Nếu có dịp ghé qua vườn bách thú, bạn hãy quan sát một chuồng vượn nhé! Bạn hãy thử hình dung rằng những chú vượn trong chuồng hầu như không có lông trên cơ thể và ở một chuồng bên, tưởng tượng là những con người bình thường nhưng chẳng may không biết nói và cũng không có áo quần. Giờ bạn thử đoán xem những chú vượn này và chúng ta có hệ gen giống nhau tới mức nào. Chẳng hạn, theo bạn đoán thì một chú tinh tinh có hệ gen giống với con người 10%, 50% hay 99%?
Sau đó, hãy tự hỏi tại sao chúng ta trưng bày những con vượn kia trong chuồng thú, sử dụng những con thuộc nhóm động vật nhân hình khác trong các thử nghiệm y học trong khi chúng ta không thể làm vậy với chính mình. Giả sử như hệ gen của tinh tinh giống với loài người tới 99%, và rằng sự khác biệt mấu chốt giữa loài người và tinh tinh chỉ phụ thuộc vào một số ít gen. Liệu bạn còn đồng tình với việc nhốt tinh tinh vào chuồng thú và sử dụng chúng làm vật thí nghiệm? Hãy nghĩ tới những con người bất hạnh do bị thiểu năng trí tuệ, không có khả năng giải quyết các vấn đề, tự chăm sóc bản thân, cũng như giao tiếp, thiết lập các mối quan hệ xã hội và cảm nhận nỗi đau của bản thân còn kém hơn loài vượn. Vậy thì lý lẽ nào ngăn cấm việc thử nghiệm y học trên những con người bất hạnh đó thay vì trên các chú vượn?
Có lẽ bạn sẽ trả lời rằng vượn chỉ là loài động vật còn con người là con người, thế là đủ. Bất kể hệ gen của một loài động vật nào đó giống với chúng ta tới mức nào, và bất kể rằng nó có khả năng giao tiếp xã hội hay cảm nhận nỗi đau hay không, thì chúng ta vẫn không nên áp dụng chuẩn mực đạo đức vẫn đối xử với loài người cho loài đó. Rõ ràng đây chỉ là một ý kiên chủ quan nhưng ít ra nó lại là một câu trả lời cố hữu mà chúng ta chẳng dễ gì gạt bỏ. Trong trường hợp này, việc tìm hiểu các mối quan hệ tổ tiên sẽ không thu được bất cứ hệ quả đạo đức nào, nhưng vẫn sẽ thỏa mãn trí tò mò của chúng ta về nguồn gốc của loài người. Bất cứ xã hội loài người nào cũng khao khát tìm hiểu về cội rễ của mình và thỏa mãn khao khát đó bằng cách tự tưởng tượng ra một câu chuyện về Tạo hóa. Truyền thuyết ba loài tinh tinh là một câu chuyện về Tạo hóa trong thời đại chúng ta.
Trong suốt hàng thế kỷ, rõ ràng là chúng ta đã biết một cách tương đối vị trí của mình trong giới động vật. Hiển nhiên con ngươi là một loài động vật có vú, nhóm động vật có những đặc trưng như có lông tóc hay khả năng chăm sóc con. Trong lớp động vật có vú, con người rõ ràng thuộc bộ linh trưởng, nhóm động vật gồm khỉ có đuôi và không đuôi. Chúng ta có chung rất nhiều tính trạng vốn chỉ có ở các linh trưởng mà không có ở đa số các loài thú còn lại, chẳng hạn như móng tay và móng chân dẹt thay vì móng vuốt, tay có khả năng cầm nắm, ngón cái đối diện với bốn ngón còn lại, và cơ quan sinh dục đực nằm tự do chứ không cố định vào phần bụng. Cho đến thế kỷ II, một bác sỹ người Hy Lạp tên là Galen đã nhận định chính xác vị trí tương đối của con người trong tự nhiên khi ông giải phẫu rất nhiều loài động vật và phát hiện ra rằng khỉ “giống với chúng ta nhất ở những đặc điểm như nội tạng, cơ, hệ mạch máu và cấu trúc xương”.
Trong bộ linh trưởng, quả thật chúng ta gần với họ khỉ không đuôi (bao gồm: vượn, đười ươi, gorilla(3) và tinh tinh) hơn so với khỉ có đuôi. Có thể dẫn chứng bằng một đặc điểm dễ nhận thấy nhất là người cũng không có đuôi. Cũng rất rõ ràng rằng, vượn là loại động vật nhân hình khác biệt nhất vì chúng có kích thước nhỏ và đôi tay rất dài còn đười ươi, tinh tinh, gorilla và người có quan hệ gần gũi với nhau hơn. Nhưng quả thực việc nghiên cứu sâu hơn về những mối quan hệ này làm nảy sinh những khó khăn không lường hết được. Một cuộc tranh cãi khoa học gay gắt đã nổ ra xoay quanh ba vấn đề cần giải đáp sau đây:
1. Cây chủng loại phát sinh chi tiết trong đó nêu ra mối quan hệ giữa loài người và các loài động vật nhân hình hiện đang còn tồn tại và đã tuyệt chủng sẽ trông như thế nào? Ví dụ như loài động vật nhân hình đang sinh sống nào là họ hàng gần nhất với chúng ta?
2. Vào thời điểm nào chúng ta và họ hàng đang sống gần gũi nhất đó, bất kể đó là loài động vật nhân hình nào, vẫn cùng chung trong một nguồn gốc?
3. Phần nào trong hệ gen của chúng ta giống với loài họ hàng gần nhất đó?
Trước tiên, ta thấy rất dễ hiểu khi kết luận rằng việc so sánh hình thái giải phẫu có thể đưa ra câu trả lời cho ba câu hỏi trên. Con người trông rất giống với tinh tinh và gorilla, nhưng cũng tồn tại khác biệt ở những đặc điểm dễ thấy như bộ não lớn, dáng đi thẳng, ít lông trên cơ thể cũng như ở một số đặc điểm khó phân biệt khác. Tuy nhiên, qua những kiểm tra kỹ lưỡng hơn, những đặc điểm giải phẫu đó không còn mang tính xác thực tuyệt đối. Dựa trên việc đánh giá những đặc điểm giải phẫu nào là quan trọng nhất và cách giải thích các đặc điểm này ở từng người mà các nhà sinh học đã đưa ra những quan điểm khác nhau. Trong đó, quan điểm thiểu số là chúng ta có quan hệ gần nhất với đười ươi, còn tinh tinh và gorilla đã rẽ nhánh trong cây chủng loại phát sinh trước khi chúng ta tách ra khỏi tổ tiên chung cùng với đười ươi. Còn quan điểm đa số thì lại cho là chúng ta gần với tinh tinh và gorilla nhất, còn tổ tiên của đười ươi đã sớm tách ra và tiến hóa theo hướng khác.
