Loài Tinh Tinh Thứ Ba

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 90 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 9 Nghệ Thuật: Nguồn Gốc Từ Động Vật
Chương 9 Nghệ Thuật: Nguồn Gốc Từ Động Vật

❊ ❊ ❊

Những bức tranh của Georgia O’Keeffe phải chờ đợi rất lâu mới có thể thu hút được sự chú ý của mọi người dành cho tác giả, nhưng các bức vẽ của Siri thì ngay lập tức nhận được sự hoan nghênh khi những nghệ sỹ có hiểu biết nhìn thấy chúng. “Chúng quả là có một sự nhạy bén, quả quyết và độc đáo hết sức” - đó chính là phản ứng đầu tiên của họa sỹ trường phái ấn tượng Willem de Kooning. Jerome Witkin, chuyên gia của chủ nghĩa biểu hiện trừu tượng, người đang giảng dạy nghệ thuật tại Đại học Syracuse, thậm chí còn hào hứng hơn thế: “Những bức tranh này thật sự rất mê hoặc lòng người và rất, rất đẹp. Chúng quá lạc quan, quả quyết pha lẫn sự hồi hộp, năng lượng đã được dồn nén và điều khiển, thật đúng là không thể tin được… Những bức tranh quá đẹp và tinh tế… Chúng thể hiện một sự nắm bắt đặc điểm cốt lõi, quan trọng nhất tạo nên cảm xúc cho bức tranh.”

Witkin còn khen ngợi Siri trong việc cân bằng giữa những khoảng màu sáng - tối, và sự sắp đặt cũng như là định hướng của những hình ảnh. Quan sát những bức tranh nhưng không biết ai là tác giả của bức vẽ, ông đã đoán chính xác rằng họa sỹ vẽ chúng phải thuộc giới nữ và có sự quan tâm đặc biệt tới nghệ thuật thư pháp Á Đông. Nhưng Witkin không thể đoán nổi rằng Siri chính là một con vật cao 2,4 mét và nặng tới bốn tấn. Nó chính là một chú voi châu Á đã vẽ tranh bằng cách cuộn bút chì vào vòi của mình.

Phản ứng của De Kooming khi được nói cho biết về nguồn gốc của Siri là: “Đó quả là một con voi cực kỳ thông minh.” Thực ra, Siri cũng không khác biệt gì so với những chuẩn mực thông thường của loài voi. Những con voi hoang dã thường sử dụng vòi của chúng để vẽ nên những chuyển động trong lớp cát bụi, trong khi những con bị giam cầm thì lại thường bất chợt nguệch ngoạc nên những ký hiệu trên nền đất với một cái gậy hay hòn đá. Treo trong văn phòng của rất nhiều bác sỹ hay luật sư chính là những bức vẽ của một con voi có tên Carol, mà hàng chục bức trong số đó được bán với giá lên tới 500 đô la Mỹ.

Thử cho rằng, nghệ thuật - đặc điểm rõ ràng là cao quý nhất của loài người - một trong những điều tách chúng ta ra khỏi thế giới loài vật, ít nhất là cũng rõ rệt như thứ tiếng nói của con người, do sự khác biệt trong cách thức cơ bản xuất phát từ bất cứ điều gì mà loài vật có thể làm được. Nghệ thuật được đánh giá thậm chí còn cao quý hơn cả ngôn ngữ, do ngôn ngữ “chỉ” mới thực sự là tiến bộ cực kỳ phức tạp so với các hệ thống trao đổi thông tin của loài vật, thực hiện chức năng sinh học hiển nhiên trong việc giúp cho con người sống sót và phát triển rõ rệt từ những âm thanh được tạo ra bởi các loài động vật nhân hình khác. Trái ngược lại, nghệ thuật không thực hiện một chức năng rõ rệt nào, và nguồn gốc của nó được coi như là một bí ẩn siêu nhiên. Nhưng hiển nhiên là, nghệ thuật ở loài voi có thể cho ta những gợi ý về nghệ thuật của bản thân chúng ta. Ở mức độ tối thiểu nhất, đó là một hoạt động cơ học gần gũi tạo ra những sản phẩm mà ngay cả các chuyên gia cũng không thể phân biệt nổi so với những tác phẩm của loài người được công nhận là chứa đựng nghệ thuật trong đó. Tất nhiên, cũng có những khác biệt rất lớn giữa nghệ thuật của Siri so với chúng ta, không chỉ là việc Siri không cố gắng truyền tải thông điệp của mình tới những con voi khác. Tuy nhiên, chúng ta không thể coi nghệ thuật của con voi này như một thói quen của một con vật khổng lồ đơn lẻ nào đó.

Trong chương này, tôi sẽ vượt xa hơn những chú voi trong việc kiểm tra các hành vi mang hơi hướng nghệ thuật của một số loài vật khác. Tôi tin rằng những sự so sánh như vậy có thể giúp chúng ta hiểu được những chức năng bản chất của nghệ thuật ở loài người. Cho dù chúng ta thường coi nghệ thuật như một sự đối lập với khoa học, nhưng thực sự cũng tồn tại một khoa học của nghệ thuật.

Nhằm hiểu rõ rằng nghệ thuật của con người chắc hẳn phải có những động vật tiền thân, hãy nhớ lại rằng chỉ khoảng 7.000.000 năm trước đây, con người đã tách ra khỏi họ hàng gần gũi nhất của mình là loài tinh tinh. 7.000.000 năm nghe có vẻ rất dài nếu đem so sánh với đời của một con người, nhưng nó chỉ chiếm có 1% trong lịch sử phức tạp của sự sống trên Trái đất. Chúng ta vẫn giống tới 98% về đặc điểm bộ gen so với loài tinh tinh. Do đó, nghệ thuật và một vài đặc điểm khác nữa mà chúng ta coi như chỉ tồn tại duy nhất ở loài người chắc hẳn phải thuộc về phần bé nhỏ ấy của bộ gen chúng ta. Chúng chắc chỉ xuất hiện một vài khoảnh khắc trước trong chiếc đồng hồ tiến hóa của Trái đất.

