Loài Tinh Tinh Thứ Ba

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 61 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6 Chọn Lọc Giới Tính Và Nguồn Gốc Của Chủng Tộc Loài Người
Chương 6 Chọn Lọc Giới Tính Và Nguồn Gốc Của Chủng Tộc Loài Người

❊ ❊ ❊

“Này anh da trắng! Hãy nhìn theo đường thẳng này ba người đốn củi. Người thứ nhất thuộc về đảo Buka, người thứ hai thuộc về đảo Makira, còn người thứ ba thuộc về đảo Sikaiana. Anh không thấy ư? Anh không nhìn đủ thẳng ư? Tức thật, tôi nghĩ có khi con mắt thuộc về anh, nó làm hỏng đích ngắm rồi?”

Không, quỷ tha ma bắt nó đi, con-mắt-thuộc-về-tôi không hỏng sau khi đã được chữa trị. Đó là lần đến thăm đầu tiên của tôi tới quần đảo Solomon ở Tây Nam Thái Bình Dương, và tôi nói với anh hướng dẫn viên đầy vẻ khinh bỉ qua thứ tiếng Anh bồi rằng tôi nhìn thấy rất rõ sự khác biệt giữa ba người đàn ông trên chiếc thuyền ở đằng kia. Người thứ nhất có nước da đen sẫm và tóc xoăn, người thứ hai có da sáng hơn và tóc xoăn, còn người thứ ba có tóc thẳng và mắt xếch hơn. Vấn đề duy nhất của tôi đó là tôi không có chút kinh nghiệm gì về người của mỗi đảo riêng biệt ở Solomon trông ra sao. Sau chuyến đi đầu tiên đến Solomon, tôi cũng đã có thể nhận biết người dân của từng đảo thông qua màu da, tóc và mắt của họ.

Trong những đặc điểm sai khác nhau đó, người Solomon chính là hệ thống thu nhỏ của toàn bộ loài người. Chỉ đơn giản nhìn vào một người, ngay cả người không có chuyên môn cũng có thể nói người đó đến từ đâu trên Trái đất và một nhà nhân chủng học được đào tạo còn có thể chỉ ra được anh ấy hay cô ấy đến từ vùng nào của quốc gia nào. Ví dụ như chọn ra một người đến từ Thụy Điển, một người từ Nigeria và một từ Nhật Bản, không ai trong chúng ta gặp phải khó khăn trong việc thoáng nhìn qua và quyết định xem ai thuộc quốc gia nào. Những đặc điểm thay đổi dễ nhận ra nhất trên người có trang phục tất nhiên là màu da, màu và hình dáng của mắt, tóc, thân hình, và (đối với đàn ông) số lượng lông trên mặt. Nếu người cần được xác định không mặc quần áo, chúng ta cũng có thể nhận biết những khác biệt ở số lượng lông trên cơ thể, kích thước, hình dáng và màu sắc ngực và núm vú ở phụ nữ, hình dáng môi âm hộ và mông, kích thước và hình dạng của dương vật ở đàn ông. Tất cả những đặc điểm sai khác đó tạo nên cái mà chúng ta biết đến như sự khác biệt chủng tộc ở loài người.

Những khác biệt địa lý đó giữa con người trong một thời gian dài đã mê hoặc những người thích chu du, nhà nhân học, những người có niềm tin mù quáng và những nhà chính trị cũng như số còn lại trong chúng ta. Bởi vì các nhà khoa học đã giải quyết được rất nhiều câu hỏi bí ẩn về những loài không quan trọng ít được biết đến nên chắc chắn bạn sẽ hy vọng họ có thể giải thích được một trong những câu hỏi hiển nhiên về bản thân chúng ta: “Tại sao những người thuộc những vùng đất khác nhau lại khác nhau?” Hiểu biết của chúng ta về việc loài người bằng cách nào đã tách khỏi những loài động vật khác sẽ vẫn không đầy đủ nếu chúng ta cũng không xét đến việc làm thế nào, trải qua cùng một quá trình, các cộng đồng người có được những điểm khác nhau rõ rệt như vậy. Tuy nhiên, chủ đề về chủng tộc loài người dễ gây kích động tới mức Darwin đã cắt bỏ tất cả những tranh luận về nó khỏi cuốn sách nổi tiếng của ông xuất bản năm 1859, cuốn Nguồn gốc các loài. Ngay cả hiện nay, ít nhà khoa học nào dám nghiên cứu về nguồn gốc của chủng tộc, do sợ bị quy là phân biệt chủng tộc chỉ vì đã quan tâm tới đề tài này.