Theo quan điểm đa số, hầu hết các nhà sinh học nghĩ rằng gorilla và tinh tinh giống nhau hơn là giống với chúng ta, điều đó chứng tỏ rằng chúng ta đã tách ra trước khi gorilla và tinh tinh bắt đầu tách biệt. Kết luận này phản ánh quan niệm phổ biến cho rằng có thể gộp gorilla và tinh tinh vào một nhóm động vật nhân hình, trong khi con người là một loài khác biệt. Tuy nhiên, cũng có thể giả thiết rằng chúng ta sở dĩ trông khác biệt là vì tinh tinh và gorilla không biến đổi nhiều kể từ khi chúng vẫn còn có chung tổ tiên với chúng ta. Trong khi đó, chúng ta đã thay đổi rất nhiều ở một số đặc điểm quan trọng và dễ thấy như dáng đi thẳng và bộ não lớn. Trong trường hợp đó, loài người có thể gần nhất với gorilla, hay loài người có thể gần nhất với tinh tinh, hoặc loài người, gorilla và tinh tinh có quan hệ gần gũi tương đương nhau trong toàn thể hệ gen.
Vì vậy, các nhà giải phẫu học tiếp tục tranh luận về câu hỏi thứ nhất, chi tiết về cây chủng loại phát sinh của con người. Bất kể chúng ta thiên về quan điểm nào, các nghiên cứu giải phẫu vẫn không thể đưa ra đáp án cho câu hỏi thứ hai và thứ ba về thời điểm tách biệt và khoảng cách di truyền của con người so với động vật nhân hình. Tuy vậy, về cơ bản các bằng chứng hóa thạch lại có thể trả lời các câu hỏi về cây tổ tiên chính xác và về thời điểm tách biệt nhưng chúng vẫn không thể trả lời câu hỏi về khoảng cách di truyền. Vì thế nếu chúng ta có nhiều dạng hóa thạch, chúng ta có thể hy vọng tìm thấy hàng loạt các hóa thạch về người nguyên thủy và hàng loạt các hóa thạch khác về tinh tinh khởi thủy hội tụ về một tổ tiên chung khoảng 10.000.000 năm trước, và rồi bản thân tổ tiên này lại hội tụ về hàng loạt hóa thạch gorilla khởi thủy từ 12.000.000 năm trước. Không may, hy vọng về những thông tin từ các hóa thạch đó là điều không thể, vì hầu như không tìm được một hóa thạch của bất cứ loài động vật nhân hình nào trong giai đoạn quyết định chủ yếu từ 5.000.000 đến 14.000.000 năm về trước ở châu Phi.
Lời giải đáp cho những câu hỏi trên về nguồn gốc của loài người lại đến từ một hướng không ngờ tới: sinh học phân tử ứng dụng trong phân loại điểu học. Khoảng 30 năm trước, các nhà sinh học phân tử bắt đầu nhận ra rằng các hợp chất hóa học mà động thực vật sản xuất ra có thể tạo thành “chiếc đồng hồ” đo được khoảng cách di truyền và dấu ấn thời gian của các phân hóa tiến hóa. Ý tưởng đó như sau: Cho rằng có một số nhóm phân từ tồn tại trong tất cả các loài, và dần dần nhận dạng được các cấu trúc riêng biệt ở từng loài. Nhận định xa hơn nữa cho rằng những cấu trúc này thay đổi một cách chậm chạp qua hàng triệu năm bởi các đột biến di truyền được, và tốc độ của các thay đổi này là như nhau ở mọi loài. Hai loài xuất phát từ cùng một tổ tiên chung có thể khởi đầu với các dạng phân tử hoàn toàn giống nhau do được thừa hưởng từ tổ tiên ban đầu. Nhưng những đột biến sau đó có thể xảy ra một cách hoàn toàn độc lập và tạo ra những khác biệt về cấu trúc phân tử của hai loài có thể phân hóa từ từ. Nếu chúng ta biết có bao nhiêu thay đổi về cấu trúc xảy ra trong thời gian trung bình 1.000.000 năm, chúng ta có thể sử dụng các khác biệt hiện nay trong cấu trúc phân tử của hai loài thân thuộc như một chiếc đồng hồ để tính toán thời gian cần thiết cho một loài tổ tiên chung phân hóa thành hai loài riêng biệt.
Chẳng hạn như ai đó, từ các bằng chứng hóa thạch, biết rằng sư tử và hổ đã tách khỏi nhau cách đây khoảng 5.000.000 năm. Giả sử các phân tử trong sư tử có cấu trúc giống tới 99% cấu trúc của các phân tử tương tự ở hổ và chỉ khác nhau có 1% mà thôi. Nếu một ai đó tiếp theo lấy ra một cặp loài chưa hề biết tới trong lịch sử hóa thạch và tìm ra rằng chúng khác biệt nhau tới 3% đồng hồ phân tử có thể nói rằng chúng đã phân hóa từ khoảng ba lần của 5.000.000 năm tức là 15.000.000 năm trước.
Sự đơn giản hóa như trong hình mẫu vừa rồi mới chỉ mang tính lý thuyết, kiểm chứng tính đúng đắn của nó trong thực tiễn đòi hỏi một nỗ lực rất lớn từ các nhà sinh học. Có bốn việc cần phải tiến hành trước khi có thể ứng dụng chiếc đồng hồ phân tử kia trong thực tiễn. Các nhà khoa học phải tìm ra những phân tử phù hợp nhất, tìm ra cách nhanh chóng đo được các thay đổi trong cấu trúc của chúng, chứng minh rằng đồng hồ chạy với tốc độ ổn định (ví dụ, các cấu trúc phân tử có thực sự tiến hóa với tốc độ như nhau ở mọi loài như các nhà khoa học đang nghiên cứu) và xác định tốc độ này là bao nhiêu.
Khoảng trước năm 1970, các nhà sinh học phân tử đã giải quyết được hai vấn đề đầu tiên trong số các vấn đề trên. Phân tử phù hợp nhất được chứng minh chính là axit deoxyribonucleic (viết tắt là ADN), loại vật chất rất nổi tiếng theo James Watson và Francis Crick chứng minh là có cấu trúc chuỗi xoắn kép, qua đó đã tạo nên một cuộc cách mạng trong nghiên cứu di truyền. ADN được tạo thành từ hai mạch và là chuỗi cực kỳ dài, mỗi đơn phân là một trong bốn dạng cấu trúc nhỏ mà trình tự sắp xếp của chúng trong chuỗi quy định tất cả các thông tin di truyền được truyền đạt từ cha mẹ tới con cái. Một phương pháp nhanh chóng dùng để đo các biến đổi trong cấu trúc ADN đó là trộn lẫn ADN của hai loài sau đó xác định nhiệt độ biến tính các sợi ADN lai này và tính xem nhiệt độ này giảm đi bao nhiêu độ so với nhiệt độ biên tính của ADN một loài đơn lẻ. Phương pháp này thường được gọi là lai ADN. Nó cho thấy khi nhiệt độ biến tính bị hạ thấp 1°C (viết tắt là T=1°C) nghĩa là các phân từ ADN của hai loài khác nhau khoảng 1%.
