Những cuộc diệt chủng đã chứng minh rằng rất khó để người ta xếp riêng động cơ của chúng theo như định nghĩa. Trong khi hàng loạt động cơ có thể diễn ra đồng thời, thì để dễ dàng hơn ta có thể chia chúng thành bốn loại. Trong hai loại đầu tiên, có một sự xung đột thực sự về quyền lợi đất đai hay quyền lực, có hay không việc những sự xung đột này cũng được phân biệt theo ý thức hệ. Còn trong hai loại khác, sự xung đột này là rất nhỏ, và động cơ đơn thuần là vì ý thức hệ hay tâm lý.
Có lẽ động cơ thông thường nhất cho sự gia tăng nạn diệt chủng là khi một đạo quân mạnh hơn muốn chiếm đoạt một vùng đất mà những người yếu hơn đang sinh sống. Trong vô số những trường hợp hoàn toàn phù hợp với nhóm này, không chỉ là việc tiêu diệt người Tasmania và thổ dân Australia của những người da trắng ở Úc, mà còn phải kể đến những cuộc diệt chủng thổ dân Mỹ của những người Mỹ da trắng, tiêu diệt thổ dân Araucania Ấn của những người Argentina, và người Bush và Hottentot của những người định cư gốc Hà Lan ở Nam Phi.
Một động cơ thông thường khác chính là sự tranh giành quyền lực lâu dài trong một xã hội đa nguyên, dẫn đến một nhóm người tìm đến giải pháp cuối cùng là giết chết một nhóm khác. Những trường hợp bao gồm hai nhóm dân tộc khác nhau là cuộc chiến người Hutu giết người Tusti ở Rwanda năm 1962-1963, và người Tusti người Hutu ở Burundi năm 1972-1973, cuộc chiến giết người Séc gây ra bởi người Croat ở Yugoslavia trong suốt Chiến tranh thế giới thứ II, người Croat do người Séc giết hại vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh đó, và người Arab ở Zanzibar những người da đen giết hại năm 1964. Tuy nhiên, kẻ giết người và người bị giết có thể còn cùng thuộc một nhóm dân tộc nhưng khác nhau về quan điểm chính trị. Như trường hợp cuộc diệt chủng lớn nhất được biết đến trong lịch sử, khẳng định rằng ước tính có khoảng 20.000.000 nạn nhân trong một thập kỷ từ 1929-1939 và 66.000.000 từ năm 1917 cho tới năm 1959: con số này đã được chính phủ Liên bang Xô Viết thừa nhận trong việc chống lại những kẻ phản đối chính trị ngay trong chính công dân của họ. Cuộc giết người do nguyên nhân chính trị chỉ đứng sau sự kiện trên là việc quân Khmer đỏ thanh lọc hàng triệu người Campuchia suốt những năm 1970, và cuộc tàn sát của người Indonesia giết chết hàng trăm nghìn người cộng sản vào những năm 1965-1967.
Trong hai động cơ vừa được mô tả gây ra nạn diệt chủng kể trên, những nạn nhân có thể được coi như là chướng ngại vật thực sự đối với sự kiểm soát đất đai và quyền lực của những kẻ giết người. Ở một khía cạnh đối nghịch thì còn có sự giết hại những người giơ đầu chịu báng thuộc một nhóm thiểu số những người không giúp ích gì bị đổ lỗi cho tâm trạng thất vọng của những kẻ giết hại họ. Những người Do Thái đã bị những người Thiên Chúa giáo thế kỷ XIV giết chết vì bị coi như những người chịu trách nhiệm cho bệnh dịch hạch, và vào đầu thế kỷ XX bị những người Nga giết do bị coi là nguyên nhân cho những vấn đề chính trị của Nga, bị người Ukraina giết sau Chiến tranh thế giới thứ I vì họ là người chịu trách nhiệm cho sự đe dọa với người bonsevich, và bị Đức Quốc xã giết trong suốt Chiến tranh thế giới thứ II như những người gây ra thất bại của quân Đức ở Chiến tranh thế giới thứ I. Khi lực lượng Calvary số 7 của quân đội Hoa Kỳ tàn sát hàng trăm người da đỏ Sioux tại Wounded Knee(62) năm 1890, những người lính đã được điều động nhằm trả thù muộn màng cho cuộc tấn công vào đội Custer thuộc lực lượng Calvalry số 7 tại cuộc chiến ở Little Big Horn(63) 14 năm về trước. Những năm 1943-1944, khi những người Nga đang khốn cùng vì sự xâm lược của quân đội Đức Quốc xã, chính Stalin đã ra lệnh giết chết hay trục xuất sáu dân tộc thiểu số đã từng phục vụ như những kẻ phải chịu một phần trách nhiệm cho cảnh bị xâm lược, đó là: người Balkars, Chechens, Crimean Tatars, Ingush, Kalmyks và người Karachai.
Những cuộc khủng bố về tôn giáo và chủng tộc được tiến hành như một sự phân cấp những động cơ. Trong khi tôi không chắc có thể hiểu được tâm lý của lính Đức Quốc xã, thì những cuộc tàn sát của quân đội Quốc xã với người Gypsy có lẽ xuất phát từ một động cơ gần như là chủng tộc “thuần tuý”, trong khi nguyên do của cuộc tàn sát người Do Thái lại là sự kết hợp giữa động cơ tôn giáo và chủng tộc. Danh sách những cuộc thảm sát nhuốm màu tôn giáo hầu như kéo dài vô tận. Nó bao gồm cuộc thảm sát do những đội quân thập tự chinh đầu tiên gây ra cho tất cả người Hồi giáo và Do Thái ở Jerusalem khi thành phố đó cuối cùng đã bị chiếm đóng vào năm 1099 và cuộc thảm sát những người theo đạo Tin Lành của Pháp trong ngày lễ thánh Bartholomew(64) bởi người Công giáo năm 1572. Tất nhiên, những động cơ về mặt tôn giáo và chủng tộc đã góp phần lớn vào tội tuyệt chủng được nảy sinh từ những cuộc tranh giành đất đai, quyền lực và cả những yếu tố ngớ ngẩn khác nữa.
Thậm chí nếu ai đó chấp nhận những bất đồng về định nghĩa và động cơ của tội diệt chủng, thì rất nhiều trường hợp diệt chủng khác vẫn còn tồn tại. Giờ đây, chúng ta hãy nhìn lại về quá khứ và ngay trong lịch sử loài người xuất hiện dưới tư cách một loài, những dẫn chứng về sự mờ rộng của tội ác diệt chủng.
Liệu có đúng như người ta vẫn thường khẳng định rằng, con người là loài duy nhất trong giới động vật tàn sát chính đồng loại của mình? Ví dụ như, nhà sinh vật học nổi tiếng Konrad Lorenz, trong cuốn sách của mình với tựa đề On Aggression (Sự hiếu chiến), đã tranh luận rằng bản năng xâm lăng hung hãn của các loài động vật đã được kiểm soát bởi những yếu tố cũng do bản năng nhằm kìm hãm, chống lại sự tàn sát. Nhưng trong lịch sử loài người, trạng thái cân bằng này đã bị phá vỡ bởi sự xuất hiện của vũ khí: sự ức chế được di truyền lại đã không còn đủ mạnh để kìm hãm sức mạnh tàn sát mới thu được. Quan điểm cho rằng con người là kẻ sát nhân duy nhất và là kẻ không thích ứng với quá trình tiến hóa đã được Arthur Koestler(65) và nhiều nhà văn nổi tiếng khác chấp nhận.
Thực ra, các nghiên cứu trong vài thập niên gần đây đã chứng minh bản năng tàn sát có trong nhiều loài động vật, tất nhiên không phải là tất cả. Việc tàn sát một cá nhân hay một bầy đàn đồng loại lân cận có thể đem lại lợi ích cho con vật nếu nhờ đó nó có thể chiếm được đất đai, thức ăn hay cả những con cái của con vật kia. Tuy nhiên, các cuộc chiến cũng luôn đem lại nguy hiểm cho kẻ tấn công. Nhiều loài động vật không có những công cụ giết hại đồng loại, và trong số những loài có công cụ đó thì lại có một số không dùng đến khả năng của nó. Hoàn toàn chẳng thú vị gì khi phân tích cái được và cái mất của những kẻ giết chóc nhưng mặt khác những phân tích này sẽ giúp người ta hiểu tại sao bản năng tàn sát chỉ đặc trưng ở một số loài động vật mà không phải là ở tất cả.
Ở các loài vật không sống thành đàn, những kẻ giết hại chỉ cần một đối tượng đơn lẻ này hay đối tượng khác. Tuy nhiên, trong các loài ăn thịt sống theo bầy đàn như sư tử, chó sói, linh cẩu và kiến, kẻ giết chóc có thể áp dụng hình thức tấn công tập thể với các thành viên của một bầy đàn cho các thành viên của bầy lân cận, như những cuộc tàn sát tập thể hay “những cuộc chiến tranh”. Hình thức các cuộc chiến tranh có thể khác nhau giữa các loài. Con đực có thể tha mạng và giao phối với con cái của bầy đàn khác, giết chết con non, và đuổi con đực (như loài khỉ châu Á) hay thậm chí giết con đực (như ở loài sư tử); hoặc giết cả con đực và con cái (như loài chó sói). Lấy ví dụ như những miêu tả của Hans Kruuk về một trận chiến giữa hai bầy linh cẩu ở miệng núi lửa Ngorongoro của Tanzania(66).
