Bốn mươi tám giờ đã trôi qua kể từ lúc các container hàng được chuyển xuống tầu: thời hạn đã hết. Tiền chưa đến. Chủ nhà băng không trả lời điện thoại. Không một ai liên lạc được với Botero. Nhưng lệnh của y rất dứt khoát: lão phải đánh telex đi thôi.
Adolf Bleicher không nhắm mắt trong hai đêm. Tình thế phải lựa chọn thật đơn giản: Hoặc phải làm theo lệnh, tuy biết rất rõ là sẽ chặt đứt mãi mãi các cầu nối ba mươi tỷ đôla với lão. Hoặc chờ thêm ít lâu nữa đợi xảy ra chuyện thần kỳ.
Biết đâu chẳng có thể có một sự chậm trễ. Một sự hiểu lầm. Một việc bất trắc. Nhưng nếu chẳng may tính lẫn nước cờ, thì đừng ảo tưởng gì hết, Luz sẽ cho lão xuống mồ ngay. Khi các băng đã quyết định thanh toán ai, thì hành tinh trở nên quá hẹp, đừng hòng tìm chỗ trốn.
Một cơn oán giận bốc lên mặt lão: làm sao một con người dù ương bướng đến đâu, lại có thể đặt lòng kiêu hãnh lên trên của cải, coi dục vọng cao hơn lợi ích?
Quá muộn rồi không thể đào sâu thêm vấn đề. Từ nay ý chí của Adolf không còn tác động vào các biến cố được nữa. Lão khôn ngoan chọn con đường phó thác thân mình cho bàn tay của Chúa. Như lão đã làm hai hôm trước, lão rút trong túi ra một đồng tiền: sấp, lão sẽ giả chết cho tới hôm sau để tranh thủ thêm mấy tiếng đồng hồ.
Ngửa: lão sẽ đánh telex.
Đồng tiền lượn đi lượn lại trên không, rơi xuống bàn, chạm phải hộp lịch bắn xuống sàn. Lão sợ sệt cúi xuống nhặt nó lên: ngửa.
Chết điếng trong lòng, lão quyết định đánh telex.
Một ngày trước khi đến Los Angeles, sớm hơn lúc mặt trời lặn đôi chút, trực thăng của Nhà Trắng hạ cánh xuống boong tầu Chúa Tể Các Đại Dương. Đi trước đoàn tháp tùng, tóc bay trong gió, tổng thống bước xuống và chìa tay cho thuyền trưởng Nielsen đang thẳng người trong tư thế "nghiêm" cứng nhắc.
— Con tầu tuyệt vời làm sao, ông thuyền trưởng!
Bjorn Nielsen há miệng để chào mừng tổng thống, nhưng kinh ngạc quá chừng, ông không thốt ra được một tiếng nào. Trong ba ngày, lo âu và hổ thẹn đã tàn phá người ông. Ông những muốn biến đi. Tổng thống giới thiệu với ông hai hoặc ba người, đến tên tuổi họ ông cũng chẳng nghe thấy. Rồi tổng thống lẹ chân sà vào trong hai cánh tay của phu nhân. Mấy bước đằng sau chỗ đó, Jenny đứng đợi cùng với mấy quan chức khác.
Quàng tay sau lưng vợ, tổng thống đi về phía nàng trước tiên.
— Tôi rất vui mừng được gặp lại cô. Cô hãy nhớ rằng trước khi làm tổng thống Hoa Kỳ, tôi đã từng làm chủ nhiệm cái câu lạc bộ những người hâm mộ cô!
Mọi người cười vang. Jenny cũng hùa theo. Nàng không phải tự gò mình, chưa bao giờ nàng sung sướng đến thế. Trong cuộc hội nghị, nàng đã lên nói nhiều lần. Không những người ta lắng nghe nàng, mà dường như còn say mê những điều nàng nói. Từ đối tượng của sự chiêm ngưỡng, thèm khát, miệt thị hay ghen ghét, nàng được nâng lên thành một chủ thể toàn vẹn. Nàng cảm thấy choáng váng vì hạnh phúc. Đồng thời, nàng nhận ra rằng chỉ cần một chút yêu và được yêu trở lại, người ta rất có thể sống không Cocain. Trong thực tế, nàng đã thay bột trắng bằng một thứ ma túy khác mãnh liệt hơn rất nhiều, Kostia.
Nàng phật lòng, vì anh thích ở lại một mình trong cabin của họ. Nàng những muốn phô anh ra trước toàn thế giới.
— Tại sao? Nàng cố nài.
Kostia đưa ra một câu trả lời mơ hồ:
— Sau này... Xem đã...
Nàng cảm thấy anh bồn chồn và có gì bận trí.
Tổng thống khoác cánh tay nàng:
— Jenny, cho phép tôi giới thiệu với cô Scamus O’Malley.
Người có cái đầu như một quả trứng bắt tay nàng với một nụ cười lạnh lẽo.
— Đừng quyến rũ ông ta - tổng thống nói một cách hóm hỉnh - Ông ta có thể lộ hết bí mật của FBI với cô.
Một lần nữa, những tiếng cười lại rộ lên. Tổng thống rời bước ra xa.
*
* *
Harry Bloch cầm bức telex trong tay.
Nó ghi hàng chữ "Mật" và được gửi cho trung úy O’Toole. Nhưng có trời biết Peter đang ở đâu. Đã ba hôm nay mất mặt anh ta. Và bặt tin.
Cả ở cơ quan lẫn nhà riêng.