Vào những năm 1970, hầu hết các nhà sinh học phân tử và phân loại học đều không mấy quan tâm tới công việc của nhau. Trong số ít các nhà phân loại học đánh giá cao sức mạnh tiềm tàng của kỹ thuật lai ADN có Charles Sibley, một nhà điểu học sau này đã trở thành giáo sư Điểu học và là Giám đốc Bảo tàng Peabody về Lịch sử Tự nhiên tại Yale. Phân loại chim là một lĩnh vực khó vì khả năng bay quyết định rất nhiều đặc điểm giải phẫu quan trọng. Chim có nhiều cách bắt côn trùng giữa không trung và kết quả là những loài chim có ổ sinh thái tương tự nhau thì có xu hướng mang đặc điểm giải phẫu giống nhau bất kể tổ tiên của chúng là gì. Ví dụ như, kền kền châu Mỹ có hình dạng và hành vi giống với kền kền ở Cựu Thế giới nhưng các nhà sinh học lại chỉ ra rằng kền kền châu Mỹ có họ hàng gần với cò còn kền kền ở Cựu Thế giới(4) thì gần gũi với loài diều hâu và những nét giống nhau giữa chúng là do có lối sống tương tự nhau. Năm 1973, thất bại với những phương pháp cổ điển còn hạn chế trong việc xác định mối quan hệ cần được giải đáp giữa các loài chim, Sibley và Jon Ahlquist đã quay lại với đồng hồ ADN, một trong số những ứng dụng sinh học phân tử cập nhật và hiện đại nhất cho phân loại học. Mãi tới năm 1980, Sibley và Ahlquist mới sẵn sàng công bố nghiên cứu của họ, nghiên cứu này cuối cùng đã áp dụng đồng hồ ADN để phân tích quan hệ của khoảng 1.700 loài chim - gần 1/5 số loài chim hiện có.
Mặc dù thành quả nghiên cứu mà Sibley và Ahlquist thu được là to lớn, nhưng ban đầu nó đã gây ra nhiều tranh cãi vì chỉ có rất ít các nhà khoa học có hiểu biết đủ sâu trong nhiều lĩnh vực để có thể hiểu được kết quả đó. Sau đây là một số phản hồi thường thấy mà tôi nghe được từ các đồng nghiệp của mình:
“Tôi phát ốm khi nghe mấy thứ vớ vẩn đó. Tôi sẽ không quan tâm tới những gì hai người đó nói nữa đâu.” (Một nhà giải phẫu học)
“Phương pháp của hai người thì ổn đấy nhưng sao lại có người thích cái công việc phân loại chim nhàm chán đó nhỉ?” (Một nhà sinh học phân tử)
“Thú vị đây, nhưng kết luận của họ cần phải được kiểm tra lại bằng nhiều phương pháp khác nữa thì chúng ta mới có thể tin được.” (Một nhà tiến hóa)
“Kết luận của họ là “Sự thật bị phát giác”, tốt nhất là mọi người nên tin.” (Một nhà di truyền học)
Quan điểm của cá nhân tôi là ý kiến cuối cùng là gần chính xác nhất. Nguyên lý xây dựng đồng hồ ADN là không có gì phải bàn cãi; các phương pháp mà Sibley và Ahlquist dùng rất hiện đại; và tính ổn định nội tại trong khoảng cách di truyền đo được từ hơn 18.000 cặp lai ADN của các loài chim đã chứng thực giá trị kết quả mà họ thu được.
Như Darwin đã rất tinh tế khi hệ thống lại các bằng chứng về sự biến đổi của nhóm Chân tơ (Cirripedia) trước khi nghiên cứu chủ đề gây nhiều tranh cãi là biến đổi của con người, còn Sibley và Ahlquist đều bám sát vào đối tượng chim trong hầu như toàn bộ thập kỷ đầu tiên họ nghiên cứu đồng hồ ADN. Mãi tới năm 1984, họ mới công bố những kết luận đầu tiên về nghiên cứu nguồn gốc loài người bằng phương pháp ADN tương tự và trong những bài báo sau đó, họ đã đào sâu hơn những kết luận này. Công trình của họ chủ yếu dựa trên ADN của người và các loài họ hàng gần nhất: tinh tinh thường, tinh tinh lùn, gorilla, đười ươi, hai loài vượn và bảy loài khỉ ở Cựu Thế giới. Hình 1 tóm tắt lại kết quả thu được.
Đúng như bất kỳ nhà giải phẫu học nào dự đoán, khoảng cách di truyền lớn nhất được thể hiện thông qua mức độ giảm nhiệt độ biến tính ADN lai khá lớn thu được khi lai ADN của khỉ có đuôi với ADN người hoặc với bất kỳ loại động vật nhân hình nào. Điều này đơn giản củng cố thêm quan điểm thống nhất của mọi người ngay từ khi chúng ta mới nghiên cứu động vật nhân hình rằng quan hệ giữa người và động vật nhân hình gần nhau hơn so với quan hệ giữa khỉ có đuôi với loài người hay bất kỳ một loài động vật nhân hình nào khác. Con số chính xác là cấu trúc ADN của khỉ có đuôi giống với cấu trúc ADN của người 93% và chỉ sai khác có 7% mà thôi.

Hình 1. Truy nguyên mỗi cặp linh trưởng hiện đại bậc cao về điểm nối hai loài trong cặp đó. Các thông số bên trái cho biết tỷ lệ phần trăm khác biệt trong ADN giữa các loài linh trưởng hiện đại này, còn các thông số bên phải ước lượng thời gian triệu năm về trước khi hai loài còn chung tổ tiên. Ví dụ, tinh tinh thường và tinh tinh lùn có ADN khác nhau 0,7% và phân ly khoảng 3.000.000 năm trước; chúng ta có ADN khác với ADN của tinh tinh 1,6% và phân ly từ tổ tiên chung với hai loài này cách đây chừng 7.000.000 năm; còn gorilla thì có ADN khác với chúng ta hoặc tinh tinh 2,3% và phân ly từ tổ tiên chung với con người và hai loài tinh tinh kể trên khoảng 10.000.000 năm trước.
