Nguồn gốc của ngôn ngữ con người tạo nên bí ẩn hệ trọng nhất cho sự hiểu biết, đó là, chúng ta đã trở thành con người độc nhất như thế nào. Xét tới cùng, ngôn ngữ khiến chúng ta giao tiếp với nhau chính xác hơn rất nhiều so với khả năng ấy ở những loài vật khác. Nó giúp chúng ta lập nên các kế hoạch, dạy bảo người khác và học hỏi từ những người có kinh nghiệm ở đâu đó hay từ quá khứ. Với ngôn ngữ, chúng ta có thể lưu giữ những hình dung chính xác về thế giới trong tâm trí chúng ta, và mã hóa cũng như xử lý thông tin hiệu quả hơn bất cứ một loài vật nào khác. Nếu không có ngôn ngữ, con người không bao giờ có thể tưởng tượng ra và xây dựng nên Nhà thờ Chartres(37) hay những chiếc tên lửa V-2(38). Có rất nhiều lý do khiến tôi có suy nghĩ rằng Bước Nhảy Vọt Vĩ Đại (một giai đoạn trong lịch sử loài người khi mà những sáng tạo và nghệ thuật cuối cùng cũng đã lộ diện rõ ràng) có thể thành công được là nhờ sự xuất hiện của ngôn ngữ nói như chúng ta đã biết.
Giữa ngôn ngữ của loài người và sự phát ra âm thanh của loài vật khác tồn tại một hố sâu ngăn cách không thể lấp bằng. Từ thời kỳ của Darwin, người ta đã hiểu rõ rằng bí ẩn của ngôn ngữ con người bắt nguồn từ vấn đề tiến hóa và cũng rõ ràng là người ta phải tìm hiểu cái cách mà vách sâu không thể kết nối này đã được nối liền? Nếu chúng ta chấp nhận rằng chúng ta tiến hóa từ những loài động vật không có tiếng nói, vậy ngôn ngữ của chúng ta chắc chắn phải từ tiến hóa mà có và trở nên hoàn chỉnh theo thời gian, cùng với xương chậu, hộp sọ, công cụ và cả nghệ thuật nữa. Chắc chắn phải có những giai đoạn chuyển tiếp của thứ gần với ngôn ngữ để gắn kết những bài thơ trữ tình của Shakespeare với tiếng kêu của loài khỉ. Darwin đã hết sức cần mẫn giữ những cuốn vở ghi chép sự phát triển ngôn ngữ của các con ông, và ông đã suy ngẫm về những ngôn ngữ của người “tiền sử” với hy vọng giải quyết bí ẩn của tiến hóa.
Không may là, các bằng chứng về nguồn gốc của ngôn ngữ được tìm thấy khó khăn hơn nhiều so với việc tìm ra nguồn gốc của xương chậu, hộp sọ, công cụ cũng như nghệ thuật. Tất cả những thứ trên có thể còn tồn tại, và rồi có thể được phục hồi và xác định niên đại còn ngôn ngữ nói biến mất hoàn toàn trong chốc lát. Trong tâm trạng thất vọng, tôi thường mơ về một cỗ máy thời gian có thể đưa tôi về những căn lều cổ xưa để ghi âm tiếng của những giống khỉ nhân hình. Có thể tôi sẽ khám phá ra rằng những tiếng rì rầm được thốt ra của nhóm Australopithecus(39) không khác biệt nhiều lắm với các loài tinh tinh, và rằng Homo erectus buổi sơ khai thường sử dụng những từ đơn lẻ, dễ nhận biết, phát triển qua hàng triệu năm mới tiến tới các câu gôm hai từ, và Homo sapien trước khi có Bước Nhảy Vọt Vĩ Đại đã thu nhận được những cụm từ dài hơn nhưng vẫnchưa có nhiều tính chất ngữ pháp, và cú pháp cũng như phạm vi đầy đủ của lối phát âm hiện đại chỉ xuất hiện sau Bước Nhảy Vĩ Đại.
Than ôi, chúng ta lại không có những cuốn băng ghi âm từ thời xa xưa đó và cũng không có cơ may nào là sẽ có được. Vậy bằng cách nào chúng ta có thể hy vọng tìm ra nguồn gốc của ngôn ngữ mà không có chiếc máy thời gian thần kỳ đó? Cho mãi tới gần đây, tôi buộc phải nói rằng chẳng có thể làm gì hơn là đưa ra những suy luận. Trong chương này, dẫu sao tôi cũng sẽ cô gắng đưa ra hai hình thái thăm dò của việc thu nhận những kiến thức nhằm giúp chúng ta có thể bắt đầu xây dựng những cầu nối qua những khoảng cách tưởng như không thể kết nối giữa âm thanh của loài người và các loài vật, bắt đầu từ mọi bờ đối diện.
Những nghiên cứu công phu gần đây về cách phát ra âm thanh của loài vật, đặc biệt là từ những họ hàng linh trưởng gần gũi với con người, thiết lập đầu cầu từ phía bờ động vật trong sự khác biệt đó. Hiển nhiên là tiếng kêu của động vật phải là tổ tiên của tiếng nói loài người nhưng chỉ đến bây giờ chúng ta mới bắt đầu cảm nhận được phải mất bao xa để loài vật có thể đi tới việc phát minh ra “ngôn ngữ” của bản thân chúng. Ngược lại, việc xác định đâu là đầu cầu từ phía bờ của con người vẫn còn chưa rõ ràng, vì tất cả các ngôn ngữ đã từng tồn tại đều vượt xa so với tiếng kêu của động vật. Cho dù mới gần đây thôi, người ta còn tranh luận rằng rất nhiều ngôn ngữ không được các nhà ngôn ngữ học chú ý thực sự chính là ví dụ điển hình cho hai giai đoạn sơ khai ngôn ngữ loài người.
Rất nhiều động vật hoang dã giao tiếp với nhau bằng những âm thanh, trong đó, tiếng chim hót và tiếng chó sủa là những điều cực kỳ gần gũi với chúng ta. Phần lớn trong chúng ta đều nghe thấy tiếng của các loài động vật hàng ngày trong cuộc đời mình. Các nhà khoa học đã nghiên cứu âm thanh của các loài vật qua nhiều thế kỷ nay. Cho dù có một sự kết nối chặt chẽ như vậy, hiểu biết của chúng ta về những âm thanh thân thuộc ở khắp nơi đó đột nhiên được làm giàu thêm bởi những ứng dụng các kỹ thuật hiện đại: sử dụng máy ghi âm để ghi lại các âm thanh của loài vật, phân tích điện từ các âm thanh đó nhằm phát hiện ra sự khác biệt rất tính vi mà hầu như không thể cảm nhận được bằng tai người, phát những âm thanh đã được ghi âm sẵn cho những con vật để quan sát phản ứng của thú vị chúng và quan sát cả những biến đổi của chúng do tác động của những âm thanh đã bị xáo trộn bởi thiết bị điện tử. Những phương pháp này đã giúp phát hiện ra rằng sự giao tiếp bằng âm thanh của các loài vật gần với ngôn ngữ của loài người hơn rất nhiều so với những gì mà một con người có thể đoán ra cách đây khoảng 30 năm.
“Giao tiếp của loài vật” rắc rối nhất được nghiên cứu cho tới nay đó là ngôn ngữ của một loài khỉ châu Phi có kích cỡ chỉ bằng con mèo thường được gọi tên là “vervet”. Dù trong căn nhà trên ngọn cây, trên bề mặt của đồng cỏ savan hay rừng mưa nhiệt đới, ở đâu vervet cũng là một trong những loài khỉ mà những du khách tham quan các vườn quốc gia của vùng Đông Phi muốn xem nhất. Chúng rất quen thuộc với người dân châu Phi hàng trăm nghìn năm trở về trước khi mà chúng ta mới chỉ tồn tại như một loài người tinh khôn - Homo sapien. Chắc rằng, chúng đã tới châu Âu khoảng 3.000 năm trước như một con thú nuôi và chúng chắc chắn đã trở nên hết sức thân thuộc với các nhà sinh vật học châu Âu khi khám phá châu Phi từ thế kỷ XIX. Rất nhiều người dù chưa tới châu Phi lần nào cũng vẫn có thể biết tới vervet từ những lồng thú nuôi trong vườn bách thú.
Cũng giống như các loài vật khác, khỉ vervet sống trong thiên nhiên thường đối mặt với các tình huống mà những trao đổi và trình bày hiệu quả có thể giúp chúng sống sót. Khoảng 3/4 cái chết của loài khỉ vervet là do thú ăn thịt gây ra. Nếu bạn là một con khỉ vervet, bạn rất cần nhận ra điểm khác biệt giữa một con đại bàng thiện chiến, một trong những con vật săn vervet phổ biến nhất với một chú kền kền lưng trắng, một loài chim cũng có thể vút bay cao nhưng lại ăn xác thối và không nguy hiểm chút nào đối với loài khỉ vervet còn sống. Điều quan trọng là phải cư xử sao cho phù hợp khi đại bàng xuất hiện và thông báo cho những họ hàng xung quanh biết. Nếu bạn không kịp nhận ra đại bàng, bạn sẽ chết, còn nếu không kịp báo cho những người thân xung quanh, họ cũng sẽ chết và mang theo luôn vốn gen của bạn và nếu bạn cứ nghĩ rằng đó là đại bàng trong khi nó thực sự chỉ là một chú kền kền, bạn sẽ tốn thời gian để nghĩ ra các phương án phòng thủ trong khi các con khỉ khác thì đang an toàn ăn thức ăn.
Bên cạnh những vấn đề từ phía những kẻ săn mồi, khỉ vervet còn có những mối quan hệ khá phức tạp với nhau. Chúng sống theo bầy và chiến đấu vì phạm vi lãnh thổ của mình với những nhóm khác. Do vậy, nhận biết sự khác biệt giữa một con khỉ xâm nhập vào một nhóm khác và một thành viên chẳng có liên hệ gì với nhóm của bạn mà lại muốn giành thức ăn từ bạn hay những mối quan hệ thân thiết với những người trong cùng cộng đồng mà có sự ủng hộ bạn là rất quan trọng. Vervet khi đang gặp nguy hiểm cần tìm ra một cách để nói cho những họ hàng thân thuộc của mình chứ không phải một số con vật bất kỳ về mối nguy hiểm. Vậy là việc biết và liên lạc với nhau về nguồn thức ăn là thực sự cần thiết ví dụ như cái nào trong số hàng nghìn loài động, thực vật trong môi trường là có thể ăn được, cái nào là có độc và nơi nào cũng như lúc nào những thứ ăn được có thể tìm thấy. Bởi tất cả những lý do như trên, loài vervet có thể được hưởng lợi từ những phương cách hiệu quả của việc liên lạc cũng như thể hiện thế giới của nó.
Cho dù với những lý do trên và dù mối quan hệ lâu dài và bền chặt của chúng ta với loài khỉ vervet, mãi cho tới giữa những năm 1960, chúng ta mới bắt đầu có sự đánh giá cao thế giới kiến thức phức tạp và khả năng phát âm của loài khỉ này. Từ đó, những quan sát về hành vi của loài khỉ vervet tiết lộ rằng chúng đã xây dựng nên những nhận thức tuyệt vời về một số kẻ săn mồi và giữa những con trong đàn với nhau. Chúng đã được thừa hưởng những phương thức phòng vệ rất khác biệt khi bị đe dọa bởi loài báo, đại bàng hay rắn. Chúng có những cách cư xử khác nhau với những con đầu đàn hay những con bình thường trong chính bầy đàn của mình, cũng như cư xử khác nhau với các thành viên khác nhau trong bầy đàn khác, khác biệt ngay cả những cư xử với mẹ của mình, họ hàng bên mẹ, anh chị em ruột và những thành viên không cùng huyết thông trong bầy của chúng. Chúng biết rõ những mối quan hệ đó, ai có quan hệ với ai khác. Khi một con khỉ con gọi, mẹ của nó sẽ quay về phía nó trong khi các con khỉ mẹ khác lại hướng về phía người mẹ kia để quan sát xem nó sẽ làm gì. Điều đó như thể khỉ vervet đã đặt tên cho một số loài động vật ăn thịt và hàng vài chục con khỉ khác nhau nữa.