Những nghiên cứu hiện đại nhất về hành vi của động vật đã rút ngắn lại bảng danh sách những đặc điểm trước đó được coi là độc nhất chỉ có ở loài người, và những điều tưởng như là khác biệt lớn nhất giữa con người và những thứ gọi là động vật giờ đây thể hiện chỉ còn là vấn đề mức độ biểu hiện mà thôi. Chẳng hạn như, tôi đã miêu tả trong chương trước cách mà loài khỉ vervet có được thứ ngôn ngữ sơ khai nhất. Bạn có thể không coi loài dơi quỷ có sự gần gũi với chúng ta về sự cao quý, nhưng chúng đã cho thấy chúng thường xuyên thực hiện những hành động vị tha một cách tương hỗ (tất nhiên là với những con dơi quỷ khác). Trong số những đặc điểm xấu xa hơn của chúng ta, tội giết hại đồng loại được dẫn chứng bằng tài liệu có ở rất nhiều loài động vật, tội ác diệt chủng thì thấy xuất hiện ở loài sói và các động vật nhân hình, sự cưỡng dâm xảy ra ở vịt và loài đười ươi, và khả năng tiến hành cuộc chiến tranh có tổ chức cũng như chiếm đoạt nô lệ còn thấy xuất hiện ở cả loài kiến.

Do những khác biệt hoàn toàn giữa chúng ta và động vật, những phát hiện đó đã lấy đi của con người một vài đặc tính nữa bên cạnh nghệ thuật, đặc tính mà chúng ta đã thành công trong việc miễn trừ trong vòng 6.960.000 năm của toàn bộ 7.000.000 năm từ khi chúng ta tách ra khỏi loài tinh tinh. Có lẽ, dạng nghệ thuật sớm nhất đó chính là khắc gỗ và vẽ lên cơ thể, nhưng chúng ta không thể biết được bởi chúng không còn được lưu giữ cho đến ngày nay. Gợi ý đầu tiên còn được bảo tồn cho đến ngày hôm nay về nghệ thuật của loài người đó chính là những hóa thạch của các bông hoa có ở xung quanh xương của người Neanderthal và những hình vẽ nguệch ngoạc lên những mảnh xương động vật gần chỗ ở của người Neanderthal. Tuy nhiên, lời giải thích rằng chúng đã được sắp xếp hay vẽ một cách có chủ ý vẫn đang gây ra những nghi ngờ. Không phải chỉ tới giai đoạn của người Cro-Magnon, bắt đầu cách đây khoảng 40.000 năm, chúng ta mới tìm thấy những bằng chứng rõ ràng đầu tiên về nghệ thuật, vẫn còn sót lại cho tới nay trong hình ảnh của những bức tranh khắc nổi tiếng trên hang động ở Lascaux, những bức tượng, vòng cổ, sáo và rất nhiều nhạc cụ khác nữa.

Nếu chúng ta sắp sửa tuyên bố rằng nghệ thuật thật sự chỉ tồn tại ở con người, vậy bằng cách nào chúng ta có thể nói nó là khác biệt so với những tác phẩm nông cạn, hời hợt tương tự của các loài động vật như tiếng chim hót chẳng hạn? Có ba điểm khác biệt luôn được đặt lên trước tiên, đó là: nghệ thuật của loài người không mang tính vật chất, tức là nó chỉ là niềm vui thích vẻ đẹp, và nó được truyền đạt thông qua quá trình học tập nhiều hơn qua di truyền rất nhiều. Hãy cùng xem xét kỹ lại những tuyên bố trên một cách cẩn thận hơn.

Đầu tiên, như Oscar Wilde(43)nhận xét: “Tất cả nghệ thuật đều hoàn toàn vô dụng.” Ý nghĩa tiềm ẩn mà một nhà sinh vật học có thể nhìn thấy bên dưới sự châm biếm sâu cay đó là nghệ thuật chẳng có tính thiết thực nào trong sinh học tiến hóa. Đó là vì, nghệ thuật của loài người không giúp chúng ta sống sót hay truyền đạt được các thông tin di truyền, những chức năng hoàn toàn có thể nhìn thấy trong phần lớn hành vi cư xử của động vật. Tất nhiên, phần lớn nghệ thuật của loài người là có lợi ích theo cách nhìn nhận rộng hơn rằng các nghệ sỹ muốn truyền đạt điều gì đó cho những người xung quanh thông qua tác phẩm của họ, nhưng truyền đạt tư tưởng của một ai đó cho thế hệ kế tiếp không giống với việc truyền đạt vốn gen. Ngược lại, những tiếng chim hót còn phục vụ cho một mục đích rõ ràng hơn đó là tán tỉnh bạn tình, bảo vệ lãnh thổ và qua đó truyền đạt nguồn gen.

Với lời tuyên bố thứ hai, rằng nghệ thuật của con người, thay vào đó, được thúc đẩy bởi niềm vui thích trước vẻ đẹp, một cuốn từ điển đã định nghĩa nghệ thuật như sau: “đó là việc thực hiện hay tạo nên những thứ câu thành hình thức hay vẻ đẹp bên ngoài”. Trong khi chúng ta không thể hỏi những chú chim nhại tiếng hay loài sơn ca nếu chúng cũng tương tự yêu thích vẻ đẹp của hình thức hay nét đẹp trong những lời ca của nó, thì lại thật đáng nghi ngờ khi chúng hót chủ yếu trong suốt mùa sinh sản. Do vậy, chắc rằng chúng không thể hót chỉ vì mục đích yêu thích cái đẹp.