Sau cơn choáng kinh hoàng vì cái chết của Anna, không một ai dám hỏi gì anh. Harry nhận thấy nước da anh tái nhợt đi, anh hay im lặng và nhìn đâu đâu. Ông suy ra là có một cái gì đang làm anh hao mòn.
Peter đã nói với ông.
— Tôi buộc phải vắng mặt.
— Trong bao lâu?
— Vài ba hôm. Tôi sẽ báo cho bác biết.
Anh đóng cửa lại và ra đi.
Harry đăm chiêu đọc lại bức telex:
«Các ông sẽ tìm thấy một ngàn tấn Cocain dưới hầm tầu Chúa Tể Các Đại Dương chạy từ Acapulco, được chờ đợi hôm nay ở San Pedro. Ma túy chứa trong các container mang nhãn hiệu "Hải Quân US". Nó mang tên mã hóa là SUNSET».
Những chuyện nhảm nhí như thế này, ngày nào mà không thấy nhan nhản trong thư tín buổi sáng. Một thằng cha ghen tuông. Một kẻ tố giác nặc danh muốn đầu độc cuộc đời một đối thủ cạnh tranh.
Dĩ nhiên, đây là một chuyện phịa. Một ngàn tấn Cocain, làm gì mà có được. Harry thầm hỏi không biết ở vào địa vị mình Peter sẽ làm gì. Anh ấy cũng chẳng tin gì hơn. Nhưng dầu sao anh ấy cũng cứ cử mình đi kiểm tra.
— Ê, Marc. Cậu có nhìn thấy Lee và Dick đâu không?
— Bênh cạnh, Picitelli nói.
— Bảo chúng nó sang đây.
Khi họ bước vào, Harry không nói không rằng chìa ra bức telex.
Họ đã nắm được nội dung.
— Một ngàn tấn! Dick thốt lên. Rồi còn gì nữa? Mày biết cái tầu ấy là cái gì chứ! Tổng thống Hoa Kỳ đang ở trên đó cùng với tất cả các cơ quan chống ma túy trên trái đất!
Lee gãi đầu.
— Nhưng mà này, Dick. Không phải chỉ có một mình ông ta...
— Mẹ kiếp, đúng thế! Dick trả lời.
— Jennifer Lewis...
— Sao, Jennifer Lewis? Harry hỏi giật giọng.
— Nó ở trên tầu.
Harry trợn tròn mắt.
— Cùng với thằng người Nga?
Lee xác nhận bằng một cái hất hàm.
— Cái con minh tinh ấy à? Dick hỏi.
— Biệt vô âm tín, Harry nói.
— Nghe này, Lee nói xen vào. - Tất cả những cái đó là chuyện tếu thôi. Nhưng giả sử là thật thì sao. Chúng ta sẽ làm gì?
— Tạm giữ con tầu, khám xét, tịch thu thuốc sái, đưa cả lũ vào tù, còn chúng ta thì đi lĩnh thưởng! Dick tuôn ra.
Lee thõng tay xuống một cách tuyệt vọng.
— Harry, bác hiểu tại sao cái thằng quỷ này mãi không leo lên được cái cấp thượng sĩ như bác.
— Bởi nó là một thằng cù lần, Harry nói.
Ông quay sang Dick.
— Một thằng tập sự mà nói với tao như thế ấy à, tao đá nó sang bên cảnh sát ngay! Giải thích cho nó, Lee... Còn tao thì hãy tha cho tao.
Lee đặt hai bàn tay lên hai vai Dick và nói với giọng người ta sử dụng với những kẻ suy nhược thần kinh, thộn.
— Mày đợi xem ai nhận hàng. Hàng gửi cho ai. Như vậy mới tóm cổ được cả băng.
— Cái con tầu khốn kiếp ấy, mấy giờ mới đến?
Harry hỏi.
— Đăng trong tất cả các báo rồi, 5 giờ.
Harry chỉ tay ra cửa và gầm lên.
— Chúng mày còn đợi gì mà không nhỏm đít lên.
*
* *
Nửa đêm, công nhân bến cảng bắt đầu bốc hàng. Họ không thoải mái gì lắm. Họ chẳng đào tơ liễu yếu chút nào, nhưng trước cái lũ kẻ cướp Hells Angels vừa tụ tập lại trên bến số 6, họ không khỏi không cảm thấy ngài ngại. Im như tượng, ngồi chồm chỗm, đít gắn vào yên chiếc xe máy dựng thẳng trên giá đỡ, chúng tới đây một cách riêng rẽ, từng nhóm nhỏ một, mỗi nhóm chừng mười đứa. Giờ đây chúng hợp thành một đoàn quân lặng lẽ trước đoàn xe lửa đỗ dưới mũi tầu Chúa Tể Các Đại Dương.
Con tầu cập bến trước đó sáu giờ.
Một phân đội lính đã sắp hàng rào danh dự để đón vợ chồng tổng thống. Họ vào ngồi trong một chiếc limousine.
Hôm đó là chủ nhật. Đèn đóm sáng trưng như trong một hội lễ bí mật mà các vị khách đến phút chót mới được báo hoãn, cái bến cảng San Pedro rộng bảy trăm năm mươi hécta mà hoang vắng như một bãi sa mạc.