Nhưng có một lý do khác giải thích tại sao chúng ta không hiểu về tầm quan trọng của sự khác biệt chủng tộc loài người: nó được chứng minh là một vấn đề nan giải khó lường trước. Mười hai năm sau khi Darwin viết cuốn sách cho rằng nguồn gốc của các loài là do chọn lọc tự nhiên, ông đã viết một cuốn sách khác dày 898 trang, và cho rằng nguốn gốc của chủng tộc loài người là do sở thích giới tính của chúng ta, vấn đề này tôi sẽ mô tả trong chương cuối cùng, và bác bỏ hoàn toàn vai trò của chọn lọc tự nhiên. Dù với sức mạnh của ngôn ngữ đó, nhiều độc giả đã không bị thuyết phục. Cho đến tận bây giờ, học thuyết về chọn lọc giới tính của Darwin (như cách ông gọi nó) vẫn còn đang được bàn cãi. Thay vào đó, các nhà sinh học hiện đại thường viện vào chọn lọc tự nhiên để giải thích những điểm khác biệt rõ rệt giữa các chủng tộc loài người - đặc biệt là những khác biệt về màu da, bởi mối quan hệ giữa màu da và sự tiếp xúc với mặt trời có vẻ rõ ràng. Tuy nhiên, các nhà sinh học không thể đồng ý ngay cả với việc giải thích tại sao chọn lọc tự nhiên lại dẫn đến màu da sẫm ở vùng nhiệt đới. Tôi sẽ giải thích tại sao tôi tin rằng chọn lọc tự nhiên chỉ đóng vai trò thứ yếu trong nguồn gốc chủng tộc của chúng ta, và tại sao sự ưa thích hơn của Darwin đối với chọn lọc giới tính theo tôi lại là đúng. Vì thế tôi coi những khác biệt nhìn thấy được của chủng tộc loài người trên quy mô lớn là một sản phẩm phụ của chu trình sống được tổ chức lại của loài người.

Trước tiên, đặt những vấn đề này theo triển vọng phát triến, hãy nhận định rằng sự khác biệt chủng tộc không phải chỉ giới hạn ở loài người. Hầu hết các loài động vật và thực vật với sự phân bố đủ rộng, bao gồm cả tất cả các loài linh trưởng bậc cao trừ loài tinh tinh lùn được khoanh vùng địa lý, đều khác nhau theo sự phân bố địa lý. Sự khác biệt ở một số loài chim rõ rệt đến mức những nhà quan sát chim kinh nghiệm có thể xác định được một cách tương đối quê hương của một chú chim nhờ vào kiểu lông của nó, ví dụ như loài chim sẻ đỉnh đầu trắng của vùng Bắc Mỹ và loài chim chìa vôi vàng thuộc đại lục Á-Âu.

Sự khác biệt trong các loài vượn bao gồm nhiều đặc điểm khác nhau theo vùng địa lý tương tự như ở loài người. Chẳng hạn như trong số ba chủng loại gorilla có thể nhận biết được, chủng gorilla ở vùng đất thấp phía Tây có cơ thể nhỏ nhất và bộ lông hơi xám hoặc nâu, trong khi gorilla ở vùng núi có bộ lông dài nhất và gorilla ở vùng đất thấp phía Đông cũng có bộ lông sẫm giống với khỉ đột vùng núi. Chủng tộc của vượn tay trắng cũng khác nhau ở màu lông (đen, nâu, hơi đỏ hoặc xám), độ dài của lông, kích thước răng, độ nhô ra của hàm và của chỏm xương trên mắt. Tất cả những tính trạng tôi vừa đề cập đến, như là sự khác nhau giữa các nhóm gorilla và vượn, cũng khác nhau giữa các nhóm người.

Làm thế nào để quyết định được đâu là những quần thể động vật có thể nhận thấy sự khác biệt được từ những vùng địa lý khác nhau có hình thành những loài khác nhau hay thay vì vậy thuộc về cùng một loài và chỉ hình thành những nòi khác nhau (cũng được biết đến như những loài phụ)? Như tôi đã giải thích, sự khác biệt dựa trên sự giao phối trong những điều kiện bình thường: thành viên của một loài có thể giao phối một cách bình thường nếu có cơ hội, trong khi đó, thành viên của các loài khác nhau thì không thể. (Nhưng những loài có quan hệ gần gũi không giao phối bình thường trong tự nhiên, như sư tử và hổ, nhưng có thể giao phối nếu con đực của một loài bị nhốt chung chuồng với con cái của loài kia và không có được cơ hội nào khác.) Theo tiêu chuẩn này, tất cả các quần thể loài người đang sống thuộc về cùng một loài vì sự giao phối có thể xảy ra bất kỳ khi nào những người từ những khu vực khác nhau tiếp xúc với nhau - kể cả những người rất khác nhau về ngoại hình như người Bantu ở châu Phi và người lùn Pygmy(25). Với loài người cũng như với các loài khác, các nhóm dân cư có thể kết hợp với nhau và trở thành những quần thể tùy ý tạo thành những nhóm như chủng tộc. Với cùng tiêu chuẩn giao phối này, loài vượn lớn được biết đến như là loài vượn mực(26) là một loài khác với loài vượn nhỏ hơn, vì cả hai sinh sống cùng nhau trong tự nhiên mà không giao phối với nhau. Đây cũng là tiêu chuẩn để coi người Neanderthal có thể là một loài khác với Homo sapien, vì chưa xác định được những bộ xương lai mặc dù có sự tiếp xúc giữa người Cro-Magnon và người Neanderthal.

