Lần sau nếu bạn ra ngoài vào một đêm thanh, xa khỏi ánh đèn thành phố, hãy nhìn lên bầu trời và cảm nhận vô vàn các vì sao. Tiếp đó thử tìm một cái ống nhòm, hướng nó lên dải Ngân hà và tính xem có bao nhiêu vì sao trốn tránh cặp mắt thường của bạn. Rồi nhìn vào một bức ảnh của tinh vân Andromeda (Chòm sao Tiên nữ) như là nhìn qua một chiếc kính viễn vọng lớn, bạn sẽ thấy số lượng các vì sao thoát khỏi chiếc ống nhòm của bạn lớn đến mức nào.
Một khi bạn đã thấy tất cả các vì sao đó, cuối cùng bạn sẽ tự hỏi rằng: Làm sao mà con người lại có thể là duy nhất trong vũ trụ này? Có bao nhiêu sinh vật thông minh giống như chúng ta ở đâu đó ngoài kia, và đang nhìn vào chúng ta? Bao lâu nữa, chúng ta có thể liên lạc được với họ, trước khi chúng ta đến thăm họ hay trước khi họ đến thăm chúng ta?
Trên Trái đất, hiển nhiên chúng ta là duy nhất. Không một loài nào khác có ngôn ngữ, nghệ thuật hoặc một nền nông nghiệp đa dạng có thể sánh được với chúng ta. Cũng không có loài nào khác lạm dụng ma túy. Nhưng qua bốn chương trước, chúng ta cũng thấy rằng, đối với mỗi dấu hiệu đó của con người, có rất nhiều tiền lệ ở động vật hoặc thậm chí là các động vật tiền thân. Tương tự như thế, trí thông minh của con người tiến hóa trực tiếp từ trí thông minh của tinh tinh, loài đã gây ấn tượng sâu sắc so với chuẩn mực của các động vật khác mặc dầu còn thua kém chúng ta rất nhiều. Phải chăng một số các sinh vật khác trên một số hành tinh nào đó cũng phát triển từ các động vật tiền thân phổ biến mà có thể đạt tới trình độ như loài người chúng ta về nghệ thuật, ngôn ngữ và trí thông minh?
Phần lớn các dấu hiệu của con người thiếu đi những ảnh hưởng có thể phát hiện từ một khoảng cách nhiều triệu năm ánh sáng. Nếu có các sinh vật có khả năng thưởng thức nghệ thuật hoặc nghiện ngập trên các hành tinh có quỹ đạo xung quanh chúng ta, hay thậm chí là ở các vì sao gần ta nhất, chúng ta cũng không bao giờ biết được. Nhưng may mắn thay, có hai tín hiệu có thể phát hiện được từ Trái đất về các sinh vật thông minh có ở một nơi nào khác, đó chính là các tàu thăm dò vũ trụ và tín hiệu vô tuyến. Bản thân chúng ta đã thành công trong việc đưa vào không gian cả hai loại tín hiệu đó, vậy chắc chắn rằng các sinh vật thông minh khác cũng có được các kỹ năng cần thiết để làm điều này. Vậy thì các đĩa bay được mong đợi đang ở đâu?
Điều này, theo tôi dường như là một trong những thách thức vĩ đại nhất đối với tất cả các ngành khoa học. Biết tới hàng tỷ các vì sao cũng như biết được những khả năng của con người đã tiến hóa trong chính nòi giống của chúng ta, chúng ta chắc hẳn phải phát hiện ra những chiếc đĩa bay hay ít nhất cũng phải là những tín hiệu vô tuyến. Không một câu hỏi nào được đặt ra về hàng tỷ các vì sao kia. Vậy điều gì về loài người mà qua đó có thể giải thích cho những chiếc đĩa bay không nhận ra đó? Phải chăng chúng ta thật sự là duy nhất không chỉ trên Trái đất mà còn trong toàn bộ vũ trụ có thể tiếp cận này? Trong chương này tôi sẽ tranh luận việc chúng ta có thể có một triển vọng mới mẻ về sự độc đáo duy nhất của mình thông qua việc tìm kiếm cẩn thận một vài tạo vật duy nhất khác ở ngay trên Trái đất.