“Khoảng hơn chục con linh cẩu Scratching Rock xông vào một trong những con linh cẩu đực Mungi và cắn vào bất cứ chỗ nào có thể - đặc biệt là vào bụng, chân và tai. Nạn nhân đã hoàn toàn bị những kẻ tấn công bao vây và hành hạ trong khoảng 10 phút… Con linh cẩu đực Mungi gần như bị xé ra thành từng mảnh, và sau đó khi tôi lại gần hơn để xem xét vết thương, tôi thấy tai của nó đã bị cắn nát, chân và tinh hoàn cũng vậy, nó đã bị tê liệt bởi một vết thương ở cột sống, có nhiều vết rách sâu và rộng ở chân sau và bụng, bị chảy máu dưới da.”
Một trong những điều đáng quan tâm khi nghiên cứu về nguồn gốc của nạn diệt chủng là hành vi của hai trong ba loài họ hàng gần nhất với loài người, đó là gorilla và tinh tinh thường. Hai thập kỷ trước, bất cứ nhà sinh vật học nào cũng có thể cho rằng khả năng cầm, nắm các dụng cụ và bố trí những nhóm người làm việc phối hợp cùng nhau khiến chúng ta có nhiều khả năng tàn sát hơn so với các loài động vật nhân hình - nếu quả thực những loài ấy có bản năng tàn sát. Tuy nhiên, những phát hiện gần đây về động vật nhân hình đã nêu lên giả thuyết rằng một con gorilla hay tinh tinh ít nhất cũng có khả năng bị tàn sát gần bằng với khả năng ấy ở loài người. Chẳng hạn, trong số những con gorilla, những con đực sẽ chiến đấu với nhau để giành quyền chiếm giữ hậu cung có những con cái, kẻ chiến thắng có thể giết con non và chính bản thân kẻ bại trận. Những trận chiến như vậy là nguyên nhân chủ yếu gây nên cái chết của các con non và cả những con gorilla đực trưởng thành. Một con gorilla mẹ điển hình trong cuộc đời mình sẽ mất ít nhất một con non của nó cho con đực giành phần thắng. Ngược lại, khoảng 38% cái chết của gorilla con thuộc về trách nhiệm của những kẻ giết hại con non.
Một nguồn cung cấp tài liệu rất đặc biệt, bởi nó được mô tả hết sức chi tiết đó là sự hủy diệt của một trong số những chủng tinh tinh thường gây ra bởi một chủng khác mà Jane Goodall đã nghiên cứu, diễn ra vào giữa những năm 1974 và 1977, Vào cuối năm 1973, hai chủng tinh tinh này hầu như không có điểm gì tương thích: chủng tinh tinh Kasakela sống ở phía Bắc với tám con đực trưởng thành và sinh sống trong một khu vực có diện tích 15 km2; còn chủng tinh tinh Kahama lại ở phía Nam với sáu con đực trưởng thành và chiếm cứ một diện tích khoảng 10 km2. Cuộc xô xát tình cờ gây nên cảnh chết chóc đầu tiên xảy ra vào tháng Một năm 1974, khi sáu trong số những con tinh tinh đực Kasakela trưởng thành và một con cái trưởng thành bỏ lại những con tinh tinh Kasakela con, để đi về phía Nam, sau đó di chuyển một cách âm thầm và ngày càng nhanh hơn về phía Nam khi chúng nghe thấy tiếng kêu của những con tinh tinh khác phát ra từ đó, cho đến lúc chúng làm kinh ngạc một con tinh tinh Kahama đực có tên gọi là Godi. Một con đực Kasakela đã kéo con Godi đang định chạy trốn xuống đất, ngồi lên đầu nó và ghì chặt chân nó trong khi những con khác cắn và đánh nó trong suốt 10 phút. Cuối cùng một kẻ tấn công đã ném một hòn đá to vào Godi, và sau đó chúng đã bỏ đi. Mặc dù vẫn có thể đứng dậy được, nhưng con Godi đã bị thương khá nặng, bị chảy máu và có nhiều vết đâm thủng. Nó đã biến mất và có lẽ đã chết vì những vết thương.
Chỉ một tháng sau, ba con tinh tinh Kasakela đực và một con cái lại một lần nữa di chuyển về phương Nam và tấn công một con tinh tinh Kahama đực có tên Dé, vốn đã yếu ớt từ cuộc tấn công trước đó hoặc là do bị ốm. Những kẻ tấn công kéo Dé ra khỏi một cái cây, giẫm đạp, cắn và đánh nó, xé rách những mảng da của con vật. Một con cái cũng thuộc chủng Kahama giống với con Dé đã bị bắt mang về phía Bắc cùng với những kẻ tấn công. Hai tháng sau, Dé vẫn sống nhưng trông rất hốc hác, với xương sống và khung xương chậu nhô ra, một vài móng tay và một ngón chân bị giật phăng ra, bìu đái bị co lại chỉ bằng 1/5 so với kích cỡ thông thường. Sau đó, không ai còn trông thấy Dé nữa.
Tháng Hai năm 1975, năm con đực trường thành và một con đực mới lớn thuộc chủng Kasakela đã theo dõi và tấn công con Goliath, một con tinh tinh đực Kahama già. Trong vòng 18 phút, chúng đã đánh, cắn và đá Goliath, giẫm lên nó, nâng lên, quật xuống, kéo lê nó khắp mặt đất và vặn chân con vật. Khi kết thúc cuộc tấn công, con Goliath không thể ngồi dậy được nữa và mãi mãi không ai còn nhìn thấy nó nữa.
Trong khi các cuộc tấn công ở trên đều nhằm vào các con tinh tinh đực thuộc chủng Kahama, thì vào tháng Chín năm 1975 một con Kahama cái tên là Madam Bee đã bị thương rất nặng sau ít nhất bốn cuộc tấn công chi trong vòng có một năm. Cuộc tấn công được tiến hành bởi bốn con đực Kasakela trưởng thành, trong khi một con đực mới lớn và bốn con Kasakela cái (bao gồm cả con cái bị bắt cóc của Madam Bee) đứng nhìn. Những kẻ tấn công đánh, tát và kéo lê Madam Bee, giẫm đạp và đập thình thịch, ném nó ra xa, nhấc lên rồi lại ném xuống, lăn tròn nó xuống đồi. Năm ngày sau, con Madam Bee chết.
Tháng Năm năm 1977, năm con Kasakela đực đã giết một con Kahama đực tên là Charlie, nhưng chi tiết của cuộc chiến đã không được quan sát. Tháng Mười một năm 1977 sáu con Kasakela đực đã bắt một con tinh tinh Kahama đực tên là Sniff, đánh, cắn, kéo lê nó bằng chân và đập gẫy chân nó. Ngày hôm sau thì Sniff vẫn còn sống nhưng rồi người ta không còn nhìn thấy nó nữa.
Trong số những con vượn Kahama còn sống sót, hai con đực và hai con cái trưởng thành đã biến mất mà không ai biết nguyên nhân trong khi hai con cái mới lớn đã chuyển sang nhóm tinh tinh Kasakela đang tiếp tục lần chiếm lãnh thổ trước đây của chủng Kahama. Tuy nhiên, năm 1979, một nhóm khác ở phía Nam, nhóm Kalande lớn hơn với ít nhất chín con đực trưởng thành bắt đầu xâm chiếm lãnh thổ của Kasakela và chúng có thể được coi là nguyên nhân của việc biến mất và bị thương của một số tinh tinh thuộc chủng Kasakela. Những cuộc tấn công tương tự trong nội bộ các nhóm đã được quan sát trong một cuộc nghiên cứu lâu dài duy nhất về loài tinh tinh thường, nhưng lại không có trong những nghiên cứu lâu dài về loài tinh tinh lùn.
Nếu ai đó đánh giá những chủng tinh tinh thường hung hãn này thông qua những chuẩn mực của những kẻ giết người, thì thật là khó để không bị đánh bật trở lại bởi tính không hiệu quả của những chuẩn mực đó. Mặc dù có những những nhóm có từ ba đến sáu con tấn công vào một nạn nhân đơn độc, nhanh chóng làm cho con vật không còn khả năng chống cự và tiếp tục sự hành hạ trong vòng 10 đến 20 phút thậm chí là hơn thế; nhưng kết thúc cuộc tấn công, những nạn nhân vẫn luôn còn sống. Tuy nhiên, những kẻ tấn công luôn rất thành công trong việc khiến cho nạn nhân không thể cử động được nữa và rốt cuộc thường dẫn tới cái chết. Thông thường nạn nhân ban đầu luôn né tránh và cố gắng bảo vệ đầu nhưng rồi sau đó đã từ bỏ mọi cố gắng tự bảo vệ và cuộc tấn công tiếp tục cho đến khi nạn nhân bất động, về khía cạnh này thì các cuộc xung đột giữa các nhóm thường khác với các cuộc xung đột nhẹ nhàng giữa các thành viên trong cùng một nhóm. Sự thiếu hiệu quả trong vai trò của một kẻ giết chóc ở loài tinh tinh phản ánh việc thiếu vũ khí, nhưng nó vẫn chứa đựng một điều rất đáng ngạc nhiên là chúng không hề học cách giết người bằng cách siết cổ mặc dù điều này hoàn toàn nằm trong khả năng của chúng.