Sự khác biệt chủng tộc đã là đặc điểm của loài người trong ít nhất vài nghìn năm trước, và có thể lâu hơn nhiều. Ngay từ khoảng năm 450 trCN, nhà viết sử người Hy Lạp Herodotus đã mô tả người pygmy ở Tây Phi, người Ethiopia da đen và người bộ tộc mắt xanh tóc đỏ ở Nga. Những bức tranh cổ, những xác ướp Ai Cập và Peru, những cơ thể được bảo quản trong các bãi than bùn ở châu Âu khẳng định rằng vài nghìn năm trước đây, loài người đã khác nhau ở tóc và khuôn mặt như ngày nay. Nguồn gốc của những chủng tộc hiện đại vẫn có thể đẩy lùi xa hơn nữa, ít nhất là 10.000 năm, vì những sọ hóa thạch ở thời đại đó từ những vùng khác nhau trên thế giới cũng khác nhau ở rất nhiều chi tiết cụ thể với những sọ người hiện nay từ những vùng khác nhau đó. Vấn đề tranh luận nhiều hơn là những nghiên cứu của một số nhà nhân chủng học về tính liên tục của những đặc điểm ở sọ của các chủng tộc trong hàng trăm nghìn năm. Nếu những nghiên cứu này là chính xác thì một số sự khác biệt chủng tộc loài người mà chúng ta thấy ngày nay có thể đẩy lùi thời gian của Bước Nhảy Vọt Vĩ Đại và có thể trở về thời đại của Homo erectus.

Bây giờ hãy quay trở lại với câu hỏi liệu chọn lọc tự nhiên hay chọn lọc giới tính đã góp phần lớn hơn vào những khác biệt về mặt địa lý có thể thấy được của chúng ta. Trước tiên hãy bàn về chọn lọc tự nhiên, về sự chọn lựa những tính trạng tăng khả năng sống sót. Ngày nay, không nhà khoa học nào phủ nhận rằng chọn lọc tự nhiên giải thích cho nhiều khác biệt giữa các loài, như là sư từ có chân với móng vuốt trong khi chúng ta có bàn tay nắm được. Cũng không ai phủ nhận rằng chọn lọc tự nhiên giải thích một số khác biệt địa lý (“khác biệt chủng tộc”) trong một số loài động vật. Ví dụ, những con chồn Bắc cực sống ở vùng phủ bởi tuyết mùa đông đổi từ màu nâu trong mùa hè sang màu trắng trong mùa đông, trong khi những con chồn ở gần phía Nam hơn vẫn giữ màu nâu suốt năm. Sự khác biệt chủng tộc đó làm tăng khả năng sống, bởi vì chọn màu trắng tương phản với màu đất nâu rõ ràng dễ gây chú ý với con mồi của chúng nhưng lại ngụy trang được trong tuyết.

Vì vậy, chọn lọc tự nhiên chắc chắn giải thích được một số khác biệt địa lý ở loài người. Nhiều người da đen châu Phi có gen hemoglobin dạng hình liềm mà không người Thụy Điển nào có, bởi vì gen đó phòng được bệnh sốt rét, một bệnh nhiệt đới nếu không căn bệnh này sẽ giết nhiều người châu Phi. Những tính trạng ở các nhóm người khác chắc chắn đã tiến hóa thông qua chọn lọc tự nhiên gồm có bộ ngực lớn của người Andean Ấn Độ (tốt cho việc hấp thụ khí oxy từ bầu khí quyển mỏng ở độ cao lớn), thân hình chắc nịch của người Eskimo (tốt cho việc giữ nhiệt), thân hình mảnh khảnh của người miền nam Sudan (tốt cho việc mất nhiệt), và cặp mắt híp của người miền Bắc Á (tốt cho việc bảo vệ mắt khỏi giá lạnh và chống lại tia khúc xạ từ tuyết). Tất cả những ví dụ trên đều dễ hiểu.

Liệu chọn lọc tự nhiên có giải thích được một cách tương tự về những khác biệt chủng tộc mà chúng ta nghĩ đến đầu tiên như màu da, màu mắt và tóc hay không? Nếu được, ta có thể hy vọng rằng tính trạng tương tự (như mắt màu xanh) sẽ xuất hiện ở những phần khác nhau của Trái đất có cùng khí hậu, và rằng các nhà khoa học sẽ nhất trí về việc tính trạng đó tốt cho việc gì.