Những manh mối đầu tiên về việc các con khỉ trao đổi thông tin như thế nào xuất phát từ những quan sát của một nhà sinh vật học có tên là Thomas Struhsaker(40) khi ông nghiên cứu những con khỉ vervet ở Công viên Quốc gia Amboseli tại Kenya. Ông đã ghi nhận rằng ba loài động vật ăn thịt vervet khác nhau tạo nên ba phương thức tự vệ khác nhau ở loài vervet và cũng tạo nên những tiếng kêu cảnh báo rất khác nhau đủ khiến cho Struhsaker có thể nghe thấy và nhận ra sự khác biệt cho dù không có bất cứ một thiết bị phân tích điện tử tinh vi nào. Khi khỉ vervet bất thình lình bắt gặp một con báo hay các loài khác thuộc họ mèo lớn sống hoang dã, những con khỉ đực phát ra một chuỗi các tiếng kêu rất to, trong khi các con cái phát ra những tiếng kêu the thé và thế là mọi con khỉ trong tầm nghe đó có thể nhảy vọt lên cây. Bóng dáng của con đại bàng mẹ hay đại bàng chúa lướt qua trên đầu cũng khiến những con vervet phát ra những tiếng kêu ngắn gồm hai âm tiết và rồi thì những con khỉ nghe thấy lập tức tìm kiếm trên bầu trời và nhảy ngay vào bụi rậm. Một con khỉ chợt bắt gặp một con trăn hay một loài rắn nguy hiểm sẽ phát ra những tiếng kêu gầm gừ và điều ấy cũng đủ kích thích những con khác gần đó đứng thẳng lên bằng hai chân sau và nhìn xuống đất (để xem con rắn đang ở đâu).
Từ năm 1977, một đôi vợ chồng là Robert Seyfarth và Dorothy Cheney(41), qua các thí nghiệm đã chứng minh được rằng những tiếng gọi này thực chất có những chức năng khác nhau, những chức năng được gợi ý từ quan sát của Thomas Struhsaker. Các bước tiến hành của họ như sau: Đầu tiên, họ thu băng một con khỉ đang cất tiếng gọi mà chức năng của nó đã được Struhsaker quan sát được (như là tiếng kêu “con báo”). Sau đó, vào ngày tiếp theo, khi đã định vị được chính đàn khỉ đó, Cheney hoặc Seytarth giấu cuốn băng và thiết bị tăng âm gần một bụi rậm, trong khi người còn lại (Seytarth hoặc Cheney) bắt đầu quay phim bọn khỉ với máy quay phim hoặc quay video. Chỉ 15 giây sau, nhà khoa học thứ nhất sẽ phát cuộn băng còn nhà khoa học còn lại tiếp tục quay phim lũ khỉ trong vòng một phút để xem chúng phản ứng thích hợp ra sao với những lời gọi có chức năng đáng nghi ngờ (ví dụ như khi lũ khỉ nhảy lên cây để lắng nghe sự truyền âm của thứ được cho là báo hiệu có con báo). Điều này cho thấy việc phát lại tiếng gọi cảnh báo về con báo thực sự đã kích thích những con khi leo lên cây, trong khi những tiếng kêu “đại bàng” hay “rắn” thông thường kích thích lũ khỉ tới những phản ứng dường như có quan hệ với tiếng gọi không giống trong điều kiện tự nhiên. Do vậy, sự liên kết rõ ràng giữa những hành vi quan sát được và những tiếng gọi không thể xuất phát từ một vài sự trùng hợp ngẫu nhiên, những tiếng gọi thường có các chức năng được gợi ý thông qua sự quan sát.
Ba cách gọi mà tôi mới đề cập không thể nào là toàn bộ vốn từ của loài vervet. Bên cạnh nhưng kiểu gọi rất lớn và thường gặp, có ít nhất ba tiếng kêu báo động yếu hơn một chút và cũng ít được sử dụng hơn. Một là những tiếng kêu được khởi phát từ loài khỉ đầu chó khiến những con vervet trở nên cảnh giác hơn. Thứ hai, là trong phản ứng với các loài thú như chó rừng và linh cẩu - những loài mà khỉ vervet rất hiếm khi trở thành con mồi, khiến cho con khỉ nhìn ngó con vật sau đó di chuyển chậm chạp về phía cái cây. Tiếng kêu cảnh báo mờ nhạt sau cùng là phản ứng với người lạ và kết quả là con khỉ chỉ di chuyển rất im lặng tới một cây bụi hay lên hẳn ngọn cây. Tuy nhiên, những chức năng được coi như là của ba tiếng kêu yếu ớt hơn này vẫn tồn tại những điều chúng ta chưa lý giải nổi bởi chúng vẫn chưa được kiểm chứng lại bằng các thí nghiệm phát lại âm thanh.
Loài khỉ vervet cũng kêu lên những âm thanh rất giống với tiếng gầm gừ khi tiếp xúc với những con khác. Ngay cả với các nhà khoa học đã bỏ ra hàng năm để lắng nghe tiếng loài khỉ này, những tiếng rì rầm trong giao tiếp của chúng nghe vẫn rất giống nhau. Khi những tiếng gầm gừ này được thu âm và phát lại với một phổ tần số trên màn hình của thiết bị phân tích âm thanh, chúng vẫn chỉ là một mà thôi. Chỉ khi những phổ âm thanh này được đo đạc với độ chính xác cao về chi tiết, Cheney và Seyfarth mới phát hiện ra (nhưng chỉ thỉnh thoảng chứ không phải là luôn luôn) những sự khác nhau tương đối giữa những tiếng rì rầm này và phân chúng ra thành bốn nhóm: khi con khỉ tiến tới một con khỉ có uy quyền hơn nó, khi gặp một con khỉ cấp dưới, khi quan sát một con khỉ khác hay khi nó nhìn thấy một bầy đàn cạnh tranh.
Việc phát lại những tiếng gầm gừ đã được ghi âm theo bốn tình huống đó đã khiến cho những con khỉ xử sự theo những cách hơi khác nhau. Ví dụ như, chúng hướng về phía phát ra âm thanh nếu tiếng gầm gừ phát ra tiếng kêu báo hiệu sự xuất hiện của một con khỉ có đầy uy quyền, hay chúng sẽ chăm chú theo dõi hướng phía trước khi những tiếng kêu phát ra thực chất được ghi lại từ thông báo “nhìn thấy bầy đàn đối thủ”. Những quan sát kỹ hơn về lũ khỉ trong các điều kiện tự nhiên chỉ ra rằng tiếng gọi tự nhiên đó tự bản thằn nó đã gợi ra những cách xử sự khá khác nhau.
Hiển nhiên là, loài khỉ vervet quen thuộc với những tiếng kêu của chúng hơn con người chúng ta rất nhiều. Việc đơn thuần lắng nghe và quan sát lũ khỉ mà không ghi âm và phát lại tiếng kêu của chúng sẽ chẳng thể đưa ra sự gợi ý nào về việc chúng có ít nhất bốn cách thể hiện tình huống khác nhau – và chắc chắn còn nhiều hơn thế nữa. Như Seytarth viết: “Quan sát lũ khỉ gầm gừ với nhau rất giống với việc quan sát con người đang trò chuyện mà không có khả năng nghe thấy chúng nói gì. Chẳng có bất cứ phản ứng rõ ràng nào hay những sự đáp lại những tiếng gầm gừ đó, do vậy toàn bộ hệ thống này dường như vẫn rất bí ẩn - đúng là rất bí ẩn cho đến khi bạn bắt đầu phát lại nó.” Những khám phá này minh chứng cho việc rất dễ đánh giá thấp kích thước của vốn âm thanh ở một loài nào đó.
Loài khỉ vervet ở Amboseli, do vậy, có vốn từ ít nhất gồm 10 từ được giả định là: các từ miêu tả “con báo”, “đại bàng”, “rắn”, “khỉ đầu chó”, “những con thú ăn thịt”, “người lạ mặt”, “khỉ dưới trướng”, “khỉ đứng đầu”, “quan sát con khỉ khác”, “có một bầy khỉ đối thủ đang đến”. Tuy nhiên, rõ ràng rằng mọi tuyên bố về bất cứ hành vi nào của loài vật gợi mở về thành phần của ngôn ngữ loài người cũng được chào đón bằng thái độ hoài nghi của rất nhiều nhà khoa học, do hố sâu ngôn ngữ ngăn cách giữa con người và loài vật. Những hoài nghi này cho rằng sẽ đơn giản hơn để nhận định con người là duy nhất, và mớ bằng chứng này nên bị cuốn trôi theo những người có cách nghĩ khác. Bất cứ tuyên bố nào về yếu tố giống với con người của loài vật đều được cho là một giả thuyết quá phức tạp, nên bị loại bỏ do việc không cần thiết thiếu vắng các bằng chứng xác thực. Những người hoài nghi vẫn chưa đưa ra được học thuyết nào thay thế mà thay vào đó là, cố gắng giải thích hành vi của các loài động vật thỉnh thoảng lại chọc tôi dường như còn phức tạp hơn cả những giải thích đơn giản và thường hợp lý rằng con người không phải là vị trí độc tôn.
Dường như là một tuyên bố khiêm tốn khi đề xuất rằng những tiếng kêu khác nhau của loài khỉ vervet trong phản ứng với loài báo, đại bàng và rắn thực sự liên quan tới những động vật hay được coi như là trao đổi với các con khỉ khác. Tuy nhiên, những người hoài nghi được sắp đặt để tin rằng chỉ có con người mới có thể phát ra những tín hiệu tự nguyện liên quan tới những đồ vật hay sự kiện bên ngoài. Những người hoài nghi còn cho rằng những tiếng kêu cảnh báo của loài khỉ vervet chẳng qua chỉ là việc bộc lộ trạng thái cảm xúc một cách tự phát của loài khỉ (“Tôi sợ tới mức gần như mất trí”) hay chứa đựng những nội dung trong đó (“Tôi đang sắp nhảy lên cây đây”). Cuối cùng thì, những lời giải thích này được áp dụng cho một vài “tiếng kêu” của chúng ta. Nếu tôi nhìn thấy một con báo đang tiến về phía mình, có thể tôi sẽ quá sợ hãi ngay cả khi không có bất cứ ai ở xung quanh để có thể kêu cứu. Chúng ta rên rỉ khi tham gia một số các hoạt động thể chất như nâng một vật nặng chẳng hạn.
Thử cho rằng các nhà động vật học từ một nền văn minh tiên tiến bên ngoài Trái đất quan sát tôi kêu thét lên ba âm tiết: “Ôi, con báo” và rồi trèo lên cây khi tôi nhìn thấy con vật đó. Rất có thể họ sẽ đặt ra nghi ngờ về giống nòi thấp kém của tôi khó có thể biểu lộ bất cứ điều gì vượt quá tiếng gầm gừ chứa đựng cảm xúc hay nội dung - chứ chắc chắn không phải là thứ giao tiếp mang tính hình tượng. Để kiểm tra giả thuyết của mình, những nhà động vật học đó có thể sẽ tiến hành các thí nghiệm và những quan sát chi tiết. Nếu như tôi hét lên mà chẳng cần quan tâm tới có bất cứ ai ở gần mình hay không, điều đó có thể ủng hộ cho giả thuyết đó chỉ là một sự biểu lộ cảm xúc hay nội dung nào đó. Nếu tôi hét lên chỉ khi có sự xuất hiện của một người khác nữa và chỉ khi nhìn thấy con báo chứ không phải là con sư tử, điều đó cho thấy có một sự giao tiếp với một vật cụ thể bên ngoài được nói đến. Và nếu tôi thét lên với con trai tôi nhưng lại im lặng khi nhìn thấy con báo đang rình rập người đàn ông mà tôi thường bị bắt gặp cãi nhau với ông ta, các nhà động vật học tới thăm viếng kia có thể cảm thấy rõ ràng rằng có sự xuất hiện của giao tiếp có mục đích ở đây.
Những quan sát tương tự đã thuyết phục được các nhà động vật học trên Trái đất về vai trò trao đổi thông tin của những tiếng kêu cảnh báo ở khỉ vervet. Một con khỉ vervet cô độc bị con báo săn đuổi trong gần một giờ đồng hồ đã giữ im lặng trong suốt toàn bộ quá trình thử thách cam go đó. Những con khỉ mẹ sẽ đưa ra nhiều tiếng kêu cảnh báo hơn khi đi cùng với con của nó so với khi đi cùng với những con khỉ không có mối quan hệ mật thiết. Những con khỉ vervet hiếm khi tạo ra những tiếng kêu “cảnh báo con báo” khi chẳng có con báo nào xuất hiện trừ khi trong trường hợp bầy đàn của nó đang đánh nhau với một bầy khỉ khác và đang bị thua. Tiếng kêu cảnh báo giả đánh động tới tất cả các con khỉ đang chiến đấu và chúng vụt phóng lên cái cây gần nhất và do đó được coi như một sự dối lừa nhằm chấm dứt chiến tranh. Do vậy, tiếng kêu rõ ràng là một sự trao đổi có tính tự nguyện chứ không phải là một cách biểu hiện sự sợ hãi tự phát của con vật khi nhìn thấy con báo. Cũng không phải tiếng kêu chỉ hoàn toàn phản ánh âm thanh gầm gừ phát ra trong lúc trèo lên cây, bởi con khỉ phát ra tiếng kêu đó có thể hoặc trèo lên cây hoặc nhảy ra khỏi cái cây hay chẳng làm gì cả, tùy thuộc vào tình huống cụ thể.