Không chỉ kém hiệu quả trong việc giết những cá nhân đơn lẻ so với chuẩn mực của loài người mà ngay cả đối với toàn bộ quá trình diệt chủng của các loài động vật nhân hình cũng vậy. Phải mất ba năm 10 tháng kể từ cuộc sát hại đầu tiên đối với nhóm tinh tinh Kahama cho đến khi có sự biến mất của con tinh tinh cuối cùng, và tất cả các cuộc giết chóc đều nhằm vào những cá nhân đơn lẻ, không bao giờ nhằm vào vài con cùng một lúc. Ngược lại, những người định cư ở Australia thường thành công trong việc tiêu diệt một nhóm những thổ dân bằng các cuộc tấn công vào lúc tảng sáng. Phần nào đó, sự thiếu hiệu quả này cũng lại phản ánh việc thiếu vũ khí chiến đấu của nhóm động vật nhân hình. Do những loài này thường không được trang bị vũ khí chiến đấu nên các cuộc tàn sát đều chỉ có thể thành công với sức mạnh của một vài kẻ tấn công áp đảo một nạn nhân đơn độc, trong khi đó, những người định cư ở Australia đã có lợi thế hơn những thổ dân tay không nhờ dùng súng và có thể bắn cùng một lúc rất nhiều người. Cũng phần nào đó, những con tinh tinh thực hiện việc diệt chủng lại thấp kém hơn con người ở sức mạnh trí tuệ và do đó cả về cách thức lập kế hoạch chiến lược. Loài vượn rõ ràng không thể lập kế hoạch cho một cuộc tấn công ban đêm hay cuộc tổng tập kích bằng cách chia ra thành các mũi tấn công.
Tuy nhiên, những loài động vật nhân hình có tiến hành sự diệt chủng dường như luôn tỏ rõ mục đích và những kế hoạch đơn giản của mình. Những cuộc tàn sát chủng tinh tinh Kahama đều do những con tinh tinh Kasakela âm thầm, nhanh chóng tiến trực tiếp vào lãnh thổ của nhóm Kahama, ngồi dưới cây, nghe ngóng trong cả tiếng đồng hồ, và cuối cùng lao vào những con Kahama mà chúng phát hiện ra. Các loài vượn người cũng có tính bài ngoại giống như ở con người: chúng dễ dàng phân biệt giữa những thành viên của các nhóm khác với những thành viên cùng nhóm và có những cách cư xử rất khác nhau.
Tóm lại, trong tất cả những dấu hiệu đặc trưng của loài người với các loài động vật khác - như nghệ thuật, ngôn ngữ, chất gây nghiện, hóa chất độc hại và rất nhiều những thứ khác - thì đặc điểm được tách biệt hoàn toàn so với những tiền lệ ở động vật là tội tuyệt chủng. Những con tinh tinh thường đã có thể tiến hành những cuộc tàn sát được lập kế hoạch từ trước, tiêu diệt những nhóm lân cận, tiến hành chiến tranh nhằm xâm chiếm lãnh thổ và bắt đi những con cái tốt nhất. Nếu những con tinh tinh thường đó được đưa cho những chiếc thương và hướng dẫn cách sử dụng thì các cuộc tàn sát của chúng cũng sẽ tiến gần hơn tới cách thức của con người. Hành vi của loài tinh tinh đã đưa ra một giả thuyết rằng lý do chính cho dấu hiệu đặc trưng cho con người về việc sống theo nhóm chính là việc phòng thủ chống lại những nhóm người khác, đặc biệt là khi chúng ta có vũ khí và một bộ óc đủ lớn để lập những kế hoạch tập kích. Nếu lập luận này là đúng thì sự nhấn mạnh kinh điển của các nhà nhân loại học về “con người - kẻ săn mồi” như một động lực cho sự tiên hóa của loài người sẽ không còn giá trị gì nữa - với điều khác biệt rằng con người chúng ta là con mồi cũng như là kẻ săn mồi của chính bản thân mình và điều đó đã buộc chúng ta phải sống thành từng nhóm.
Do đó, trong hai mô hình tuyệt chủng thường gặp nhất của con người đều có những tiền lệ từ động vật: việc giết hại cả đàn ông lẫn phụ nữ trùng hợp với trường hợp của loài tinh tinh thường và loài chó sói trong khi việc tàn sát đàn ông và tha cho phụ nữ lại giống với loài gorilla và sư tử. Tuy nhiên, có những việc không có tiền lệ trong các loài vật, đó là một quá trình được tiến hành từ năm 1976 đến 1983 bởi quân đội Argentina, trong việc thảm sát hơn 10.000 người chống đối về chính trị và gia đình của họ - được gọi là desaparecidos(67). Những nạn nhân bao gồm cả đàn ông bình thường, phụ nữ không mang thai và trẻ nhỏ cho tới ba hoặc bốn tuổi đều bị tra tấn dã man trước khi bị giết chết. Nhưng những quân lính Argentina cũng làm một việc duy nhất ủng hộ cho cách cư xử của các loài vật khi họ bắt giữ những phụ nữ mang thai: những người phụ nữ này sẽ được cho sống cho đến khi sinh nở xong, chỉ sau đó họ mới bị bắn vào đầu, và rồi những đứa trẻ mới sinh có thể được nhận nuôi bởi những gia đình quân nhân không có con.
Nếu chúng ta không phải là thật khác biệt so với giới động vật về khuynh hướng giết chóc, thì phải chăng những khuynh hướng đó của chúng ta, theo một cách khác là kết quả bệnh lý của nền văn minh hiện đại? Các nhà văn hiện đại -những người phẫn nộ trước sự suy thoái của những xã hội “nguyên sơ” ban đầu và sự thay thế bởi xã hội “văn minh”, có xu hướng lý tưởng hóa những người tiền sử như những con người hoang dã thượng lưu, những người được cho là yêu chuộng hòa bình, chỉ tiến hành những tội ác giết người đơn lẻ chứ không phải là những cuộc thảm sát. Erich Fromm tin rằng cuộc chiến của những xã hội săn bắt-hái lượm “không mang tính khát máu”. Chắc chắn một số người ở thời kỳ tiền văn tự (như thổ dân Pygmy, Eskimo) dường như không ham thích chiến tranh như những người khác (những người New Guinea, người vùng Đồng bằng Lớn hay thổ dân Amazon). Thậm chí cả những người hiếu chiến - cũng được cho là chỉ tiến hành chiến tranh như một dạng nghi thức và dừng lại ngay khi có một vài đối thủ bị giết. Tuy nhiên, sự lý tưởng hóa này không phù hợp với những gì tôi chứng kiến từ người dân ở vùng cao nguyên của New Guinea, những người vẫn thường được lấy làm minh chứng cho việc hiếm khi tiến hành chiến tranh hay chiến tranh chỉ như là một nghi thức. Trong khi hầu hết các cuộc chiến ở New Guinea chỉ bao gồm những cuộc tấn công lẻ tẻ với một số ít người bị chết thì các nhóm người đôi khi cũng tiến hành thảm sát những người hàng xóm của mình. Cũng giống như những nhóm người khác, người New Guinea cố gắng đánh đuổi hoặc giết hại những người ở các vùng lân cận khi họ thấy có nhiều ích lợi, an toàn hoặc khi phải đối mặt với vấn đề sống còn.
Khi chúng ta nghiên cứu về những nền văn minh có chữ viết thời kỳ sơ khai, những tài liệu ghi chép đã minh chứng cho số lần diễn ra những tội ác diệt chủng. Những cuộc chiến tranh giữa người Hy Lạp và người dân thành Troy, giữa người La Mã và người Carthage, giữa người Assyria và người Babylon với người Ba Tư đều đã đi đến một kết cục cuối cùng: đó là sự thảm sát những người thua trận bất chấp giới tính hay việc giết đàn ông và biến đàn bà thành nô lệ. Tất cả chúng ta đều biết Kinh Thánh đã thuật lại việc những bức tường của người Jericho đã đổ xuống trong tiếng kèn trompet của Joshua ra sao. Hậu quả thường ít được nhắc đến: Joshua tuân lệnh đức vua đã tàn sát nhân dân Jericho cũng như người dân ở Ai, Makkedah, Libnah, Hebron, Debir(68) và rất nhiều thành phố khác. Điều này bình thường đến nỗi sách viết về Joshua chỉ dùng một cụm từ để miêu tả mỗi cuộc tàn sát: đương nhiên ông ta giết tất cả dân chúng, vậy bạn còn mong đợi điều gì hơn thế? Dẫn chứng duy nhất đòi hỏi sự suy xét cẩn thận chính là cuộc thảm sát ở Jericho nơi mà Joshua đã làm một số việc thực sự khác thường: ông ta đã tha chết cho một gia đình (bởi vì họ đã giúp đỡ những sứ giả của ông).
Chúng tôi tìm thấy những tài liệu tương tự viết về cuộc chiến của người Crusade, những cư dân thuộc các đảo của Thái Bình Dương và nhiều nhóm người khác. Rõ ràng, tôi không có ý nói rằng sự tàn sát bất chấp giới tính luôn là kết cục của những kẻ thất bại trong chiến tranh. Nhưng kết quả đó hay những hình thức hoang dại hơn như giết hại đàn ông, bắt phụ nữ làm nô lệ xảy ra thường xuyên đến mức đủ để chúng phải được xem xét kỹ hơn là chỉ nhìn nhận nó như một sai lầm hiếm gặp trong quan điểm của chúng ta về bản chất con người. Từ năm 1950 đến nay, đã xảy ra gần 20 cuộc tàn sát, trong số đó có hai cuộc diệt chủng mà mỗi lần như thế đã cướp đi sinh mạng của hơn 1.000.000 nạn nhân (ở Bangladesh vào năm 1971 và Campuchia vào cuối những năm 1970) và bốn cuộc thảm sát nữa, mỗi cuộc giết hại hơn 100.000 người (ở Sudan và Indonesia vào những năm 1960, Burundi và Uganda vào những năm 1970) (xem bản đồ trang 470).