Có vẻ như màu da là tính trạng đơn giản dễ hiểu nhất. Màu da của chúng ta có phổ từ sắc thái khác nhau đen, nâu, đồng, và vàng đến hồng có hoặc không có tàn nhang. Câu chuyện thường được dùng để giải thích sự khác biệt bằng chọn lọc tự nhiên này như sau. Người ở châu Phi nắng nóng có da màu đen. Tương tự như vậy (giả sử) với người ở những vùng nắng nóng khác, như miền Nam Ấn Độ và New Guinea. Màu da được cho là tái hơn khi chuyển lên phía bắc hay nam từ xích đạo, cho đến miền Bắc châu Âu thì người có màu da nhạt nhất. Rõ ràng là màu da sẫm tiến hóa ở những người tiếp xúc nhiều với ánh sáng mặt trời. Chuyện đó cũng giống như việc da của người da trắng sạm lại dưới mặt trời mùa hè (hoặc trong hiệu tắm nắng!), ngoại trừ rằng việc da rám nắng là phản ứng thuận nghịch của cơ thể với mặt trời hơn là hiện tượng da rám nắng vĩnh viễn do di truyền. Cũng tương tự với việc da sẫm màu có lợi trong vùng nhiều nắng: nó bảo vệ khỏi bị cháy nắng và ung thư da. Người da trắng nào hay ở ngoài dưới ánh mặt trời dễ bị ung thư da, và bị ở những chỗ trên cơ thể tiếp xúc với ánh sáng như đầu và tay. Liệu tất cả những việc đó có nghĩa gì không?

Không may là nó không hề đơn giản chút nào. Trước hết là ung thư da và cháy nắng gây suy nhược nhẹ và một vài trường hợp tử vong. Như là nhân tố của chọn lọc tự nhiên, chúng ảnh hưởng hoàn toàn không đáng kể so với những bệnh truyền nhiễm con người mắc phải ở tuổi thơ ấu. Thay vào đó có nhiều giả thuyết được đưa ra để giải thích chiều hướng biến đổi màu da được cho là từ các cực tới xích đạo.

Một giả thuyết gây tranh cãi nổi tiếng cho rằng tia cực tím của mặt trời kích thích sự hình thành vitamin D trong lớp da dưới lớp sắc tố chính. Vì thế, những người ở vừng nhiệt đới nắng nóng có thể đã tiến hóa đến mức có làn da sẫm màu để bảo vệ họ khỏi mối nguy hiểm bị bệnh thận do quá nhiều vitamin D, trong khi đó, người Scandinavi với mùa đông dài tối tăm tiến hóa có làn da sáng để bảo vệ họ khỏi nguy cơ bị bệnh còi xương do quá ít vitamin D. Hai giả thuyết phổ biến khác là: da sẫm màu có thể bảo vệ các nội tạng của chúng ta khỏi bị quá nóng bởi tia hồng ngoại của mặt trời vùng nhiệt đới hoặc ngược lại, da sẫm màu có thể giữ ấm cho người dân nhiệt đới khi nhiệt độ giảm xuống. Còn nếu những giả thuyết trên vẫn chưa đủ đối với bạn, hãy xem tiếp bốn ví dụ sau: làn da sẫm màu tạo ra sự ngụy trang trong rừng, hay da sáng màu ít nhạy cảm với sương giá hơn, da sẫm màu bảo vệ khỏi bị nhiễm độc beryllium ở vùng nhiệt đới, hay da sáng màu gây ra sự thiếu hụt một loại vitamin khác (axit folic) ở vùng nhiệt đới.

Với ít nhất tám giả thuyết rất hợp lý, chúng ta khó có thể đòi hỏi để hiểu tại sao người ở vùng khí hậu nắng nóng có làn da sẫm. Mà bản thân nó cũng không bác bỏ lại ý kiến rằng bằng cách này hay cách khác, chọn lọc tự nhiên dẫn đến sự tiến hóa của làn da sẫm màu ở vùng nắng nóng. Sau cùng, da sẫm màu có nhiều thuận lợi mà rồi đây các nhà khoa học có thể chọn ra. Thay vào đó, lý do phản đối mạnh nhất đòi với bất kỳ giả thuyết nào dựa trên chọn lọc tự nhiên là sự kết hợp giữa làn da sẫm màu với khí hậu nắng nóng rất không hoàn hảo. Có những người bản địa có làn da rất sẫm lại sống ở những nơi nhận được khá ít tia nắng mặt trời như người Tasmania, trong khi đó màu da chỉ ở mức độ trung bình ở những nơi nắng nóng của vùng nhiệt đới Đông Nam Á. Không thổ dân da đỏ nào có màu da đen, kể cả ở những vùng nắng nóng nhất của châu Mỹ. Nếu tính đến độ che phủ của mây, những vùng được chiếu sáng mờ nhất trên thế giới nhận trung bình một ngày dưới 31,5 giờ chiếu sáng, bao gồm vùng xích đạo Tây Phi, vùng phía nam Trung Quốc và vùng Scandinavi, lại lần lượt là nơi sống của một số người đen nhất, vàng nhất, và trắng nhất thế giới! Trong số các hòn đảo thuộc quần đảo Solomon, các nhóm người thay thế nhau ở những khoảng cách ngắn. Rõ ràng là, ánh sáng không phải là nhân tố chọn lọc chính ảnh hưởng đến màu da.

