Caccone và Powell đo đạc, cộng thêm với những trình tự ADN về sau hỗ trợ cho tính chính xác của những kết luận trên.
Những bài báo khác về đồng hồ ADN cũng được đăng trên hai số của Journal of Molecular Evolution, trong đó cũng có một số bài báo đã nhắc tới ở trên: Kỳ 30, số 3 và 5 (1990).