Hiển nhiên, tội diệt chủng là một phần di sản của loài người và những người tiền sử trải qua hàng triệu năm. Trong ánh sáng của thời kỳ lịch sử lâu dài này, ấn tượng của chúng ta về việc cho rằng tội tuyệt chủng chỉ xuất hiện vào thế kỷ XX là gì? vẫn có một chút nghi ngờ rằng Slatin và Hitler đã thiết lập những kỷ lục mới về số lượng nạn nhân, bởi họ có ba lợi thế so với những kẻ giết người trong những thế kỷ trước: mật độ nạn nhân đông hơn, những phương tiện liên lạc được cải thiện cho việc vây bắt và những tiến bộ trong công nghệ giết người hàng loạt. Một ví dụ khác để chứng minh cho việc phát triển công nghệ có thể đẩy mạnh sự diệt chủng như thế nào đó là người vùng đảo Solomon ở Roviana Lagoon thuộc phía đông nam Thái Bình Dương, rất nổi tiếng với tục săn đầu người, một phong tục đã làm giảm đáng kể dân số của những vùng đảo lân cận. Tuy nhiên, như những người bạn Roviana giải thích với tôi, tục này đã không phát triển đến thế đến khi những chiếc rìu thép xuất hiện ở quần đảo Solomon vào thế kỷ XIX. Việc chặt đầu người bằng một chiếc rìu đá là hết sức khó khăn; lưỡi rìu lại chóng mòn và việc mài sắc lại nó mất rất nhiều công sức.
Một câu hỏi đang gây ra rất nhiều tranh cãi đó là liệu sự phát triển của công nghệ có làm cho ngày nay, nạn diệt chủng trở nên dễ dàng hơn về mặt tâm lý như Konrad Lorenz đã đưa ra hay không. Lập luận của ông như sau: Vì con người tiến hóa từ vượn người nên chúng ta ngày càng phụ thuộc vào nguồn thức ăn lấy từ việc giết hại các loài động vật khác. Tuy nhiên, chúng ta cũng sống trong những xã hội ngày càng có nhiều cá thể và sự hợp tác lẫn nhau là rất cần thiết. Những xã hội như vậy không thể tự duy trì lâu dài trừ phi chúng ta phát triển những biện pháp ngăn cản đủ mạnh để hạn chế sự tàn sát những người xung quanh. Trải qua phần lớn lịch sử tiến hóa của loài người, những vũ khí của chúng ta chỉ mới được sử dụng trong 25% thời gian gần đây của tổng thời gian đó, vậy nên, thế cũng là đủ để chúng ta bị ngăn chặn lại khi nhìn thẳng vào mặt của người khác và giết chết người đó. Tuy nhiên, những vũ khí hiện đại chỉ cần nhấn nút đã vượt qua những hạn chế đó bằng việc cho phép chúng ta giết người thậm chí không cần giáp mặt người đó. Do vậy, sự phát triển của công nghệ đã tạo nên những điều kiện tiên quyết về mặt tâm lý cho những cuộc tàn sát bằng những vũ khí của trí óc như ở trại tập trung Auschwitz và Treblinka, hay những vụ việc ở Hirosima và Dresden.

Liliana Carmen Pereyra Azzrri (21 tuổi), một trong 195 trường hợp desaparecidos ở Argentina, là người mà những nhóm đòi quyền con người đã cố gắng tìm kiếm dấu vết. Vào năm 1977, Liliana bị bắt giữ khi cô đang mang thai được 5 tháng. Cô vẫn sống trong một trại tra tấn (Trường Quân sự ESMA) cho đến khi sinh hạ một bé trai vào tháng Hai năm 1978, rồi sau đó bị giết bằng một phát súng ngắn vào đầu ở cự ly gần. Hài cốt của cô được tìm thấy ở nghĩa trang Mar de Plata nơi mà những người mất tích khác được tìm thấy vào năm 1985. Con trai của cô vẫn chưa được tìm ra và có lẽ đã được một gia đình quân nhân nào đó nhận nuôi. Trường hợp của Liliana có thể là ví dụ cho khái niệm về danh dự thương được viện dẫn bởi ủy ban Hành chính Argentina trước đây nhằm thanh minh cho những hành động của mình. Tôi xin chân thành cảm ơn Abuelas de Plaza de Mayo đã cho phép tôi sao lại bức ảnh chân dung của Liliana.
Tôi không chắc những lập luận tâm lý này liệu có thực sự góp phần đáng kể vào sự thuận lợi cho tội diệt chủng thời hiện đại hay không. Nạn diệt chủng trong quá khứ dường như ít nhất cũng nhiều như nạn diệt chủng ngày nay, mặc dù những xem xét trong thực tế đã giới hạn số lượng các nạn nhân. Để hiểu kỹ càng hơn về nạn diệt chủng, chúng ta phải gạt bỏ những ngày tháng, những con số sang một bên và tìm hiểu thêm về khía cạnh đạo đức của việc giết người.
Ham muốn tàn sát của loài người hiển nhiên luôn bị kìm hãm bởi đạo đức của chúng ta trong phần lớn thời gian. Một câu hỏi khó trả lời là: vậy cái gì đã giải phóng ham muốn đó?
Ngày nay, trong khi chúng ta có thể chia con người trên thế giới thành “chúng ta” và “họ”, chúng ta biết là có hàng nghìn loại “họ”, và mỗi một loại người như thế lại khác nhau cũng như khác với chúng ta về ngôn ngữ, diện mạo và thói quen. Thật ngớ ngẩn khi lãng phí từ ngữ để chỉ ra điều này: tất cả chúng ta đều biết điều đó từ sách vở, truyền hình, và hầu hết chúng ta đều nhận thức được điều này qua những kinh nghiệm trực tiếp của những chuyến đi. Thật khó để đưa bản thân chúng ta quay trở về tâm trạng rất phổ biến trong suốt tiến trình lịch sử của loài người, điều này đã được mô tả ở chương 13. Cũng giống như loài tinh tinh, gorilla và các loài động vật ăn thịt, sống theo bầy đàn, chúng ta cũng sống trong những vùng lãnh thổ theo từng nhóm. Thế giới từng được biết đến nhỏ bé và đơn giản hơn nhiều so với ngày nay: chỉ có một vài loại “họ” được biết đến, những người hàng xóm gần gũi của chính những con người này.
Ví dụ, ở New Guinea cho đến gần đây, mỗi bộ lạc duy trì một mô hình luân phiên của chiến tranh và họp tác với từng bộ lạc hàng xóm của mình. Một người có thể đi qua thung lũng lân cận trong một cuộc viếng thăm thân mật (nhưng không bao giờ tuyệt đối an toàn) hay trong một cuộc tập kích chiến tranh nhưng những cơ hội để có thể vượt qua dãy những thung lũng một cách thuận lợi thì hầu như không thể. Những quy định có hiệu lực rất lớn về cách đối xử với những người thuộc “chúng ta” không được áp dụng đối với “họ”, những người đó được hiểu mập mờ như những kẻ thù láng giềng. Khi tôi đi dạo qua những thung lũng New Guinea, những người đã tham gia vào tục ăn thịt đồng loại và chỉ vừa mới thoát khỏi thời kỳ Đồ đá được một thập kỷ đã thường xuyên cảnh báo tôi về những thói quen ăn thịt đồng loại ghê tởm, nguyên thủy không thể tả nổi của những người tôi sẽ phải giáp mặt ở thung lũng kế tiếp. Thậm chí cả những băng nhóm của Al Capones(69) ở Chicago vào thế kỷ XX đã đặt ra một chính sách thuê những kẻ giết người từ những thành phố khác, để những kẻ sát nhân có cảm giác rằng anh ta đang giết “họ” chứ không phải “chúng ta”.
Những tác phẩm của Hy Lạp cổ hé lộ sự mở rộng của chủ nghĩa phân chia lãnh thổ theo từng bộ lạc này. Thế giới được biết đến rộng lớn và đa dạng hơn nhiều nhưng người Hy Lạp “chúng ta” vẫn được phân biệt với những kẻ man rợ “họ”. Từ man rợ (barbarian) được bắt nguồn từ từ “barbaroi” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là người ngoại quốc, không phải người Hy Lạp. Người Ai Cập và Ba Tư, những dân tộc cho dù có nền văn minh không thua kém gì Hy Lạp vẫn là barbaroi - người ngoại quốc. Quan niệm về hành vi là việc đối xử không công bằng đối với tất cả mọi người, thay vào đó, chỉ khen thưởng những người bạn và trừng phạt kẻ thù. Khi một tác giả người Athens là Xenophon muốn thể hiện sự ngợi khen cao quý nhất dành cho vị thủ lĩnh đáng khâm phục của mình Cyrus, Xenophon đã liên hệ đến việc Cyrus luôn đền đáp lại lòng tốt của những người bạn một cách hào phóng hơn rất nhiều và việc ông trả thù những hành động xấu xa của kẻ thù một cách dã man ra sao (như việc móc mắt, chặt tay của họ).
Cũng giống như hai nhóm linh cẩu Mungi và Scratching Rocks, con người thực hiện một chuẩn mực hành vi lưỡng phân như sau: cấm đoán nghiêm khắc việc giết hại một người cùng nhóm với chúng ta - nhưng lại bật đèn xanh cho việc tàn sát những người ngoại tộc - là “họ” - khi thấy an toàn. Tội ác diệt chủng có thể chấp nhận được dưới quan điểm lưỡng phân này, cho dù ai đó coi quan điểm lưỡng phân này như bản năng loài vật còn di truyền lại hay như một quy tắc đạo đức chỉ có duy nhất ở con người. Tất cả chúng ta đều có được những tiêu chuẩn lưỡng phân tùy thuộc trong thời thơ ấu của mình cho việc tôn trọng hay hạ thấp một nhóm người khác. Tôi nhớ lại cảnh tượng ở sân bay Goroka trên cao nguyên New Guinea, khi những người trợ lý thuộc vùng Tudawhe của tôi đang đứng lúng túng với những chiếc áo sơ mi rách và đôi chân trần, thì một người đàn ông da trắng không cạo râu, hôi rình với chất giọng đặc chát Australia và một chiếc mũ kéo sụp xuống mắt tiến đến. Thậm chí trước khi anh ta bắt đầu nhạo báng những người Tudawhe những lời như “những kẻ lang thang bẩn thỉu, họ sẽ không thích hợp để lãnh đạo đất nước này trong cả một thế kỷ đâu”, thì tôi đã bắt đầu tự nhủ với bản thân mình, “Thằng Australia điếc lỗ mãng, tại sao hắn ta không về nhà với những lời nguyền rủa của hắn mà tắm thứ nước dành cho cừu đi”. Như vậy đã có một dấu hiệu khởi đầu cho sự tàn sát: Tôi chỉ trích tên người Australia, còn anh ta lại chỉ trích những người Tudawhe, dựa trên những đặc điểm tập hợp lại chỉ từ một cái nhìn thoáng qua.