Trong sự khác biệt ở nghệ thuật của loài người như lời tuyên bố thứ ba, mỗi nhóm người lại có những phong cách nghệ thuật riêng biệt, và kiến thức về việc làm thế nào để tạo nên cũng như tận hưởng phong cách đặc trưng đó cần phải được học hỏi. Ví dụ như, thật dễ dàng để có thể phân biệt những bài hát điển hình hiện đang được hát ở Tokyo và ở Paris. Nhưng những khác biệt về phong cách đó không được quy định chặt chẽ bởi gen của chúng ta, như sự khác biệt giữa mắt của người Nhật Bản và người Paris. Cả hai nhóm người trên có thể và thường xuyên ghé thăm thành phố của nhau và học cả những bài hát của nhóm còn lại. Ngược lại, rất nhiều loài chim (còn được gọi là những con chim không thuộc bộ sẻ) được thừa hưởng những kiến thức để làm sao tạo ra và phản ứng lại trước những giọng hót đặc trưng cho giống loài của nó. Mỗi con chim trong số này có thể hót nên những khúc ca đúng ngay cả khi chúng chưa từng nghe thấy, hay thậm chí là cả khi chúng chỉ nghe thấy những giọng hót của các loài khác mà thôi. Điều này như thể một đứa trẻ người Pháp được một cặp vợ chồng Nhật Bản nhận nuôi, trải qua tuổi thơ ở Tokyo và được dạy dỗ ở đây, đột nhiên hát lên bài hát quốc ca của Pháp “La Marseillaise”.

Về điểm này, có vẻ chúng ta cách xa hàng trăm năm ánh sáng với nghệ thuật của loài voi. Voi thậm chí còn không gần gũi với chúng ta về mặt tiến hóa. Điều có liên quan tới chúng ta nhiều hơn đó là những tác phẩm nghệ thuật được vẽ bởi hai chú tinh tinh nuôi nhốt Congo và Betsy, một chú gorilla tên là Sophie, một chú đười ươi có tên Alexandre và một chú khỉ có tên là Paublo. Những động vật linh trưởng này sử dụng thành thục các phương tiện đa dạng để vẽ từ chổi vẽ, tới việc vẽ bằng tay, rồi bút chì, phân hay ngay cả bút sáp. Congo đã vẽ được tới 33 bức tranh trong một ngày, dường như là để tự thỏa mãn bản thân, do chú không bao giờ khoe tác phẩm của mình cho những con tinh tinh khác và nổi cơn thịnh nộ ghê gớm khi bút chì của chú bị lấy mất. Với người họa sỹ, những bằng chứng cuối cùng của sự thành công đó là một cuộc triển lãm các tác phẩm của chính họ, nhưng Congo và Betsy đã được vinh danh trong một cuộc triển lãm các tác phẩm của hai chú tinh tinh này vào năm 1957 ở Viện Nghệ thuật Đương đại London. Năm sau, Congo lại có một triển lãm của riêng mình nó tại đại sảnh của Đại hội Hoàng gia London. Thêm nữa, hầu như tất cả những bức tranh được trưng bày trong các triển lãm của những chú tinh tinh đó đều đã được bán (cho những người mua là con người); rất nhiều những nghệ sỹ không thể có được tiếng vang như thế. Vẫn có những bức tranh được các họa sỹ thuộc nhóm động vật nhân hình khác vẽ nên đã được gian lận mang tới trưng bày tại các cuộc triển lãm của những người họa sỹ - con người và được khen ngợi một cách hết sức hào hứng bởi các nhà phê bình nghệ thuật không chút nghi ngờ về nội lực, nhịp điệu và ý nghĩa của sự cân bằng của những bức tranh này.

Việc không có chút mảy may nghi ngờ tương tự cũng xảy ra với những nhà tâm lý học trẻ em khi được xem những bức tranh do những chú tinh tinh từ sở thú Baltimore vẽ và được hỏi để phỏng đoán những vấn đề tâm lý của tác giả bức vẽ. Những nhà tâm lý học đoán rằng một bức tranh của chú tinh tinh đực ba tuổi được thay bằng một cậu bé khoảng 7-8 tuổi hung hăng có khuynh hướng hoang tưởng. Hai bức tranh của cùng một con tinh tinh cái một tuổi được cho là của bé gái mười tuổi, một bức thể hiện một bé gái ham thích chiến tranh - một kiểu rối loạn thần kinh, còn bức tranh kia thể hiện một cô bé mắc chứng hoang tưởng có những đặc điểm rất giống với cha của nó. Quả thực phải ngưỡng mộ những nhà tâm lý học về cách nhìn thấu sự việc do họ luôn có thể nhận biết qua trực giác chính xác về giới tính của tác giả bức tranh, họ chỉ nhầm về giống loài của những tác giả đó mà thôi.