Trong một thời gian dài, con người tự hỏi bản thân những câu hỏi như vậy. Khoảng 400 năm trCN, nhà triết học Metrodorus(51) viết: “Coi Trái đất là thế giới đông đúc duy nhất trong một không gian hữu hạn thì cũng ngu xuẩn giống như việc quả quyết rằng trên một cánh đồng rộng lớn, gieo hạt kê thì chỉ một loại ngũ cốc đó mọc mà thôi.” Tuy nhiên, mãi đến tận năm 1960 các nhà khoa học mới thực hiện một nỗ lực nghiêm túc đầu tiên để tìm ra câu trả lời bằng cách lắng nghe (không thành công) sự truyền tín hiệu âm thanh từ hai hành tinh gần chúng ta nhất. Vào năm 1974, các nhà thiên văn học ở trạm thiên văn vô tuyến Arecibo lớn đã cố gắng thiết lập một cuộc đối thoại giữa các vì sao bằng cách gửi đi một tín hiệu vô tuyến mạnh đến chòm sao M13 nằm trong thiên hà Hercules. Tín hiệu đó mô tả cho những cư dân ở Hercules rằng chúng ta, những cư dân Trái đất, trông như thế nào, dân số của Trái đất và hành tinh của chúng ta nằm ở đâu trong hệ mặt trời. Hai năm sau, cuộc tìm kiếm sự sống ngoài Trái đất được tiếp thêm động lực mạnh mẽ thông qua sứ mệnh của tàu thăm dò Viking đến sao Hỏa, chuyến đi này có chi phí lên tới khoảng một tỷ đô la, nhưng vẫn là rất nhỏ so với tổng chi phí của Hiệp hội Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (kể từ khi nó được thành lập) dùng để tiến hành phân loại sự sống đã được biết đến tồn tại trên Trái đất. Gần đây, chính phủ Mỹ quyết định dành hơn 100.000.000 đô la để phát hiện các tín hiệu vô tuyến từ bất kỳ sinh vật thông minh nào mà có thể tồn tại bên ngoài hệ mặt trời của chúng ta. Một vài tàu vũ trụ được phóng lên hướng về phía các hành tinh khác trong hệ mặt trời của chúng ta, trên đó thực hiện việc ghi âm và ghi lại hình ảnh nền văn minh của chúng ta, và sẽ thông báo cho các tàu không gian nếu tình cờ gặp được chúng.
Dễ dàng hiểu tại sao những người bình thường cũng như các nhà sinh vật học coi việc phát hiện sự sống ngoài Trái đất có lẽ là khám phá khoa học thú vị nhất mà loài người đã từng đạt được. Hãy tưởng tượng điều đó sẽ tác động đến việc tự nhìn nhận bản thân của chúng ta đến mức nào khi biết rằng vũ trụ cũng chứa các sinh vật thông minh khác, với các xã hội phức tạp, ngôn ngữ và các truyền thống văn hóa được học hỏi qua các thế hệ và có khả năng giao tiếp được với chúng ta. Một vài người trong số chúng ta nếu tin vào cuộc sống sau cái chết và những vị thần thánh có liên quan đến tôn giáo thì phần lớn sẽ đồng ý rằng một cuộc sống sau khi chết sẽ chờ đợi con người chúng ta chứ không phải là gián (hoặc thậm chí là tinh tinh nữa). Những người theo thuyết Sáng tạo luận thậm chí còn tin rằng loài người của chúng ta có một nguồn gốc riêng biệt do được thần thánh sáng tạo nên. Dù vậy, giả định rằng chúng ta sẽ phát hiện trên một hành tinh khác một xã hội của những cư dân có những bảy chân, thông minh và đạo đức hơn chúng ta và có thể trao đổi được với chúng ta nhưng lại có máy nhận và truyền sóng vô tuyến thay cho vị trí của mắt và miệng. Liệu chúng ta có tin rằng những sinh vật đó (nhưng vẫn không phải là tinh tinh) cùng chia sẻ cuộc sống sau khi chết với chúng ta, và rằng họ cũng được thần thánh tạo nên?
Nhiều nhà khoa học đã cố gắng tính toán những lợi thế của các tạo vật thông minh đang tồn tại ở đâu đó bên ngoài kia. Các tính toán này làm xuất hiện một lĩnh vực hoàn toàn mới mẻ của khoa học được gọi là sinh học ngoài Trái đất - lĩnh vực khoa học duy nhất mà đôi tượng nghiên cứu chưa được chỉ ra là tồn tại. Bây giờ hãy xét tới những con số đã khuyến khích các nhà nghiên cứu sinh học ngoài Trái đất tin vào đối tượng của họ.
Các nhà sinh học Trái đất tính toán số lượng các nền văn minh công nghệ tiên tiến trong vũ trụ này bằng một phép tính gọi là công thức Ngân hàng Xanh, trong đó thực hiện việc nhân một dãy các con số được ước tính. Một vài trong những số đó có thể tính được với độ tin cậy cao. Có đến hàng tỷ thiên hà, mỗi thiên hà lại có hàng tỷ ngôi sao. Các nhà thiên văn học kết luận rằng rất nhiều ngôi sao có thể có một hoặc nhiều hơn một hành tinh và nhiều hành tinh trong số đó có thể tồn tại môi trường phù hợp cho sự sống. Các nhà sinh học kết luận rằng nơi nào có các điều kiện phù hợp cho sự sống tồn tại thì cuối cùng sự sống có thể sẽ được hình thành ở đó. Nhân tất cả các xác suất có thể hoặc những con số đó với nhau, chúng ta đi đến kết luận rằng dường như có tới hàng tỷ các hành tinh cung cấp đủ các điều kiện cho sự sống.