Theo thời gian, việc phân đôi xưa cũ này đã ngày càng trở nên không thể chấp nhận như nền tảng của quy tắc đạo đức. Thay vào đó là khuynh hướng chỉ thừa nhận ngoài miệng những quy tắc chung trên toàn cầu. Chẳng hạn như: người ta quy định những quy tắc giống nhau cho việc đối xử với người khác. Sự diệt chủng mâu thuẫn trực tiếp với quy tắc chung toàn cầu đó.
Mặc dù có những mâu thuẫn đạo đức như vậy nhưng nhiều nhà nghiên cứu diệt chủng học hiện đại vẫn có được niềm kiêu hãnh không hề nao núng về những thành quả công việc của mình. Khi vị tướng người Argentina - Roca Argentino Julio(70) chiếm đoạt những thảo nguyên hoang dã cho người định cư da trắng bằng cách giết hại dã man những thổ dân Araucania, dân tộc Argentina rất sung sướng và hài lòng bầu ông làm tổng thống năm 1880. Những người mang tội ác diệt chủng ngày nay lẩn tránh sự xung đột giữa những hành động của mình với quy tắc đạo đức chung như thế nào? Họ đã vận dụng một trong ba sự lý giải được hợp lý hóa mà tất cả đều là những biến thể của cùng một tuyên ngôn tâm lý giản đơn là: “Đổ lỗi cho nạn nhân”.
Đầu tiên, phần lớn những người tin vào những quy tắc chung vẫn coi sự tự vệ là chính đáng. Đó là sự hợp lý hóa một cách mềm dẻo nhưng rất hữu dụng, bởi vì “những việc đó” luôn có thể bị kích động trở thành những hành vi đủ để bào chữa cho việc tự phòng vệ. Ví dụ như, người Tasmania gây nên một tội lỗi với thực dân da trắng khát máu bằng việc giết chết ước chừng khoảng 180 thực dân trong vòng 34 năm, sau khi bị khiêu khích bởi một số lượng lớn hơn rất nhiều các vụ đánh đập, bắt cóc, hãm hiếp hay giết người. Thậm chí, chính Hitler đã tuyên bố về việc tự phòng vệ từ khi bắt đầu Chiến tranh thế giới thứ II: ông ta rơi vào rắc rối trong việc giả mạo một cuộc tấn công của người Ba Lan vào biên giới nước Đức.
Sở hữu niềm tin tôn giáo hay là chủng tộc hoặc chính trị “đúng đắn”, hoặc là tuyên bố đại diện cho một sự tiến bộ hay một mức độ cao hơn của nền văn minh, đó chính là lý lẽ bào chữa truyền thông đứng hàng thứ hai cho bất cứ hành động nào, bao gồm cả việc gây nên nạn diệt chủng, mà qua đó chứa đựng những điều sai nguyên tắc. Khi tôi là một sinh viên ở Munich vào năm 1962, một lính Đức Quốc xã không hề ăn năn hối lỗi vẫn giải thích cho tôi về vấn đề thực tiễn là người Đức đã phải tấn công nước Nga, bởi người Nga vừa có được chủ nghĩa cộng sản. Mười lăm người trợ lý hiện trường của tôi thuộc vùng núi Fakfak của New Guinea, tất thảy đều trông đẹp đẽ giống tôi, nhưng cuối cùng, họ bắt đầu giải thích cho tôi về việc ai là người theo đạo Hồi, ai theo Thiên Chúa giáo, và vì sao mà người Hồi giáo (hoặc người Thiên Chúa giáo) là những con người chắc chắn thấp kém hơn. Luôn có một sự phân cấp phổ biến cho những đối tượng bị khinh bi, dựa theo những người biết chữ có công nghệ luyện kim đạt tới trình độ cao (ví dụ như những thực dân da trắng ở châu Phi) luôn coi khinh những người chăn nuôi gia súc (ví dụ như người Tutsi hay Hottentot), rồi chính những người chăn nuôi ấy lại khinh miệt những người nông dân (ví dụ như người Hu tu) và những người này, đến lượt mình, lại đánh giá thấp những người du canh du cư hay những người săn bắt-hái lượm (ví dụ như thổ dân Pygmy hay người Bush).
Cuối cùng, những quy tắc đạo đức của chúng ta cũng nhìn nhận động vật và con người theo những cách khác nhau. Vì vậy mà những người gây ra tội ác diệt chủng thời hiện đại thường so sánh những nạn nhân của họ với các loài vật nhằm bào chữa cho sự giết hại đó. Đức Quốc xã coi người Do Thái như những chủng tộc hạ đẳng, dưới mức con người, những người Pháp đến định cư ở Algeria đã quy cho những người Hồi giáo địa phương như loài chuột bọ, những người Paraguay “khai hóa” thì miêu tả những người săn bắt-hái lượm Aché như lũ chuột bị dịch hạch, người Hà Lan thì gọi những người châu Phi là bọn khi đầu chó, và những người có giáo dục ở phía bắc Nigeria coi người da đen Ibos ở vùng Đông nam Nigeria như bọn sâu bọ ký sinh, chứ không phải là người. Ngôn ngữ tiếng Anh rất đa dạng với các tên chỉ động vật thường được sử dụng mang ý nghĩa miệt thị như: you pig - mày đồ con lợn (ape - vượn, bitch - con sói cái, cur - con chó hoang, ox - con bò cái, rat - con chuột hay swine - con lợn).
Những thực dân Australia đều đã viện dẫn ba dạng thức của sự hợp lý hóa mang tính đạo đức đó để biện minh cho việc hủy diệt người Tasmania của họ. Tuy nhiên, những người bạn Mỹ của tôi và chính bản thân tôi có thể nhìn nhận sâu sắc hơn từ bên trong quá trình hợp lý hóa đó bằng việc tập trung vào trường hợp mà chúng tôi đã được chỉ dạy từ thuở ấu thơ nhằm hợp thức hóa vấn đề: sự hủy diệt chưa đầy đủ của chúng tôi lên những thổ dân Mỹ. Một tập hợp các thái độ mà chúng tôi tiếp nhận được thể hiện một cách đại khái như sau:
Để bắt đầu, chúng tôi không bàn luận nhiều về những bi kịch của thổ dân - chẳng hạn như không nhiều bằng việc bàn bạc về nạn diệt chủng của thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ II ở châu Âu. Tấn thảm kịch lớn nhất của quốc gia chúng tôi thay vào đó được nhìn nhận như một cuộc nội chiến. Cho mãi đến khi chúng tôi dừng việc suy nghĩ về sự mâu thuẫn giữa những người da trắng và những thổ dân và coi đó như những sự kiện thuộc về quá khứ xa xôi, miêu tả nó theo ngôn từ của quân đội: Chiến tranh Pequod, Cuộc chiến đầm lầy, Trận đánh Wounded Knee, sự thống trị của người miền Tây, vv… Thổ dân, theo quan điểm của chúng tôi, là những người ham thích chiến tranh và ưa bạo lực thậm chí với cả với các bộ lạc thổ dân khác nữa, những chuyên gia trong việc mai phục và trong những hành động phản bội lừa lọc. Họ cũng nổi tiếng với những hành động dã man, được biết đến nhiều nhất là những tập tục mang đặc trưng thổ dân da đỏ trong việc tra tấn những tù nhân và lột da đầu kẻ thù. Số lượng của những người này rất ít và sống như những thợ săn bắt nay đây mai đó, đặc biệt là những người đi săn bò rừng bison. Ở nước Mỹ vào năm 1942, theo những ước tính truyền thống có khoảng 1.000.000 thổ dân da đỏ. Con số này hoàn toàn không đáng kể, so với dân số hiện tại của Mỹ là 250.000.000 người, do đó, việc cư ngụ của những người da trắng ở một châu lục hầu như trống trơn này trở nên gần như là điều hiển nhiên. Rất nhiều thổ dân da đỏ đã chết vì bệnh đậu mùa và những căn bệnh khác. Thái độ được đề cập trước đây đã dẫn dắt chính sách về thổ dân da đỏ của những tổng thống và những nhà lãnh đạo được ngưỡng mộ nhất ở Mỹ từ sau George Washington trở đi (xem phần trích dẫn trong “Những chính sách về thổ dân da đỏ của một vài chính khách Mỹ nổi tiếng”, trang 507-508).