Phản ứng đầu tiên của các nhà nhân học đối với phản bác này là đưa ra một phản bác ngược lại: yếu tố thời gian. Luận cứ này cố gắng giải thích những trường hợp người da trắng ở vùng nhiệt đới bằng cách cho rằng những người đó nhập cư vào vùng nhiệt đới quá gần đây để có được làn da đen. Ví dụ như tổ tiên của thổ dân da đỏ có thể đến Tân Thế giới chỉ 11.000 năm trước có thể nó chưa đủ lâu để tiến hóa đến mức có làn da đen ở vùng châu Mỹ nhiệt đới. Nhưng nếu bạn đang nhắc đến nhân tố thời gian để thanh minh cho tranh luận về giả thuyết khí hậu của màu da thì bạn cũng phải xét đến nhân tố thời gian đối với những người được cho là ủng hộ giả thuyết đó.

Một trong những điểm ủng hộ quan trọng nhất của giả thuyết khí hậu là làn da sáng màu của người Scandinavi sống ở miền Bắc tối, lạnh và sương mù. Không may là người Scandinavi chỉ ở Scandinavi trong khoảng thời gian ít hơn cả người Anh điêng ở Amazon. Cho đến khoảng 9.000 năm trước, Scandinavi bị bao phủ bởi các tảng băng và khó có thể là nơi sống của bất kỳ người nào, da trắng cũng như da đen. Những người Scandinavi hiện đại tới Scandinavi chỉ khoảng 4.000 hay 5.000 năm trước, là kết quả của sự mở rộng của những người nông dân từ vùng Trung Đông và của những người nói ngôn ngữ Ấn-Âu từ miền Nam nước Nga. Hoặc người Scandinavi có được làn da sáng từ rất lâu ở một số vùng khác có khí hậu khác hoặc họ có được khi ở Scandinavi trong khoảng thời gian bằng một nửa thời gian của thổ dân châu Mỹ ở Amazon mà không có được làn da sẫm.

Nhóm người duy nhất trên thế giới mà chúng ta có thể khẳng định họ đã sống ở cùng một nơi trong 10.000 năm trở lại đây là người bản xứ Tasmania. Nằm ở miền Nam Australia, thuộc vĩ độ khí hậu ôn đới như của Chicago hay Vladivostock, Tasmania đã từng nối với Australia cho đến khi bị tách rời bởi sự dâng lên của mặt nước biển 10.000 năm trước và trở thành một hòn đảo. Bởi vì người Tasmania hiện đại đã không có loại thuyền có khả năng đi xa hơn vài dặm nên chúng ta biết được rằng họ có nguồn gốc từ những người định cư mới đến Tasmania vào thời điểm nó nối với Australia, và họ tiếp tục ở đó cho đến khi bị thực dân Anh tiêu diệt vào thế kỷ XIX. Nếu có nhóm người nào có đủ thời gian cho chọn lọc tự nhiên làm màu da hợp với khí hậu ôn đới địa phương của họ thì đó là người Tasmania. Nhưng họ vẫn có màu da đen, được cho là phù hợp với vùng xích đạo.

Nếu như trường hợp của chọn lọc tự nhiên đối với màu da có vẻ không thuyết phục thì đối với màu tóc và màu mắt hiển nhiên là không tồn tại. Không có mối liên hệ chắc chắn nào với khí hậu và thậm chí không có bất kỳ giả thuyết tin cậy nửa vời nào về những lợi ích của mỗi loại màu sắc. Tóc vàng phổ biến ở vùng Scandinavi lạnh, ướt, âm u và cũng phổ biến ở những thổ dân ở sa mạc nóng, khô, nắng của miền Trung Australia. Hai vùng này có đặc điểm gì chung và màu tóc vàng giúp người Thụy Điển và thổ dân sống sót như thế nào? Màu mắt xanh phổ biến ở Scandinavi và được cho là giúp những người có mắt xanh nhìn xa hơn trong ánh sáng mờ sương. Nhưng suy đoán đó không được chứng minh, và tất cả những người bạn của tôi ở vùng núi ở New Guinea thậm chí âm u hơn, sương mù hơn vẫn nhìn tốt với cặp mắt đen. Các tính trạng chủng tộc mà có vẻ như vô lý nhất nếu tìm cách giải thích dựa trên chọn lọc tự nhiên là những đặc điểm khác biệt của cơ quan sinh dục và những tính trạng giới tính thứ cấp khác. Liệu ngực hình bán cầu có phải là một sự thích nghi đối với mưa mùa hè và ngực hình nón là sự thích nghi với sương mùa đông hay ngược lại không? Liệu môi bé âm hộ nhô ra của phụ nữ thổ dân Nam Phi bảo vệ họ khỏi sự săn đuổi của sư tử, hay giảm sự mất nước ở vùng sa mạc Kalahari(27)? Chắc chắn bạn không nghĩ rằng đàn ông với bộ ngực rậm lông có thể giữ ấm khi đi trên Bắc cực mà không mặc gì phải không? Nếu bạn nghĩ vậy thì hãy giải thích tại sao phụ nữ không có bộ ngực rậm lông giống đàn ông khi phụ nữ cũng phải giữ ấm.