Tương tự, cũng không có gì ngạc nhiên khi khác biệt lớn thứ hai là sai khác về cấu trúc ADN của vượn so với cấu trúc ADN của người hay các loài động vật nhân hình khác chỉ là 5%. Điều này cũng chứng thực quan điểm vẫn được chấp nhận rằng vượn là loài động vật nhân hình khác biệt nhất và rằng quan hệ họ hàng của chúng ta với gorilla, tinh tinh và đười ươi là gần gũi hơn. Hầu hết các nhà giải phẫu học gần đây đều cho rằng trong số ba nhóm động vật nhân hình cuối cùng kể trên, đười ươi là tách biệt nhất và kết luận đó cũng phù hợp với bằng chứng ADN là: khác biệt về ADN giữa đười ươi với người, gorilla hay tinh tinh là 3,6%. Địa lý học cũng công nhận rằng ba loài cuối cùng đó đã tách ra khỏi vượn và đười ươi từ trước: hóa thạch của loài vượn và đười ươi chỉ giới hạn ở khu vực Đông Nam Á, trong khi đó gorilla và tinh tinh hiện đang sống cũng như các hóa thạch của loài người trước đây đều chi tập trung ở châu Phi.
Ở một thái cực khác nhưng cũng không có gì đáng ngạc nhiên, các mẫu ADN giống nhau nhất chính là ADN của tinh tinh thường và tinh tinh lùn, mà trong đó giống tới 99,3% và chỉ khác biệt có 0,7%. Bề ngoài hai loài tinh tinh này giống nhau tới mức cho tới tận năm 1929, các nhà giải phẫu học vẫn rất đau đầu để tìm ra tên gọi riêng cho chúng. Tinh tinh sống ở vùng xích đạo trung tâm ở Zaire được gọi là “tinh tinh lùn” vì kích thước trung bình của chúng khá nhỏ (và cơ thể gầy hơn, chân dài hơn) so với “tinh tinh thường” phân bố rộng khắp châu Phi thuộc phía bắc xích đạo. Tuy nhiên, với những kết quả thu được gần đây khi nghiên cứu tập tính của tinh tinh, các nhà khoa học đã biết chắc rằng những khác biệt khó nhận biết trong diện mạo của hai loài này chỉ là phần nổi của những khác biệt sâu sắc trong hoạt động sinh sản. Tinh tinh lùn khác với tinh tinh thường nhưng lại giống với con người ở chỗ chúng có nhiều tư thế giao phối, kể cả mặt đối mặt; bất kể giới tính nào cũng có thể chủ động trong việc giao phối, chứ không riêng gì giới đực; con cái có thể giao phối vào hầu hết thời điểm trong tháng, chứ không phải chỉ một khoảng thời gian ngắn vào giữa chu kỳ kinh nguyệt; và cả hai giới đều có mối liên hệ chặt chẽ với những con khác cùng giới hoặc khác giới, chứ không phải chỉ trong giới đực. Hiển nhiên, khác biệt ít ỏi trong gen (0,7%) giữa hai loài tinh tinh này có ảnh hưởng lớn tới sinh lý sinh sản. Chủ đề tương tự - khác biệt nhỏ trong gen quyết định khác biệt lớn trong sinh sản - sẽ trở lại trong chương này và cả chương sau với đối tượng cụ thể là khác biệt về gen giữa người và tinh tinh.
Trong tất cả các trường hợp đã đề cập ở trên, bằng chứng giải phẫu về quan hệ họ hàng đều đáng tin cậy và những kết luận dựa trên nghiên cứu ADN đã chứng thực lại kết luận mà các nhà giải phẫu đưa ra. Nhưng ADN còn có thể giải quyết vấn đề mà các nhà giải phẫu bó tay đó là quan hệ giữa người, gorilla và tinh tinh. Theo như Hình 1, hệ gen con người khác với hệ gen hai loài tinh tinh khoảng 1,6% và giống tới 98,4%. Gorilla có khác biệt lớn hơn với người và tinh tinh, lên tới 2,3%.
Chúng ta dừng lại một chút để nhấn mạnh vào những con số quan trọng này:
Gorilla chắc hẳn phải tách ra từ cây phát sinh chủng loại từ trước khi con người tách khỏi tinh tinh thường và tinh tinh lùn. Tinh tinh, chứ không phải gorilla, là họ hàng gần nhất với chúng ta. Nói cách khác, họ hàng gần nhất của tinh tinh không phải là gorilla mà lại là con người. Phân loại học truyền thống đã củng cố những khuynh hướng ý tưởng của con người cho rằng mình là trung tâm bằng cách dẫn ra sự phân tách cơ bản giữa con người hùng mạnh có dáng đứng thẳng và các loài động vật nhân hình tầm thường với toàn hành động thú tính. Giờ đây, phân loại học tương lai sẽ phải xem xét vị thế của tinh tinh khác đi: tồn tại một liên kết yếu giữa động vật nhân hình cấp cao (ba loài tinh tinh, kể cả “tinh tinh người”) và khỉ không đuôi cấp thấp hơn một chút (gorilla, đười ươi, vượn). Phân loại truyền thống thừa nhận liên kết yếu giữa các loài “động vật nhân hình” (chỉ tinh tinh, gorilla,…) và con người là không phù hợp với thực tế.
Khoảng cách di truyền (1,6%) giữa con người và cả hai loài tinh tinh rõ ràng là lớn gấp đôi khoảng cách di truyền giữa hai loài tinh tinh đó với nhau (0,7%). Nó nhỏ hơn khoảng cách này giữa hai loài vượn (2,2%) hoặc hai loài chim châu Mỹ có quan hệ gần gũi là sẻ mắt đỏ và sẻ mắt trắng (2,9%). 98,4% còn lại trong ADN người giống hệt ADN tinh tinh thường. Ví dụ, hemoglobin chủ yếu của người, tức là một loại protein vận chuyển oxy làm cho máu có màu đỏ, có 287 đơn vị thì tất cả các đơn vị này đều giống với hemoglobin của tinh tinh. Xét trên khía cạnh này cũng như hầu hết các khía cạnh khác thì chúng ta chỉ là một loài tinh tinh thứ ba và những gì phù hợp với tinh tinh thường và tinh tinh lùn thì cũng phù hợp với chúng ta. Dáng đứng thẳng, não bộ lớn, khả năng ngôn ngữ, có ít lông trên cơ thể, hoạt động sinh sản đặc biệt là những đặc trưng quan trọng có thể thấy được phân biệt chúng ta với hai loài tinh tinh kia và đều chỉ do 1,6% bộ mã di truyền của chúng ta quyết định.