Những sự hợp lý hóa dừng lại ở việc biến đổi một vài thực tế mang tính chất lịch sử. Ngôn ngữ quân đội ám chỉ rằng những cuộc chiến tranh đã từng được công bố khơi mào bởi cuộc chiến giữa những người đàn ông. Thực chất là, những thủ đoạn thông thường của người da trắng đó là những cuộc tấn công lén lút (thường dưới dạng những thường dân) vào làng mạc hoặc khu cắm trại để giết hại những thổ dân ở bất kỳ độ tuổi hay giới tính nào. Trong vòng một thế kỷ đầu tiên khi những người da trắng đến định cư, chính phủ đã trao thưởng hậu hĩnh cho những kẻ giết người bán chuyên nghiệp luôn đi săn đầu người da đỏ. Những xã hội châu Âu đương thời ít nhất cũng ham thích chiến tranh và bạo lực không kém gì những thổ dân, khi mà người ta nhắc tới số lần những cuộc nổi loạn, chiến tranh giai cấp, bạo lực do say xỉn, bạo lực được hợp pháp hóa để chống lại tội phạm và toàn bộ những cuộc chiến, bao gồm sự phá hoại lương thực và sự nghèo đói. Việc tra tấn trở nên hết sức tinh tế ở châu Âu: hãy nghĩ tới việc vẽ và phanh phây, đốt cháy người trên những chiếc cột hay những chiếc giá. Trong khi dân số những thổ dân da đỏ ở Bắc Mỹ trước khi có sự gặp gỡ lần đầu tiên là một chủ đề còn rất nhiều luồng ý kiến khác nhau, thì những ước đoán có vẻ hợp lý gần đây cho là có khoảng 18.000.000 người, một số lượng dân cư không bằng số người khai hoang da trắng đến nước Mỹ cho đến khoảng năm 1840. Mặc dù một vài thổ dân da đỏ nước Mỹ là những người săn bắt bán du mục, không có một nền nông nghiệp, thì phần lớn những thổ dân đó đã là những nông dân sinh sống ổn định trong các làng quê. Bệnh tật có thể cũng chính là kẻ sát nhân đáng sợ nhất của thổ dân da đỏ, nhưng một vài loại bệnh đã được người da trắng lan truyền một cách có chủ ý, và những bệnh tật này vẫn tồn tại trong rất nhiều cơ thể thổ dân và giết chết họ bằng những phương thức trực tiếp hơn. Đó là vào năm 1916, khi mà người thổ dân “hoang dã” cuối cùng trên đất Mỹ (một thổ dân da đỏ Yahi có tên là Ishi) đã chết, và những ký ức thẳng thắn và không thể chối bỏ của những người da trắng giết người về bộ tộc của anh ta thì phải mãi gần đây mới được xuất bản vào năm 1923.
Tóm lại, người Mỹ đã lãng mạn hóa cuộc chiến giữa người da trắng với người da đỏ như những trận chiến của những người đàn ông trưởng thành, ngồi trên lưng ngựa, hay việc đánh nhau giữa những kỵ binh và những chàng cao bồi của nước Mỹ chống lại những người săn bắt bò rừng bison đầy hung dữ nay đây mai đó và rồi gặp phải sự chống cự hết sức mạnh mẽ. Cuộc chiến này được miêu tả xác thực hơn như một cuộc đua tranh của những người nông dân hoàn toàn thuần chất đang hủy diệt một nhóm người khác. Chúng tôi, những người dân Mỹ vẫn còn nhớ rõ nỗi nhục nhã trong mất mát của chúng ta ở những trận đánh Alamo (khoảng 200 người chết), trong trận thủy chiến của chiến hạm USS làm 260 người chết và tại trận Trân Châu Cảng (có khoảng 2.000 người đã chết), những sự việc bất ngờ xảy ra đã khích động chúng ta lần lượt ủng hộ cho các cuộc chiến tranh ở Mexico, cuộc chiến tranh giữa Tây Ban Nha và Mỹ và Chiến tranh thế giới thứ II. Số lượng cái chết ấy chỉ là cỏn con so với những mất mát đã bị quên lãng khi mà chúng ta tiến hành những cuộc tấn công với những người da đỏ. Những xem xét từ bên trong chỉ cho chúng ta thấy làm thế nào để viết lại tấn bi kịch quốc gia lớn lao này, chúng ta giống với rất nhiều con người hiện đại đã hài hòa tội ác diệt chủng với những quy tắc mang tính toàn cầu về đạo đức. Giải pháp là viện dẫn tới sự tự bảo vệ bản thân và việc gạt bỏ quy tắc quan trọng để nhìn nhận những nạn nhân như loài thú hung dữ.
Việc viết lại lịch sử của nước Mỹ của chúng tôi xuất phát từ một khía cạnh của sự diệt chủng đó là tầm quan trọng có tính thực tiễn lớn nhất trong việc ngăn chặn nó: tác động tâm lý đến những kẻ giết người, những nạn nhân và cả phía thứ ba. Câu hỏi khó lý giải nhất có liên quan đến những tác động hay đúng hơn là những tác động không rõ ràng lên phía thứ ba. Trong suy nghĩ đầu tiên của ai đó, họ có thể mong chờ rằng không niềm vinh dự nào thu hút sự chú ý của cộng đồng nhiều như là việc giết hại một cách có chủ ý, dần dần và đầy hung tợn rất nhiều người. Thực tế là, sự hủy diệt hiếm khi thu hút sự chú ý của cộng đồng ở các nước khác, và thậm chí càng hiếm bị gián đoạn lại bởi sự can thiệp từ nước ngoài. Có ai trong số chúng ta bỏ nhiều thời gian chú ý đến cuộc thảm sát người Zanzibar ở Arab vào năm 1964 hay thổ dân Aché sống ở Paraguay vào thập kỷ 70 của thế kỷ XX.
Đối lập với việc không phản ứng lại những điều đó và tất cả những cuộc diệt chủng diễn ra vào những thập kỷ gần đây với việc phản kháng mạnh mẽ hai trường hợp đơn độc của việc diệt chủng hiện đại là cái đã tồn tại rất sống động trong trí tưởng tượng của chúng ta: đó là việc quân đội Đức Quốc xã giết hại người Do Thái, và (kém sống động hơn đối với nhiều người) là trường hợp của người Thổ chống lại người Armenia. Những trường hợp này khác những cuộc diệt chủng mà chúng ta đã bỏ qua ở ba khía cạnh chính yếu, đó là: nạn nhân đều là người da trắng, được nhận diện bởi những người da trắng khác, mà kẻ giết người chính là kẻ thù trong chiến tranh của chúng ta, những người mà chúng ta được khuyến khích để ghét bỏ và coi đó như những tội ác (đặc biệt là Đức Quốc xã), có nhiều người còn sống sót và có khả năng trình bày lại sự việc đang sống trên đất Mỹ thì đã tốn nhiều nỗ lực để buộc chúng ta phải ghi nhớ. Vì vậy, tốt hơn là, sự diệt chủng nên được một chòm sao đặc biệt chiếu mệnh để có thể khiến phía thứ ba chú ý vào nó.(71)
Tính thụ động một cách lạ lùng của phía thứ ba được minh họa bởi chính những hành động của chính phủ mà những hoạt động đó thể hiện tâm lý của cả một nhóm người. Trong khi Liên Hiệp Quốc vào năm 1948 thông qua Công ước về sự diệt chủng, trong đó, sự diệt chủng được tuyên bố như là một tội ác, thì chính tổ chức này lại chẳng bao giờ thực hiện bất kỳ bước tiến quan trọng nào nhằm ngăn cản, tạm thời dừng lại, hay trừng phạt mặc cho những phàn nàn giáng xuống trước khi Liên Hiệp Quốc tiến hành việc chống lại nạn diệt chủng đang diễn ra ở Bangladesh, Burundi, Campuchia, Paraguay và Rwanda(72). Với những chỉ trích mạnh mẽ nhằm vào Uganda trong tình trạng nỗi khiếp sợ Idi Amin(73) ngày càng dâng cao, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc chỉ phản ứng bằng việc yêu cầu chính Amin phải mở cuộc điều tra. Nước Mỹ thậm chí còn không nằm trong số những nước đã phê chuẩn công ước của Liên Hiệp Quốc về sự diệt chủng.
Phải chăng việc không phản ứng khó hiểu này là bởi chúng ta không biết, hoặc có khám phá ra những tội ác diệt chủng vẫn đang xảy ra? Hiển nhiên là không phải vậy: rất nhiều cuộc diệt chủng diễn ra vào thập kỷ 70 và 80 của thế kỷ XX đều được công khai một cách chi tiết bao gồm những vụ ở Bangladesh, Brazil, Burundi, Campuchia, Đông Timor, Guinea Xích đạo, Indonesia, Lebanon, Paraguay, Rwanda, Sudan, Uganda và Zanzibar. (Số người bị chết ở Bangladesh và Campuchia, mỗi nơi lên tới 1.000.000 người). Ví dụ, vào năm 1968, chính phủ Brazil chỉnh sửa những án phạt mang tính tội phạm chống lại 134 trên 170 người làm công cho Dịch vụ bảo vệ thổ dân vì những việc làm của họ giết hại các bộ tộc thổ dân vùng Amazon. Những hành động đó được miêu tả chi tiết trong một báo cáo Figueiredo dài 5.115 trang của một vị tướng được ủy quyền ở Brazil, và được đọc trong một cuộc họp có sự tham gia của bộ trưởng Bộ nội vụ: giết hại thổ dân bằng thuốc nổ, súng máy, viên kẹo ngọt tẩm thạch tín, hoặc cố tình gieo rắc bệnh đậu mùa, cúm, lao và sởi, bắt cóc trẻ em thổ dân như những kẻ nô lệ, và việc thuê những kẻ giết thổ dân chuyên nghiệp của những công ty phát triển đất đai. Những số liệu trong bản báo cáo Figuereido đã xuất hiện trên các tờ báo của Mỹ và Anh, nhưng lại thất bại trong việc kích thích phản ứng của công chúng.