Ban ngày, sáu ngàn người hoạt động một cách cuồng nhiệt khiến các bến tầu không ngừng rung chuyển. Ban đêm, Long Beach biến thành một cảng ma. Không một bóng người nên có thể cho xe lăn bánh chạy liền hàng mấy kilômét dọc các bến trong một cảnh siêu thực với những công cụ cẩu hàng quái dị, với hàng ngàn ô tô mới toanh chờ đóng thuế hải quan, với những kho tạm giữ to chẳng kém các nhà thờ, với những đoàn tầu dừng bánh, những xe tải bất động, những cần trục khổng lồ và những tầu chở hàng nằm chết dí.
Với hàng chữ "Hải Quân US" ghi bằng chữ đen to tướng ở khắp các mặt, chiếc container thứ nhất đu đưa trong không trung để nhẹ nhàng đậu xuống sàn một toa xe lửa.
— Anh báo cảnh sát chưa? - Một công nhân bốc dỡ nói với viên quản đốc.
Anh liếc mắt nhìn, không rời hành tung của bọn Hells Angels.
— Rồi.
— Họ đến chứ?
— Không.
— Anh nói giỡn?
— Họ hỏi tớ là chúng nó có quấy phá gì không. Thế thì cậu bảo tớ còn nói gì với họ được nữa?
— Ba bốn trăm thằng lộc ngộc tụ tập trên bến giữa nửa đêm, mà họ cho là bình thường?
— Chúng không động đậy thì làm gì được chúng.
— Đúng, Cliff. Chính cái đó ta mới hốt đấy. Chúng nó không động cựa.
Viên đốc công nhún vai và đi ra kiểm tra việc sắp xếp các container. Đoàn tầu gồm ba mươi ba toa. Đến 3 giờ sáng, toa nào cũng đã có container xếp bên trên.
Việc dỡ hàng sẽ tiến hành trong Vùng Chết, ở ga chót Island nối với San Pedro bằng đường hàng không Vincent Thomas Bridge.
Cliff thổi một hồi còi. Đáp lại, đầu tầu rống lên hai hồi còi rền rĩ.
Như chờ đợi có tín hiệu ấy, lũ Hells Angels nổ máy và lái xe đến xếp thành ba hàng dọc suốt chiều dài đoàn tầu, cả bên phải và bên trái.
Đoàn tầu từ từ chuyển bánh.
*
* *
Kostia mở thao láo mắt trong đêm tối. Anh không thể cựa quậy được. Jenny nằm vắt ngang ngực anh. Hơi thở bình yên và êm ả của nàng mơn man sát trái tim anh.
Từ từ nhúc nhích nhẹ như không, anh cố gỡ người ra sao cho nàng không biết. Anh phải dậy, phải đi lại trong nhà. Trên bàn đêm, đồng hồ chỉ 3 giờ. Vận mệnh của anh có lẽ đang được định đoạt đúng vào lúc này, vậy mà anh phải bó tay chờ đợi.
Vô cùng cẩn thận, anh luồn tay xuống dưới gáy Jenny để nâng nàng dậy. Ngay tức khắc, anh thấy nàng thay đổi nhịp thở.
— Anh không ngủ à? Nàng hỏi.
— Anh vừa nằm mê. Khát quá! Em có muốn uống gì không?
— Kostia...
— Cái gì em?
— Em yêu anh.
Nàng rúc đầu vào bả vai anh.
— Lát nữa anh về.
Anh hôn lướt môi nàng, đứng dậy, vươn chân vươn tay cho đỡ mỏi và đi về phía nhà bếp, lòng bồn chồn cố xua đi một linh cảm chẳng lành.
*
* *
Khá lâu trước khi tầu Chúa Tể Các Đại Dương đến, Lee và Dick đã bố trí một số trinh sát trực sẵn ở bến số 6. Hòa lẫn cùng với người của họ nằm rải rác trong đám đông, họ đã chứng kiến cuộc đổ bộ của các hành khách. Kostia và Jenny đi ra một cách êm thấm. Người ta không thể bỏ liều để mất hút hai người.
Hai viên thanh tra đã được lệnh bám sau xe họ. Hai viên khác chờ họ trước ngôi nhà ở Roxbury.
— Trăn gió... Sunset... Trăn gió... Sunset...
Nấp sau một chồng hòm, Lee giấu cái máy Motorola vào hõm vai. Cái máy lục cục.
— Mười, bốn...
— Chúng lại đi ra?
— Không, nhưng cả nhà thắp đèn sáng trưng.
Y nhận ra giọng của Stan đang cùng với Ben theo dõi Roxbury. Còn tý chút nữa thôi là đến ba giờ. Hết cái nọ đến cái kia, các cần trục đặt container vào các toa tầu đang đỗ.
— Ôkê. Hãy đợi lệnh... Có động tĩnh gì báo ngay.
Lee tắt máy, quay số khác.
— Dick?
— Còn ai khác? Hoàng thái hậu chăng?
Khi nhìn thấy đoàn tầu chạy đến đỗ ở bến cảng vào lúc 11 giờ, Lee và Dick đã đoán rằng mục tiêu cuối cùng của chiến dịch là Vùng Chết.
Vì một lẽ rất đơn giản: đường ray chạy đến đó. Họ phân công nhau. Dick sẽ đi tới ga chót Island ở phố Bến Mới để bố trí người của họ trên chặng đường bốn kilômét.
Lee vẫn ở tại chỗ.
— Thế nào?
— Tớ ngán lắm.
— Việc bốc dỡ vẫn tiếp tục.
— Bao nhiêu container?
Lee đếm lại bằng mắt.
— Đến giờ là ba mươi hai.
— Lũ Hells?
— Im như phỗng.
— Đông không?
— Hai... ba trăm... không rõ.