Bây giờ hãy cùng ước tính phần nào trong số các khu hệ sinh vật trên các hành tinh ấy chứa các sinh vật thông minh với các nền văn minh có kỹ thuật tiên tiến mà chúng ta sẵn sàng định nghĩa là các nền văn minh có thể giao tiếp liên hành tinh bằng sóng vô tuyến (đây là một định nghĩa ít đòi hỏi hơn so với khả năng có được đĩa bay bởi vì trình độ phát triển của chúng ta cho rằng sự giao tiếp bằng sóng vô tuyến giữa các hành tinh sẽ xảy ra trước các tàu thăm dò vũ trụ). Tồn tại hai luận điểm cho rằng phần đó có thể rất đáng kể. Đầu tiên là, một hành tinh đơn lẻ nơi chúng ta chắc chắn rằng sự sống sẽ tiến hóa giống với loài người, sẽ phát triển nên một nền văn minh kỹ thuật tiên tiến. Chúng ta đã phóng các tàu thăm dò liên hành tinh và đạt tới những tiến bộ như các kỹ thuật làm đóng băng và hồi sinh của sự sống và tạo ra sự sống từ các kỹ thuật ADN có liên quan đến việc bảo tồn sự sống như chúng ta biết tới trong những chuyến thám hiểm lâu dài tới các hành tinh khác. Trong một vài thập kỷ gần đây, tiến bộ kỹ thuật phát triển nhanh đến mức cho phép sử dụng các tàu thăm dò thám hiểm các hành tinh chắc chắn có thể thực hiện công việc đó ở mức tối đa trong một vài thế kỷ vì rằng một vài tàu thăm dò các hành tinh vẫn chưa được sử dụng tới đã sẵn sàng tiến ra bên ngoài hệ mặt trời của chúng ta.
Tuy nhiên, luận điểm đầu tiên cho rằng nhiều khu hệ sinh vật khác cũng đã tiến hóa nên các nền văn minh kỹ thuật tiên tiến không phải là một luận điểm thuyết phục. Sử dụng ngôn ngữ của các nhà thống kê, luận điểm này gặp các thiếu sót hiển nhiên về kích thước mẫu rất nhỏ (làm sao mà bạn có thể khái quát hóa chỉ từ một trường hợp?) và khu hệ sinh vật được xác định rất lớn (chúng ta chọn ra chính xác một trường hợp trong số đó bởi vì nó tiến hóa từ nền văn minh với kỹ thuật tiên tiến của chính chúng ta).
Luận điểm thứ hai mạnh mẽ hơn cho rằng sự sống trên Trái đất được đặc trưng bởi những gì các nhà sinh học gọi là tiến hóa hội tụ. Do đó, có vẻ như là với bất cứ ổ sinh thái hoặc sự thích nghi về sinh lý nào bạn quan tâm thì nhiều nhóm sinh vật đã hội tụ thông qua quá trình tiến hóa độc lập để khai thác ổ sinh thái ấy hoặc để đạt được sự thích nghi nào đó. Một ví dụ hiển nhiên là sự tiến hóa khả năng bay hoàn toàn độc lập giữa những loài chim, dơi, thằn lằn ngón cánh và côn trùng. Các trường hợp kỳ lạ khác là sự tiến hóa độc lập của mắt và thậm chí là cả phương thức giết con mồi bằng điện của nhiều loài động vật. Trong hai thập kỷ vừa qua, các nhà sinh hóa đã phát hiện sự tiến hóa hội tụ ở mức độ phân tử, chẳng hạn như sự tiến hóa lặp lại của các enzym phân giải protein tương tự nhau. Sự tiến hóa hội tụ của các ngành khoa học như giải phẫu học, sinh lý học, hóa sinh và tập tính học cũng diễn ra phổ biến tới mức mà bất cứ khi nào các nhà sinh học quan sát hai loài có nhiều điểm giống nhau ở một vài khía cạnh thì một trong những câu hỏi đầu tiên họ đặt ra là: liệu rằng đặc điểm tương đồng đó bắt nguồn từ một tổ tiên chung hay là kết quả của quá trình hội tụ?
Không có gì ngạc nhiên về sự tồn tại dường như ở khắp nơi của tiến hóa hội tụ. Nếu bạn đặt hàng triệu loài trong hàng triệu năm dưới áp lực chọn lọc tương đồng, lẽ dĩ nhiên bạn có thể mong đợi những cách giải quyết tương tự cũng sẽ xuất hiện hết lần này sang lần khác theo thời gian. Chúng ta biết rằng có rất nhiều sự hội tụ xảy ra giữa các loài trên Trái đất nhưng cũng với lý do đó, liệu rằng có thể xuất hiện sự hội tụ giữa những loài sống trên Trái đất và các sinh vật ở đâu đó. Do đó, mặc dầu sự giao tiếp bằng sóng vô tuyến là một trong số những sự kiện đã xảy ra và tiến hóa duy nhất trên Trái đất mà thôi, nhưng việc xem xét tiến hóa hội tụ khiến chúng ta hy vọng rằng sự tiến hóa ấy cũng hình thành trên một vài hành tinh khác nữa. Như cuốn Từ điển bách khoa Britannica từng nhắc tới “thật khó để tưởng tượng ra sự tiến hóa của sự sống trên một hành tinh nào đó mà không đi kèm với sự tiến bộ về trí thông minh”.