Do vậy, người ta có thể kết luận rằng đơn giản, hầu hết mọi người thường không quan tâm nhiều đến những điều không công bằng xảy ra đối với những người khác, hoặc coi nó như không phải chuyện của họ. Đây là phần không còn nghi ngờ gì trong việc giải thích điều này, nhưng chưa phải là tất cả. Nhiều người vẫn rất quan tâm đến vấn đề bất công, như là nạn phân biệt chủng tộc ở Nam Phi, vậy tại sao không phải là đến nạn diệt chủng? Câu hỏi này được chuyển đến một cách đau xót cho Tổ chức các Quốc gia châu Phi bởi những nạn nhân người Hutu bị người Tutsi tàn sát ở Burundi, nơi có khoảng từ 80.000 đến 200.000 người Hutu bị giết năm 1972. “Nạn phân biệt chủng tộc của người Tutsi được hình thành tàn bạo hơn là nạn phân biệt chủng tộc của người Vorster, thiếu nhân tính còn hơn cả chủ nghĩa thực dân Bồ Đào Nha. Ngoài sự tàn bạo của quân đội phát xít Hitler thì không có gì có thể so sánh với nó trong lịch sử thế giới. Và những người châu Phi không nói bất cứ điều gì. Những người đứng đầu các quốc gia của châu Phi đón nhận những người hành hình Micombero (Tổng thống của Burundi, người Tutsi) và xiết chặt tay trong sự đón chào của tình anh em. Những quý ông, đứng đầu các quốc gia, nếu họ mong muốn giúp đỡ những người châu Phi ở Namibia, Zimbabwe, Angola, Mozambique và Guinea-Bissau để giải phóng bản thân họ khỏi những kẻ áp bức da trắng, bạn không có quyền để người châu Phi giết hại những người châu Phi khác… Liệu bạn có đợi được đến khi toàn bộ nhóm người dân tộc Hutu của Burundi bị tiêu diệt hoàn toàn trước khi lên tiếng không?”
Để hiểu sự vô can của phía thứ ba, chúng ta cần đánh giá cao phản ứng của những nạn nhân đang sống sót. Những người nghiên cứu bệnh tâm thần có các bằng chứng về sự hủy diệt, như những người sống sót ở Auschwitz, miêu tả những tác động vào họ như sự tê cóng tâm sinh lý. Hầu hết chúng ta đều sẽ có kinh nghiệm về những nỗi đau rất lớn và kéo dài đến với ta khi mà một người bạn hay người họ hàng chúng ta yêu mến bị chết một cách tự nhiên, khó có thể nhìn thấy. Đó hoàn toàn là một điều không thể tưởng tượng khi sức mạnh của những cơn đau đang được nhân lên vào lúc ai đó bị ép nhìn những người bạn hay họ hàng mà người đó yêu mến, thân thiết đang bị giết một cách cực kỳ độc ác. Với những người sống sót, có một sự vỡ tan hệ thống những niềm tin mà dưới nó sự tàn bạo đang được tránh né, cái suy nghĩ về những vết nhơ thực sự không còn giá trị để được chọn ra cho những thứ ác nghiệt nhất. Những cơn đau tàn nhẫn về thể xác làm tê liệt chúng ta, chúng cũng như những cơn đau bạo nghiệt về tâm sinh lý: không có cách nào để sống sót và giữ lại đầu óc lành mạnh sáng suốt. Với tôi, những phản ứng đó được nhân cách hóa trong những người thân thiết đã sống sót hai năm trong trại tập trung Auschwitz, và những người gần như vẫn không thể khóc được cho tới những thập kỷ về sau.

Ishi, thổ dân da đỏ cuối cùng sống sót của bộ tộc Yashi thuộc phía bắc California. Bức ảnh này thể hiện anh ta đang khổ sở vì đói khát và sợ hãi vào ngày 29 tháng Tám năm 1911, cái ngày mà anh ta đột ngột xuất hiện sau 41 năm trốn trong một hẻm núi hẻo lánh. Phần lớn những người trong bộ lạc của anh ta đã bị những người định cư da trắng giết hại vào khoảng những năm từ 1853 đến 1870. Vào năm 1870, 16 người sống sót sau cuộc hủy diệt cuối cùng đã trốn vào vùng núi Lassen hoang dã và tiếp tục sống cuộc sống săn bắt-hái lượm. Vào tháng Mười một năm 1908, khi số người sống sót thu hẹp lại chỉ còn bốn thì những người đi truy tìm đã bới tung khu lều trại của họ và lấy đi tất cả dụng cụ, quần áo và những thức ăn dự phòng mùa đông, kết quả là ba người Yashi (mẹ, chị gái của Ishi và một người đàn ông có tuổi) đã chết. Ishi phải sống cô đơn trong hơn ba năm nữa cho đến khi anh ta không thể chịu đựng được nữa và quyết định bước vào nền văn minh của người da trắng, và chắc chắn rằng mình sẽ bị hành hình ở đó. Thực tế là, anh ta được Bảo tàng California ở San Prancisco thuê làm việc và chết vì bệnh lao vào năm 1916. Bức ảnh này là từ bộ lưu trữ của Bảo tàng Nhân chủng học Lowie, Đại học California, Berkeley.
Về phản ứng của những kẻ giết người, tư cách đạo đức của những kẻ giết người đó được phân biệt giữa “chúng ta” và “chúng nó”, cái mà chúng có thể thấy tự hào, những những kẻ đó lại lồng lên dưới phẩm chất đạo đức toàn cầu, cái có thể chia sẻ sự tàn khốc với những nạn nhân của chúng, bị tăng lên do sự phạm tội. Hàng trăm, hàng nghìn người Mỹ đã chiến đấu ở Việt Nam cũng đang chịu đựng sự tê liệt đó. Thậm chí, những hậu duệ của những người bị hủy diệt - những tầng lớp con cháu này không có trách nhiệm cá nhân - và chúng có thể cảm thấy tội lỗi mang tính tập thể, bức tranh nhỏ về chân dung những nạn nhân được định nghĩa cho sự hủy diệt. Để giảm nỗi đau có tội, những kẻ hậu duệ thường viết lại lịch sử: minh chứng cho phản ứng của những người Mỹ hiện đại, hoặc là phản ứng như bà Cobern và một số người Australia hiện đại khác.
Chúng ta có thể bắt đầu hiểu tốt hơn về việc không phản kháng với tội diệt chủng của phía thứ ba. Tội diệt chủng giáng những đòn gây nên những biến dạng và tổn thương tâm lý kéo dài cho các nạn nhân và những kẻ giết người - khi lần đầu tiên giết chết ai đó. Nhưng nó cũng có thể để lại vết sẹo sâu cho những người chỉ nghe thấy điều đó qua lời kể như lũ trẻ, con những người sống sót ở trại tập trung Auschwitz, hoặc những người chữa bệnh bằng liệu pháp tâm lý điều trị cho những người sống sót và những cựu chiến binh trong chiến tranh ở Việt Nam. Các nhà trị liệu được đào tạo một cách chuyên nghiệp để có thể nghe được nỗi đau khổ của con người vậy mà thường không thể chịu đựng được lời kể đau đớn của những người liên quan đến diệt chủng. Nếu những nhà chuyên môn không thể hiểu nổi nó, thì ai có thể đổ lỗi cho cộng đồng về việc từ chối lắng nghe điều đó?
Hãy xem những phản ứng của Robert Jay Lifton, một nhà tâm lý trị liệu người Mỹ, người đã có nhiều kinh nghiệm với những người sống sót trong mọi trường hợp cực kỳ nguy hiểm trước khi ông phỏng vấn những người sống sót sau thảm họa bom nguyên tử Hiroshima “…bây giờ, thay vì giải quyết “vấn đề bom nguyên tử”, tôi phải đương đầu với những chi tiết đầy thú tính trong kinh nghiệm thực tế của những con người ngồi trước mặt tôi. Tôi thấy rằng việc hoàn thành mỗi cuộc phỏng vấn sớm này làm cho tôi bị sốc nặng và xúc động sâu sắc. Nhưng rất nhanh thôi, chỉ trong một vài ngày, thực tế là tôi nhận ra phản ứng của tôi đã thay đổi. Tôi đang lắng nghe sự miêu tả về những nỗi sợ kinh hoàng như nhau, nhưng những tác động của chúng lên tôi lại ít đi. Kinh nghiệm đó là sự mô tả không thể nào quên được của việc “kết thúc tâm linh huyền bí”, mà chúng ta sẽ nhìn thấy được đặc trưng bởi rất nhiều khía cạnh về sự phơi nhiễm bởi bom nguyên tử.
Những cuộc diệt chủng nào mà chúng ta mong đợi từ những người tinh khôn Homo sapien trong tương lai? Có đầy những lý do hiển nhiên cho sự bi quan này. Thế giới đầy rẫy những điểm nóng rắc rối dường như đã chín muồi cho sự diệt chủng: Nam Phi, Bắc Ireland, Yugoslavia (Nam Tư cũ), Sri Lanka, New Caledonia và vùng Trung Đông. Đó mới chỉ là tên một vài nơi. Những chính phủ chuyên chế dựa trên sự diệt chủng dường như không thể dừng lại được. Các vũ khí hiện đại cho phép một người có thể giết chết một lượng lớn nạn nhân, trở thành những kẻ giết người trong khi vẫn đang ăn mặc tề chinh, và thậm chí ảnh hưởng đến sự diệt chủng toàn cầu của loài người.