— Cứt khô. Này, Lee!
Nghe giọng y, Lee biết là có chuyện.
— Cái gì đấy?
— Một thằng mới đến bằng môtô.
Yên lặng trong nhiều giây. Đoạn:
— Chờ nghe!... Nó xuống xe. Cha chả! Không tin được!
Thử đoán xem ai nào?
— Nói ngay đi.
— Rinaldo Kubler!
Lee nuốt nước miếng.
— Nó đi vào một lán gỗ.
— Lán nào?
— Không có tên. Cánh cửa liền ngay hàng rào của công ty Hugo New Proler... Một đứa tới gặp nó... Một thằng Đen... Chúng nó bàn bạc... Chúng nó rời về phía núi sắt vụn...
Lại yên lặng. Rồi lại có tiếng thốt lên.
— Đồ đĩ bợm, tớ nhận ra nó rồi! Benny Pritchard!
— Dick, nghe đây.
— Benny Pritchard! Dick nhắc lại như để tự thuyết phục mình.
Họ chưa bao giờ tóm được cổ nó, nhưng nó đã có tên trong sổ đen từ tám năm nay. Người ta nghi nó là người điều khiển toàn bộ lũ đưa hàng trong thành phố. Theo tất cả các nguồn thì nó là trùm phân phối được các ông kễnh không ai dám động đến trao nhiệm vụ tung ma túy trên bờ biển phía Tây.
— Mày có nghe tao không đấy?
— Kubler và Pritchard!
— Tốt nhất là đừng có làm gì. Bây giờ ta đã biết rõ đoàn tầu chạy đến đâu và ai ở chỗ nhận. Bảo người của mày bao vây cái lán gỗ. Có gì thêm sẽ báo sau...
*
* *
Con tầu đang từ từ lăn bánh về phía phố Bến Mới thì tai họa nổ ra cách nơi đến non nghìn mét, giữa trung tâm Vùng Chết.
Bọn Hells Angles không chỉ bám sát hai bên con tầu. Thỉnh thoảng một số tên lại đột ngột rú mạnh ga lao vút xe xông vào sục sạo phía sau các đống hòm ngổn ngang suốt dọc đường.
Bỗng nhiên, một đứa nhìn thấy hai bóng người đen đen đang cố náu mình đằng sau một đống sắt vụn. Nó xông thẳng vào chỗ đó.
Hai tiếng súng nổ vang.
Một viên đạn chiu chíu bay đến, đập thia lia vào các bộ phận mạ crôm trong vỏ chiếc Harley Davidson.
Tên Hells rú ga một cách man rợ, lượn một vòng và chuyển sang tấn công, nã một tràng hết sạch băng đạn vào hai cái bóng đang chạy tìm nơi ẩn náu.
Ngay lập tức, hai mươi chiếc môtô ào đến cứu.
— Dừng ngay! cảnh sát!
Tiếng nói oang ra từ một cái loa điện.
Đèn pha gay gắt dội ánh sáng chói lòa vào cái quang cảnh hoang tàn rặt những than và sắt. Súng lăm lăm trong tay, hàng chục người nhô vụt ra ngoài bóng tối.
— Tôi nhắc lại. Cảnh sát! Không ai được động đậy!
Dick cuống cuồng nắm lấy cái máy Motorola.
— Hổ mang! Hổ mang! Sunset. Mười, bốn!
*
* *
Y ngồi xổm dưới chân một đống mạt sắt cao lù lù như một quả núi. Trưóc mặt y là những quãng đường sắt tận cùng, nơi tập kết các đầu tầu cũ kỹ chạy bằng hơi nước. Trên một đầu tầu ấy, một công nhân hỏa xa đang loay hoay móc nối để kéo đi vài ba toa xe chất đầy khung ô tô.
Chẳng cần vẽ lại bức tranh: nghe có tiếng nổ, Lee hiểu ngay rằng thế là hỏng bét vào phút cuối cùng!
— Hổ mang... Sunset... Mười, bốn...
Y hỏi:
— Mày có bao nhiêu mống người mình!
— Mười chín, Dick đáp.
— Không ăn thua rồi, chẳng thể đánh bất ngờ... Lee hổn hển. - Bắt ngay lập tức Kubler và Pritchard! Mày mà để xổng sẽ mất đầu.
— Yên chí, tao có đầu đâu mà mất!
— Ai nổ súng đấy.
— Một thằng ngu!
Lee bực dọc lẳng cái máy Motorola lên trên ghế. Y xông vào vòng ánh sáng, phanh kít xe và tay cầm súng ngắn, nhảy tót ra ngoài.
— Đừng bắn! Y hét lên.
Ba tên Hells đã trèo lên chiếc đầu tầu. Con tầu vẫn từ từ lăn bánh. Hẳn chúng đã dọa người tài xế. Nhiều tên khác đã ngoắc vào các móc sắt thành toa.
Lee giật chiếc loa điện từ tay viên thượng sĩ vừa ra lệnh:
— Không động đậy nữa! Cảnh sát.
Tiếng y rơi tõm vào không khí. Lũ Hell’s cứ trân trân nhìn y, con tầu vẫn lăn bánh đều đều như trước. Y nhìn thấy một chiếc môtô tách ra khỏi nhóm. Người lái là một gã khổng lồ có râu. Gã đội trên đầu một cái mũ cứng của Đức hồi Đại chiến. Xe trượt một quãng, rồi dừng lại. Gilet da, cổ tay bọc kín, hai cánh tay đầy hình xăm, gã hét:
— Chó chết, chúng ta đông hơn hai trăm! Ngãng ra đi, không thì ăn bùn đấy!