Những bức tranh của họ hàng gần nhất với chúng ta bắt đầu làm lu mờ dần sự khác biệt giữa nghệ thuật của loài người và các hoạt động của động vật. Giống như những bức tranh của con người, bức tranh của các loài động vật nhân hình cũng không phục vụ cho một chức năng có lợi ích thiết thực nào về việc truyền đạt nguồn gen, mà thay vào đó chỉ được vẽ nên nhằm thỏa mãn bản thân mà thôi. Ai đó có thể phản đối rằng các nghệ sỹ loài vượn đó, cũng giống như chú voi Siri, tạo ra các bức tranh chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu bản thân, trong khi mục đích của phần lớn các họa sỹ con người là để chuyện trò, trao đổi thông tin với những người khác. Những con vượn thậm chí còn không giữ lại những bức vẽ của mình để thưởng thức mà chỉ muốn vứt chúng đi. Nhưng lý lẽ phản đối đó không khiến cho tôi bị thuyết phục, do những tác phẩm nghệ thuật sơ khai đầu tiên của loài người (những nét vẽ nguệch ngoạc) cũng thường bị bỏ đi, và do một trong những tác phẩm nghệ thuật ấy mà tôi có được là một miếng gỗ được một người dân ở New Gunea khắc, người đã chôn nó xuống dưới đất trong nhà của anh ta sau khi khắc nên nó. Ngay cả những tác phẩm nghệ thuật sau này trở nên nổi tiếng cũng được các nghệ sỹ tạo ra cho sự thỏa mãn riêng tư: nhà soạn nhạc Charles Ives(44) chỉ công bố một phần rất ít trong những tác phẩm của ông, còn Frank Kafka(45) thì không chỉ không xuất bản cả ba cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của ông mà thậm chí còn cấm những cộng sự dưới quyền làm điều đó. (May mắn là, những người dưới quyền của ông đã không nghe lời, do đó, buộc những tác phẩm của Kafka phải có tiếng nói của chúng sau khi ông qua đời.)

Tuy nhiên, cũng có những phản đối quyết liệt hơn chống lại những tuyên bố về một sự tương xứng giữa nghệ thuật của những loài động vật nhân hình và con người. Những bức tranh của các chú vượn chỉ là một hành động không mang tính tự nhiên của động vật bị giam hãm, nó không thể nào phản ánh nguồn gốc của nghệ thuật ở động vật. Do đó, hãy thử chuyển sang những hành vi cư xử hoàn toàn tự nhiên không thể chối bỏ và rõ ràng như: việc loài chim bower xây tổ, một cấu trúc phức tạp và tinh vi nhất từng được xây dựng và trang trí mà không phải dưới bàn tay của con người.

Nếu tôi vẫn chưa được kể về chiếc tổ của loài chim bower, tôi chắc sẽ mắc phải sai lầm khi lần đầu tiên nhìn thấy nó. Chiếc tổ trông như một thứ do những người đi khai phá vào thế kỷ XIX làm ra ở New Guinea. Tôi đã khởi hành sáng hôm đó từ một ngôi làng của người New Guinea có những chiếc lều hình tròn, những luống hoa gọn gàng, và mọi người đàn ông đều sở hữu những bộ râu được tỉa tót rất đẹp, những chiếc cung và tên được những trẻ em trong làng đeo bắt chước những thứ tương tự nhưng to hơn của cha chúng. Đột nhiên, từ trong rùng sâu, tôi thấy vụt qua một chiếc lều tròn được đan tuyệt đẹp với đường kính khoảng 2,4 mét, và cao trên một mét, có một cánh cửa ra vào đủ cho một đứa trẻ có thể chui vào và ngồi trong đó. Phía trước của chiếc lều là một đám rêu xanh, không hề có rác rưởi ngoại trừ hàng trăm những đồ vật tự nhiên với rất nhiều màu sắc khác nhau mà rõ ràng được đặt ở đó nhằm mục đích trang trí. Chúng bao gồm chủ yếu là hoa, các loại quà và lá cây nhưng cũng có một số cánh bướm và có cả nấm nữa. Những đồ vật có màu sắc tương tự được đặt nhóm vào với nhau chẳng hạn như những loại quả đỏ xếp cạnh nhóm những chiếc lá đỏ. Nhưng vật trang trí lớn nhất chính là một chiếc cột rất cao của loài nấm đen được dựa vào cửa, với một chiếc cột khác có loài nấm da cam nằm cách đó khoảng vài mét tính từ cửa. Tất cả những vật có màu xanh da trời đều được tập hợp vào bên trong của chiếc lều, màu đỏ thì ở bên ngoài, còn tất cả những màu như vàng, hồng tía, đen và một vài thứ màu xanh lục thì được đặt vào các vị trí khác nhau.

Chiếc lều đó không phải là một chỗ chơi cho trẻ con. Thay vào đó, nó được dựng lên và trang trí bởi một sinh vật khác - một loài chim không gây ấn tượng đặc biệt, có kích thước chi bằng chiếc bình, được gọi là loài chim bower, một thành viên trong một họ gồm 18 loài được nhận diện ở New Guinea và Australia. Những ngôi nhà của loài chim này được dựng lên bởi những con chim trống dùng cho một mục đích duy nhât là quyến rũ những con cái, mà sau đó, chính những con cái này sẽ phải thực hiện trách nhiệm một mình trong việc xây tổ và nuôi dưỡng con non. Những con đực là loài đa thê, cố gắng quan hệ với càng nhiều con cái càng tốt, và cung cấp cho những bạn tình của mình không gì khác ngoài tinh trùng. Các con cái, thường sống thành nhóm, có một cuộc dạo chơi xung quanh ngôi nhà và kiểm tra tất cả những ngôi nhà ở gần đó trước khi quyết định xem sẽ giao phối với con đực nào. Việc trình diễn những cảnh tương tự ở loài người diễn ra vào mỗi tối ở Sunset Strip, chỉ cách nhà tôi ở Los Angeles có một vài dặm mà thôi.