Cùng lúc đó, tôi nhận ra nhiều lý lẽ cho sự lạc quan thận trọng rằng tương lai không cần quá khát máu như những gì diễn ra trong quá khứ. Ở nhiều đất nước ngày nay, con người thuộc các chủng tộc và tôn giáo hoặc những dân tộc khác nhau vẫn sống cùng nhau với các mức độ đa dạng của công bằng xã hội nhưng ít nhất cũng không hé mở những vụ giết người hàng loạt: ví dụ như Thụy Sỹ, Bỉ, Papua New Guinea, Fiji, thậm chí là cả nước Mỹ sau vụ Ishi. Một vài vụ diệt chủng đã được chặn lại thành công, đã làm giảm thiểu và bị ngăn chặn bởi những nỗ lực và phản ứng tích cực từ phía thứ ba. Thậm chí, sự hủy diệt của Đức Quốc xã nhằm vào người Do Thái, vốn được chúng ta nhìn nhận như một sự diệt chủng hiệu quả nhất và không thể dừng lại được thì cũng đã được ngăn cản ở Đan Mạch, Bulgary và mọi đất nước đang bị xâm chiếm nơi mà những người đứng đầu các nhà thờ lên án một cách công khai sự trục xuất người Do Thái vào thời điểm trước hoặc ngay khi nó bắt đầu. Một dấu hiệu đáng hi vọng nữa đó là các chuyến du lịch hiện đại, hay nhờ vô tuyến truyền hình và nhiếp ảnh cho phép chúng ta thấy được những con người khác đang sống cách xa chúng ta hàng chục nghìn dặm. Nhiều người trong số chúng ta nguyền rủa công nghệ của thế kỷ XX, nhưng nó đang làm mờ đi sự khác biệt giữa “chúng ta” và “họ”, điều có thể khiến cho sự diệt chủng có thể xảy ra. Trong khi vấn đề diệt chủng đã được chấp nhận về mặt xã hội hay thậm chí người ta ngưỡng mộ thế giới trước khi có sự tiếp xúc lần đầu tiên, sự lan rộng các nền văn hóa quốc tế trong thời kỳ hiện đại và những kiến thức về những con người xa xôi đang làm cho nó trở nên ngày càng khó biện minh hơn.
Vẫn còn đó hiểm họa của nạn diệt chủng chừng nào mà chúng ta không thể chịu đựng nổi việc hiểu nó và chừng nào chúng ta còn lừa dối chính bản thân với niềm tin rằng chỉ những người lầm lạc hiếm hoi mới phạm phải điều đó. Cứ cho là như vậy, thì thật khó để ta không trở nên tê liệt khi đọc về sự diệt chủng. Thật khó tưởng tượng làm sao chúng ta và những người có bản chất tốt đẹp khác mà chúng ta biết, có thể tự mình nhìn thẳng vào những con người vô dụng trong khi giết chết họ. Tôi đi tới điểm gần nhất để có thể tưởng tượng được điều đó khi một người bạn mà tôi đã biết lâu rồi nói với tôi về sự tàn khốc của một cuộc tàn sát diệt chủng mà anh ta chính là một kẻ giết người.
Kariniga là một người đàn ông thuộc bộ tộc Tudawhe đã cùng làm việc với tôi ở New Guinea. Chúng tôi cùng nhau trải qua những tình huống đe dọa tới tính mạng, nỗi sợ hãi và cả những thắng lợi, tôi rất quý mến và ngưỡng mộ anh. Một buổi tôi sau khoảng năm năm tôi biết về Kariniga, anh đã nói với tôi về tuổi trẻ của mình. Đó là một giai đoạn lịch sử dài với những xung đột giữa người Tudawhe và người làng bên cạnh thuộc bộ tộc Daribi. Những người Tudawhe và Daribi dường như quá quen thuộc với tôi, nhưng Kariniga đã đi tới việc nhìn nhận những người Daribi như một cái gì đó kinh tởm không thể diễn tả được. Sau một chuỗi các các cuộc mai phục liên tiếp, cuối cùng thì người Daribi cũng đã thành công trong việc lần lượt bắn gục nhiều người Tudawhe, trong đó có cả cha của Kariniga, cho đến khi mà sự sống sót của những người Tudawhe lâm vào tình trạng tuyệt vọng. Tất cả những người đàn ông còn lại của Tudawhe vây làng Daribi vào buổi đêm và đốt cháy những túp lều bằng cỏ. Những người Daribi đang ngủ đi loạng choạng trong những túp lều đang cháy, rồi họ bị đâm chết ở đó. Một vài người Daribi thoát ra đã thành công khi trốn chạy vào rừng nơi mà người Tudawhe sau đó truy lùng và giết chết hầu hết bọn họ trong suốt những tuần tiếp theo. Nhưng sự thiết lập quyền kiểm soát của chính phủ Australia đã kết thúc cuộc săn đuổi ấy trước khi Kariniga có thể bắt được kẻ đã giết cha anh ta.
Từ tối đó, tôi đã thường run bắn lên khi nói lại chi tiết về chuyện này - Sức nóng trong mắt của Kariniga khi anh ấy kể cho tôi về sự tàn bạo của cuộc thảm sát vào buổi sáng tinh mơ, đó là những khoảnh khắc thỏa mãn đầy khắc nghiệt khi cuối cùng anh ta cũng đâm ngọn giáo vào những kẻ giết người, và nước mắt của sự thịnh nộ và thất vọng về sự trốn chạy của kẻ giết cha anh ta, người mà anh ta vẫn mong là sẽ giết chết một ngày nào đó bằng cách đầu độc. Tối hôm đó, tôi nghĩ là ít nhất tôi cũng đã hiểu bằng cách nào một con người tử tế tự biến mình thành một kẻ sát nhân. Tiềm năng của việc diệt chủng do hoàn cảnh đã xô đẩy Kariniga cũng luôn cận kề bên cạnh tất cả chúng ta. Khi sự gia tăng dân số thế giới làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn giữa các xã hội và bên trong nó, loài người sẽ chịu nhiều thôi thúc hơn để giết hại lẫn nhau, và với nhiều vũ khí hiệu quả hơn để làm việc đó. Lắng nghe những lời kể của chính những người tham gia diệt chủng là một nỗi đau không thể chịu đựng nổi. Nhưng nếu như chúng ta tiếp tục quay đi và không chịu hiểu nó, thì khi nào nó sẽ biến chính bản thân chúng ta thành những kẻ giết người hay những nạn nhân của điều đó?
NHỮNG CHÍNH SÁCH VỀ THỔ DÂN DA ĐỎ CỦA MỘT SỐ CHÍNH KHÁCH MỸ NỔI TIẾNG
Tổng thống George Washington: “Những mục tiêu tức thì chính là hủy diệt và tàn phá toàn bộ khu vực đóng của chúng. Cần thiết phải phá hủy mùa màng trên đất của chúng và ngăn cản việc trồng trọt thêm nữa.”
Benjamin Franklin: “Nếu đó là việc sắp đặt của dự phòng để diệt bỏ lũ người hoang dại đó nhằm tạo khoảng trống cho những người trồng trọt trên Trái đất, thì dường như không thể nào cho rằng rượu mạnh là phương tiện có thể được chỉ định”
Tổng thống Thomas Jefferson: “Chủng tộc không may mắn này, những người mà chúng ta đã chấp nhận nhiều đau đớn để cứu thoát và khai hóa, họ lại có hành động ruồng bỏ không mong đợi, những hành động dã man biện minh cho sự hủy diệt và bây giờ thì đang đợi chờ quyết định của chúng ta cho số phận của họ.
Tổng thống John Quincy Adams: “Đâu là quyền của đoàn người đi săn khi đến những khu rừng rộng hàng nghìn dặm mà ở đó anh ta phải xếp loại một cách tình cờ nhằm kiếm những con mồi.”
Tổng thống James Monroe: “Những người đi săn hay những con người hung tợn đó đòi hỏi mở rộng phần lãnh thố lớn hơn để duy trì sự tồn tại của bản thân, hơn là thích hợp với sự tiến bộ và những đòi hỏi về cuộc sống văn minh… và phải chịu thua nó.
Tổng thống Andrew Jackson: “Họ không có trí thông minh, nền công nghiệp, thói quen đạo đức hay là lòng khao khát tiến bộ, những điều rất cần thiết để thay đổi điều kiện của họ. Hình thành trong sự che khuất của những chủng tộc cao cấp hơn khác, và thiếu việc đánh giá nguyên nhân sự thấp kém của họ hoặc tìm kiếm để kiểm soát họ, họ cần phải chịu thua trong những áp lực của hoàn cảnh và trước sự biến mất vĩnh viễn.”
Chánh án Tòa án Tối cao John Marshall: “Các bộ tộc người da đỏ đang cư ngụ ở đất nước này là những người hoang dại với công việc là chiến tranh và sự sinh tồn từ những cánh rừng… Luật pháp phải được thực thi và nói chung nên được tiến hành, những mối quan hệ giữa người đi xâm chiếm và bị xâm chiếm không thể áp dụng cho con người dưới mọi hoàn cảnh. Sự khám phá (nước Mỹ của những người châu Âu) đưa ra những quyền cao nhất để phân biệt thứ bậc sở hữu của thổ dân, hoặc là mua lại hay chiếm đoạt những vật thuộc sở hữu của họ.”
Tổng thống William Henry Harrison: “Đó có phải là một trong những tỷ lệ công bằng nhất trên toàn thế giới để duy trì một trật tự tự nhiên, ngôi nhà của một người khốn khổ bất hạnh, khi mà số phận họ bị định đoạt bởi Chúa Trời để mang lại sự đóng góp cho lượng dân số lớn hơn và trờ thành bàn đệm của nền văn minh hay không?”
Tổng thống Theodore Roosevelt: “Những người định cư và đi tiên phong cuối cùng cũng có được công lý đứng về phía họ, lục địa rộng lớn này không thể giữ trong tình trạng trống không, nơi chỉ dành cho một cuộc chơi nhằm bảo vệ những giống nòi hoang dã bẩn thỉu.”
Tướng Philip Sheridan: “Người thổ dân da đỏ tử tế duy nhất mà tôi từng nhìn thấy đã chết.”