Nhưng kết luận như trên đưa chúng ta quay trở lại với câu đố mà tôi đã đề cập trước đây. Nếu phần lớn hoặc rất nhiều các vì sao đều tồn tại trong các hệ hành tinh và nếu nhiều trong số những hệ hành tinh đó có ít nhất một hành tinh với các điều kiện phù hợp cho sự sống, và nếu sự sống dường như cuối cùng cũng sẽ được tạo nên ở những nơi đã tồn tại các điều kiện phù hợp, và nếu chỉ cần 1% trong số các hành tinh tồn tại sự sống có một nền văn minh kỹ thuật tiên tiến thì ta có thể ước tính rằng chỉ riêng thiên hà của chúng ta cũng chứa khoảng 1.000.000 hành tinh có các nền văn minh tiên tiến. Nhưng chỉ trong một bán kính khoảng vài chục năm ánh sáng xung quanh chúng ta đã có tới hàng trăm ngôi sao, một vài (hay hầu hết?) trong số đó chắc chắn có các hành tinh giống chúng ta phù hợp cho sự sống. Vậy chúng ta mong chờ các đĩa bay từ đâu đến? Những sinh vật thông minh sẽ đến thăm chúng ta hoặc ít nhất cũng trực tiếp gửi đi các tín hiệu vô tuyến tới chúng ta, họ từ đâu tới? Câu trả lời chỉ là sự im lặng tuyệt đối.
Chắc rằng đã có những sai lầm trong tính toán của các nhà thiên văn học. Họ biết về những vấn đề mà họ đang nói tới khi ước tính số lượng của các hệ hành tinh và phần nào đó trong số này có lẽ phù hợp cho sự sống. Tôi nhận thấy những tính toán này là khá hợp lý. Thay vào đó, vấn đề dường như tồn tại chủ yếu trong các cuộc tranh luận, dựa trên nền tảng của tiến hóa hội tụ, đó chính là phần thiết yếu nào trong khu hệ sinh vật sẽ tiến hóa nên các nền văn minh kỹ thuật tiên tiến. Do đó, hãy cùng xem xét kỹ lưỡng hơn nữa những khả năng chắc chắn cho việc diễn ra tiến hóa hội tụ.
Chim gõ kiến mang lại một thí nghiệm kiểm chứng rất tốt bởi việc mổ lên các thân cây là một kiểu đời sống qua đó mang lại lượng thức ăn nhiều hơn rất nhiều so với các đĩa bay hay các sóng vô tuyến. “Ổ sinh thái chim gõ kiến” được tạo nên dựa trên các lỗ được khoét trên những cây gỗ sống và việc tước bỏ những mảnh vỏ cây. Điều đó có nghĩa là nguồn thức ăn có thể sử dụng trong cả một năm là những thứ nhựa cây, các côn trùng sống dưới vỏ cây và các côn trùng đục thân gỗ. Đây cũng là một địa điểm tuyệt vời để làm tổ bởi vì một cái lỗ ở trên cấy có thể bảo vệ khỏi gió, mưa, thú ăn thịt và sự thất thường của nhiệt độ ngoài trời. Các loài chim khác ngoài gõ kiến có thể dễ dàng thực hiện việc đục lỗ trên các thân cây gỗ chết nhưng hiển nhiên là có rất ít các cây chết so với các cây còn sống.
Những vấn đề cần quan tâm này có nghĩa là, nếu chúng ta tính đến sự tiến hóa hội tụ thông qua giao tiếp bằng sóng vô tuyến, thì chúng ta chắc chắn phải tính đến quá trình tiến hóa hội tụ diễn ra ở nhiều loài nhằm khám phá ra ổ sinh thái giống như của chim gõ kiến. Không có gì đáng ngạc nhiên, gõ kiến là một loài chim rất thành công. Có tới gần 200 loài chim thuộc họ chim này, và nhiều loài trong số đó rất giống nhau. Chúng xuất hiện với mọi kích thước, từ những con chim nhỏ bé như loài tước mào vàng đến loài to lớn như quạ. Chúng phân bố rộng trên khắp thế giới, ngoại trừ các đảo ngoài đại dương quá xa để chúng có thể bay được đến đó.
Để tiến hóa trở thành loài chim gõ kiến thì khó đến mức nào? Cả hai nhận định trên dường như đều có thể cho rằng “không khó lắm”. Chim gõ kiến không phải thuộc về nhóm sinh vật nguyên thủy cổ đại, cực kỳ khác biệt và không có các loài họ hàng gần gũi như trường hợp của các động vật có vú đẻ trứng. Thay vào đó, các nhà điểu học từ lâu cũng đều nhất trí khi cho rằng những loài có quan hệ họ hàng gần gũi với gõ kiến chính là bọn chim hút mật nhỏ, chim tu căng và chim cu rốc. Chim gõ kiến khá giống với các loài này ngoại trừ sự thích nghi đặc biệt của chúng trong việc đục thân cây. Loài chim này có một số lượng lớn các thích nghi như vậy nhưng không một sự thích nghi nào lại hoàn toàn xa lạ giống như là việc tạo ra các sóng vô tuyến, và tất cả đều hoàn toàn được nhìn nhận như là sự mở rộng của những thích nghi có được ở các loài chim khác. Những thích nghi này được chia thành bốn nhóm.