Những con chim cái của loài chim bower lựa chọn bạn tình của mình thông qua chất lượng của ngôi nhà của con chim đực đó, số lượng của những vật dụng trang trí, những điểm phù hợp của ngôi nhà so với luật lệ trong vùng, mà những điều này thì thay đổi rất nhiều giữa những loài và các quần thể của loài chim bower. Một vài quần thể thích những vật trang trí có màu xanh da trời hơn, trong khi những quần thể khác lại thích màu đỏ, xanh lục hay xám, một vài nhóm còn thay thế chiếc lều bằng những chiếc tháp cao từ một đến hai tầng, hay một con đường trồng cây hai bên, hay thậm chí là một chiếc hộp dán kín bốn phía. Cũng có những quần thể đã sơn ngôi nhà của chúng bằng những chiếc lá được ép xuống hay bằng những tinh dầu mà tự chúng tiết ra. Những khác biệt về mặt địa phương trong luật lệ này xuất hiện không cố định trong gen của loài bower. Thay vào đó, chúng được học tập thông qua những con chim non quan sát những con lớn hơn trong nhiều năm liền để một con chim thuộc loài bower đạt đến độ trưởng thành. Những con đực học cách thức đúng đắn, có tính địa phương nhằm thực hiện việc trang trí, trong khi những con cái học những quy tắc giống như vậy cho mục đích lựa chọn bạn tình.

Đầu tiên, hệ thống này khiến chúng ta thấy nó kỳ cục. Nhưng rốt cuộc, điều mà một con chim bower cái cố gắng thực hiện đó là lựa chọn được một người bạn tình tốt. Kẻ chiến thắng về mặt tiến hóa trong cuộc cạnh tranh lựa chọn bạn tình như thế là một con chim bower cái lựa chọn được một con chim đực có thể tạo điều kiện cho nó sinh sản được số lượng con non sống sót cao nhất. Điều gì tốt đẹp khiến cho con cái lựa chọn bạn tình trang trí tổ ấm của nó với những loại quả màu xanh?

Tất cả các động vật, kể cả loài người, phải đối mặt với những vấn đề tương tự trong việc lựa chọn bạn đời. Thử xem xét tới những loài (ví dụ như phần lớn các loài chim biết hót ở châu Âu và Bắc Mỹ), trong đó, con đực xâm chiếm những phần lãnh thổ độc quyền của nhau mà con đực chia sẻ nó cùng với người bạn tình của mình. Phần lãnh thổ này bao gồm vị trí đặt tô và nguồn thức ăn dành cho con cái sử dụng trong quá trình nuôi con. Do đó, một trong những nhiệm vụ của con cái đó là đánh giá chất lượng phần lãnh thổ của mỗi con đực. Hay thử cho rằng, những con đực tự bản thân nó cũng sẽ giúp đỡ trong việc nuôi dưỡng và bảo vệ các con non, và trong cả việc phối hợp để cùng săn mồi với con cái. Vì thế, cả con đực và con cái phải quyết định vai trò làm cha hoặc làm mẹ của con còn lại, và những kỹ thuật săn mồi cũng như bản chất mối quan hệ giữa chúng. Tất cả những điều đó là quá đủ để có thể quyết định, nhưng thậm chí là còn khó khăn hơn cho con cái trong việc lựa chọn người bạn đời khi mà con đực đó chẳng cống hiến gì ngoài tinh trùng và nguồn gen của bản thân, so với trường hợp của những con chim bower đực kia. Trên Trái đất này, một con vật có thể quyết định vốn gen của người bạn tình có triển vọng bằng cách nào, và liệu rằng những thứ đổ màu xanh thì có liên quan gì tới những gen tốt hay không?

Các loài động vật không có thời gian để sinh ra mười con non với mỗi một con bạn tình triển vọng của mình, và so sánh giữa số con sinh ra (tức là số lượng cuối cùng các con non sống sót). Thay vào đó, chúng phải sử dụng tới cách thức nhanh hơn bằng việc dựa trên những dấu hiệu quyến rũ bạn tình như các khúc ca hay các trình diễn có tính lễ nghi. Giờ đây, việc hiểu tại sao, hay thậm chí là khi nào, những dấu hiệu quyến rũ bạn tình có chức năng như là những đặc điểm biểu thị cho những gen tốt là một vấn đề cạnh tranh nóng bỏng nhất trong hành vi của động vật. Chúng ta chỉ có thể phản ánh những khó khăn riêng của bản thân trong việc lựa chọn bạn tình và quyết định tài sản thực tế, kỹ năng làm cha mẹ, và chất lượng của vốn gen trong vô số những người mà ta đang tìm hiểu để đi tới hôn nhân.

Điều này sẽ soi rọi và phản ánh ý nghĩa khi một con chim bower cái tìm thấy một con đực với ngôi nhà rất đẹp của nó. Ngay lập tức, nó biết rằng con đực kia là mạnh khỏe, do chiếc tổ âm mà con đực xây dựng có trọng lượng nặng tới cả trăm lần trọng lượng cơ thể của con đực đó, và do nó còn phải tha lôi về rất nhiều những vật trang trí nặng cũng bằng nửa cơ thể nó từ những điểm cách xa đó hàng vài trăm mét. Con cái đó cũng biết rằng con đực phải có sự khéo léo về cơ học cần thiết để có thể kết hàng trăm thanh gỗ nhỏ lên trên chiếc lều, cái tháp hay là bức tường kia. Nó hẳn phải có một bộ não phát triển, để có thể tiến hành những thiết kế phức tạp một cách chính xác. Con đực ấy cũng phải có một tầm nhìn rất tốt và trí nhớ để kiếm tìm ra hàng trăm những vật dụng trang trí cần thiết khác nhau từ rừng rậm. Nó cũng phải rất giỏi trong việc đối mặt với cuộc sống, và sống sót tới độ tuổi hoàn chỉnh các kỹ năng trên. Và con đực đó phải vượt trội hơn hẳn những con đực khác: trong khi những con khác sử dụng phần lớn thời gian nhàn rỗi của mình để cố gắng làm hỏng và đánh cắp những món đồ từ chiếc tổ của con chim đực khác thì chỉ có những con chim đực tốt nhất mới có thể giữ cho tổ ấm của mình tới phút cuối cùng vẫn còn khá nguyên vẹn và có rất nhiều đồ trang trí.