Nếu cùng với thời gian các khoảng cách di truyền được tích lũy theo một tốc độ không đổi thì chúng sẽ hoạt động như một chiếc đồng hồ chính xác. Tất cả những điều này là cần thiết để tính khoảng cách di truyền thành khoảng thời gian cụ thể vì chúng ta có thể lấy tổ tiên chung cuối cùng làm hệ tọa độ và chia thang độ theo một cặp loài ta đã biết rõ cả khoảng cách di truyền và thời gian phân ly của chúng theo như việc định tuổi trên hóa thạch. Trên thực tế, ta có thể xác định khoảng cách di truyền cho các linh trưởng cao cấp theo hai hệ quy chiếu độc lập. Một mặt, theo các bằng chứng hóa thạch, vượn phân ly từ động vật nhân hình vào khoảng 25.000.000 tới 30.000.000 năm trước và giờ đây ADN của chúng khác với của chúng ta 7,3%. Mặt khác, đười ươi phân ly từ tinh tinh và gorilla vào khoảng giữa 12.000.000 tới 16.000.000 năm trước và hiện nay, ADN đười ươi khác với ADN người 3,6%. So sánh hai ví dụ này ta sẽ thấy có sự nhân đôi thời gian tiến hóa, vì một loài phân ly từ 12.000.000 - 16.000.000 tới 25.000.000 - 30.000.000 năm về trước, từ đó dẫn tới sự nhân đôi khoảng cách di truyền (3,6 tới 7,3% khác biệt trong ADN). Do đó, đồng hồ ADN của động vật nhân hình cao cấp chạy tương đối ổn định.
Với các hệ quy chiếu đó, Sibley và Ahlquist đã ước lượng khoảng thời gian tương ứng cho tiến hóa nhân loại. Vì khoảng cách di truyền giữa chúng ta và tinh tinh (1,6%) bằng khoảng một nửa khoảng cách di truyền giữa đười ươi và tinh tinh (3,6%), chúng ta ắt hẳn phải tách ra từ 6.000.000 tới 8.000.000 năm về trước. Như vậy, con đường tiến hóa của loài người và các loài tinh tinh khác đã phân ly vào khoảng 6.000.000 tới 8.000.000 năm trước. Tương tự, gorilla tách ra từ tổ tiên chung với ba loài tinh tinh (kể cả chúng ta) khoảng 9.000.000 năm trước còn tinh tinh lùn và tinh tinh thường phân ly khoảng 3.000.000 năm trước. Trái lại, vào năm 1954, năm thứ nhất đại học, khi tôi học nhân chủng học tự nhiên, sách giáo khoa lại in rằng con người phân ly từ động vật nhân hình ở thời điềm từ 15.000.000 tới 30.000.000 năm trước. Do đó, đồng hồ ADN luôn ủng hộ kết luận gây tranh cãi vốn được rút ra khi sử dụng nhiều đồng hồ phân tử khác theo phương pháp phân tích trình tự axit amin của protein, ADN ty thể, ADN gen giả globin(5). Các đồng hồ này đều cho thấy con người chỉ có một lịch sử ngắn dưới dạng khác biệt với động vật nhân hình, ngắn hơn rất nhiều so với điều mà các nhà nhân chủng học từng giả thuyết.
Những kết quả này phản ánh điều gì về vị trí của con người trong thế giới động vật? Các nhà sinh học phân loại sinh vật sống theo bậc phân loại, sinh vật trong cùng một bậc ít phân hóa với nhau so với bậc kế tiếp: loài phụ, loài, chi, họ, liên họ, bộ, lớp, ngành. Bách khoa toàn thư Britannica và các sách giáo khoa sinh học khác mà tôi có đều cho rằng người và động vật nhân hình thuộc cùng bộ linh trưởng, liên họ Hominoidea nhưng thuộc về các họ khác nhau là họ Hominidae và họ Pongidae. Nghiên cứu của Sibley và Ahlquist có thay đổi cách thức phân loại này hay không còn phụ thuộc vào quan điểm lý luận của việc phân loại. Các nhà phân loại học cổ điển đã nhóm các loài vào cùng bậc cao hơn bằng cách đánh giá theo chủ quan tầm quan trọng của các khác biệt giữa các loài. Những nhà phân loại học này xếp con người vào một họ riêng do con người có các tính trạng chức năng đặc biệt như não lớn và đứng bằng hai chân và cách phân loại này không phụ thuộc vào phép đo khoảng cách di truyền.
Tuy nhiên, một trường phái khác của phân loại học, phân loại học di truyền, cho rằng việc phân loại phải thật khách quan và thống nhất, dựa trên khoảng cách di truyền hoặc thời điểm tách biệt. Các nhà phân loại học theo trường phái này đều thống nhất rằng sẻ mắt trắng và sẻ mắt đỏ cùng thuộc chi Vireo, nhiều loài vượn thuộc chi Hylobates. Song các thành viên trong mỗi cặp loài cùng chi này có tỷ lệ khác nhau về di truyền lớn hơn so với sự khác biệt di truyền giữa người với hai loài tinh tinh và chúng đã tách nhau trong cây tiến hóa từ trước. Trên cơ sở đó, con người không thể thuộc về riêng một họ hoặc thậm chí một chi mà phải thuộc về cùng một chi với tinh tinh thường và tinh tinh lùn. Vì tên chi Homo của chúng ta được đưa ra trước, theo quy định về danh pháp động vật, nó sẽ được ưu tiên hơn tên chi Pan của hai loài tinh tinh kia. Do đó, trên Trái đất ngày nay, không chỉ có một mà có tới ba loài trong chi Homo đó là: tinh tinh thường - Homo troglodytes, tinh tinh lùn - Homo paniscus và tinh tinh thứ ba tức là con người - Homo sapien. Vì gorilla chỉ khác chúng ta và hai loài tinh tinh này đôi chút, vậy nên cũng tương đối hợp lý khi coi gorilla là loài thứ tư trong chi Homo.
Ngay cả một số nhà phân loại học đồng tình với trường phái phân loại học di truyền cũng vẫn có thể theo thuyết loài người trung tâm và việc xếp người với tinh tinh vào cùng một chi hiển nhiên là rất khó chấp nhận đối với họ. Tuy nhiên, chắc chắn là nếu lúc nào đó tinh tinh nghiên cứu phân loại học di truyền hoặc các nhà phân loại học ngoài Trái đất ghé thăm và đánh giá các cư dân của Trái đất, họ sẽ dễ dàng chấp nhận cách phân loại mới này.
Các gen cụ thể nào đã tạo nên sự khác biệt giữa con người và tinh tinh? Trước khi chúng ta xem xét câu trả lời này, chúng ta cần phải hiểu ADN - vật chất di truyền của chúng ta là gì.