— Mày có biết đang nói với ai không?
Gã để râu nhổ toẹt xuống đất, ra điều khinh bỉ.
— Cớm hả? Ỉa vào mặt chúng mày! Cho mày ba mươi giây!
— Mày làm việc cho cộng sản, thằng khốn kiếp!
Gã Hells nhún vai và chỉ vào các hàng chữ "Hải Quân US" ghi trên các container.
— Thế cái đít tao, nó cũng là cộng sản à?
Gã quay ngoắt xe và lại chạy trở về đầu con tầu. cổ tắc nghẽn, Lee đâm bổ vào trong chiếc Pontiac. Y vớ ngay lấy cái Motorola.
— Hổ mang! Hổ mang!
— Mười, bốn, Dick trả lời.
— Đang chiến tranh! Mấy cái thằng chết dấp ấy tin là chúng bảo vệ một đoàn tầu quốc phòng!
— Mày có bảo chúng nó đấy là ma túy không?
— Nó nhổ vào mặt tao!
— Tao có cách làm cho chúng nó thay đổi ý kiến, ở đâu cứ ở đấy nhé!
Lee chưa kịp trả lời, Dick đã lùa cái Motorola vào trong túi.
Nhảy hai bước, y đã đứng trong cabin đầu con tầu chạy bằng hơi nước.
— Cảnh sát!
— Thì làm sao? Một gã da đen mặc quần yếm thản nhiên đáp.
Phớt tỉnh như không có Dick ở đó, hắn tiếp tục loay hoay với các cần nối.
— Tao phải sợ à? - Hắn nói thêm.
Dick chỉ cho hắn nhìn xa xa con tầu đang chạy về phía họ, giữa đoàn người hộ tống hầm hầm đe dọa.
— Mày phải lao ngay cái xe cút kít này vào đầu con tầu chết tiệt kia!
— Gì thế nhỉ? Gã da đen cười ha hả. - Tao không muốn mất chỗ làm!
Lúc này không phải lúc mời mọc xã giao.
Nắm lấy cổ áo hắn, Dick chĩa khẩu Magnum vào má hắn, ngay dưới mắt.
— Mày muốn chết?
— Tôi phải làm gì? - Người tài xế hỏi.
— Cho đi đời con tầu bẩn thỉu kia! Lao vào nó.
Cái đầu tầu rùng mình lay chuyển.
— Đẩy hơi vào! Dick thét.
Tự tay y kéo cái cần điều khiển đến hết cỡ.
Con tầu tăng tốc độ.
— Nhảy ra, Dick hét.
Hắn đã nhảy rồi. Y nhìn thấy người tài xế lăn mình hai vòng, nhỏm dậy rồi chạy như điên như dại giữa các đống đồ phế thải công nghiệp.
Đến lượt y, y treo người vào các thanh nắm, trườn mình rồi nhảy phốc xuống đất, trượt dài trên lớp than xỉ cho đến khi cộc đầu vào các phiến gỗ xếp cao lênh khênh. Da lưng y bị xé rách quá nửa, y cố gượng tỉnh táo để nhìn qua cái đám hoa cà hoa cải làm y tối tăm mặt mũi trước cơn ngất xỉu mà y cảm thấy đã tới gần: cái đầu tầu đã chạy xa, đang vun vút bay trên đường ray với tốc độ tăng lên khủng khiếp.
Môi nở một nụ cười, y quay mặt đi.
Đằng trước mặt, bốn tên Hells Angels nhảy nhót dẫn đầu đoàn tầu. Chúng đồng loạt rú lên: với tốc độ hơn sáu mươi kilômét giờ, cái khối năm mươi tấn của chiếc đầu tầu lênh khênh sắp đâm sầm vào chúng.
Cho dù cái thằng ma tịt nào lái nó có rít hết phanh thì chuyện húc nhau cũng không sao tránh được.
Như những con rận trên bờm một con sư tử, tất cả những đứa bám vào các toa tầu cuống cuồng nhất loạt buông tay.
Người lái xe đã hãm hết các phanh nhưng vô ích, không làm gì được nữa.
Anh ta nhảy.
Xung quanh anh, như một cơn xoáy lốc, bầy xe máy vọt tung ra mọi ngả trong tiếng vù vù hốt hoảng của một đàn ong vỡ tổ.
Ba giây sau, hai con quái vật bằng thép húc thẳng vào nhau trong một tiếng ầm kinh thiên động địa.
Đoàn tầu bị đâm nhào ra khỏi đường ray. Các toa bị cắt rời đổ chổng kềnh xuống đất khiến các container bắn tóe ra bốn phía xung quanh.
Thế là, từ những miếng toác trên sườn, hàng ngàn túi nhựa tung tóe bay ra rồi rơi xuống đất, vỡ tan tành. Lee là người phản ứng đầu tiên.
— Lại đây! Y gọi gã đội mũ cứng của Đức.
Chiếc xe máy chầm chậm tiến lại gần.
— Xuống đây, tao sẽ cho mày xem cái của nợ này!
Gã để râu tắt máy và bước vài bước về phía Lee.
Lee ngồi xổm xuống. Y thọc ngón tay trỏ vảo đám bột rơi vãi trên lớp xỉ than, đưa lên môi và nếm thử.
Y khoát tay, ra hiệu cho tên cầm đầu lũ Hells cũng làm như vậy.