Nhóm thứ nhất và cũng hiển nhiên nhất chính là sự thích nghi với việc khoan lỗ trên cây gỗ sống. Nhóm này bao gồm lũ chim có mỏ trông như cái đục trong đó lỗ mũi được bảo vệ bởi lớp lông để tránh bụi gỗ, xương sọ, đầu và cổ có nhiều cơ khỏe và có một khớp nối giữa nền của mỏ và mặt phía trước của xương sọ để giúp lan tỏa bớt sự va chạm của những cú nện. Những đặc điểm thích nghi cho việc khoan lỗ trên thân cây còn sống này có thể được truy nguyên từ những đặc điểm của các loài chim khác một cách dễ dàng hơn so với việc lần ra nguồn gốc của sóng vô tuyến của chúng ta từ bất kỳ sóng vô tuyến nguyên thủy nào đó có ở loài tinh tinh. Nhiều loại chim khác, chẳng hạn như các loài vẹt, mổ hoặc đục lỗ trên những thân gỗ chết. Trong họ chim gõ kiến, cũng tồn tại một sự phân cấp về khả năng đục lỗ - từ chim vẹo cổ không thể đục được lỗ, cho đến rất nhiều những loài gõ kiến đục trên thân gỗ mềm, và rồi đến những loài chỉ chuyên đục các thân cây gỗ cứng như là những loài chim rút nhựa.
Một dạng thích nghi khác là những loài quen với việc đậu thẳng đứng trên vỏ cây, chẳng hạn như chúng có cái đuôi cứng để tỳ lên vỏ cây như một cái chạc ôm, các cơ khỏe để vận động đuôi, các chi ngắn và các ngón chân cong, dài. Quá trình tiến hóa của các thích nghi này có thể truy nguyên nguồn gốc thậm chí còn dễ dàng hơn so với những thích nghi cho việc đục thân cây. Thậm chí ngay trong họ chim gõ kiến, chim vẹo cổ và họ gõ kiến lùn cũng không có những cái đuôi cứng để làm chạc ôm. Nhiều loài chim khác không thuộc họ gõ kiến, bao gồm những loài chim trườn bò, loại vẹt lùn lại có những chiếc đuôi chắc khỏe được tiến hóa nhằm giúp chúng bám chặt cơ thể vào thân cây.
Dạng thích nghi thứ ba là sự tạo thành những chiếc lưỡi cực dài và vô cùng mềm dẻo, có chiều dài tương đương với lưỡi của loài người ở một số loài chim gõ kiến. Khi mà một con gõ kiến bẻ gãy được một hệ thống các đường rãnh ngầm được tạo ra bởi các loài sâu bọ bên trong thân cây tại một điểm nào đó, con chim ấy có thể sử dụng lưỡi của nó để chạm tới mọi ngõ ngách của hệ thống mà không cần phải khoét lỗ mới ở trên mỗi cành cây. Lưỡi của chim gõ kiến cũng có rất nhiều tiền thân ở một số loài động vật, trong số đó là những chiếc lưỡi có độ dài tương tự dùng để bắt sâu bọ có ở loài cóc, động vật ăn kiến và lợn đất.
Cuối cùng, chim gõ kiến có lớp da rất dẻo dai để chống lại vết côn trùng cắn cũng như những áp lực từ những cú nện cùng các bó cơ khỏe mạnh. Những ai đã từng lột da và nhồi bông những con chim thì biết rằng có một vài loài chim có lớp da dẻo dai hơn những loài khác. Những người nhồi bông thú sẽ kêu rên khi được đưa cho một con chim bồ câu mà bộ da mỏng như tờ giấy của nó gần như đã bị xé rách trước khi mà bạn nhìn thấy được, nhưng hẳn sẽ vui mừng hơn nhiều khi được đưa cho một con chim gõ kiến, diều hâu hay con vẹt.
Do đó, trong khi chim gõ kiến có rất nhiều điểm thích nghi cho việc đục thân cây thì phần lớn các thích nghi đó cũng tiến hóa theo kiểu hội tụ đối với những loài chim hoặc động vật khác. Và thậm chí thích nghi đặc biệt nhất ở phần xương sọ cũng có thể lần ra từ những động vật tiền thân. Vì vậy, bạn có thể hy vọng rằng toàn bộ những thích nghi của các loài đục thân được tiến hóa lặp lại mà kết quả là ngày nay có rất nhiều nhóm các động vật lớn có thể chọc thủng các thân cây gỗ sống để tìm kiếm thức ăn và làm tổ. Nhưng tất cả những con chim gõ kiến hiện đại có mối quan hệ họ hàng gần gũi với nhau hơn bất cứ những loài nào khác không cùng họ với chúng. Điều này chứng minh rằng sự đục lỗ trên cây chỉ tiến hóa duy nhất một lần. Thậm chí ở những vùng đất xa xôi mà chim gõ kiến không bao giờ đặt chân đến, như Australia, New Guinea hay New Zealand, không có loài nào khác tiến hóa để khai phá những cơ hội tuyệt vời có được nhờ cách thức sống như của loài chim gõ kiến. Một vài loài chim và động vật có vú trên những vùng đất mênh mông đó cũng đục lỗ trên thân cây chết hay vỏ cây, nhưng chúng chỉ là những ngoại lệ nhỏ so với loài chim gõ kiến, nhưng không một loài nào trong số đó đục lỗ được trên thân cây sống. Nếu như chim gõ kiến không tiến hóa vào một thời điểm nào đó ở châu Mỹ hay ở Cựu Thế giới thì một ổ sinh thái cực kỳ lớn rõ ràng sẽ không thể xuất hiện trên khắp Trái đất này.