Còn về việc trong tiếng kêu có sự xác định rõ tới những vật cụ thể từ bên ngoài, điều đó được chứng minh đặc biệt hiệu quả bởi “tiếng kêu cảnh báo đại bàng”. Khi nhìn thấy một con diều hâu lớn bay lượn với sải cánh rộng, con khỉ vervet thường phản ứng với tiếng kêu thét đại bàng nêu như con diều hâu đó là một con đại bàng hùng dũng hay đại bàng chúa, hai loài chim ăn thịt đe dọa chủ yếu tới chúng. Chúng thường không có phản ứng gì nếu như loài chim lớn đó là một con đại bàng vàng nâu và gần như không bao giờ kêu lên nếu đó chỉ là loài đại bàng cổ rắn có ngực đen hay loài kền kền lưng trắng, những loài chẳng bao giờ ăn thịt chúng cả. Nhìn từ phía dưới, đại bàng cổ rắn có ngực đen trông khá giống với loài đại bàng hiếu chiến bởi chúng cũng có phần dưới màu xám, đuôi có sọc vằn, đầu và cổ đen. Loài khỉ vervet được coi là một loài quan sát rất tốt bởi sự sinh tồn của chúng phụ thuộc vào điều đó.
Những ví dụ trên cho chúng ta thấy những tiếng kêu cảnh báo của loài khỉ vervet không thể chỉ là sự biểu hiện không chủ đích của một nỗi sợ hãi hay ý định nào đó. Chúng có sự liên quan tới một vật bên ngoài nào đó một cách rất chính xác. Rõ ràng chúng nhắm tới những trao đổi mà thường được đưa ra: một cách rất chân thực nếu con vật phát ra âm thanh đó quan tâm tới con vật nghe thấy âm thanh và điều đó có thể trở nên không trung thực với kẻ thù.
Những người hoài nghi tiếp tục tranh cãi về những điều tương tự được đưa ra giữa âm thanh của loài vật và tiếng nói của con người, ở cấp độ cao như tiếng nói của con người phải do một quá trình học tập trong khi đó có rất nhiều loài sinh ra đã có bản năng phát ra những âm thanh đặc trưng cho giống loài của nó. Tuy nhiên, việc con khỉ vervet nhỏ tuổi học cách để phát ra tiếng kêu và cách đáp lại tiếng kêu đó một cách thích hợp, rất giống với việc làm của trẻ sơ sinh ở loài người. Những tiếng gầm gừ của con khỉ sơ sinh nghe rất khác lạ so với những con trưởng thành.
“Cách phát âm” dần dần được cải thiện theo thời gian cho đến khi nó thực sự giống của khỉ trưởng thành khi khoảng hai tuổi, tức là ít hơn khoảng nửa thời gian cho độ tuổi dậy thì của loài khỉ này. Điều đó giống như những đứa trẻ loài người đạt tới sự phát âm như người lớn lúc khoảng năm tuổi, hai đứa con trai bốn tuổi của tôi thỉnh thoảng nói vẫn khá là khó hiểu. Chỉ đến khi đến giai đoạn 6-7 tháng tuổi, những con khỉ sơ sinh mới được học một cách cẩn thận để đưa ra những phản ứng chính xác với tiếng gọi của con trưởng thành. Từ đó, tiếng kêu cảnh báo về con rắn có thể khiến cho con khỉ con nhảy vào bụi rậm, đây là phản ứng đúng cho trường hợp cảnh báo “đại bàng” nhưng sẽ là tự sát nếu gặp phải rắn. Chỉ đến khi hai tuổi, những con khỉ con mới liên hệ một cách phù hợp giữa những lời cảnh báo với nội dung chính xác của nó. Trước lúc đó, con khỉ con có thể kêu “đại bàng” không chỉ những lúc con đại bàng hiếu chiến hay đại bàng chúa bay lượn trên đầu mà cả khi một con chim nào khác bay ngang qua hay một chiếc lá rơi từ trên cao xuống. Những nhà tâm lý học trẻ em cũng đề cập tới những hành vi tương tự ở con trẻ như sự “khái quát hóa quá mức” như thể một đứa trẻ kêu lên không chỉ với chó, mèo mà cả chim bồ câu những tiếng gọi “gâu, gâu”.
Như vậy, tôi đã áp dụng khá lỏng lẻo những khái niệm của con người như là “từ” và “ngôn ngữ” vào cách phát ra âm thanh của loài vật. Giờ thì hãy so sánh hệ thống phát âm của loài người và các nhóm động vật linh trưởng khá gần gũi. Đặc biệt, thử tự đặt ra ba câu hỏi: Những âm thanh của loài khỉ vervet có thực sự chứa đựng “ngôn từ”? Vốn từ của loài vật là khoảng bao nhiêu? Có cách phát âm nào của loài vật tiến hóa thành những cấu trúc ngữ pháp và có thể gọi tên là “ngôn ngữ” không?
Trước tiên, trả lời cho câu hỏi về các từ, ít nhất nó cũng rõ ràng là mỗi tiếng kêu báo động của loài khỉ vervet có liên quan tới một nhóm được xác định rõ về những nguy hiểm bên ngoài.
Điều đó tất nhiên không chỉ ra rằng một tiếng kêu báo động về loài báo xác định đúng loài động vật đối với loài khỉ vervet hệt như tên gọi “loài báo” được các nhà động vật học đặt tên, các thành viên của một nhóm loài động Vật đơn lẻ nằm trong một tập hợp các cá thể có tiềm năng giao phối với nhau. Các nhà khoa học đã biết rằng loài khi vervet đưa ra báo động “có báo” để phản ứng lại với không chỉ là loài báo mà còn đối với hai loài khác thuộc họ mèo cỡ vừa nữa (là linh miêu và mèo rừng châu Phi). Do đó, nếu báo động “có báo” chỉ đơn thuần gồm hai từ, nhưng nó không phải chi có ý nghĩa là loài báo mà phải là: “một loài mèo có kích thước trung bình thường tấn công chúng ta, săn mồi theo cách khá giống nhau, và cách trốn chạy tốt nhất là trèo lên cây”. Tuy nhiên, rất nhiều từ ngữ của con người có thể được dùng với cùng một ý nghĩa đặc trưng tương tự. Ví dụ như, phần lớn chúng ta chứ không phải các nhà ngôn ngữ học và các ngư dân lâu năm sử dụng một từ đặc trưng chung là “cả” cho tất cả các động vật máu lạnh, có vây và xương sống, bơi trong nước và có thể ăn được.
Thay vào đó, câu hỏi thực sự là khi nào tiếng báo động “loài báo” chứa đựng một mệnh đề (“loài mèo có kích thước trung bình…”), hay một câu miêu tả (“một con mèo có kích cỡ trung bình đang tới”), hay một câu mệnh lệnh (“Quan sát một loài mèo cỡ vừa”) hay cuối cùng là một lời đề xuất (“Hãy trèo lên cây hay thực hiện một hành vi thích hợp để lẩn tránh loài mèo có kích cỡ trung bình”). Hiện nay, chúng ta vẫn chưa rõ chức năng chính của những tiếng kêu báo động là gì hay nó chính là sự pha trộn giữa những chức năng của các câu trên. Tương tự như thế tôi đã rất vui khi cậu con trai một tuổi Max của tôi thốt lên: “Nước quả”, điều mà tôi lấy làm tự hào coi đó là câu nói đầu tiên của cháu. Đối với Max, dù âm tiết “nước quả” không phải là một định dạng chuẩn xác về mặt học thuật của một vật bên ngoài với những giá trị xác định, mà còn được hiểu như một lời đề nghị: “Cho con một chút nước quả”. Chỉ khi lớn thêm một tuổi nữa, Max mới có thể nói thêm nhiều hơn một âm tiết như: “Cho con nước quả” để phân biệt với lời đề nghị chỉ bao gồm một âm tiết ban đầu. Khỉ vervet chưa thể hiện bằng chứng nào về việc chúng đạt tội trình độ đó.
Câu hỏi thứ hai về số lượng vốn từ, ngay cả với loài động vật tiến hóa cao nhất hiện nay dường như cũng chỉ có nền tảng kiến thức kém xa so với con người chúng ta. Một người bình thường có một vốn từ vựng sử dụng trong hoạt động lao động thường nhật là khoảng 1.000 từ, cuốn từ điển để bàn nhỏ của tôi được cho là chứa tới 142.000 từ nhưng mới chỉ có 10 tiếng kêu được phân biệt ở loài khỉ vervet, một loài động vật được quan tâm nghiên cứu kỹ lưỡng nhất. Động vật và con người chắc chắn có sự khác biệt rõ nét về vốn từ vựng, tuy sự khác biệt có thể không lớn tới mức theo như những con số trên vừa nêu ra. Hãy nhớ rằng quá trình tiến hóa của chúng ta diễn ra chậm chạp như thế nào trong việc tạo ra sự khác biệt với tiếng kêu của loài khỉ. Mãi cho tới khoảng năm 1967, con người mới nhận ra rằng những con vật nói chung đều có những tiếng kêu mang một ý nghĩa xác định. Những nhà khoa học quan sát khỉ vervet giàu kinh nghiệm nhất vẫn không thể phân biệt được một vài tiếng kêu của loài này mà không có sự giúp đỡ của máy phân tích âm thanh và ngay cả khi có máy này, sự khác biệt của một vài trong số mười cách gọi đang được nghiên cứu vẫn ẩn chứa những điều chưa thể chứng minh. Hiển nhiên là, loài khỉ vervet (và những động vật khác nữa) có thể có rất nhiều tiếng gọi khác nữa mà chúng ta vẫn chưa nhận diện để phân biệt được.
Sẽ chẳng có gì đáng ngạc nhiên về những khó khăn của chúng ta trong việc phân biệt âm thanh của các loài động vật, khi ai đó quan tâm tới những khó khăn trong việc hiểu được giọng nói của trẻ em. Trẻ con dành phần lớn thời gian trong những năm đầu đời để học cách nhận biết và lặp lại những điều khác biệt trong lời nói của những người xung quanh chúng. Khi đã là một người trưởng thành, chúng lại tiếp tục gặp khó khăn trong việc phân biệt âm thanh của những ngôn ngữ không thống nhất của loài người. Sau bốn năm học tiếng Pháp ở trường trung học, từ lúc 12 đến khi 16 tuổi, những vấn đề của tôi trong việc hiểu tiếng Pháp nghe nói thật là đáng ngượng khi so sánh với khả năng đó ở một em bé bốn tuổi người Pháp. Nhưng tiếng Pháp vẫn còn là dễ nếu đem so sánh với ngôn ngữ Iyan của các đồng bằng ven hồ ở New Guinea mà trong đó, một nguyên âm đơn có thể bao gồm tám ý nghĩa khác nhau tùy thuộc vào mức cao độ của cách phát âm. Một sự thay đổi nhỏ trong cao độ sẽ biến đổi ý nghĩa của một từ tiếng Iyan từ nghĩa “mẹ vợ” sang nghĩa là “con rắn”, một cách rất tự nhiên điều đó có thể là sự khốn khổ cho người đàn ông Iyan nào gọi mẹ vợ mình là “con rắn yêu kính”, và những đứa trẻ Iyan học để hoàn toàn có thể nghe và nhắc lại những khác biệt trong cao độ đó trong rất nhiều năm. Đó là sự thách thức ngay cả đối với những nhà ngôn ngữ học dành rất nhiều thời gian để nghiên cứu ngôn ngữ của người Iyan. Nêu ra những vấn đề trong ngôn ngữ không tương đồng của chính loài người chúng ta như vậy để thấy rằng chắc chắn chúng ta vẫn phải cố gắng kiếm tìm sự khác biệt trong vốn từ vựng của loài khỉ.
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa rằng bất cứ nghiên cứu nào về loài khỉ vervet cũng sẽ tiết lộ cho chúng ta những giới hạn thu nhận được trong giao tiếp bằng âm thanh của các loài động vật, bởi những giới hạn này có thể thu hẹp lại nhiều hơn ở loài vượn so với loài khỉ. Trong khi những âm thanh tạo ra bởi loài tinh tinh và gorilla đối với chúng ta chỉ là những tiếng gầm gừ và rít khá đơn giản thì cũng chỉ là như vậy với những âm thanh được tạo ra bởi loài khỉ vervet cho tới khi chúng được nghiên cứu một cách cẩn thận hơn. Ngay cả những ngôn ngữ không thông dụng của loài người cũng có thể nghe như những tiếng lắp bắp, khiến chúng ta không thể phân biệt nổi.