Những sự thật như trên đã khiến Darwin thất vọng vì quy sự khác biệt chủng tộc ở con người cho khái niệm về chọn lọc tự nhiên của riêng ông. Cuối cùng ông đã từ bỏ nỗ lực với một câu nói cô đọng sau: “Không một đặc điểm nào trong số những đặc điểm khác biệt giữa các chủng tộc loài người giúp ích trực tiếp hay đặc biệt cho con người.” Khi Darwin đến với học thuyết mà ông ưa thích hơn, học thuyết mà ông đặt tên là “chọn lọc giới tính” để đối lại với chọn lọc tự nhiên, ông đã cống hiến một cuốn sách trọn vẹn để giải thích nó.

Quan điểm cơ bản nằm dưới học thuyết này dễ dàng nắm bắt được. Darwin chỉ ra nhiều đặc điểm ở động vật mà không có giá trị sinh tồn rõ ràng nhưng lại có vai trò hiển nhiên trong sự giao phối an toàn, có thể bằng cách thu hút một đối tượng khác giới hay đe dọa đối thủ cùng giới, nhờ đó con đực có thể để lại nhiều con cái hơn và có xu hướng truyền lại gen và tính trạng của nó - là kết quả của chọn lọc giới tính chứ không phải của chọn lọc tự nhiên. Luận điểm tương tự cũng được áp dụng cho các tính trạng của phái yếu

Để chọn lọc giới tính thực hiện được, tiến hóa phải tạo ra hai thay đổi cùng một lúc: một giới phải tiến hóa một số tính trạng còn giới kia theo đó phải tiến hóa để ưa thích tính trạng kia. Khi đầu chó cái khó có khả năng khoe mông đó nếu cuộc nổi dậy của khi đầu chó đực đạt đến điểm mà chúng trở nên bất lực. Miễn là con cái có một đặc điểm này và con đực thích điều đó thì chọn lọc giới tính mới có thể dẫn đến bất kỳ tính trạng nào, chỉ miễn là nó không làm giảm khả năng sống sót quá nhiều. Trên thực tế, nhiều tính trạng có được bởi chọn lọc giới tính có vẻ khá là tùy ý. Một vị khách đến từ ngoài vũ trụ chưa bao giờ trông thấy con người sẽ không có cách nào đoán được đàn ông hay phụ nữ sẽ có râu, râu sẽ nằm trên mặt hay trên rốn, phụ nữ có mông đít đỏ hay xanh.

Việc chọn lọc giới tính có thực sự diễn ra hay không được chứng minh bởi một thí nghiệm xuất sắc của nhà sinh học người Thụy Điển, Malte Andersson trên loài chim góa đuôi dài ở châu Phi. Trong loài này, đuôi của con đực trong mùa sinh sản mọc dài tới 50 cm trong khi đuôi con cái chỉ dài gần tám cm. Một số con đực đa thê và cần tới sáu bạn tình, trả giá bằng việc các con đực khác không có bạn tình nào cả. Các nhà sinh học đoán rằng chiếc đuôi dài đóng vai trò làm tín hiệu độc đáo mà qua đó chim đực thu hút chim cái để tham gia vào chốn hậu cung. Vì thế thí nghiệm của Andersson là cắt bỏ một phần đuôi của chín con chim đực để đuôi của chúng chỉ còn dài 15 cm. Sau đó ông nổi phần đuôi bị cắt vào đuôi của chín con chim đực khác để chúng có đuôi dài trên 10 cm và ông đợi xem chim cái sẽ xây tổ ở đâu. Thí nghiệm cho thấy chim đực có đuôi dài nhân tạo trung bình đã thu hút được nhiều gấp bốn lần chim đực với đuôi ngắn nhân tạo.

Có thể phản ứng đầu tiên của chúng ta đối với thí nghiệm của Andersson là: Đúng là những con chim ngu ngốc! Hãy tưởng tượng rằng chim cái chọn một con chim đực cụ thể nào đó để làm bố cho con của mình chỉ bởi vì đuôi của nó dài hơn đuôi của những con chim đực khác! Nhưng trước khi chúng ta trở nên quá thiển cận, hãy xét lại những gì chúng ta đã học được trong chương trước về việc con người chọn bạn tình như thế nào. Liệu những tiêu chuẩn của chúng ta là những chỉ thị tốt cho giá trị di truyền? Có phải một số đàn ông và phụ nữ không cho những giá trị không cân xứng với kích thước và hình dáng của những bộ phận nhất định trên cơ thể, mà không gì khác hơn là những tín hiệu tùy tiện đối với chọn lọc giới tính? Tại sao chúng ta đã tiến hóa để quan tâm đến một khuôn mặt đẹp mà nó là vô nghĩa đối với chủ nhân trong cuộc chiến với sự sống còn?

Ở động vật, một số tính trạng thay đổi theo chủng tộc là những tính trạng có được nhờ chọn lọc giới tính. Ví dụ như, bờm sư tử thay đổi ở độ dài và màu sắc. Tương tự như vậy, ngỗng tuyết có hai sắc màu: màu xanh phổ biến hơn ở phía Tây Bắc cực, còn màu trắng phổ biến hơn ở phía Đông Bắc cực. Những con ngỗng ở mỗi màu sắc thích bạn tình có cùng màu với mình hơn. Liệu có phải hình dáng ngực và màu da ở con người cũng tương tự là sản phẩm của sự ưa thích về giới tính mà thay đổi một cách tùy ý từ vùng này sang vùng khác không?