Tôi vừa tập trung vào loài chim gõ kiến để minh họa rằng sự hội tụ không diễn ra trên quy mô toàn cầu và rằng không phải tất cả các cơ hội tốt đều được nắm bắt. Tôi có thể minh họa quan điểm tương tự với những ví dụ rõ ràng, và tương đối ngang bằng khác. Cơ hội phổ biến nhất có ở các loài động vật là sự tiêu thụ thực vật mà thành phần chủ yếu là cellulose. Chưa có động vật cấp cao nào có khả năng tiến hóa tạo ra loại enzyme tiêu hóa cellulose. Những động vật ăn cỏ cần tiêu hóa cellulose (như loài bò), thay vào đó, phải dựa vào các vi sinh vật sống trong ruột của chúng. Lấy một ví dụ khác mà tôi đã đề cập trong một chương trước, tự tạo nên thức ăn riêng cho mình dường như mang lại những thuận lợi hiển nhiên đối với động vật, nhưng trước khi nền nông nghiệp của con người bắt đầu vào 10.000 năm trước đây, những động vật chiếm lĩnh được công việc đó chỉ là bọn kiến ăn lá và một vài loài côn trùng khác nuôi trồng nấm hoặc thuần hóa các “con bò” rệp cây.
Do vậy, điều này đã chứng minh rằng rất khó để tiến hóa dù chỉ là những thích nghi rõ ràng cần thiết như các loài đục thân gỗ, tiêu hóa hiệu quả cellulose hoặc tự tạo ra nguồn thức ăn nuôi sống bản thân. Sóng vô tuyến đóng vai trò kém quan trọng hơn so với nhu cầu thức ăn và vì thế dường như kém có khả năng tiến hóa hơn. Vậy phải chăng điều đó là một sự may mắn cho chúng ta, mà không thể xuất hiện ở bất kỳ một hành tinh nào khác?
Hãy xét tới những điều chúng ta được biết nhờ sinh học về khả năng chắc chắn của sự tiến hóa sóng vô tuyến trên Trái đất. Nếu sự tạo thành sóng vô tuyến giống như việc đục thân cây thì một số loài có thể tiến hóa các nhân tố nhất định đồng loạt với nhau hay tiến hóa theo những cách thức không hiệu quả, mặc dầu chỉ duy nhất một loài có khả năng tiến hóa hoàn toàn đầy đủ. Chẳng hạn như, chúng ta có thể coi rằng giờ đây loài gà tây có máy phát các tín hiệu vô tuyến nhưng lại không có máy nhận, trong khi chuột túi có máy nhận nhưng lại không có máy phát. Những bằng chứng hóa thạch có thể chỉ ra rằng hàng chục các loài động vật mà giờ đây đã tuyệt chủng đã tiến hành thử nghiệm trong suốt 500.000.000 năm về trước với nghề luyện kim và các mạch điện tử phức tạp hơn đã dẫn đến các lò nướng bằng điện ở kỷ Trias, bẫy chuột hoạt động bằng pin ở kỷ Oligocene và cuối cùng là sóng vô tuyến ở kỷ Holocene. Các hóa thạch được phát hiện cũng cho thấy các máy truyền tín hiệu năm watt của loài bọ ba thùy, máy phát có công suất 200 watt trong xương hóa thạch của các loài khủng long cuối cùng và cả máy phát 500 watt có ở hổ răng nanh cho đến khi cuối cùng loài người cũng đạt tới mức năng lượng phát ra lớn tới mức đủ để phát đi những tín hiệu ra ngoài không gian.
Nhưng không một điều nào trong số đó xảy ra. Cả ở các hóa thạch cũng như trong các động vật còn tồn tại - thậm chí là cả những loài có quan hệ gần gũi nhất với chúng ta, loài tinh tinh lùn và tinh tinh thường, không hề có các động vật tiền thân xa xôi nhất có liên quan tới sóng vô tuyến. Điều đó chỉ dẫn tới việc xem xét những kinh nghiệm của bản thân con người. Không một ai kể cả người autralopithecines (vượn người phương Nam) và Homo sapien thời kỳ đầu tiên sử dụng tới sóng vô tuyến. Cách đây chỉ khoảng 150 năm, con người hiện đại ngày nay thậm chí còn chưa có những khái niệm có thể dẫn tới sóng vô tuyến. Những thí nghiệm thử nghiệm đầu tiên mới được bắt đầu khoảng năm 1888, và phải cách đây khoảng 100 năm, Marconi mới tạo ra máy phát đầu tiên có khả năng phát xa trên một dặm. Loài người vẫn chưa gửi được các tín hiệu tới các hành tinh khác cho mãi tới năm 1974, thí nghiệm về trạm thiên văn Arecibo là nỗ lực đầu tiên của chúng ta.