Không may là, những giao tiếp bằng âm điệu giữa các loài tinh tinh hoang dã và những loài linh trưởng khác chưa bao giờ được nghiên cứu bằng các phương pháp đã áp dụng đối với khỉ vervet bởi những vấn đề có tính chất hậu cần trong quá trình nghiên cứu. Chiều ngang lãnh thổ của một bầy đàn khoảng dưới 600 mét như ở loài khỉ vervet, là vài kilomet với loài tinh tinh, gây khó khăn rất lớn khi tiến hành các thí nghiệm ghi lại âm thanh với máy quay và những máy phát âm thanh được giấu kín. Những vấn đề về mặt hậu cần như vậy là không thể khắc phục bởi các nghiên cứu được tiến hành trên các loài vượn người hoang dã nhưng bị nuôi nhốt trong những chiếc lồng thú có kích cỡ khá thích hợp, bởi những con vật bị nuôi nhốt như vậy thông thường tạo nên một tập hợp những cá thể bị con người bắt từ những địa điểm khác nhau ở châu Phi, mà thực chất phát âm những ngôn ngữ khác biệt nhau và ném vào cùng một chỗ như những người nô lệ trò chuyện với nhau bằng thứ bóng dáng thô thiển của ngôn ngữ loài người mà rõ ràng là chẳng có thứ cú pháp nào hết. Tương tự như thế các loài vượn hoang dã bị bắt đem về nuôi nhốt sẽ gần như chẳng học được gì về sự tinh tế trong giao tiếp bằng âm thanh của loài vượn hoang dã cả. Câu trả lời sẽ mãi là điều bí ẩn cho tới khi một vài biện pháp được nêu ra về việc phải làm thế nào với các loài động vật nhân hình như những gì mà Chenney và Seyfarth đã làm đối với loài khỉ vervet trong thiên nhiên.
Tuy nhiên, có một vài nhóm các nhà khoa học đã dành ra nhiều năm huấn luyện những con gorilla, tinh tinh thường và tinh tinh lùn để có thể hiểu và sử dụng ngôn ngữ do con người nghĩ ra thông qua những tấm nhựa có kích thước và màu sắc khác nhau hay qua những cử chỉ bằng tay tương tự như những gì được sử dụng cho người điếc hay trên những nút phím như ở chiếc máy chữ mà mỗi ký tự có một biểu tượng khác nhau. Những con vật này qua đó học ý nghĩa của vài trăm biểu tượng và một con tinh tinh lùn gần đây đã cho thấy nó dần dần hiểu ra (nhưng không phải là nói ra) một số vốn khá tốt tiếng Anh nói. ít nhất, những nghiên cứu về các loài động vật nhân hình được dạy ngôn ngữ loài người này cũng thể hiện rằng chúng có khả năng học hỏi để làm chủ một vốn từ vựng phong phú, và cũng nêu lên câu hỏi hiển nhiên là phải chăng chúng cũng có vốn từ vựng tương tự như thế trong môi trường hoang dã?
Điều đó gợi ra rằng các bầy gorilla hoang dã mà người ta đã quan sát thấy ngồi cạnh nhau trong một khoảng thời gian khá lâu, gầm gừ qua lại trong những âm thanh không mạch lạc rất khó để phân biệt, đột nhiên tất cả các con gorilla trong bầy đó đều nhỏm dậy cùng một lúc và hướng về cùng một phía. Chắc sẽ có ai đó nghi ngờ phải chăng thực sự có điều gì đã diễn ra ẩn sau những tiếng gầm gừ đó. Nhưng do cấu tạo giải phẫu của các dây thanh quản của các loài vượn đã hạn chế khả năng phát ra những nguyên âm và phụ âm hết sức đa dạng như chúng ta, vốn từ của các loài vượn hoang dã cho dù ở bất cứ môi trường nào cũng không thể bằng với chúng ta. Tuy nhiên, tôi sẽ rất ngạc nhiên nếu trong vốn từ của loài gorilla và tinh tinh không chứa hết những điều đã được ghi nhận ở loài khỉ vervet và chứa đựng tới hàng chục từ khác nhau, có thể bao gồm tên những loài vật riêng biệt. Trong lĩnh vực thú vị này, kiến thức ở đây được thu nhận rất nhanh chóng, chúng ta nên duy trì một quan niệm mở về khoảng cách trong vốn từ vựng giữa các loài khỉ nhân hình và con người.
Câu hỏi còn chưa có lời giải đáp còn lại đề cập tới việc phải chăng giao tiếp bằng âm thanh của các loài động vật liên quan tới bất cứ điều gì đều có được coi là ngữ pháp hay cú pháp trong câu. Con người không chỉ có một vốn từ chứa đựng hàng nghìn từ với các ý nghĩa khác nhau, chúng ta còn có thể kết hợp những từ đó và thay đổi dạng thức của chúng theo các cách được quy định bởi các quy tắc ngữ pháp (ví dụ như quy tắc trật tự từ) và qua đó xác định ý nghĩa của các cách kết hợp từ đó. Do vậy, ngữ pháp cho phép chúng ta có khả năng tạo nên vô số các câu từ một số hữu hạn các từ đơn lẻ. Để đánh giá được điều này, hãy thử xem xét ý nghĩa của hai câu dưới đây được tạo thành từ cùng một lượng từ nhưng có cách sắp xếp trật tự từ khác nhau:
“Con chó đói ăn của anh đã cắn chân người mẹ già của tôi.”
hay “Người mẹ đói ăn của tôi đã cắn chân con chó già của anh.”
Nếu ngôn ngữ loài người không liên quan gì tới các cấu trúc ngữ pháp thì hai câu văn trên chắc có ý nghĩa giống hệt nhau. Phần lớn các nhà ngôn ngữ học có thể không đề cao hệ thống giao tiếp bằng âm thanh của các loài động vật như một thứ ngôn ngữ thực sự, cho dù chúng có lượng từ lớn tới mức nào, trừ phi nó cũng tồn tại các quy tắc ngữ pháp.
Cho tới tận ngày nay, không có dấu hiệu gì của cú pháp được phát hiện trong các nghiên cứu về loài khỉ vervet. Phần lớn những tiếng gầm gừ và các tiếng kêu cảnh báo của nó là đơn âm. Khi loài vervet phát ra một chuỗi gồm hai hoặc nhiều âm tiết thì tất cả những trường hợp nghiên cứu đều chứng minh rằng những chuỗi đó chứa đựng những âm tiết lặp đi lặp lại, cũng giống như trường hợp một con khỉ vervet được ghi âm khi kêu những tiếng đáp lại tiếng kêu của con khỉ kia. Những con khỉ Capuchin và loài gorilla cũng có những tiếng gọi bao gồm nhiều âm tiết sử dụng những kết hợp có sẵn hay các trật tự từ, nhưng ý nghĩa của những sự kết hợp này vẫn còn nhiều điều cần được giải mã thêm (bởi con người chúng ta).
Tôi nghi ngờ rằng bất cứ sinh viên nào nghiên cứu về cách phát âm của các loài động vật nhân hình cũng hy vọng ngay cả một con tinh tinh hoang dại cũng đều có thứ ngữ pháp còn kém xa sự phức tạp của ngữ pháp con người, hoàn thành câu với các giới từ, thời của động từ và các tiểu từ nghi vấn. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại cho đến tận ngày nay một câu hỏi mở về việc phải chăng có những loài vật cũng có cấu trúc cú pháp. Những nghiên cứu cần thiết trên những động vật hoang dã mà có thể nhiều khả năng sử dụng ngữ pháp nhất - loài tinh tinh lùn hay tinh tinh thường - đơn giản là vẫn chưa được nghiên cứu một cách thực sự nỗ lực.
Tóm lại, trong khi những khoảng cách tồn tại giữa con người và các loài động vật khác về sự giao tiếp bằng âm thanh là thực sự lớn, các nhà khoa học đang nhanh chóng tìm hiểu cách mà khoảng cách đó được kết nối một phần từ những loài động vật. Giờ thì hãy lần theo chiếc cầu nối đó từ phía loài người. Chúng ta đã hoàn toàn phát hiện ra những “ngôn ngữ” phức tạp của loài vật, vậy còn tồn tại hay không những ngôn ngữ còn nguyên sơ của loài người?
Để giúp chúng ta nhận biết những ngôn ngữ sơ khai của con người sẽ như thế nào nếu như nó tồn tại, hãy tự nhắc nhở bản thân về cách mà ngôn ngữ con người khác biệt với cách phát âm của loài khỉ vervet. Một trong những khác biệt đó là ngữ pháp mà tôi vừa mới đề cập tới. Con người, chứ không phải là loài khỉ sờ hữu một thứ ngữ pháp, có nghĩa là đạt tói sự đa dạng trong trật tự từ, tiền tố, hậu tố và sự thay đổi hình thức của từ gốc (ví dụ như từ danh từ, động từ sang tính từ) và qua đó làm thay đổi ý nghĩa của từ gổc. Sự khác biệt thứ hai đó là cách phát âm của loài khỉ vervet, nếu chúng chỉ bao gồm các từ riêng biệt, dùng để nói về những thứ mà một ai đó có thể chỉ ra hay hành động theo. Ai đó có thể cố gắng tranh luận rằng những tiếng kêu của khỉ vervet chắc phải bao gồm một lượng tương ứng các danh từ (“đại bàng”) và động từ hay các cụm động từ (“đề phòng con chim đại bàng”). Ngôn ngữ của chúng ta rõ ràng bao gồm danh từ và động từ do sự khác biệt giữa chúng, cùng với cả tính từ nữa. Ba thành phần trên của một lời nói có liên quan tới những vật cụ thể, hành động hay tính chất được gọi là “cấu trúc ngôn từ”. Nhưng quá nửa trong số các từ trong lời nói của chúng ta là các thành phần hoàn toàn mang tính chất ngữ pháp, mà không chi ra vật được nói tới.
Những từ ngữ, ngữ pháp này bao gồm giới từ, liên từ, mạo từ và các từ bổ trợ (những từ như là: “có thể”, “làm” hay “nên”). Thật sự là khó khăn hơn rất nhiều để hiểu bằng cách nào những thành tố ngữ pháp trên có thể tiến hóa hơn những gì xuất hiện ở các thành phần từ vựng. Nếu gặp phải một người hoàn toàn không biết chút gì tiếng Anh, bạn có thể chỉ vào mũi để giải thích rằng từ “mũi” đó có nghĩa là gì. Các động vật linh trưởng có thể thông thường đi đến sự đồng ý về ý nghĩa của tiếng gầm gừ đóng vai trò như một danh từ, động từ hay tính từ. Tuy nhiên, bằng cách nào bạn có thể giải thích được ý nghĩa của từ “trước”, “bởi vì”, “cái mà” hay “đã” với những người hoàn toàn không biết tiếng Anh? Bằng cách nào tổ tiên của chúng ta có thể không mắc sai lầm với những yếu tố ngữ pháp như vậy?
Vẫn còn một sự khác biệt nữa giữa cách phát âm của người và loài khỉ vervet đó là việc chúng ta có được một cấu trúc có trật tự, như là một con số đơn giản của những thành phần ở mỗi một thứ bậc sẽ tạo nên một số lượng lớn hơn các thành phần ở một thứ bậc cao hơn. Ngôn ngữ của chúng ta sử dụng rất nhiều những âm tiết mà tất cả đều dựa trên cùng một tập hợp của chỉ khoảng vài chục âm thanh khác nhau. Chúng ta lắp ráp lại những âm tiết đó thành hàng nghìn từ. Những từ này không phải là chỉ đơn thuần là sự nối kết một cách ngẫu nhiên mà phải được tổ chức thành những nhóm khác nhau, chẳng hạn như nhóm giới từ. Từ đó, các nhóm từ này kết hợp lại với nhau để tạo nên một số lượng vô hạn của các câu có tiềm năng. Đối nghịch với điều này, loài khỉ vervet không thể nào phân tán thành những thành phần nhỏ riêng biệt và thiếu đi những nấc đơn lẻ trong tổ chức nhiều tầng bậc đó.
Giống như một đứa trẻ, chúng ta kiểm soát tất cả những câu trúc phức tạp của ngôn ngữ con người mà không hề phải học qua những luật lệ rõ ràng trong quá trình phát sinh ra ngôn ngữ đó. Chỉ trừ phi chúng ta phải học một ngoại ngữ ở trường hay học tiếng nước ngoài từ sách vở thì chúng ta mới phải cố lập nên những công thức như thế. Cấu trúc ngôn ngữ loài người phức tạp tới mức mà rất nhiều những luật lệ được ghi nhớ gần đây được yêu cầu lại bởi các nhà ngôn ngữ chuyên sâu chỉ mới được đề xuất cách đây khoảng vài thập niên mà thôi. Khoảng cách giữa ngôn ngữ con người và cách phát âm của các loài động vật giải thích tại sao phần lớn các nhà ngôn ngữ học không bao giờ bàn luận xem bằng cách nào ngôn ngữ loài người có thể tiến hóa từ những tổ tiên động vật xa xôi. Thay vào đó, họ đề cập tới câu hỏi không có lời giải đáp và cũng chẳng có ý nghĩa gì nhiều ngay cả trong việc suy đoán.