Sau 898 trang sách, Darwin tự thuyết phục mình rằng câu trả lời cho câu hỏi này là “có”. Ông đã chỉ ra rằng chúng ta quan tâm quá mức tới ngực, tóc, mắt và màu da khi chọn lựa bạn đời và bạn tình. Ông cũng chỉ ra rằng con người ở những vùng khác nhau trên thế giới định nghĩa về ngực, tóc, mắt và da đẹp bằng những gì quen thuộc với họ. Vì thế người Fiji, Hottentot(28) và Thụy Điển lớn lên với những hiểu biết riêng, tiêu chuẩn sắc đẹp tùy ý, mà qua đó có xu hướng giữ cho mỗi nhóm người phù hợp với những tiêu chuẩn đó, bởi vì nếu các cá thể tách rời quá xa tiêu chuẩn thì việc tìm bạn đời sẽ khó khăn hơn.

Darwin đã mất trước khi học thuyết của ông được thử nghiệm để chống lại những nghiên cứu khắt khe về việc thực chất con người lựa chọn bạn tình như thế nào. Những nghiên cứu đó tăng lên nhanh chóng trong những thập kỷ gần đây, và tôi đã tóm tắt những kết quả trong chương trước. Ở đó, tôi đã chỉ ra rằng con người có xu hướng lấy người giống với mình ở mọi đặc điểm có thể nhận thức được, bao gồm màu tóc, mắt và da. Để giải thích khuynh hướng có vẻ tự yêu bản thân mình của chúng ta, tôi đã lập luận rằng chúng ta xây dựng tiêu chuẩn sắc đẹp bằng cách ghi nhớ những người chúng ta thường nhìn thấy khi còn nhỏ - đặc biệt là bố mẹ và anh chị em ruột, những người chúng ta nhìn thấy nhiều nhất. Nhưng bố mẹ và anh chị em ruột cũng là những người mà chúng ta giống về thể chất nhiều nhất bởi vì chúng ta có cùng gen với họ. Vì thế, nếu bạn là một người có da trắng, mắt xanh, tóc vàng và bạn lớn lên trong gia đình với những người có da trắng, mắt xanh, tóc vàng, thì đấy sẽ là kiểu người bạn coi là đẹp nhất và tìm kiếm như bạn đời.

Để kiểm tra một cách khắt khe học thuyết in dấu chọn bạn đời đó, chúng ta phải thực hiện những thí nghiệm như gửi một số đứa trẻ Thụy Điển cho bố mẹ nuôi ở New Guinea, hoặc luôn bôi đen bố mẹ người Thụy Điển. Sau khi đợi 20 năm cho những đứa trẻ đó lớn lên, chúng ta có thể biết được chúng thích lấy người Thụy Điển hay người New Guinea làm bạn tình hơn. Than ôi, một lần nữa, cuộc tìm kiếm sự thật về con người bị sa lầy vì những vấn đề thực tế. Nhưng những thí nghiệm đó có thể thực hiện được trên động vật với đầy đủ tính chính xác.

Hãy lấy ngỗng tuyết với hai màu xanh và trắng làm ví dụ. Liệu ngỗng trắng có học và di truyền sự ưa thích với ngỗng trắng hơn ngỗng xanh trong tự nhiên không? Các nhà sinh vật học người Canada đã ấp những quả trứng ngỗng con trong một tủ ấm, sau đó đặt những chú ngỗng con vào tổ của ngỗng bố mẹ nuôi. Khi những chú ngỗng con này lớn lên, chúng chọn bạn tình với màu lông của bố mẹ nuôi. Khi những chú ngỗng con này được nuôi trong một đàn lớn lẫn lộn ngỗng xanh và trắng, chứng tỏ ra không có sự ưa thích bạn đời là ngỗng xanh hay trắng hơn khi trưởng thành. Cuối cùng, các nhà sinh vật học đã nhuộm những bố mẹ trắng thành hồng, con của chúng cũng thích những chú ngỗng nhuộm hồng hơn. Vì thế, ngỗng không di truyền mà học sự ưa thích màu sắc bằng khắc sâu những điều đã có từ bố mẹ của chúng (và cả từ anh chị em và bạn bè).

Vậy làm thế nào để nghĩ rằng người ở những vùng khác nhau trên thế giới tiến hóa để có được những khác biệt? Những gì bên trong chúng ta vẫn là vô hình đối với chúng ta và được nặn ra chỉ bởi chọn lọc tự nhiên, với những kết quả như người châu Phi nhiệt đới có khả năng bảo vệ chống bệnh sốt rét nhờ gen tế bào hemoglobin hình liềm chứ không phải người Thụy Điển. Nhiều đặc điểm nhìn thấy được của những thứ bên ngoài của chúng ta cũng được nhào nặn bởi chọn lọc tự nhiên. Nhưng cũng giống như ở động vật, chọn lọc giới có ảnh hưởng lớn hơn trong việc nhào nặn những tính trạng bên ngoài mà qua đó chúng ta chọn lựa bạn đời.