Do đó, việc xây nhà của những chú chim bower cung cấp một cuộc kiểm tra toàn diện về vốn gen của những con chim đực. Điều đó như thể là những người phụ nữ xếp hạng những người theo đuổi họ theo một trật tự thông qua các cuộc thi đấu cử tạ, may vá, thi đấu cờ vua, kiểm tra mắt và thi đấu quyền anh, và cuối cùng lên giường với người giành chiến thắng. Nếu so sánh với loài chim bower, những nỗ lực của chúng ta trong việc nhận dạng bạn đời thực sự là không thỏa đáng. Chúng ta chi tóm lấy những vật chất tầm thường bên ngoài như đặc điểm gương mặt, chiều dài dái tai, sự hấp dẫn tình dục, hay là chủ nhân của một chiếc xe Porsche nào đó, mà những thứ này chẳng nói lên điều gì về giá trị của các gen bản chất bên trong anh ta cả. Hãy nghĩ về việc tất cả loài người đều chịu ảnh hưởng của một sự thật đáng buồn là những cô gái gợi cảm, xinh đẹp hay những chàng trai đẹp trai, sở hữu một chiếc xe Porsche đắt tiền thường lại được chứng minh là có những gen tồi tệ về những đặc điểm khác. Cũng không nghi ngờ là tại sao rất nhiều cuộc hôn nhân đã kết thúc bằng việc ly hôn, như chúng ta đã nhận ra dần dần rằng chúng ta đã lựa chọn sai lầm tới mức nào và những tiêu chuẩn mà chúng ta đề ra mới hời hợt làm sao.

Bằng cách nào mà những con chim bower kia tiến hóa để có thể sử dụng nghệ thuật một cách thông minh cho những mục đích quan trọng như vậy? Phần lớn các chú chim đực ở các loài tán tỉnh chim cái bằng việc khoe mẽ cơ thể sặc sỡ, những tiếng hót, các màn trình diễn, hay mời mọc những món ăn như những vật chỉ thị ẩn giấu về những gen tốt. Những con đực trong hai nhóm của loài chim thiên đường ở New Guinea còn đi một bước xa hơn thế bằng việc dọn sạch một khu đất trong nền rừng, cũng giống như những gì mà loài chim bower kia làm, để làm nổi bật những màn trình diễn của bản thân và khoe khoang những bộ lông đẹp không thể tưởng tượng nổi của chúng. Những con đực của một trong những nhóm chim thiên đường còn tiếp tục phát triển thêm bằng việc trang trí những khu vực đã được dọn sạch với những vật dụng cần thiết cho chim cái làm tổ: những mảnh da rắn để lót tổ, những mảnh vụn của viên phấn, hay phân của các động vật có vú dùng để ăn để lấy thêm chất khoáng, và hoa quả cho việc cung cấp thêm năng lượng. Cuối cùng, loài chim bower đã học hỏi được rằng những vật dụng trang trí vô dụng cho bản thân chúng nhưng ở một khía cạnh khác có thể trở thành những chỉ thị hữu ích về những gen tốt nếu những vật dụng đó là những thứ khó tìm thấy và gìn giữ.

Chúng ta có thể dễ dàng liên hệ với những nhận thức như vậy. Chỉ cần nghĩ tới tất cả những điều mà một người đàn ông đẹp trai có thể phô bày ra với những người phụ nữ trẻ trung với vẻ ngoài đầy hấp dẫn như những chiếc nhẫn kim cương. Bạn không thể lấy nhẫn kim cương ra để ăn, nhưng một người phụ nữ sẽ biết rằng tặng vật là một chiếc nhẫn như vậy có thể nói lên nhiều điều về tài sản mà người theo đuổi cô ta có được (và có thể chia sẻ cho những đứa con của họ cũng như với chính bản thân cô ta) hơn rất nhiều những gì mà một món quà tặng là hộp chocolate có thể nói lên. Tất nhiên, chocolate cung cấp một lượng calorie hữu ích hơn, nhưng chúng nhanh chóng biến mất và bất cứ một gã đàn ông ngớ ngẩn nào cũng có thể đủ tiền để mua nó. Ngược lại, người đàn ông mà có đủ khả năng mua chiếc nhẫn kim cương không thể ăn được kia lại có tiền để chu cấp cho người đàn bà và những đứa trẻ được sinh ra, và cho dù anh ta có bất kỳ gen gì (về mặt trí tuệ, sự tồn tại lâu dài hay năng lượng, vv…) thì nó cũng yêu cầu và liên quan chặt chẽ tới vấn đề tiền bạc.

Do đó, trong quá trình tiến hóa của loài chim bower, sự quan tâm của chim cái đã bị quyến rũ bởi những yếu tố vật chất là một phần lâu dài trong cơ thể của con đực đồng thời với cả những thứ mà con đực đó tích góp được. Trong khi sự lựa chọn tình dục ở phần lớn các loài tạo nên những sự khác biệt giữa con đực và con cái từ chính những bộ phận trên cơ thể của chúng, thì ở loài bower điều này được thay thế bởi việc khiến cho những con đực thể hiện những thứ mà nó thu nhặt được ở bên ngoài cơ thể của nó. Chính từ triển vọng này, loài chim bower đã vượt hơn cả loài người. Chúng ta thì hiếm khi tỏ tình (hay ít nhất là hiếm khi khởi đầu việc tán tỉnh) bằng việc trưng bày những vẻ đẹp của cơ thể trần không tô điểm của chúng ta. Thay vào đó, chúng ta quấn quanh cơ thể những bộ đồ nhiều màu sắc, sức hay trát lên người các loại nước hoa hay phân son, làm tăng lên vẻ đẹp của bản thân với những vật trang trí nhiều loại từ đồ trang sức tới những chiếc xe thể thao. Sự tương đồng giữa loài chim sặc sỡ lông với loài người thậm chí có thể còn gần gũi hơn nếu theo như một người bạn của tôi vốn rất yêu thích những chiếc ô tô thể thao quả quyết với tôi rằng, những chàng trai trẻ càng ngu ngốc lại càng có xu hướng tự trang trí cho bản thân những chiếc xe thể thao lóng lánh hơn.