Bốn phía xung quanh, chìm trong hơi nước cuồn cuộn tuôn ra từ các lỗ thủng trên xác cái đầu tầu vỡ tan tành, bọn người đi xe máy và cảnh sát, súng lăm lăm trong tay, lặng lẽ nhìn nhau trừng trừng.
Tên để râu bốc một nắm bột, ngửi, rồi thận trọng thọc đầu lưỡi vào. Y buông thõng cánh tay xuống và để bột chảy dài giữa các kẽ ngón tay.
— Tao đề nghị thế này với mày, Lee nói. - Chúng mày hãy lịm đi. Sẽ không có đổ máu. Rồi cả lũ lặn cho nhanh, thế là xong, xí xóa hết.
Tên để râu to kềnh suy nghĩ giây lát. Đoạn, y bảo:
— Tên tao là Tony.
— Lee. Lee đáp.
Tony gật đầu và bước đi.
— Này, Tony!
Y ngoái lại.
— Kubler? Lee hỏi.
Không một lời, Tony nhảy lên xe, huýt một tiếng vào các ngón tay và dấn ga.
Trong một đám mây bột Cocain mà những vòng bánh xe Harley Davidson của chúng cuốn tung lên mù mịt, tất cả những đứa khác chạy theo y.
— Hổ mang..., Lee nói. Hổ mang... Sunset... Mười, bốn...
— Hổ mang Sunset... Mười, bốn...
Ở Roxbury trước ngôi nhà của Jennifer Lewis, San vẫn đứng làm nhiệm vụ.
— Tình hình tốt chứ? Lee hỏi.
— Năm trên năm!
— Đột nhập vào nhà cho tao và tóm ngay thằng Kostia Vlassov.
*
* *
— Át! Ken Rach nói.
— Đưa xem nào!
Ken lật quân bài.
Neal Bignucolo kiểm tra với một vẻ hoài nghi: đúng là một con át thật.
— Mày mất cho tao một chai bia.
— Ok.
— Cộng với hai chai hôm qua, vị chi là ba. Ok?
— Ok! Neal nhượng bộ với một chút cáu kỉnh.
Ken đứng dậy, buộc khóa cái thắt lưng to bản đeo một cái bao trong đựng khẩu súng lục đúng theo điều lệnh.
— Được, tao sẽ đến đó.
Y mở cái hàng rào sắt nặng nề, nó lại sập vào với một tiếng khô khốc. Neal lắng nghe tiếng chân y bước nhỏ dần trong hành lang. Y duỗi dài người, vô tình vớ lấy một số báo People cũ vương trên bàn và bắt đầu lật lật các trang, vẫn toàn những chuyện lăng nhăng cũ rích của những cặp vợ chồng nổi tiếng, họ ly dị nhau, cưới lại nhau, đẻ con với nhau, rồi lại bỏ nhau...
Trong gia đình Bignucolo, từ những thuở xa xôi nhất mà những người đang sống còn nhớ được, chưa có ai ly dị bao giờ. Người ta lấy vợ là lấy suốt đời, giữ suốt đời. Dù gặp phải những mụ đàn bà dở hơi cũng mặc. Y đọc từ dòng đầu đến dòng cuối bài tường thuật những nỗi bất hạnh của cặp vợ chồng phu nhân D và hoàng tử Charles. Cái anh chàng hoàng tử ấy tốt thật. Khi người ta sắp làm vua thì phải biết bịt mồm cái con đàn bà mình yêu để mà ngồi lên ngai vàng chứ. Nhưng dù sao, đó là chuyện của họ.
Y lướt qua một bài trong đó một vị giáo sư tâm lý học giải thích cách làm thế nào để trở nên giầu có mà không phải làm gì, và trong trang y học, y đọc mấy đoạn dành cho việc giới thiệu một cái máy thần kỳ dùng những xung điện để trong khi anh ngủ, nặn lại người anh thành thân thể của thần Apollo. Đột nhiên y giật mình: thiên hạ khốn nạn thật! Người ta giao cho bọn y canh giữ những kẻ sát nhân nguy hiểm nhất, ấy thế mà họ dám mở mồm mỉa mai giễu cợt bọn y!
Y vò nát tờ báo và quẳng nó xuống sàn.
Trong mục thư bạn đọc, có một thằng thối mồm đã cả gan nấp sau tính chất nặc danh của hai chữ cái đứng đầu tên để công kích "những khoản lương quá cao của bọn cai ngục chỉ có việc gõ máy chữ lên bìa các hồ sơ cho qua ngày đoạn tháng". Giá mà tóm được thằng cha này, đưa nó vào làm khách tạm trú ở đây một hai năm thì Bignucolo sướng biết mấy.
Bởi vì trong thực tế và ý nghĩ ấy nảy mầm trong đầu óc y sau hai mươi hai năm giữ chức vụ này, muốn giam giữ những tên vô lại thì bản thân những người coi ngục cũng phải ngồi tù.
Nhưng công chúng đâu biết chuyện đó. Họ chỉ nhìn thấy những đặc lợi của nghề nghiệp, tiền thưởng, sự bình yên, và an toàn của chức vụ.
Còn các hiểm nguy? Những người điên dọa lấy mạng anh? Việc ăn chung ở lộn với lũ người trộm cắp, đâm thuê chém mướn, loạn dâm, hiếp dâm, đồi bại? Chẳng ai thèm đả động tí gì đến những chi tiết ấy.
— Neal!