Đối với loài người chúng ta, những tính trạng đó đặc biệt như ở màu da, mắt, tóc, ngực và cơ quan sinh dục. Ở mỗi vùng trên Trái đất, nơi những tính trạng đó đã tiến hóa với những bước đi chậm nhưng chắc chắn cũng với những sở thích thẩm mỹ đã ăn sâu để đạt được những điểm kết thúc khác nhau và trong một mức độ nào đó là hơi tùy tiện. Mỗi nhóm người xác định nào đó đạt được màu mắt và tóc nào đó có thể một phần là do của sự ngẫu nhiên mà các nhà sinh học đặt tên là “hệ quả sáng lập”. Nói một cách khác, nếu một nhóm người chiếm một vùng đất trống và rồi con cháu của họ sẽ sinh sôi để lấp đầy vùng đất đó thì gen của những người sáng lập có thể sẽ chiếm ưu thế trong cộng đồng người sinh sôi sau này qua nhiều thế hệ. Chỉ như một số loài chim ở những nơi lý tưởng cuối cùng có bộ lông vàng còn số khác với bộ lông đen, thì một số quần thể người kết thúc với tóc vàng, và số khác tóc đen, một số có mắt màu xanh lam và số khác lại có mắt xanh lục, một số có núm vú vàng còn số khác có núm vú nâu. Theo đó, tôi không có ý nói khí hậu không tác động gì lên màu da. Tôi thừa nhận rằng những người ở vùng nhiệt đới, xét trên trung bình có xu hướng có màu da sẫm hơn người ở vùng ôn đới, mặc dù có nhiều ngoại lệ, và rằng điều này có thể do chọn lọc tự nhiên, mặc dù chúng ta không chắc chắn về cơ chế chính xác. Thay vào đó, tôi nói rằng chọn lọc giới tính đủ mạnh để cho thấy mối quan hệ giữa màu da và mức độ tiếp xúc với mặt trời thực sự không hoàn hảo.

Nếu bạn vẫn nghi ngờ về việc các tính trạng và sở thích thẩm mỹ có thể tiến hóa cùng nhau đến những điểm cuối cùng có vẻ tùy tiện như thế nào, hãy chỉ nghĩ về sở thích thời trang thay đổi của chúng ta. Khi tôi còn là một cậu học trò vào đầu những năm 1950, thì phụ nữ đánh giá đàn ông với kiểu tóc húi cua và bộ mặt nhẵn thín là đẹp trai. Kể từ lúc đó, chúng ta đã thấy một loạt các mốt của đàn ông, bao gồm có râu, tóc dài, đeo khuyên tai, tóc nhuộm tím và kiểu tóc Mohawk (một cộng đồng thổ dân Bắc Mỹ). Giờ đây, người đàn ông nào dám trưng diện bất cứ bộ cánh thời trang nhất những năm 1950 sẽ khiến các cô gái phát ngán và chẳng thu được thành công nào trong việc tìm kiếm bạn tình. Đó không phải là do kiểu đầu húi cua thích nghi tốt hơn với điều kiện khí hậu của những năm của Stalin, trong khi người đầu Mohawk nhuộm tím có giá trị sinh tồn lớn hơn trong thời đại sau Chernobyl của chúng ta. Thay vào đó, ngoại hình của đàn ông và sở thích của phụ nữ thay đổi cùng nhau, và những thay đổi này xảy ra nhanh hơn nhiều so với những thay đổi tiến hóa trong màu da, vì không cần đến đột biến gen. Hoặc phụ nữ trở nên thích kiểu đầu húi cua vì những người đàn ông tốt có nó, hoặc đàn ông cắt húi cua vì những phụ nữ tốt thích nó, hoặc cả hai. Tương tự với ngoại hình của phụ nữ và sở thích của đàn ông.

Đối với một nhà động vật học, những khác biệt địa lý có thể thấy được mà chọn lọc giới tính tạo ra ở con người là không mấy ấn tượng. Tôi đã tranh luận rằng phần nhiều các tính trạng trong số những khác biệt của chúng ta là sản phẩm phụ của đặc điểm riêng biệt của chu trình sống của con người: Tính kén chọn đối với bạn đời và bạn tình. Tôi không biết bất kỳ con vật hoang dã nào có màu mắt của những nhóm khác nhau có thể là xanh lục, xanh lam, xám, nâu hay đen trong khi màu da thay đổi theo địa lý từ trắng đến đen và tóc có thể là đỏ, vàng, nâu, đen, xám hay trắng. Có thể không hề có giới hạn về màu sắc mà qua đó chọn lọc giới tính trang điểm cho chúng ta trừ những giới hạn của thời gian tiến hóa. Nếu con người có thể tồn tại được trong 20.000 năm nữa, tôi dự đoán rằng sẽ có phụ nữ với tóc xanh lục và mắt đỏ tự nhiên – và có những người đàn ông nghĩ rằng người phụ nữ đó mới là quyến rũ nhất.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.