Giờ thì hãy thử cùng kiểm tra lại nhé, trong những điều được sáng tỏ về loài chim bower, thì ba tiêu chuẩn kia được cho là phân biệt nghệ thuật của loài người với bất cứ sản phẩm của động vật nào. Cả phong cách của loài chim bower và loài người đều được học hỏi nhiều hơn là thừa hưởng từ gen di truyền, do đó, sẽ chẳng có khác biệt nào bởi tiêu chuẩn thứ ba cả. Còn trong tiêu chuẩn thứ hai (tạo ra nghệ thuật vì sự yêu thích thẩm mỹ), vẫn chưa thể có câu trả lời. Chúng ta không thể hỏi loài chim bower là chúng có cảm thấy thích thú với nghệ thuật của chúng hay không, và tôi nghi ngờ rằng rất nhiều người khi khẳng định điều đó đã nhầm tưởng sang niềm yêu thích văn hóa. Vậy là chỉ còn lại tiêu chuẩn đầu tiên: nhận định của Oscar Wilde cho rằng nghệ thuật là vô ích trong một ý nghĩa hạn hẹp của sinh học. Tuyên bố của ông là hoàn toàn không đúng với trường hợp của loài chim bower, mà ở đó nó thực hiện chức năng tình dục của mình. Nhưng sẽ là ngu ngốc nếu giả vờ thêm chút nữa rằng, nghệ thuật của bản thân chúng ta thiếu đi những chức năng sinh học. Thay vào đó, có một vài cách mà nghệ thuật đã giúp đỡ chúng ta sống sót và truyền đạt vốn gen của bản thân.

Đầu tiên, nghệ thuật thường đem tới những lợi ích tình dục trực tiếp cho chủ nhân của nó. Không phải là trò đùa khi nói rằng một người đàn ông dám chắc về sự quyến rũ của mình khi mời người phụ nữ xem những bức tranh khắc của anh ta. Trong thực tế cuộc sống, nhảy múa, âm nhạc và những bài thơ thường là những khúc dạo đầu cho tình dục.

Điều thứ hai và quan trọng hơn rất nhiều, đó là nghệ thuật mang tới những lợi ích không trực tiếp cho chủ nhân của nó. Nghệ thuật chính là vật chỉ thị nhanh chóng về thân thế - mà ở xã hội con người cũng như loài vật - là điều then chốt cho việc tìm kiếm thức ăn, đất đai và những bạn tình. Đúng như thế, loài chim bower có được những lời khen cho việc khám phá ra quy tắc mà vật dụng tách rời bên ngoài cơ thể là những biểu tượng về thân thế linh hoạt hơn những gì mà ai đó buộc phải nuôi dưỡng nên. Nhưng chúng ta cũng vẫn nhận được sự khen ngợi cho việc tránh xa quy tắc ấy. Những người Cro-Magnon đã trang trí cơ thể họ bằng những chiếc vòng, mặt dây chuyền và cả đất son; còn những người New Guinea ngày nay cũng tự trang điểm cho bản thân với những mảnh vỏ sò, những bộ lông thú và lông của loài chim thiên đường nữa. Thêm vào với những dạng thức của nghệ thuật trong sự tô điểm cho cơ thể, cả người Cro-Magnon và dân cư New Guinea còn tạo nên một lượng lớn các tác phẩm nghệ thuật hơn thế (qua những bức tranh khắc và tranh vẽ) về vẻ đẹp của thế giới. Chúng ta biết rằng nghệ thuật ở New Guinea biểu trưng cho tính ưu việt và sự giàu mạnh, bởi rất khó để săn bắt được loài chim thiên đường, những bức tượng tuyệt đẹp cần có một tài năng thực sự mới có thể tạo nên, và cả hai thứ đó đều rất đắt giá. Những biểu hiện của sự khác biệt này là cần thiết cho tình dục lứa đôi ở New Guinea: nơi những cô dâu được rao bán, và một phần trong giá bán này bao gồm cả thứ nghệ thuật đắt giá đó. Ở những nơi khác cũng thế, nghệ thuật thường được xem như là một dấu hiệu của trí thông minh, tiền bạc hay là cả hai điều đó.

Trong một thế giới nơi mà nghệ thuật là một thứ đồ có giá trị của tình dục, chỉ còn là một bước tiến rất nhỏ khi một vài họa sỹ có thể biến nghệ thuật thành thức ăn. Đã có những bộ lạc mà ở đó họ tự nuôi sống bản thân bằng việc tạo ra nghệ thuật để trao đổi với những nhóm người làm ra thức ăn. Chẳng hạn như, những cư dân của quần đảo Siassi, những người đang sống trên những hòn đảo nhỏ bé với những khoanh đất rất nhỏ để làm vườn, đã sống sót nhờ vào việc chạm khắc nên những chiếc bát tuyệt đẹp, vốn là sự thèm muốn trong những thứ đồ dẫn cưới của các cô dâu ở các bộ lạc khác và họ được trả công bằng thức ăn.