Như tôi đã đề cập ở phần trước của chương này, sự tồn tại của sóng vô tuyến trên một hành tinh mà chúng ta biết tới ban đầu gợi ý những khả năng chắc chắn là sóng vô tuyến có thể phát triển ở những hành tinh khác nữa. Sự thật là, những xem xét kỹ lưỡng hơn về lịch sử Trái đất lại hoàn toàn ủng hộ cho một kết luận ngược lại: sóng vô tuyến có xác suất vô cùng nhỏ nhoi trong sự tiến hóa ở đây. Chỉ có một trường hợp trong hàng tỷ các loài sinh vật tồn tại trên Trái đất thể hiện khuynh hướng nào đó liên quan tới sóng vô tuyến, và ngay cả nó cũng thất bại trong việc thể hiện điều này trong giai đoạn 69.999-70.000 năm của lịch sử 7.000.000 năm tồn tại. Một vị khách từ ngoài vũ trụ nếu đến Trái đất gần đây nhất vào khoảng năm 1800 có thể sẽ gạt bỏ ngay bất cứ triển vọng nào về sóng vô tuyến có thể được tạo ra vào lúc đó.
Bạn có thể phản đối rằng tôi đã quá nghiêm khắc trong việc tìm kiếm chính những dạng tiền thân sớm nhất của sóng vô tuyến, khi mà thay vào đó, tôi nên nhìn nhận chỉ hai đặc điểm cần thiết để tạo nên sóng radio: trí thông minh và sự khéo léo về cơ khí. Nhưng tình huống ở đây thì hơi đáng khích lệ. Dựa trên những kinh nghiệm tiến hóa gần đây của loài người, chúng ta nhận định một cách đầy kiêu ngạo rằng rằng trí thông minh và sự khéo léo hẳn phải là cách thức tốt nhất để thống trị cả thế giới này và chắc hẳn phải do tiến hóa mà thành. Hãy suy nghĩ một lần nữa về những lời trích dẫn mà tôi đã nêu từ trước trong cuốn Bách khoa toàn thư Britannican là: “thật khó để tưởng tượng ra sự tiến hóa của sự sống trên một hành tinh nào đó mà không đi kèm với sự tiến bộ về trí thông minh”. Lịch sử Trái đất một lần nữa lại ủng hộ chính xác cho kết luận ngược lại. Trong thực tế, sự biến mất của một số loài vật trên Trái đất chẳng gây lo ngại nhiều cho cả trí thông minh cũng như sự khéo léo. Không có loài vật nào có được sự khác biệt vượt bậc nhiều như ở loài người chúng ta, một vài trong số đó cũng có được đôi chút ở một khía cạnh nào đó (chẳng hạn như những con cá heo thông minh, những con nhện khéo léo), nhưng lại không có đặc điểm khác, và chỉ rất ít loài vật có thể có được cả hai đặc điểm đó nhưng ở cấp độ rất thấp (như loài tinh tinh thường và tinh tinh lùn) lại thậm chí còn chẳng thành công bằng. Thay vào đó, những loài vật thực sự thành công trên Trái đất này lại chính là những con chuột và loài bọ cánh cứng điếc đặc và vụng về, nhưng chúng lại tìm được những cách thức tốt hơn cho ưu thế vượt trội của mình.
Chúng ta chỉ còn phải xét tới những biến số còn thiếu cuối cùng trong công thức Ngân hàng Xanh để tính toán số lượng có thể của những nền văn minh có khả năng liên lạc bằng sóng vô tuyến xuyên qua các hành tinh. Biến số đó chính là thời gian tồn tại của một nền văn minh như thế. Sự đòi hỏi về trí thông minh và sự khéo léo trong việc tạo nên những sóng vô tuyến là cần thiết cho những mục tiêu khác được coi như những dấu hiệu của loài người tồn tại rất lâu trước khi có sự ra đời của sóng vô tuyến: những mục tiêu như những công cụ thảm sát và những phương tiện để phá hủy môi trường. Chúng ta trở nên quá mạnh trong cả hai lĩnh vực mà chúng ta đang dần dần gánh chịu hậu quả từ nền văn minh của mình. Chúng ta có thể nào tận hưởng những thành tựu ấy đến phút cuối bởi nỗi lo lắng đang gặm nhấm dần dần. Gần một chục các quốc gia hiện nay đang sở hữu các công cụ hủy diệt có thể đưa loài người chúng ta đi tới một kết thúc nhanh chóng, còn những quốc gia khác thì đang nóng lòng tìm kiếm để nắm bắt được các công cụ đó. Sự khôn ngoan của một số nhà lãnh đạo tiền nhiệm ở các quốc gia sở hữu bom hoặc của một số các nhà lãnh đạo hiện nay tại các quốc gia đang chế thử bom, không khuyến khích chúng ta tin rằng có sóng vô tuyến trên Trái đất trong thời gian lâu hơn nữa.