Nhiều ADN hay hầu hết ADN của con người có chức năng chưa được biết đến và có thể chúng chỉ là “phế thải phân tử”: Các phân tử ADN được nhân lên nhưng lại mất đi chức năng ban đầu và quá trình chọn lọc tự nhiên đã không loại bỏ chúng khỏi cơ thể con người vì những phân tử này hoàn toàn vô hại. Trong số các ADN có chức năng đã biết ở người, các chức năng chính thường liên quan tới các chuỗi axit amin dài gọi là protein. Một số protein xác định tạo nên cấu trúc cơ thể (ví dụ protein keratin ở tóc hay collagen ở mô liên kết), trong khi một loại protein khác gọi là enzyme lại tổng hợp hoặc phân hủy hầu hết các phân tử trong cơ thể chúng ta. Trình tự của các phân tử nhỏ thành phần (các bazơ nucleotid) trong ADN quy định trình tự các axit amin trong phân tử protein của chúng ta. Một số dạng ADN khác trong cơ thể còn thực hiện chức năng điều hòa sinh tổng hợp protein.
Những đặc điểm dễ thấy và dễ nghiên cứu về mặt di truyền ở người thường được tạo thành từ các protein đơn lẻ và do các gen đơn lẻ quy định. Chẳng hạn, hemoglobin - loại protein vận chuyển oxy trong máu người mà tôi đã đề cập tới bao gồm hai chuỗi axit amin, mỗi chuỗi do một đoạn ADN đơn lẻ (một gen đơn) mã hóa. Hai gen này được nhận dạng là không có chức năng nào khác ngoại trừ việc mã hóa cho cấu trúc hemoglobin và từ đó làm cho máu người có màu đỏ. Khẩu phần ăn hay cường độ hoạt động thể dục của bạn có thể ảnh hưởng tới lượng hemoglobin cơ thể bạn sinh ra nhưng không ảnh hưởng tới cấu trúc của nó.
Đó chỉ là trường hợp đơn giản nhất nhưng còn có những gen ảnh hưởng tới nhiều tính trạng có thể nhìn thấy được. Ví dụ, sự rối loạn di truyền tiền định hay còn gọi là bệnh Tay-Sachs gây nên nhiều bất thường trong hoạt động cũng như trong giải phẫu: hành động kỳ quặc, cơ thể cứng đờ, da vàng, đầu phát triển không bình thường và các thay đổi khác. Chúng ta biết rằng trong trường hợp này tất cả những ảnh hưởng nhận biết được đều bắt nguồn từ những thay đổi của một enzyme do gen Tay-Sachs mã hóa nhưng chúng ta chưa biết thật chính xác quá trình đó diễn ra như thế nào. Vì enzyme đó có mặt trong nhiều mô của cơ thể và phân giải hầu hết các thành phần tế bào, do vậy việc thay đổi nó sẽ tạo nên hiệu ứng lan rộng và có thể gây tử vong. Trái lại, một số tính trạng như chiều cao của người trưởng thành lại do nhiều gen và các yếu tố môi trường (ví dụ chế độ dinh dưỡng khi còn nhỏ) cùng quy định.
Trong khi các nhà khoa học hiểu rõ về chức năng của rất nhiều gen mã hóa cho các protein đơn lẻ đã biết, chúng ta vẫn chỉ biết rất ít về chức năng của các gen có liên quan tới những dấu hiệu được cho là hết sức phức tạp, chẳng hạn như phần lớn các hành vi. Thật là ngớ ngẩn khi nghĩ rằng những dấu hiệu đặc biệt của con người như nghệ thuật, ngôn ngữ hay mâu thuẫn chỉ phụ thuộc vào một gen đơn lẻ. Khác biệt trong hành vi giữa các cá nhân phụ thuộc nhiều vào các tác động to lớn từ môi trường và thật khó mà biết được gen đóng vai trò gì trong những khác biệt đó. Tuy nhiên, dường như khoảng cách di truyền có liên quan tới sự khác nhau cố định trong hành vi của người và tinh tinh mặc dù chúng ta vẫn chưa biết được chính xác các gen quyết định sự khác nhau đó. Chẳng hạn, khả năng ngôn ngữ, vốn chỉ có ở con người chứ không phải ở tinh tinh, chắc chắn phụ thuộc vào sự khác biệt trong các gen quy định hộp phát âm và hệ thống thần kinh. Một tinh tinh nhỏ tuổi lớn lên trong nhà một nhà tâm lý học cùng với lũ trẻ đồng lứa của gia đình trông vẫn giống một con tinh tinh và không thể học nói hay đi thẳng. Nhưng liệu có đúng là khả năng một cá nhân lớn lên có thể thông thạo tiếng Anh hoặc tiếng Hàn là không phụ thuộc vào gen mà chỉ phụ thuộc vào môi trường ngôn ngữ thời thơ ấu như đã được chứng minh qua khả năng ngôn ngữ của đứa trẻ Hàn Quốc nhưng được bố mẹ nói tiếng Anh nuôi dưỡng.
Dựa trên cơ sở đó, chúng ta có thể kết luận gì về 1,6% khác biệt trong ADN của chúng ta với ADN của tinh tinh? Chúng ta đều biết rằng các gen chính quy định hemoglobin của người không hề khác nhau, và một số gen xác định khác cũng chỉ khác biệt đôi chút. Trong số sáu chuỗi protein đã được nghiên cứu tới nay ở người và tinh tinh thường, chỉ có năm trong số 1271 axit amin là khác nhau: một trong protein cơ được gọi là myoglobin, một trong chuỗi hemoglobin nhỏ được gọi là chuỗi delta và ba trong một enzyme có tên là anhydrite hóa carbonic. Nhưng chúng ta vẫn chưa biết đoạn nào trong ADN của người đã tạo nên sự khác biệt chủ yếu (sẽ được đề cập từ chương 2 tới chương 7) giữa người và tinh tinh là những khác biệt về kích thước não bộ, đặc điểm giải phẫu xương chậu và hộp phát âm, các cơ quan sinh dục, lượng lông tóc, chu kỳ kinh nguyệt ở phụ nữ, giai đoạn dậy thì và các đặc điểm khác. Những sai khác quan trọng đó hiển nhiên là không bắt nguồn từ những khác biệt trong năm axit amin đã được xác định cho tới ngày nay. Hiện tại, tất cả những gì chúng ta biết chắc là: nhiều phần trong ADN người không có ý nghĩa gì; và ít nhất trong số 1,6% khác biệt giữa người với tinh tinh, có phần nào đó không có ý nghĩa và các khác biệt quan trọng về chức năng hẳn phải do một phần nhỏ chưa xác định trong số 1,6% khác biệt đó quy định.
Trong số những khác biệt ít ỏi đó của ADN người, một số sai khác có ảnh hưởng lớn tới cơ thể chúng ta hơn các khác biệt khác. Trước tiên, hầu hết các axit amin của protein đều do ít nhất ba trình tự bazơ nucleotid trong ADN quy định. Những thay đổi trong các bazơ nucleotid từ một trình tự ban đầu sang trình tự thay thế nó là những đột biến “câm”: Chúng không tạo ra bất kỳ thay đổi nào trong trình tự axit amin của phân tử protein. Thậm chí khi một thay đổi trong một bazơ làm thay thế một axit amin này bằng một axit amin khác, thì một số axit amin nhất định vẫn có tính chất hóa học rất giống nhau, hoặc nằm trên các vị trí tương đối không nhạy cảm của protein.