Bởi ngôn ngữ viết đầu tiên tồn tại cách đây 5.000 năm cũng đã phức tạp như của chúng ta ngày nay ngôn ngữ loài người buộc phải tiếp nhận sự phức tạp như hiện tại từ rất lâu trước đó. ít nhất chúng ta có thể phân biệt được sự thiếu hụt trong việc nôi kết về mặt ngôn ngữ bằng việc tìm kiếm những người tiền sử với thứ ngôn ngữ đơn giản mà có thể đại diện cho giai đoạn tiến hóa đầu tiên của ngôn ngữ loài người? Sau hết, một vài bộ lạc săn bắt-hái lượm vẫn lưu giữ được một số công cụ lao động bằng đá cũng đơn giản như những gì đặc trưng của thế giới vào khoảng 10.000 năm về trước. Những cuốn sách hướng dẫn du lịch thế kỷ XIX vói đầy rẫy những truyền thuyết về các bộ lạc lạc hậu, những bộ lạc được cho là chỉ sử dụng được có vài trăm từ hay thiếu hẳn sự nối kết giữa các âm thanh, được giảm thiểu tới mức chỉ nói được tiếng “ừ” hay phụ thuộc vào các cử chỉ chân tay trong lúc giao tiếp. Đó chính là ấn tượng đầu tiên của Darwin về ngôn ngữ của người Tier ra del Fuego ở vùng Ấn Độ Dương. Nhưng tất cả những huyền thoại nói trên được người ta chứng minh là hư cấu hoàn toàn. Darwin và những người thám hiểm phương Tây rõ ràng nhận thấy là rất khó để có thể phân biệt được những âm thanh không quen thuộc của thứ ngôn ngữ bên ngoài châu Âu, cũng giống như những người nơi đó cảm nhận âm thanh của tiếng Anh, hay các nhà động vật học tìm kiếm các âm thanh của loài khỉ vervet.
Thực chất, điều đó nói lên rằng chẳng có mối quan hệ nào giữa tổ hợp ngôn ngữ và những điều có tính chất xã hội. Những con người có thể mang thuộc tính nguyên thủy về mặt kỹ thuật nhưng không có nghĩa là là họ nói những thứ tiếng nguyên thủy, như những gì tôi đã phát hiện thấy vào ngày đầu tiên đặt chân tới Cao nguyên New Guinea, gặp gỡ những người Foré. Ngữ pháp của tiếng Foré được chứng minh là cực kỳ phức tạp, với những vị trí của hậu tố giống như ngôn ngữ của người Phần Lan, lại đi kèm với cả dạng số nhiều và số ít giống như ngôn ngữ Slovenia, và các thời của động từ và cấu trúc của cụm từ chẳng giống với bất cứ ngôn ngữ nào mà tôi đã từng gặp trước đó. Tôi đã đề cập trong phần trước các cách phát âm của tám loại nguyên âm của người Iyan ở New Guinea, mà ở đó sự khác biệt trong âm thanh được thể hiện phảng phất, tới mức các chuyên gia ngôn ngữ học không thể phân biệt nổi trong nhiều năm.
Do đó, trong khi một số người ở thế giới hiện đại còn lưu giữ các công cụ nguyên sơ thì chẳng còn ai lại duy trì những thứ tiếng nguyên thủy cả. Những khu vực khai quật khảo cổ của người Cro-Magnon còn chứa đựng rất nhiều những vật dụng được bảo tồn nhưng chẳng có lấy một từ ngữ nào được lưu lại. Sự thiếu hụt những cầu nối về mặt ngôn ngữ này lấy đi của chúng ta những gì được cho là bằng chứng tốt nhất về nguồn gốc của ngôn ngữ con người. Chúng ta buộc phải thử những cách tiếp cận gián tiếp hơn.
Một trong những cách tiếp cận đó là việc đặt ra các câu hỏi cho những người bị tước mất cơ hội để nghe bất cứ một ngôn ngữ hiện đại đã được tiến hóa hoàn toàn nào đó của con người. Biết đâu điều đó lại khiến cho họ phát minh ra một cách ngẫu nhiên thứ ngôn ngữ nguyên thủy? Theo nhà sử học Hy Lạp Herodotus, vị vua Ai Cập Psammeticus có ý định tiến hành một thí nghiệm tương tự như thế với mong muốn tìm ra đâu là ngôn ngữ cổ nhất thế giới. Nhà vua này quyết định giao hai đứa trẻ sơ sinh cho một người chăn cừu cô độc để nuôi dưỡng trong sự im lặng tuyệt đối với yêu cầu là ông ta phải lắng nghe được từ đầu tiên mà hai đứa trẻ sẽ nói ra. Người chăn cừu đã báo lại tất cả quá trình phát triển của hai đứa trẻ, từ khi chúng chưa nói được gì đến khi bập bẹ những điều chưa có nghĩa, cho tới khi khoảng hai tuổi chúng chạy tới chỗ của ông và bắt đầu lặp lại một cách hoàn chỉnh từ “becos”. Do từ này có nghĩa là “bánh mỳ” trong ngôn ngữ Phrygian mà sau đó được nói ở vùng trung tâm Thổ Nhĩ Kỳ, vua Psammeticus đã cho rằng người Phrygian là những con người cổ nhất trên Trái đất này.
Không may là, những dòng ngắn ngủi của Herodotus về thí nghiệm của vua Psammeticus lại thất bại trong việc thuyết phục những người hoài nghi rằng nó được tiến hành một cách nghiêm ngặt đúng như những gì được mô tả. Điều này chứng minh cho việc tại sao một số học giả thường thích vinh danh Herodotus như là cha đẻ của những lời nói dối hơn là ông tổ của ngành Sử học. Chắc chắn rằng, những đứa trẻ sơ sinh kia được nuôi dưỡng trong sự biệt lập với xã hội giống như những bé trai-người sói nổi tiếng của Aveyron, tồn tại hầu như câm lặng và không phát hiện hay sáng tạo ra một thứ ngôn ngữ nào hết. Tuy nhiên, có một biến thể trong thí nghiệm của Psammeticus đã xảy ra tới hàng chục lần trong thế giới hiện đại. Trong sự biến đổi đó, tất cả những đứa trẻ đều lắng nghe từ người lớn xung quanh chúng những dạng thức ngôn ngữ được đơn giản hóa một cách thô thiển và hết sức đa dạng, có điều gì đó giống với những gì bản thân một đứa trẻ bình thường nói được khi chúng khoảng hai tuổi. Những đứa trẻ tiến bộ một cách hoàn toàn vô thức để cải thiện thứ ngôn ngữ của bản thân chúng, vượt xa những gì được trao đổi ở loài khỉ vervet nhưng còn hết sức giản đơn nếu so sánh với ngôn ngữ thông thường của người lớn. Các kết quả đó được coi là những ngôn ngữ mới gọi là ngôn ngữ lai. Đi kèm với nó là dạng tiền thân thường được gọi là “tiếng bồi”, ngôn ngữ lai có thể cung cấp cho chúng ta những hình mẫu của những liên kết còn thiếu trong sự tiến hóa của ngôn ngữ thông thường của loài người.
Kinh nghiệm đầu tiên của tôi về thứ ngôn ngữ lai đó là một thứ ngôn ngữ chung bản địa ở New Guinea được biết như là Neo-Melanesian hay là tiếng Anh bồi (cái tên thứ hai có sự nhầm lẫn trong cách đặt tên do Neo-Melanesian không phải là thứ tiếng bồi mà giống như một ngôn ngữ lai bắt nguồn từ tiếng bồi cấp cao). Tôi sẽ giải thích sự khác biệt này sau - và nó chỉ là một trong rất nhiều ngôn ngữ tiến hóa một cách độc lập, thường bị gọi nhầm tên là tiếng Anh bồi Papua New Guinea có tới khoảng 700 ngôn ngữ bản địa phân bố trong các khu vực rộng tương đương với kích thước của nước Thụy Điển nhưng không có bất cứ một ngôn ngữ nào trong số đó được trên 3% dân số sử dụng. Không có gì ngạc nhiên khi quan niệm thứ tiếng lai là cần thiết và được sinh ra sau sự xâm nhập của những thương nhân và thủy thủ nói tiếng Anh vào những năm đầu của thế kỷ XVIII. Ngày nay, Neo-Melanesian được sử dụng ở Papua New Guinea như một thứ ngôn ngữ trong giao tiếp, ở trường học cũng như trong các hội họp của Quốc hội nhưng không phổ biến lắm. Mẫu tin quảng cáo ở trang 274-276 sẽ mang tới ý nghĩa của thứ ngôn ngữ mới tiến hóa này.
Khi tôi tới Papua New Guinea và lần đầu được biết đến Neo-Melanesian, tôi cảm thấy rất khinh thường nó. Ngôn ngữ này nghe như cách mà trẻ con nói chuyện dài với nhau chứ chẳng có chút cấu trúc ngữ pháp nào hết. Khi nói thứ tiếng Anh theo quan niệm là nói chuyện với trẻ con này tôi thực sự bị sốc khi phát hiện ra rằng người Papua New Guinea không hiểu tôi nói gì hết. Ý nghĩ ban đầu của tôi cho rằng những từ ngữ Neo-Melanesian có ý nghĩa giống với tiếng Anh chính gốc đã mang lại thảm họa, rõ rệt nhất là khi tôi cố gắng xin lỗi một phụ nữ khi có mặt chồng của bà ta ở đó rằng đã vô tình xô vào bà ấy, để rồi nhận ra rằng trong tiếng Neo-Melanesian “xô đẩy” không mang ý nghĩa như nguyên gốc của nó nữa mà lại là “có quan hệ tình dục với ai đó”.
Tiếng Neo-Melanesian được coi là cũng nghiêm ngặt trong các quy tắc ngữ pháp như tiếng Anh. Nó là một thứ ngôn ngữ hết sức mềm dẻo cho phép một người có thể biểu lộ bất cứ điều gì có thể nói được bằng tiếng Anh. Nó thậm chí còn cho phép ai đó tạo ra điểm khác biệt mà không thể thể hiện bằng tiếng Anh ngoại trừ việc sử dụng cách nói vòng vo hết sức vụng về. Ví dụ như, trong tiếng Anh đại từ “chúng tôi” thực chất là gộp bởi hai khái niệm rất khác nhau: thứ nhất, là “tôi có tính cả bạn vào những người mà tôi đang nói đến” và thứ hai là “tôi có gộp thêm một hay vài người khác nhưng trong đó không có bạn là những người mà tôi đang nhắc tới”. Trong ngôn ngữ Neo-Melanesian, hai ý nghĩa hoàn toàn khác biệt đó được thể hiện bởi hai từ khác biệt tương ứng là “yumi” và “mipela”. Sau rất nhiều tháng tôi sử dụng tiếng Neo-Melanesian để rồi gặp được một người nói tiếng Anh bắt đầu nhắc tới “chúng ta”, tôi thường tự phân vân rằng: “Tôi có hay không có mặt trong từ “chúng tôi” của anh?”
Sự đơn giản hóa và nguồn gốc thực sự của tính mềm dẻo trong tiếng Neo-Melanesian một phần là nhờ vào vốn từ vựng, phần khác còn là do ngữ pháp của nó. Vốn từ vựng của thứ tiếng này dựa trên một số lượng khiêm tốn những từ gốc mang rất nhiều ý nghĩa khác nhau tùy thuộc từng tình huống và được mở rộng nhờ cách nói ẩn dụ. Chẳng hạn như, trong tiếng Neo-Melanesian, từ “gras” có nghĩa tương đương với từ “cỏ” trong tiếng Anh (nguyên do là, “gras bilong solwara [salt water] - cỏ sống trong nước biển” có nghĩa là rong biển), nó còn có nghĩa là tóc bởi “man i no gat gras long head bilong em” lại được hiểu là “người đàn ông không có tóc”.
Xuất xứ của cụm từ trong tiếng Neo-Melanesian “banis bilong susu” do từ “bra” minh họa rõ hơn đặc điểm mềm dẻo của từ gốc ban đầu. “Banis” có nghĩa là “hàng rào” trong tiếng Anh - fence do những người New Guinea gặp vấn đề trong cách phát âm phụ âm “f” và cả cụm nguyên âm “nc” nói ra. “Susu” lại có nguồn gốc từ tiếng Malay khi nói đến “sữa” nhưng mở rộng hơn thế nó còn có nghĩa là “bộ ngực”. Ý nghĩa này từ đó tạo nên cách thể hiện của từ’ “núm vú” (“ai (mắt) bilong susu - phần mắt của bầu vú”), hay cô gái chưa dậy thì (“i no gat susu bilong em”) hay “thiếu nữ” (susu i sonap (nhô lên) - có vú nhô cao) và “bà già” (“susu i pundaun pinis (kết thúc hoạt động)”). Kết hợp cả hai từ gốc trên “banis bilong susu” được dùng để chỉ một cái yếm như là lá chắn để nâng đỡ bầu ngực bên trong, trong khi đó “banis pik” lại có nghĩa là tấm liếp chuồng lợn.
Ngữ pháp Neo-Melanesian xuất hiện đơn giản tới mức bị lẫn lộn bởi vì những gì mà nó thiếu hay được thể hiện một cách khác bởi những cụm từ có liên quan. Những thiếu sót này bao gồm cả những thứ tưởng như là chuẩn mực trong ngữ pháp như là số nhiều hay các tập hợp dạng của danh từ, sự biến đổi đuôi động từ, lối nói bị động và phần lớn các giới từ cũng như thời của động từ. Ở rất nhiều khía cạnh, thứ tiếng Neo-Melanesian chưa thể vượt xa cách nói của trẻ nhỏ và cả âm thanh của loài vượn, bao gồm các liên từ, động từ và đại từ và cách thức nó thể hiện trong những trạng thái và lớp ý nghĩa của động từ. Nó chỉ đơn giản là một ngôn ngữ phức tạp với cách tổ chức có trật tự của các âm vị, âm tiết và từ ngữ. Nó vay mượn từ chính ngôn ngữ của mình một cách hoàn hảo để hình thành nên cách cấu trúc có trật tự của các cụm từ và câu mà bài phát biểu tranh cử của các chính trị gia New Guinea giống với cách nói kiểu Đức của Thomas Mann trong cấu trúc điển hình của nó.