Một điều dường như vô cùng may mắn là cuối cùng chúng ta cũng đã phát triển được sóng vô tuyến, và hơn thế nữa, chúng ta đã phát triển chúng trước khi phát triển một nền công nghệ mà có thể tiêu diệt chúng ta trong nỗi lo lắng tăng dần hoặc trong một vụ nổ bất thình lình. Do đó, trong khi lịch sử Trái đất đưa ra ít hy vọng rằng nền văn minh sóng vô tuyến sẽ tồn tại ở đâu đó, thì điều này cũng gợi ý rằng bất kỳ nền văn minh nào mà có thể tồn tại đều ngắn ngủi. Các nền văn minh tiến bộ khác đã hình thành ở nơi nào đó có thể đảo ngược tiến trình phát triển của nó chỉ trong một đêm như hiện nay loài người chúng ta đang mạo hiểm thực hiện.
Nếu là như vậy thì quả thực chúng ta rất may mắn. Tôi thấy không thể tin được khi các nhà thiên văn học hiện giờ nóng lòng dành hàng trăm triệu đô la vào việc tìm kiếm sự sống ngoài Trái đất mà chưa bao giờ nghĩ một cách nghiêm túc về câu hỏi rõ ràng nhất là: điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta tìm thấy những sự sống ấy hoặc là khi chúng tìm đến với chúng ta. Các nhà thiên văn học tưởng tượng rằng chúng ta và những con quái vật nhỏ màu xanh có lẽ sẽ chào đón nhau và tạo nên những cuộc trò chuyện đầy thú vị. Ở đây, một lần nữa thí nghiệm của chúng ta trên Trái đất cần tới những chỉ dẫn hữu ích. Chúng ta đã khám phá ra hai loài rất thông minh nhưng về kỹ thuật thì kém phát triển hơn chúng ta - đó là tinh tinh thường và tinh tinh lùn. Liệu phản ứng của chúng ta có phải là cố gắng điềm tĩnh và tiến hành trao đối với chúng không? Tất nhiên là không. Thay vào đó, chúng ta sẽ bắn chúng, phân tích chúng, cắt rời tay chúng dùng làm mẫu vật để trưng bày, nhốt chúng trong những cái lồng và để mọi người tới tham quan, tiêm virus AIDS vào chúng như là một thí nghiệm y học và phá hủy hoặc cướp đi môi trường sống quen thuộc của chúng. Sự phản ứng này là có thể đoán trước được bởi vì các nhà thám hiểm của chúng ta, người mà khám phá ra những người kém tiên tiến về kỹ thuật, cũng có phản ứng tương tự bằng cách giết hại những người này, tiêu diệt toàn bộ dân cư ở đó với các bệnh tật mới rồi phá hủy hoặc chiếm đoạt vùng đất sinh sống của họ.
Bất kỳ người ngoài hành tinh có trình độ tiên tiến nào khi khám phá ra chúng ta chắc chắn cũng sẽ đối xử với chúng ta theo một cách tương tự. Hãy nghĩ lại về những nhà thiên văn học, những người phát đi các tín hiệu sóng vô tuyến vào không gian từ trạm Arecibo, mô tả vị trí của Trái đất và cư dân sinh sống trên đó. Hành động tự sát dại dột đó khiến ta có thể so sánh với sự điên rồ của hoàng đế cuối cùng của người Inca, vua Atahualpa, người đã miêu tả cho những thủy thủ người Tây Ban Nha đang điên lên vì vàng sự giàu có của thủ đô của ông và còn cung cấp cho chúng những lời chỉ dẫn cho cuộc hành trình đó. Nếu thật sự có bất kỳ nền văn minh sóng vô tuyến trong khoảng cách mà chúng ta có thể đạt tới thì vì lợi ích của Chúa, hãy tắt máy phát của chúng ta và cố gắng thoát khỏi sự phát hiện hoặc chúng ta sẽ sớm bị tiêu diệt.
Thật may cho chúng ta là chỉ có sự im lặng trả lời từ không gian vũ trụ bên ngoài. Đúng vậy, ở ngoài kia là hàng tỷ thiên hà với hàng tỷ ngôi sao. Ở ngoài kia cũng phải có các máy phát tín hiệu, nhưng không nhiều, và chúng sẽ không tồn tại lâu. Có thể không còn ai khác trong thiên hà của chúng ta và chắc chắn cũng sẽ không có ai trong hàng trăm năm ánh sáng xung quanh Trái đất chúng ta. Những gì mà chim gõ kiến dạy chúng ta về đĩa bay chính là việc dường như chúng ta sẽ không gặp một chiếc nào hết. Vì những mục đích thực tế thì chúng ta là duy nhất và đơn độc trong vũ trụ đông đúc này. Tạ ơn Chúa!