Y giật thót người. Ken lay mạnh các thanh rào. Mặt tái nhợt. Thở không ra hơi. Neal vội vàng mở khóa. Cánh cửa lại đóng vào. Ken chệnh choạng chạy đến điện thoại và quay một số nội bộ.
— Ken! Cái gì thế?
Nhưng Ken, không trả lời y, bám chặt lấy cái máy nói.
— Đây Ken Rach! Chỗ chúng tôi có một vụ tự sát! Đến ngay cho... Vâng! Xà lim an toàn cao số 11... Nó đến hôm qua... Khốn thay đúng là nó... Chết thật, chết hẳn hoi rồi!... Nó thắt cổ.
Y tắt máy.
— Lại đây! Neal! Lại đây!
Đồng hồ treo tường trong phòng làm việc chỉ 2 giờ.
— Cuối cùng là cái cứt gì? Neal cáu sườn. - Mày có nói không?
Ken chạy như ngựa phi trên những tấm đá lát.
Neal vội vã bám gót y.
— Ai thắt cổ, Ken? Ai chết?
Trên đương chúng chạy ngang qua, bọn tù nhân chửi chúng xa xả.
— Tên do thám người Nga, Ken bật ra, Kostia Vlassov.
*
* *
Janis ngắm nghía bức tranh đóng khung trong phòng khách danh dự.
— Nhí nhố, chị nói. - Cậu nào vẽ bức tranh chép lại này thật có tài. Vâng, những mảng nâu, gỉ đồng hoen... có đủ hết.
Bức sơn dầu thể hiện lại một trong những tác phẩm thuần khiết nhất của Rembrandt, Người Đội Mũ Vàng. Có cái khác là, trái với nguyên bản, cái đầu người mẫu không còn là đầu nhà họa sĩ, mà là khuôn mặt một gã trai non choẹt với con mắt nhìn ngạo mạn.
— Anh mua cái kỳ quan này ở đâu? Janis hở.
Chị mặc một cái áo chẽn hồng điều. Vừa nói chị vừa đút mồm hàng nắm bánh quy nhỏ trên cái bàn thấp.
— Đó là một tặng phẩm, Peter O’Toole nói.
Chị rầu rầu nuốt một trăm gam trái lạc đào.
— Thế là anh may mắn đấy! Quà tặng duy nhất mà người ta gửi cho tôi là cuốn Kinh cựu ước.
— Tôi đã suýt gửi trả lại, Peter mỉm cười.
— Thế là phạm tội!
Peter trỏ bức tranh.
— Chị có biết ai kia không?
— Người được thể hiện hay người cho tranh?
— Hai mà một, cùng một người thôi. Rinaldo Kubler.
— Tôi không tin.
— Thật mà.
— Ai vẽ hắn?
— Một cậu chuyên vẽ tranh giả. Renot Loring.
— Có nằm trong băng không?
— Không. Cậu ta nghèo.
— Dù sao cũng phải nhận rằng cái cử chỉ ấy là mã thượng. Anh cho hắn vào tù, hắn cho anh chân dung của hắn!
— Tôi nhận được nó vào một buổi sáng. Với những lời chúc mừng của Rinaldo Kubler, cái tác phẩm chưa được hoàn tất này do lỗi của ông.
— Y bị mấy năm?
— Chung thân. Y tổ chức buôn lậu từ sáu năm nay.
Janis chồng các viên đường vuông vào một cái tách bằng sứ xanh lơ. Chị rót vào đó một dòng nước trà.
— Nói thế nào thì nói chứ chúng ta đã ăn phải quả lừa một cách ngon lành. Chị thở dài - Nhưng tôi không thể nào hiểu... Seamus O'Malley là ông chủ của tôi.
Một lần nữa, chị lại thở dài sườn sượt.
— Chơi với các vị mà ta kính trọng, sao ta lại ló ngớ khù khờ như thế nhỉ. Anh có thể nào tưởng tượng rằng thằng người Nga lại thông đồng với người cầm đầu cao nhất của FBI?
Chị bỏ thêm mấy viên đường vào tách và lấy một cái thìa bạc xinh xinh khuấy cho tan.
— Cái gì đã giúp chị lần ra manh mối?
— Sự ngoan cố của lão ta cứ nhất quyết đá tôi ra ngoài cuộc điều tra. Dần dà..
Chị phác một cử chỉ mơ hồ.
— Một buổi sáng tôi gọi điện cho Jack Solton, đại sứ của chúng ta ở Nhật. Và, ông ta chẳng muốn đâu, nhưng tôi vẫn cứ biết điều mà tôi muốn biết: trong ba ngày Kostia Vlassov trốn ở trong sứ quán, O’Malley đã bí mật sang Tokyo để gặp y!
Peter trề môi một cái nhuốm màu chua chát:
— Trong lúc ấy thì dân đen chúng ta ở Los Angeles bở hơi tai hết vây quán nhậu lại xộc vào ổ gái điếm để tóm những thằng bán lẻ cò con, những đứa bỏ mối thảm hại.
— Ờ, ờ đúng, đúng đấy Peter. Giao kèo cổ điển... Kostia bày mưu tính kế cho lão. Đổi lấy tự do, một tấm hộ chiếu, và tiền.
— Bao nhiêu?
— Chắc là hàng đống, Janis nói.
Peter yên lặng một hồi lâu. Đoạn anh khạc khạc họng và nói, giọng dịu dàng:
— Chị hãy bảo tôi, Janis... Có một khúc mắc mà tôi không sao hiểu nổi. Kostia đã thông đồng với O’Malley kia mà, nó có quyền được lão ta bảo vệ chứ?