Nhưng các phần khác của protein lại mang tính sống còn đối với chức năng của nó. Thay thế một axit amin trong một phần như vậy bằng axit amin khác không có tính chất hóa học tương tự thường sẽ gây ra hậu quả rõ rệt. Chẳng hạn, bệnh hồng cầu hình liềm thường dẫn tới tử vong, bệnh này là do một thay đổi trong tính tan của hồng cầu người, thay đổi này lại là do thay thế một trong số 287 axit amin, mà trong đó chỉ thay thế một trong số ba nucleotid quy định axit amin đó. Tuy nhiên, thay đổi nhỏ này lại dẫn tới việc thay một axit amin mang điện âm bằng một axit amin không mang điện, từ đó làm biến đổi điện tích trên toàn bộ phân tử hemoglobin.
Trong khi chúng ta không biết các gen hay bazơ nucleotid cụ thể nào đóng vai trò quan trọng tạo nên những khác biệt rõ rệt giữa người với tinh tinh, có nhiều tiền lệ cho thấy một hoặc một số gen cùng gây ra ảnh hưởng lớn. Tôi chỉ đề cập tới nhiều khác biệt lớn và rõ nét giữa các bệnh nhân Tay-Sachs và người bình thường. Tất cả các khác biệt này dường như đều xuất phát từ thay đổi đơn lẻ của một enzyme. Đó là ví dụ về khác biệt giữa các cá thể cùng loài. Đối với khác biệt giữa các loài họ hàng, chúng ta có thể lấy những loài cá cichlid hồ Victoria châu Phi làm ví dụ. Cichlid bao gồm nhiều loài động vật thủy sinh thường gặp, trong đó khoảng 200 loài cùng sống trong hồ Victoria và tại đó, chúng tiến hóa từ một tổ tiên duy nhất trong suốt: 200.000 năm qua. Thói quen dinh dưỡng của 200 loài đó khác xa nhau giống như giữa hổ và bò. Một số loài ăn tảo, số khác ăn cá khác loài, cũng có loài ăn ốc sên, sinh vật phù du, bắt côn trùng hay rỉa vảy cho các cá khác hoặc có loài đặc biệt ăn phôi cá đang được ấp. Nhưng ADN đã qua nghiên cứu của tất cả các loài cichlid ở hồ Victoria đều chỉ khác nhau 0,4% mà thôi. Vì thế, biến đổi từ cá săn ốc sên thành cá ăn thịt nhũ nhi của các loài cá khác chắc hẳn đòi hỏi ít đột biến về gen hơn so với việc biến đổi từ động vật nhân hình thành người.
Những phát hiện mới về khoảng cách di truyền giữa chúng ta và tinh tinh liệu còn có ý nghĩa nào lớn hơn việc trả lời cho câu hỏi mang tính kỹ thuật về danh pháp phân loại? Có thể, ý nghĩa quan trọng nhất mà nó mang lại chính là cách nghĩ của chúng ta về vị trí của con người và khỉ không đuôi trong vũ trụ. Những cái tên không đơn thuần là các chi tiết kỹ thuật mà nó còn thể hiện và tạo nên thái độ. (Để kiểm chứng, tối nay, bạn hãy thử gọi vợchồng bạn là “cưng” hay “đồ đần” với cùng một giọng điệu xem sao). Những phát hiện mới này không chỉ ra chúng ta nên nghĩ gì về người và khỉ không đuôi. Nhưng, như trong cuốn Nguồn gốc các loài của Darwin, những phát hiện mới có thể ảnh hưởng tới việc chúng ta thực sự nghĩ thế nào và có lẽ chúng ta sẽ phải mất nhiều năm để điều chỉnh lại thái độ của mình. Tôi sẽ kể ra đây duy nhất một ví dụ về một lĩnh vực rất gây tranh cãi có thể sẽ bị ảnh hưởng bởi các phát hiện đó: cách thức con người sử dụng động vật nhân hình.
Hiện nay, chúng ta luôn tâm niệm có một sự khác biệt cơ bản giữa động vật (kể cả động vật nhân hình) và người, và chính sự khác biệt này đã chi phối chuẩn mực và hành vi đạo đức của chúng ta. Chẳng hạn, như tôi đã đề cập tới ở đầu chương này, việc trưng bày các loài động vật nhân hình trong chuồng thú là hoàn toàn được chấp nhận nhưng chúng ta lại không được phép làm vậy với con người. Tôi tự hỏi dư luận sẽ cảm thấy thế nào khi đọc bảng tên bên ngoài chuồng tinh tinh trong sở thú đề là “Homo troglodytes”. Tuy nhiên, nếu như không có nhiều người quan tâm tới các loài động vật nhân hình trong sở thú thì hẳn sẽ có càng ít nguồn hỗ trợ tài chính hơn cho những nỗ lực bảo tồn động vật nhân hình trong tự nhiên.
Tôi cũng đã đề cập ở trên rằng người ta hoàn toàn tán thành sử dụng động vật nhân hình chứ không phải con người làm thí nghiệm mặc cho chúng có chấp nhận các thí nghiệm gây chết vì mục đích nghiên cứu y học hay không. Động cơ cho hành động này rõ ràng là vì động vật nhân hình rất giống chúng ta về mặt di truyền. Chúng cũng chịu ảnh hưởng của nhiều loại bệnh như chúng ta và cơ thể của chúng cũng phản ứng tương tự với các sinh vật gây bệnh đó. Vì thế, các thí nghiệm trên động vật nhân hình giúp cải thiện phương thức điều trị bệnh cho con người tốt hơn hẳn các thí nghiệm trên các đối tượng khác.
Sự lựa chọn mang tính đạo đức này còn tạo ra một vấn đề phức tạp hơn cả việc nhốt những loài động vật nhân hình vào chuồng thú. Xét đến cùng, chính chúng ta cũng thường giam hàng triệu phạm nhân trong điều kiện còn tồi tệ hơn chuồng thú nhưng xã hội không bao giờ chấp nhận việc lấy con người ra làm vật thí nghiệm thay động vật để nghiên cứu y học, cho dù những thí nghiệm gây chết người thực hiện với chính con người sẽ mang lại cho các nhà khoa học những thông tin giá trị hơn nhiều so với cùng các thí nghiệm ấy thực hiện với tinh tinh. Nhưng các thí nghiệm trên người do các bác sỹ Đức quốc xã tiến hành ở các trại tập trung luôn bị coi là dã man nhất trong số các tội ác của Đức quốc xã. Tại sao việc tiến hành các thí nghiệm đó trên tinh tinh thì lại được phép?