Ban đầu, tôi đã thực sự ngu dốt khi cho rằng tiếng Neo-Melanesian rõ ràng là một sự nhầm lẫn trong số các thứ tiếng trên thế giới này. Hiển nhiên là, nó chỉ mới xuất hiện khoảng hai thế kỷ trước, khi những tàu biển của Anh bắt đầu cập cảng ở New Guinea, nhưng tôi cho là bằng cách nào đó nó đã phát triển vượt lên hẳn cách nói chuyện của trẻ nhỏ, giống như cách mà những người thực dân nói chuyện với dân bản xứ mà họ tin là khó có thể hiểu nổi tiếng Anh. Dù thế nào, cũng có những minh chứng cho việc hàng chục loại ngôn ngữ rất giống với cấu trúc của tiếng Neo-Melanesian. Chúng phát sinh một cách độc lập trên khắp thế giới với vốn từ có nguồn gốc cực kỳ đa dạng từ tiếng Anh, Pháp, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Malay và cả tiếng Arab nữa. Chúng xuất hiện hết sức đặc biệt ở trong các nông trang, pháo đài hay những tình huống trao đổi - buôn bán khi mà những cộng đồng người nói nhiều thứ tiếng khác nhau cùng đến gặp gỡ và có nhu cầu trao đổi nhưng chỉ ở những nơi mà các tình huống xã hội gây trở ngại cho những cho cách giải quyết thông thường khi mà một nhóm người này học tập ngôn ngữ của nhóm người khác. Rất nhiều trường hợp xuyên suốt vùng rừng núi châu Mỹ, châu Úc và trên cả những hòn đảo nhiệt đới Vịnh Carribean, ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, trong đó những thực dân châu Âu thu nhận các công nhân từ những nơi rất xa đến và nói những thứ tiếng khác nhau. Những người thực dân châu Âu khác lập nên những pháo đài, khu buôn bán ở những vùng vốn đã tập trung dân cư đông đúc ở Trung Quốc, Indonesia hay châu Phi.
Những rào cản vững chắc giữa những thực dân khai phá ưu thế hơn với những người công nhân nhập cư hay các cư dân địa phương đã tạo ra sự miễn cưỡng xưa cũ và rồi là điều không thể về sau trong việc học tập một ngôn ngữ khác. Thông thường, những người thực dân đó thường khinh bỉ những người dân bản xứ, nhưng ở Trung Quốc, sự khinh miệt này là cả từ hai phía: khi những nhà buôn người Anh lập nên một thương cảng ở Quảng Châu vào năm 1664, người Trung Quốc đã không hạ thấp bản thân chút nào trong việc học tập một thứ ngôn ngữ xấu xa của nước ngoài hay dạy họ tiếng Trung Quốc, cũng như những người Anh cũng không thèm học tập ngôn ngữ hay dạy dỗ những người Trung Quốc theo họ là xa lạ và dốt nát. Ngay cả khi nếu những rào cản xã hội này không tồn tại, thì những người công nhân cũng có rất ít cơ hội được học ngôn ngữ của những người đi chiếm đóng kia bởi số lượng của họ là quá lớn so với những người thực dân đó. Ngược lại, người thực dân cũng cảm thấy rất khó để học được lời nói của những người công nhân bởi có quá nhiều ngôn ngữ thường được sử dụng giữa những người công nhân đó.
Vượt khỏi sự hỗn loạn tạm thời của thứ ngôn ngữ được hình thành trong quá trình thiết lập các đồn điền hay các pháo đài những thứ ngôn ngữ mới được hình thành cũng được đơn giản hóa và ổn định dần. Lấy quá trình phát triển của ngôn ngữ Neo-Melanesian làm một ví dụ điển hình. Sau khi những tàu của người Anh bắt đầu ghé thăm các hòn đảo của vùng Melanesian, nằm ở vùng Đông New Guinea khoảng những năm 1820, những người Anh cũng mang theo cư dân trên đảo đi làm việc cho các đồn điền trồng mía ở Queensland và Samoa, nơi mà những người công nhân từ rất nhiều ngôn ngữ khác nhau tập hợp thành từng nhóm. Và chính từ một mớ hỗn độn của rất nhiều thứ tiếng như vậy bằng cách nào đó đã làm nổi bật lên thứ ngôn ngữ Neo-Melanesian mà trong đó vốn từ của nó bao gồm 80% là tiếng Anh, 15% tiếng Tolai (một cộng đồng người Melanesian có số lượng công nhân đông đảo nhất) và phần còn lại là tiếng Malay và các ngôn ngữ khác.
Các nhà ngôn ngữ học phân biệt hai giai đoạn trong sự xuất hiện của những ngôn ngữ mới: đầu tiên, những ngôn ngữ thô mộc ban đầu được gọi là tiếng bồi, và sau đó là một thứ tiếng phức tạp hơn được hình thành gọi là tiếng lai. Tiếng bồi xuất hiện như ngôn ngữ thứ hai của những ông chủ đi thôn tính và những người công nhân khi họ nói những thứ tiếng mẹ đẻ là khác nhau và cần phải trao đổi với nhau. Mỗi nhóm người (cả người chủ thực dân lẫn những người công nhân) vẫn giữ ngôn ngữ ban đầu của chính họ khi chuyện trò với những người trong cùng một nhóm với mình, trong khi đó thì mỗi nhóm lại sử dụng tiếng bồi khi nói chuyện với người thuộc nhóm kia, và thêm vào đó những người công nhân trong các đồn điền đa ngôn ngữ kia có thể sử dụng tiếng bồi để giao tiếp với những công nhân thuộc những ngôn ngữ khác.
So sánh với những ngôn ngữ thông thường, tiếng bồi có sự giảm thiểu rất lớn trong âm tiết, vốn từ vựng và cả cấu trúc câu của nó. Những âm thanh của thứ tiếng bồi thường chỉ có chung những đặc điểm với khoảng hai hay hơn thế những thứ ngôn ngữ bẩm sinh khi chúng được tập hợp lại. Ví dụ như, rất nhiều người New Guinea cảm thấy rất khó khăn khi phát âm những phụ âm f và v trong ngôn ngữ của chúng ta, nhưng tôi và những người nói tiếng Anh bản ngữ khác lại gặp khó khăn trong việc phát âm các âm tiết nguyên âm và cách nói bằng giọng mũi rất phổ biến trong nhiều ngôn ngữ ở New Guinea. Những âm thanh này bị giảm bớt rõ rệt trong các tiếng bồi của người New Guinea và sau này là trong ngôn ngữ lai Neo-Melanesian phát triển từ đó. Những từ của giai đoạn tiếng bồi đầu tiên có rất nhiều các danh từ, động từ, tính từ nhưng lại thiếu hoặc hầu như không có các mạo từ, trợ động từ, liên từ hay các phó từ. Đối với ngữ pháp, những ngôn ngữ bồi với cách diễn giải điển hình giai đoạn đầu chứa đựng những chuỗi ngắn các từ với rất ít các cấu trúc cụm danh từ, không có quy tắc gì về trật tự từ, không có các mệnh đề bổ trợ cũng như những cách biến đổi đuôi của các từ. Đi kèm với sự nghèo nàn trong ngữ pháp đó là sự đa dạng trong lối nói của một người cũng như giữa mọi người với nhau - dấu ấn đậm nét cho giai đoạn đầu tiên của thứ tiếng bồi này trong đó có sự vô tổ chức, là một thứ ngôn ngữ hoàn toàn nới lỏng. Do tiếng bồi chỉ được sử dụng một cách ngẫu nhiên giữa những người trưởng thành với nhau, trong khi họ vẫn duy trì thứ tiếng bản ngữ của bản thân nên chúng mới chỉ tồn tại một cách dai dẳng ở trạng thái hết sức sơ đẳng, thô sơ. Ví dụ như, một thứ tiếng bồi có tên gọi là Russonorsk được hình thành nhằm giúp cho việc giao tiếp trao đổi hàng hóa giữa những người đánh cá Nga và người Na Uy trở nên thuận tiện hơn khi họ gặp nhau ở Bắc Băng Dương. Thứ ngôn ngữ chung đó tồn tại trong suốt thế kỷ XIX nhưng chưa bao giờ phát triển hơn thế, bởi nó chỉ được dùng để tiến hành những trao đổi mua bán đơn giản trong các cuộc thăm viếng lẫn nhau ngắn ngủi đó. Cả hai nhóm ngư dân đánh cá này đều dành phần lớn thời gian để nói tiếng Nga hay tiếng Na Uy với những người đồng hương của mình. Ở New Guinea, theo khía cạnh khác, thứ tiếng bồi dần dần trở nên phổ biến và phức tạp hơn qua rất nhiều thế hệ bởi vì nó được sử dụng một cách quyết liệt dựa trên nền tảng cuộc sống hằng ngày, nhưng phần lớn con cái những người công nhân New Guinea vẫn tiếp tục học ngôn ngữ gốc gác của cha mẹ chúng như thứ tiếng mẹ đẻ cho đến tận sau Chiến tranh thế giới thứ II.
Tuy nhiên, tiếng bồi phát triển rất nhanh chóng thành thứ ngôn ngữ lai, khi mà một thế hệ của các cộng đồng người cùng đóng góp cho nó bắt đầu chấp nhận chính thứ tiếng ấy như một ngôn ngữ mẹ đẻ của mình (Tôi sẽ tranh luận việc thành viên đặc trưng nào của thế hệ đó tiến hành việc chấp nhận này và tại sao họ lại làm như vậy.) Thế hệ này, sau đó, tự nhận thấy bản thân họ sử dụng tiếng bồi trong tất cả các mục đích xã hội, không chỉ là những tranh luận thông thường về vấn đề trồng trọt hay trao đổi mua bán. So sánh với tiếng bồi, ngôn ngữ lai có vốn từ vựng lớn hơn, ngữ pháp phức tạp hơn và sự ổn định đối với từng cá nhân cũng như giữa những con người với nhau. Ngôn ngữ lai có thể thể hiện gần như trọn vẹn bất cứ ý nghĩ nào có thể thể hiện thành lời qua ngôn ngữ thông thường, trong khi cố gắng để nói được bất cứ điều gì cho dù chỉ đôi chút phức tạp cũng là một khó khăn khủng khiếp đối với tiếng bồi. Không hiểu vì lẽ gì mà không nhờ vào một sự tương tự nào giống với thứ tiếng Pháp chuẩn mực để có thể đề ra những quy tắc chặt chẽ, vậy mà thứ ngôn ngữ bồi vẫn có thể mở rộng và duy trì ổn định rồi sau đó, trở thành một dạng ngôn ngữ khó thay đổi và đầy đủ hơn.
Quá trình lai tạo ngôn ngữ là một thí nghiệm tự nhiên trong tiến hóa ngôn ngữ được diễn ra một cách độc lập hàng vài chục lần trong thế giới hiện đại. Những địa điểm tiến hành các thí nghiệm được phân bố từ vùng đồng bằng Nam Mỹ vượt qua châu Phi tới các quần đảo Thái Bình Dương, ở đó có những người lao động nhập cư với những ngôn ngữ tới từ châu Phi (hay tiếng Bồ Đào Nha), Trung Quốc đến cả các ngôn ngữ New Guinea, những người khai hóa đất đai hùng mạnh là người Anh, người Tây Ban Nha tới cả các những người ở châu Phi và Bồ Đào Nha, trải qua ít nhất là vài thế kỷ, từ thế kỷ XVII tới thế kỷ XX. Điểm nổi bật đó là những kết quả thu được về mặt ngôn ngữ của rất nhiều các thí nghiệm tự nhiên, riêng biệt trên lại cùng chung những điểm tương đồng, cả trong những gì mà chúng thiếu hay những gì chúng có được. Về khía cạnh tiêu cực, ngôn ngữ lai thường đơn giản hơn các ngôn ngữ thông thường do phần lớn các trường hợp thiếu các liên từ giữa thời của động từ và chủ thể, sự giảm sút số lượng danh từ về các sự kiện, số lượng, phần lớn các giới từ và các từ đặc trưng cho mỗi giới. Còn trên khía cạnh tích cực, ngôn ngữ lai vượt xa thứ tiếng bồi về rất nhiều mặt: trật tự từ ít biến đổi, đại từ số nhiều hay số ít của các ngôi thứ nhất, thứ hai hay thứ ba, mệnh đề quan hệ, những câu ẩn chứa các thời của động từ xảy ra trước đó (miêu tả những hành động xảy ra trước thời điểm nói cho dù thời điểm đó có phải là hiện tại hay không), và các mạo từ hay các trợ động từ đứng trước các động từ chính thể hiện sự phủ định, thời của động từ trước đó, cảm xúc đi kèm và tiếp tục như có sự cạnh tranh để đưa tới các hành động hoàn chỉnh. Hơn thế nữa, phần lớn các ngôn ngữ lai chấp nhận việc sắp xếp các chủ ngữ, động từ và tân ngữ của câu theo một trật tự xác định, cũng như chấp nhận về mặt trật tự của các mạo từ và trợ động từ đi trước động từ chính.