Những quy tắc giống như thế thể hiện thậm chí còn mạnh mẽ hơn trong thế giới hiện đại. Nơi mà chúng ta đã từng biểu hiện thân thế của mình với những chiếc lông chim đính trên cơ thể và những cái vỏ trai khổng lồ ở trong lều, giờ đây chúng ta có thể làm điều này với kim cương gắn lên người và những bức tranh của Picasso trên tường nhà. Khi mà người dân trên đảo Siassi bán những chiếc bát được chạm khắc với cái giá tương đương 20 đô la, thì Richard Strauss cũng đã tự mình xây dựng được một khu biệt thự nhờ những khoản thù lao cho vở opera Salome, và kiếm cả một gia tài qua tác phẩm Der Rosenkavalier (Kỵ sĩ Hoa hồng). Giờ đây, chúng ta ngày càng thường xuyên đọc thấy những cuộc bán đấu giá các tác phẩm nghệ thuật mà giá trị lên tới 10.000.000 đô la Mỹ và những tên ăn cắp các tác phẩm nghệ thuật. Tóm lại, điều đó là hoàn toàn chính xác bởi nó thực hiện chức năng như một dấu hiệu của những gen quý và nguồn tài chính dồi dào, nghệ thuật có thể được lưu giữ giá trị cho còn nhiều gen và tài sản hơn nữa.

Cho đến bây giờ, tôi chỉ quan tâm tới những lợi ích mà nghệ thuật mang đến cho mỗi cá nhân. Nhưng nghệ thuật cũng giúp nhận dạng mỗi nhóm người. Con người luôn luôn được tạo thành từ những nhóm cạnh tranh trong đó sự sống sót là quan trọng nhất nếu mỗi cá nhân trong nhóm người đó truyền đạt được gen của họ cho thế hệ sau. Lịch sử loài người chứa đựng trên quy mô rộng lớn những chi tiết về sự giết chóc, biến thành nô lệ nhóm người này hay trục xuất một nhóm người khác. Kẻ chiến thắng sẽ lấy đi phần đất của người thất bại, đôi khi là cả những người phụ nữ của họ nữa, và do vậy, lấy đi cả cơ hội của kẻ thất bại trong việc duy trì lâu dài nòi giống của mình. Nhưng sự kết dính trong nhóm phụ thuộc vào khác biệt đặc trưng về văn hóa của mỗi nhóm - đặc biệt là về ngôn ngữ, tôn giáo và nghệ thuật (trong đó gồm cả những tác phẩm văn học và những điệu nhảy). Do vậy, nghệ thuật là một động lực rõ rệt cho sự sống sót của nhóm người nào đó. Thậm chí khi mà bạn có được những gen tốt hơn phần lớn những người đàn ông trong bộ lạc của mình, nhưng khi bạn chẳng cống hiến được gì tốt đẹp cho bộ tộc của mình, thì có thể dẫn tới toàn bộ bộ tộc của bạn (bao gồm cả bạn trong đó) sẽ bị tiêu diệt bởi bộ tộc nào đó khác.

Trước đây, bạn có thể phản đối rằng tôi đã hoàn toàn loại bỏ những gì được cho rằng là chức năng của nghệ thuật. Vậy sẽ là gì với tất cả chúng ta, những người chỉ muốn thưởng thức nghệ thuật mà không chuyển nó sang ý nghĩa về thân thế hay tình dục? Sẽ là gì với tất cả những nghệ sỹ mà hiện vẫn còn độc thân? Chẳng lẽ không có cách nào dễ dàng để quyến rũ bạn tình hơn là việc phải tham gia khóa học đàn piano suốt 10 năm sao? Đó chẳng phải là sự tự mãn bản thân - nguyên nhân chủ yếu cho nghệ thuật của chúng ta, cũng giống với trường hợp của Siri và Congo hay sao?

Tất nhiên, những sự mở rộng về các hành vi vượt xa chức năng ban đầu của nó là đặc trưng cho các loài động vật, những loài mà việc tìm tòi những phương thức hiệu quả giúp chúng có nhiều thời gian rảnh rỗi hơn, và những loài mà đặt sự sống còn của chúng trong một khả năng có thể kiểm soát được. Loài chim bovver và chim thiên đường có rất nhiều thời gian rảnh, bởi chúng khá lớn và chỉ ăn các loại quả mà việc này thì chúng có thể đẩy lui được những con chim nhỏ hơn. Chúng ta cũng có nhiều thời gian rỗi bởi chúng ta sử dụng công cụ trong hoạt động tìm kiếm thức ăn. Những động vật với nhiều thời gian rảnh rỗi có thể chuyển hướng sang những dấu hiệu vô cùng phong phú để vượt lên trên những đối thủ còn lại. Những hành vi này, sau đó, có thể thực hiện những mục đích khác, chẳng hạn như trình bày thông tin (một chức năng được cho là của những bức tranh khắc trên hang động của người Cro-Magnon về những loài động vật có thể săn bắt), làm giảm bớt sự buồn chán (một vấn đề thực sự đối với những loài vượn hay voi bị giam hãm), hay đào sâu vào năng lượng kích thích thần kinh (một vấn đề cho cả loài người chúng ta cũng như đôi với động vật), và chỉ mang đến niềm vui thích mà thôi.

Có lẽ chúng ta có thể trả lời cho câu hỏi tại sao nghệ thuật như chúng ta biết là đặc trưng cho con người chứ không phải là loài vật nào khác. Từ những bức tranh của những chú tinh tinh bị giam cầm kia, tại sao chúng lại không làm như thế trong điều kiện tự nhiên? Như một câu trả lời, tôi cho rằng những con tinh tinh hoang dã vẫn có những ngày trôi qua với rất nhiều vấn đề về việc tìm kiếm thức ăn, sống sót và chống trả lại những nhóm tinh tinh khác kéo đến. Nếu như tinh tinh hoang dã có nhiều thời gian hơn, cộng với sự giúp sức của các dụng cụ vẽ tranh, chúng có thể cũng sẽ vẽ. Bằng chứng của học thuyết của tôi thực ra cũng đã xảy ra rồi: con người chúng ta vẫn còn có tới 98% số lượng gen giống với loài tinh tinh.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.