Trong thang tiến hóa từ vi khuẩn tới người, chúng ta phải xác định xem từ đâu hành vi tàn sát trở thành tội giết người và từ đâu hành vi ăn uống trở thành tục ăn thịt người. Hầu hết mọi người đều đưa ra những mối liên hệ đó giữa loài người và tất cả các loài khác. Tuy nhiên, chỉ có số ít người là ăn chay, không chịu ăn bất kỳ loại thịt nào (nhưng vẫn sẵn sàng ăn thực vật). Và ngày càng có nhiều người tham gia vào đội ngũ ít ỏi những người ủng hộ cho quyền động vật, phản đối thử nghiệm y học trên động vật hay chí ít là trên một số động vật nhất định. Chuyển biến này đặc biệt hướng tới đối tượng thử nghiệm là chó, mèo và linh trưởng, ít quan tâm tới chuột và nhìn chung không đả động tới côn trùng và vi khuẩn.
Nếu chuẩn mực đạo đức tạo nên sự phân biệt hà khắc giữa người và các loài khác thì rõ ràng rằng chúng ta có một chuẩn mực chỉ dựa trên tính ích kỷ ngông cuồng mà không màng tới những luân lý cao hơn. Nếu thay vào đó, chuẩn mực của chúng ta tạo nên sự phân biệt dựa trên trí tuệ siêu việt, quan hệ xã hội và khả năng cảm nhận nỗi đau thì nó sẽ khó có thể đánh bại cái chuẩn mực tất - cả - hoặc - không - có - gì - cả vốn liên hệ con người với các loài động vật khác. Đáng lẽ ra, những áp đặt đạo đức khác nhau nên áp dụng vào việc nghiên cứu các loài khác nhau. Có thể chính thói ích kỷ ngông cuồng của con người khi thoát khỏi cái vỏ bọc mới sẽ lại ủng hộ cho các đặc quyền của những loài có quan hệ gần nhất với con người. Chúng ta có thể đặt ra một trường hợp khách quan dựa trên những quan điểm mà tôi đã nêu trên (trí tuệ, quan hệ xã hội,…) là tinh tinh và gorilla đáng được chúng ta coi trọng về mặt đạo đức khi đối xử với chúng hơn hẳn côn trùng và vi khuẩn. Nếu có loài động vật nào đó cần được bảo vệ khỏi bị lạm dụng trong các thử nghiệm y học gần đây thì loài đó không gì khác chính là tinh tinh.
Trường hợp của tinh tinh gây ra một tình thế tiến thoái lưỡng nan về mặt đạo đức trong các thử nghiệm trên động vật vì loài này đang có nguy cơ tuyệt chủng. Trong trường hợp này, thử nghiệm y học không chỉ giết chết các cá thể mà còn đe dọa tiêu diệt cả một loài. Điều này không có nghĩa là nhu cầu nghiên cứu là mối đe dọa duy nhất đối với các quần thể tinh tinh hoang dại; sự tàn phá ổ sinh thái và bắt giữ tinh tinh đưa về sở thú cũng là những đe dọa nghiêm trọng khác. Nhưng chỉ riêng nhu cầu nghiên cứu cũng đã là một hiểm họa nghiêm trọng rồi. Mâu thuẫn đạo đức này còn được đề cập tới với tầm nhìn xa hơn: người ta giết một số tinh tinh hoang dại chỉ để bắt sống một con (thường là con non được mẹ bế), rồi lấy nó làm vật thí nghiệm; các nhà sinh y học hầu như chẳng giúp gì trong cuộc đấu tranh để bảo tồn các quần thể tinh tinh hoang dại cho dù họ có muốn bảo vệ chúng đi chăng nữa; và những con tinh tinh dùng làm vật thí nghiệm thường bị nhốt trong chuồng dưới những điều kiện khắc nghiệt. Con tinh tinh đầu tiên mà tôi biết bị đem ra thí nghiệm, nó bị cho nhiễm loại virus gây chết, đã làm yếu rồi bị nhốt riêng trong nhiều năm cho tới chết trong một cái chuồng rất nhỏ mà không có bất kỳ đồ chơi nào hết, bên trong Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ.
Nhân giống tinh tinh trong chuồng nuôi để phục vụ nghiên cứu là trái với những nỗ lực cứu vãn các quần thể tinh tinh đang bị tiêu diệt trong tự nhiên. Nhưng vấn đề này chẳng hề bị lên án như hành động nô lệ hóa trẻ em da đen sau khi luật cấm buôn bán nô lệ đa đen được ban hành tại Mỹ vào thế kỷ XIX. Tại sao con người có thể thí nghiệm trên Homo troglodytes mà không được làm trên Homo sapien. Trái lại, làm sao chúng ta có thể nói với những bậc cha mẹ có con cái sắp chết vì những căn bệnh vốn đã được thử nghiệm trên tinh tinh rằng con họ giờ đây không có ý nghĩa bằng tinh tinh? Rốt cuộc, chúng ta - toàn xã hội chứ không riêng gì các nhà khoa học sẽ phải đưa ra sự lựa chọn khó khăn. Chắc chắn rằng, cách nhìn nhận của chúng ta về người và động vật nhân hình sẽ dẫn tới quyết định của chúng ta.
Cuối cùng, thay đổi trong thái độ của chúng ta với động vật nhân hình sẽ đóng vai trò quan trọng quyết định liệu những loài này có thể tồn tại trong tự nhiên. Hiện nay, những quần thể của chúng đang bị đe dọa chủ yếu là do sự tàn phá ổ sinh thái rừng mưa nhiệt đới tại châu Phi và châu Á, cùng với việc bắt giữ hợp pháp và cả phi pháp và cả sự giết chóc, Nếu hiện thực này cứ thế tiếp diễn, gorilla cao nguyên, đười ươi, vượn mũ nồi, vượn Kloss và có thể một số loài động vật nhân hình khác sẽ chỉ còn tồn tại trong vườn thú trước khi những đứa trẻ của ngày hôm nay kịp vào đại học. Sẽ là không đủ nếu chúng ta chỉ rao giảng cho các vị lãnh đạo ở Uganda, Zaire và Indonesia về bổn phận đạo đức của họ là phải bảo tồn các loài động vật nhân hình hoang dã trên đất nước họ. Nếu chúng ta với tư cách là loài tinh tinh thứ ba cho rằng hai loài tinh tinh còn lại đáng được bảo vệ thì chính những người ở những nước giàu hơn sẽ phải chịu hầu hết chi phí bảo vệ đó. Từ quan điểm này về riêng nhóm động vật nhân hình, tác động mạnh mẽ nhất mà gần đây chúng ta học được từ truyền thuyết về ba loài tinh tinh chính là việc loài người cảm thấy thế nào khi thanh toán hóa đơn đó.