Các nhân tố đóng vai trò quan trọng cho sự hội tụ rõ rệt này hiện vẫn đang là đề tài được tranh luận giữa các nhà ngôn ngữ học. Như thể bạn xáo trộn 12 cây bài trong 50 lần từ một cỗ bài rất dễ xáo, và gần như không bao giờ những cây cuối cùng là một con bài cơ hay rô mà phải là một con quy, một con gi và hai con át. Những bằng chứng mà tôi tìm thấy phần lớn thuyết phục theo những gì mà nhà ngôn ngữ học Derek Bickerton, người đã nhận ra rất nhiều điểm tương đồng giữa các ngôn ngữ lai như là kết quả của việc con người chúng ta thừa hưởng một đặc điểm có tính di truyền về mặt ngôn ngữ.
Bickerton khởi nguồn quan điểm của ông từ những nghiên cứu về quá trình lai hóa ngôn ngữ ở đảo Hawaii, nơi những ông chủ đồn điền mía thuê các nhân công từ Trung Quốc, Phillipin, Nhật Bản, Hàn Quốc, Tây Ban Nha và Puerto Rico hồi thế kỷ XIX. Vượt ra khỏi sự hỗn độn về mặt ngôn ngữ ấy và sau đó là sự sáp nhập của Hawaii vào Hợp chúng quốc Hoa Kỳ vào năm 1898, một thứ tiếng bồi dựa trên nền tảng tiếng Anh đã phát triển thành một loại ngôn ngữ lai hoàn chỉnh. Những công nhân nhập cư tự bản thân vẫn duy trì thứ ngôn ngữ của tổ tiên họ. Họ cũng học tiếng bồi như những gì nghe thấy nhưng không làm gì để cải thiện nó mặc cho những thiếu hụt một cách tổng thể của ngôn ngữ này như là một công cụ trong giao tiếp. Tuy nhiên, chính điều đó lại đặt ra một vấn đề rất lớn cho những đứa trẻ là con cái của những người nhập cư tới đảo Hawaii. Ngay cả nếu như những đứa trẻ đó có may mắn tới mức được nghe một thứ tiếng hoàn chỉnh ở nhà bởi cha và mẹ của chúng đều có chung một chủng tộc, nhưng thứ ngôn ngữ tự nhiên đó là hoàn toàn vô dụng khi chúng giao tiếp với những đứa trẻ và người lớn thuộc chủng tộc khác. Rất nhiều đứa trẻ không có được may mắn như vậy, chúng chẳng nghe thấy gì ngoài thứ ngôn ngữ bồi thậm chí ngay cả ở nhà khi cha mẹ chúng tới từ hai chủng tộc khác nhau. Cũng như chúng không có quyền lợi xứng đáng để được học tiếng Anh bởi những rào cản ngôn ngữ đã ngăn cách chúng với bố mẹ và với cả những chủ đồn điền nói tiếng Anh. Biểu hiện ra bên ngoài dưới hình mẫu của một thứ ngôn ngữ của con người hết sức mâu thuẫn và kiệt quệ như một thứ tiếng bồi, những người dân nhập cư vào Hawaii ngẫu nhiên đã “phát triển” thứ tiếng ấy thành một loại ngôn ngữ lai ổn định và phức tạp chỉ trong vòng một thế hệ mà thôi.
Vào giữa thập niên 70 của thế kỷ XX, Bickerton vẫn có thể lần theo những dấu vết lịch sử phát triển của quá trình lai hóa này thông qua các cuộc trò chuyện với những người lao động sinh ra ở Hawaii từ năm 1900 đến năm 1920. Giống như tất cả chúng ta, những con người đó cũng trầy trật sa lầy trong các kỹ năng về ngôn ngữ trong những năm tháng đầu đời nhưng sau đó đã ổn định lại theo cách của họ, do vậy, tiếng nói của họ lúc về già vẫn tiếp tục phản ánh thứ ngôn ngữ được dùng trong giao tiếp xung quanh họ vào thời tuổi trẻ. (Những đứa con của tôi còn quá nhỏ để thắc mắc tại sao tôi cứ khăng khăng gọi là “hộp lạnh” thay vì “cái tủ lạnh”, ngay cả khi hàng nhiều chục năm sau khi cái hộp lạnh mà cha mẹ tôi dùng khi tôi còn nhỏ đã biến mất.) Những người già ở nhiều độ tuổi khác nhau mà Bickerton phỏng vấn vào những năm 1970 đã gần như nhanh chóng mang tới cho ông những phát hiện về rất nhiều các mức độ khác nhau của việc chuyển từ tiếng bồi sang ngôn ngữ lai ở Hawaii, phụ thuộc vào các vấn đề của thời điểm phát sinh.
Theo cách như vậy, Bickerton đã có thể đi tới kết luận rằng sự lai hóa đã bắt đầu vào những năm 1900 và hoàn thành trước năm 1920, được hoàn thiện bởi chính những đứa trẻ trong quá trình chúng tiếp nhận khả năng nói. Chịu ảnh hưởng ấy, những đứa trẻ ở Hawaii thể hiện một dạng biến đổi thí nghiệm của Psammeticus, nhưng không giống như đứa trẻ ở thời đại Psammeticus, những đứa trẻ ở Hawaii vẫn có thể nghe thấy người lớn nói chuyện và còn có khả năng học các từ ngữ. Tuy nhiên, không giống với những đứa trẻ bình thường khác, trẻ em ở Hawaii nghe được rất ít ngữ pháp và những gì mà chúng nghe thấy đều không thống nhất và hết sức sơ khai. Thay vào đó, chúng sáng tạo thứ ngữ pháp của riêng mình. Việc chúng thực sự tạo ra thứ ngữ pháp đó còn hơn là vì một lý do nào đó lại mượn ngữ pháp từ thứ tiếng của người Trung Quốc nhập cư hay tiếng Anh của những tay chủ đồn điền rõ ràng đã giải thích cho rất nhiều các đặc điểm khác biệt của tiếng lai Hawaii so với tiếng Anh gốc cũng như những ngôn ngữ gốc của những người công nhân ở đây. Điều đó cũng hoàn toàn đúng trong trường hợp của tiếng Neo-Melanesian: từ vựng của nó gần giống với tiếng Anh nhưng ngữ pháp thì chứa đựng rất nhiều các đặc điểm hoàn toàn không tồn tại trong tiếng Anh.
Tôi không muốn cường điệu hóa những tương đồng về mặt ngữ pháp giữa những thứ tiếng lai qua việc ám chỉ rằng tất cả chúng rõ ràng là giống nhau. Ngôn ngữ lai biến đổi phụ thuộc vào lịch sử xã hội diễn ra xung quanh quá trình lai hóa - đặc biệt là phụ thuộc vào tỷ lệ ban đầu giữa số lượng của các chủ đồn điền (hay người đến khai phá các vùng đất) và những người công nhân, tỷ lệ này biến đổi với tốc độ nhanh hay chậm và đạt đến mức độ như thế nào, để rồi sau khoảng bao nhiêu thế hệ thì từ một thứ tiếng bồi ở giai đoạn sơ khai có thể dần dần thu nhận sự phức tạp hơn từ những ngôn ngữ đã tồn tại trước đó. Nhưng có rất nhiều điểm tương đồng vẫn còn tồn tại, đặc biệt là với những ngôn ngữ lai phát triển rất nhanh chóng từ những thứ tiếng bồi ở giai đoạn sơ khai đó. Không hiểu vì lẽ gì mà một đứa trẻ từ một ngôn ngữ lai nào đó có thế đi đến sự thống nhất đến vậy, và tại sao những đứa trẻ từ những ngôn ngữ lai khác nhau lại có xu hướng tái phát minh ra những đặc điểm ngữ pháp giống nhau ở rất nhiều khía cạnh đến vậy?
Điều đó không phải là bởi chúng thực hiện việc này một cách dễ dàng hay duy nhất có thể để nghĩ ra một ngôn ngữ. Chẳng hạn như, trong một số tiếng bồi cũng có sử dụng giới từ (những từ ngắn đứng đằng trước danh từ) như tiếng Anh và một số ngôn ngữ khác, nhưng ngoài ra vẫn có những thứ tiếng lại loại bỏ giới từ hay thích sử dụng chúng ở vị trí đằng sau danh từ hơn, hay trong các trường hợp đuôi danh từ nào khác. Một lần nữa, tiếng bồi đã thể hiện sự tương đồng với tiếng Anh trong việc sắp xếp các chủ ngữ, động từ và tân ngữ theo một trật tự nào đó, nhưng việc vay mượn điều này từ tiếng Anh không thể là một lời giải thích thỏa đáng bởi những thứ tiếng bồi bắt nguồn từ các ngôn ngữ khác với các trật tự từ khác vẫn sử dụng trật tự chủ ngữ- động từ- tân ngữ đó.
Những điểm tương đồng này trong các thứ tiếng bồi dường như có thể có nguồn gốc từ một bản mẫu di truyền nào đó mà bộ não con người có được nhằm học tập ngôn ngữ trong suốt giai đoạn ấu thơ. Bản mẫu ấy đã được công nhận rộng rãi kể từ khi nhà ngôn ngữ học Noam Chomsky(42) biện luận rằng cấu trúc của ngôn ngữ loài người là quá phức tạp đối với một đứa trẻ để có thể học được chỉ trong vòng có vài năm, mà không có bất cứ hướng dẫn cụ thể nào. Ví dụ như, ở tuổi lên hai, hai cậu con trai sinh đôi của tôi mới chỉ bắt đầu sử dụng được những từ đơn giản. Và khi tôi viết đến chương này, tức là khoảng 20 tháng sau, chỉ vài tháng trước lần sinh nhật thứ tư của chúng, chúng đã hoàn toàn làm chủ được phần lớn các quy tắc của ngữ pháp tiếng Anh cơ bản, điều mà những người nhập cư khi đã trưởng thành vào các nước nói tiếng Anh rất khó có thể nắm bắt sau hàng chục năm. Thậm chí ngay cả trước khi lên hai, hai đứa con tôi đã học được cách thể hiện ý nghĩa của những từ bi bô rất khó hiểu ban đầu từ những âm thanh của người lớn ở xung quanh khi chúng nghe thấy, để nhận ra những cụm âm tiết hợp thành của các từ và phát hiện ra cụm từ nào có chứa từ gạch chân cho dù có sự sai khác trong cách phát âm của chính bản thân một người lớn và giữa những người đó.
Những khó khăn đó đã thuyết phục Chomsky rằng trẻ em khi học thứ ngôn ngữ đầu đời của chúng phải đối mặt với một nhiệm vụ tưởng như không thể thực hiện nổi trừ khi phần lớn các cấu trúc của ngôn ngữ đó đã được lập trình từ trước trong bản thân mỗi đứa trẻ. Chomsky kết luận rằng chúng ta sinh ra với một thứ “ngữ pháp toàn cầu” đã được lập trình sẵn trong não bộ để đưa ra một trường các hình mẫu ngữ pháp bao gồm những nấc của thứ ngữ pháp trong các ngôn ngữ thực sự. “Ngữ pháp toàn cầu” được lập trình sẵn này có thể ví như một hàng các ổ cắm, mỗi cái lại có rất nhiều các vị trí có thể biến đổi. Vị trí của các phích cắm, sau đó, có thể trở nên phù hợp để kết nối với thứ ngôn ngữ địa phương mà đứa trẻ đang lớn lên đó nghe thấy.
Tuy nhiên, Bickerton đã đi xa hơn so với Chomsky để kết luận rằng chúng ta được lập trình sẵn không chỉ là thứ “ngữ pháp toàn cầu” với các phích cắm có thể biến đổi cho phù hợp mà còn cả một tập hợp đặc trưng của các cách lắp đặt các phích cắm đó. Những sắp đặt xuất hiện rất nhiều lần trong những ngữ pháp của ngôn ngữ lai. Những sắp đặt được lên chương trình sẵn như vậy có thể bỏ qua nếu nó gây nên sự mâu thuẫn với những gì mà một đứa trẻ nghe thấy từ thứ tiếng địa phương có ở xung quanh chúng. Nhưng nếu một đứa trẻ chẳng nghe thấy một sự sắp đặt sẵn trước mang tính chất địa phương nào cả, nó sẽ lớn lên giữa sự hỗn loạn không có cấu trúc của thứ tiếng bồi, lúc ấy những cách sắp đặt của ngôn ngữ lai lại có thể tồn tại được.
Nếu Bickerton đúng khi cho rằng chúng ta thực sự được lập trình sẵn từ khi sinh ra với những sắp xếp của ngôn ngữ lai mà rồi có thể loại bỏ bởi những kinh nghiệm về sau, vậy thì con người cũng có thể kỳ vọng rằng trẻ em học được các đặc điểm giống với ngôn ngữ lai trong thứ tiếng địa phương của chúng từ rất sớm và dễ dàng hơn những đặc điểm đối lập với ngữ pháp của ngôn ngữ lai ấy. Lý do đó có thế giải thích cho khó khăn kinh khủng của một đứa trẻ nói tiếng Anh trong việc thể hiện sự phủ định, chúng khăng khăng giữ lấy cách nói phủ định kép giống như ở ngôn ngữ lai, chẳng hạn như: “Chẳng ai là không nói được điều đó.” Với cùng một lý do ấy cũng có thể giải thích cho những khó khăn của những đứa trẻ nói tiếng Anh với trật tự các từ trong câu hỏi.
Để đi theo ví dụ thứ hai, tiếng Anh nằm trong những ngôn ngữ có sử dụng trật tự của các từ tiếng lai trong các câu miêu tả: chủ ngữ - động từ - tân ngữ, ví dụ như câu: “Tôi muốn uống nước quả”. Rất nhiều thứ tiếng trong đó bao gồm cả ngôn ngữ lai vẫn duy trì trật tự này trong các câu hỏi mà gần như chỉ được phân biệt bởi sự thay đổi âm điệu giọng nói “Bạn muốn uống nước quả?” Tuy nhiên, tiếng Anh không thể hiện các câu hỏi theo cách thức này. Thay vào đó, những câu hỏi của nó sai khác với trật tự từ trong tiếng lai bởi việc đổi chỗ giữa chủ ngữ và động từ (“Where are you? - Bạn đang ở đâu?” chứ không phải là “Where you are?” hay việc đặt chủ ngữ vào giữa trợ động từ như “do” và động từ chính (Do you want juice? - Bạn có muốn uống nước quả không?) Vợ tôi và tôi luôn hướng dẫn các con trật tự ngữ pháp chính xác của những câu hỏi cũng như câu miêu tả từ lúc ban đầu. Các con tôi đã rất nhanh chóng thu nhận trật tự đúng của các câu miêu tả nhưng cả hai vẫn duy trì trật tự sai theo cách nói của ngôn ngữ lai trong các câu hỏi cho dù có tới hàng trăm lần, tôi và vợ đã nêu ra các ví dụ làm mẫu cho chúng hàng ngày. Những ví dụ ngày hôm nay của Max và Josua vẫn bao gồm những câu có trật tự chưa đúng như “Where it is? - Nó ở đâu?” hay “What that letter is? - Chữ đó là gì?”, “What the handle can do?”, hay “What you did with this?” Như thể là chúng vẫn chưa sẵn sàng chấp nhận những bằng chứng thông qua lời nói, bởi chúng vẫn chứng minh rằng những quy tắc được lập trình sẵn giống với ngôn ngữ lai là đúng.
Giờ thì hãy thử đặt tất cả những nghiên cứu trên động vật và con người vào với nhau để cố gắng tạo nên một bức tranh kết dính về cách mà tổ tiên của chúng ta đã tiến hóa từ những tiếng gầm gừ để đi tới những áng thơ tuyệt tác của Shakespeare. Giai đoạn đầu được nghiên cứu kỹ lưỡng trên loài khỉ vervet, với ít nhất mười loại tiếng kêu khác nhau và đều chịu sự kiểm soát chủ động, được dùng trong giao tiếp và có nói đến các vật bên ngoài. Những tiếng kêu này có thể có chức năng một cách tình cờ như những từ, lời giải thích, gợi ý hay tất cả những ý nghĩa trên. Những khó khăn của các nhà khoa học trong việc nhận dạng các tiếng kêu đó chắc chắn là phải cần thêm những sự nhận dạng nữa, nhưng chúng ta vẫn chưa biết thực sự vốn từ của loài khỉ này lớn đến mức nào. Chúng ta cũng không biết những loài vật khác đã tiến hóa vượt trên loài khỉ vervet này với khoảng cách bao xa, bởi những trao đổi bằng âm thanh trong mỗi loài phần lớn còn bị che phủ nhiều hơn cả loài khỉ vervet, loài tinh tinh thường và tinh tinh lùn vẫn chưa được nghiên cứu cẩn thận trong thiên nhiên. ít nhất là trong các khu vực thí nghiệm, các loài động vật nhân hình có thể nắm bắt được hàng trăm biểu tượng mà con người dạy chúng, gợi ý cho chúng ta rằng chúng có thể có những công cụ trí tuệ cần thiết để học tập được những biểu tượng của bản thân.
Những câu đơn lẻ của một đứa trẻ chập chững biết đi như ‘“nước quả” được con trai Max của tôi nói ra, chứa đựng một bước chuyển mới vượt xa so với những tiếng gầm gừ của các loài động vật. Cũng giống như tiếng kêu của khỉ vervet, tiếng “nước quả” của Max cũng có chức năng như một sự kết hợp giữa các từ, một lời giải thích hay một đề nghị nào đó. Nhưng Max đã tạo nên một tiến bộ vượt bậc so với các loài khỉ vervet bởi việc thể hiện từ “nước quả” được tạo thành từ những đơn vị của nguyên âm và phụ âm ngắn hơn, qua đó đánh giá được mức độ thấp nhất của tô chức ngôn ngữ phù hợp. Một vài chục những đơn vị ngữ âm đó có thể bị xáo trộn để tạo nên một lượng rất lớn các từ, ví dụ như là 142.000 từ trong cuốn từ điển tiếng Anh để bàn của tôi. Những nguyên tắc của tổ chức phù hợp đó khiến cho chúng ta nhận ra những khác biệt xa hơn nữa so với những gì mà loài khỉ vervet có thể làm được. Ví dụ như, chúng chỉ mới gọi tên của sáu loài khác nhau, trong khi chúng ta có thể nhắc tới gần 2.000.000 loài.
Một bước tiến dài hơn để tới được với kiệt tác của Shakespeare được minh chứng bởi đứa trẻ chỉ mới hai tuổi, mà trong xã hội loài người tiến bộ một cách ngẫu nhiên từ giai đoạn chỉ nói được một từ đơn lẻ tới hai từ và cuối cùng là rất nhiều từ khác nhau. Nhưng những lời nói bao gồm rất nhiều từ ấy vẫn chỉ là một chuỗi các từ với rất ít cấu trúc ngữ pháp và từ của chúng vẫn chỉ là danh từ, động từ và tính từ với những vật được nói đến rất cụ thể. Như Bickerton đã chỉ ra, những chuỗi từ như trên giống với những tiếng bồi mà những người lớn tái phát hiện một cách ngẫu nhiên khi cần thiết. Chúng cũng giống với hàng loạt những biểu tượng được tạo ra bởi những loài vượn bị giam cầm, những con đã được chúng ta hướng dẫn cách sử dụng các biểu tượng đó.
Từ những thứ tiếng bồi cho tới ngôn ngữ lai, hay là từ những chuỗi các từ của một cậu bé hai tuổi tói những câu hoàn chỉnh của đứa bé bốn tuổi, là một bước tiến nhảy vọt. Trong bước nhảy vọt đó, cộng thêm vào đó là các từ không có những yếu tố bên ngoài và thực hiện những chức năng hoàn toàn chỉ mang tính chất ngữ pháp, các nhân tố ngữ pháp như những trật tự từ, các tiền tố và hậu tố, và sự biến đổi từ các từ gốc, những cấp bậc cao hơn nữa của các tổ chức có thứ bậc để tạo nên các cụm danh từ và các câu. Phải chăng bước nhảy đó đã thúc đẩy Bước Nhảy Vọt Vĩ Đại từng được đề cập trong phần trước ở cuốn sách này. Tuy nhiên, những ngôn ngữ lai được tái phát minh trong thời hiện đại vẫn mang lại cho chúng ta những manh mối về việc bằng cách nào những tiến bộ này được phát sinh, cho dù vẫn còn những cách nói vòng vo trong thứ tiếng lai đó để thể hiện giới từ và những nhân tố ngữ pháp khác.
Nếu bạn so sánh một mẩu quảng cáo bằng ngôn ngữ Neo-Melanesian dưới đây với những đoạn thơ ngắn của Shakespeare, bạn có thể kết luận rằng vẫn còn tồn tại một khoảng cách lớn giữa chúng. Sự thật là, tôi có thể nói rằng, với những quảng cáo kiểu “Kam insait long stua bilong mipela…”, chúng ta đã đi được tới 99% chặng đường từ những tiếng kêu của loài khỉ vervet tới ngôn ngữ văn học của Shakespeare. Ngôn ngữ lai đã hoàn toàn chứa đựng những thứ ngôn ngữ có khả năng biểu đạt phức tạp. Ví dụ như tiếng Indonesia đã được hình thành từ thứ ngôn ngữ lai để trở thành tiếng nói được sử dụng trong giao tiếp và ngôn ngữ quốc gia ở đất nước đông dân thứ năm thế giới đó, nó còn là phương tiện cho văn chương thực sự.
Do đó, giao tiếp ở loài vật và ngôn ngữ của con người một lần nữa dường như bị phân tách bởi một hố sâu không thể vượt qua nổi. Giờ chúng ta đã nhận diện được không chỉ những phần của những cây cầu bắt đầu từ mỗi bên, nhưng cũng có hàng loạt những hòn đảo nhỏ và từng phần của chiếc cầu đã được sắp đặt ngang qua hố sâu đó. Chúng ta bắt đầu hiểu ra qua những nét chấm phá lớn về việc làm thế nào những thuộc tính độc nhất và vô cùng quan trọng nhằm phân biệt giữa con người và loài vật lại có thể khởi nguồn từ tổ tiên động vật của chúng ta.
TIẾNG NEO-MELANESIAN, VỚI MỘT BÀI HỌC ĐƠN GIẢN :
Hãy thử hiểu một mẩu quảng cáo cho một cửa hàng tạp hóa được viết bằng thứ tiếng Neo-Melanesian dưới đây:
Kam insalt long stua bilong mipela - stua bilong salim olgeta samting - mipela i-ken heipitn yu long kisim ivanem samting yu laikim bikpela na liklik long gutpela prais. I-gat gutpela kain kago long baiim na i-gat stap long helpem yu na lukautim yu long taim yu kam insait long dispela stua.
Nếu một vài từ trong số trên trông có vẻ gần gũi một cách đáng ngạc nhiên với bạn nhưng không mang lại ý nghĩa gì nhiều, hãy thử tự mình đọc mẩu quảng cáo thật to, nhấn mạnh vào các âm thanh và bỏ qua những cách phát âm lạ lẫm. Ở bước tiếp theo, cũng vẫn là lời quảng cáo đó nhưng đã được viết lại bằng thứ tiếng Anh đánh vần:
Come inside long store belong me-fellow - store belong Selim altogether something - me-fellow can helpem you long catchim what-name something you likim, big-fellow na liklik, long good-fellow price. He-got good-fellow kind cargo long buyim, na he-got staff long helpem you na lookoutim you long time you come inside long this-fellow store.
Với một vài lời giải thích có thể giúp bạn hiểu nốt những điểm còn xa lạ. Phần lớn các từ trong thí dụ về tiếng Neo-Melanesian này có nguồn gốc từ tiếng Anh, ngoại trừ từ “liklik” là dùng cho từ “little” (nghĩa là nhỏ bé) có nguồn gốc từ thứ tiếng New Guinea bản địa (tiếng Tolai). Neo-Melanesian chỉ có đúng hai loại giới từ đó là “bilong” có nghĩa là “of” (của) hay “in order to” (nhằm để) và “long” mà nghĩa của từ này thay thế cho phần lớn các giới từ khác trong tiếng Anh. Phụ âm “f” trong tiếng Anh trở thành “p” trong tiếng Neo-Melanesian, do đó gọi là “stap” chứ không phải là “staff” và “pela” dùng cho “fellow”. Hậu tố “-pela” thêm vào các tính từ đơn âm tiết (như “gutpela” dùng thay cho “good” (tốt) hay “bikpela” dùng thay cho “big” (lớn) và cũng như khiến cho đại từ đơn “tôi” và “bạn” trở thành những đại từ số nhiều (cho trường hợp “chúng tôi” và “các bạn” số nhiều). “Na” có nghĩa là “và”. Và như vậy quảng cáo trên có nghĩa là:
Come into our store - store selling everything - we can help you get whatever you want, big and small, at a good price. There are good types of goods for sale, and staff to help you and look after you when you visit the store. (Hãy đến với cửa hàng của chúng tôi, một gian hàng bày bán tất cả mọi thứ, chúng tôi có thể giúp bạn mua bất cứ thứ gì bạn muốn, to hay nhỏ, với một mức giá rất phải chăng. Ở đây còn có những món hàng rất tốt được bán giảm giá, và đội ngũ nhân viên bán hàng luôn giúp đỡ và chăm sóc cho bạn khi bạn tới thăm cửa hàng.)