— Điều kiện tiên quyết.
Anh oằn oại trên ghế.
— Cái gì anh còn loay hoay chưa rõ? Janis lại nói.
— Vì lý do gì mà nó tự sát?
Chị đứng dậy.
— Chả biết. Nhưng có lẽ phải đặt vấn đề một cách khác kia: Tại sao người ta lại khử nó?
O’Toole giật mình.
— Chị nói nghiêm túc?
Chị khoác ra ngoài cái áo chẽn hồng điều một tấm choàng màu da táo rất ngố: quyến rũ chưa!
— Khi tiền, chính trị và ma túy quyện lấy nhau, rồi anh xem... Kostia Vlassov chết rồi, làm gì được nó nữa. Vấn để đích thực không nằm ở đó...
Chị ngập ngừng một hồi lâu rồi như miễn cưỡng phải cất tiếng:
— Điều làm tôi băn khoăn là làm sao biết được số tiền chuyển khoản chạy đi đâu.
Chị mở cửa, bắt tay anh rất chặt.
— Bởi vì Peter ạ, không được quên rằng ba mươi tỷ đôla đang lang thang dạo mát trong cõi thiên nhiên. Tất yếu là nó phải nằm đâu đó!
— Chị có biết ở chỗ nào không?
— May ra...
*
* *
Trời mưa xuống Islande. Nhưng ở Irlande, ngày nào mà trời chẳng mưa. Mưa lất phất. Mưa tầm tã.
Người dân ở Dublin bảo rằng ngày nào cũng mang đến cho họ cả bốn mùa: xuân, đông, thu, hạ.
Ngôi nhà của Noelle náu mình ở phía tây thị trấn Bray miền County Wicklow, trong một vùng nhấp nhô những quả đồi thoai thoải. Tên làng là Annamoe. Một chiếc cầu đá xám rêu phong vắt qua một con suối nước chảy siết, sáu bảy trang trại, một cửa hàng tạp hóa bán bánh mì, bánh xốp nóng, và cũng được dùng làm phòng bưu chính và trạm phân phối xăng.
Mọi cái đều thực. Mọi sự đều công minh.
Bốn xung quanh, rực rỡ trong sự huy hoàng của những gam xanh lá cây khác nhau, bãi cỏ, rừng cây, thạch thảo và đồng rạ nằm rải rác với những con đường ngoằn ngoèo chạy ngang chạy dọc.
Xa hơn, là biển và đá núi. Jenny thường lái xe một mình đi về mạn Brittas Bay. Nhiều giờ liền, nàng thơ thẩn trên những vách núi khống chế các tảng đá biển chạy đến vỗ sóng dưới chân.
Không gặp ai. Một mình.
Và cảnh buồn buồn não ruột nơi đây còn khoác thêm những mầu sắc nhớ thương của lòng nàng. Nàng đã sống mà chẳng biết mình sống. Đến khi hiểu ra thì tất cả cuốn bay đi.
Kostia chết đã được ba tháng. Anh đi vào cuộc đời nàng như một tia nắng, để làm cho nàng nảy nở, mở cho nàng một kích cỡ khác của cuộc đời. Anh đã rũ cho nàng cái nhân vật Hollywood của nàng như cởi một cái sơmi bẩn. Anh đã biến nàng thành một con người. Giá phải trả mới đắt làm sao: Kostia mất, nàng buộc phải tiếp tục sống. Cho đến hết đời.
Bởi vì nàng biết điều đó. Sau anh, sẽ không còn có ai khác nữa. Vết thương há miệng. Nàng không thể giả vờ được nữa.
— Khá hơn chứ?
Noelle quàng tay quanh cổ nàng.
Trên giường, có hai chiếc vali mở toang, quần áo đầy quá tung cả ra ngoài.
— Cậu buồn?
— Ừ, Jenny nói. - Mình thích ở lại đây mãi mãi.
— Ai cấm cậu?
Jenny cắn môi. Khi được tin, nàng đâm bổ đến nhà ngục Downtown. Người ta cấm nàng cả đến việc đứng tưởng niệm trước thi thể người nàng yêu: Việc Quốc Gia!
Nức nở nghẹn ngào, mắt nhòa lệ, nàng quay trở về xe, phóng thẳng đến sân bay và đáp máy bay tới London. Nơi ẩn náu duy nhất của nàng: đó là Noelle.
Cô chờ nàng ở Dublin.
Ba tháng rồi...
— Mình sẽ quay trở lại, nàng nói.
Nàng không tạt qua nhà. Nó không mang dấu hiệu gì của cuộc sống. Làm thế nào mà luật sư của nàng tìm ra địa chỉ của nàng.
"Chờ cô ở Paris chiều mai. Khách sạn De la Tremoille. Việc khẩn cấp và sống còn. Ralph Nadelman".
Nàng đã do dự. Nhưng sớm hay muộn, rồi cũng sẽ phải đối diện, đương đầu. Quá nhiều việc còn dang dở. Cuộc đời sau này của nàng phụ thuộc vào đó. Những vấn đề tiền nong, giấy tờ, nhân viên, công chứng viên, luật sư, thẩm phán. Bởi vì dưới mắt Pháp lý Mỹ, vụ này chưa kết thúc. Jenny còn phải trả lời những câu hỏi về các quan hệ của nàng với kẻ mà báo chí mệnh danh là "gián điệp đỏ". "Gián điệp đỏ", Kostia!... Tấm thân nóng hổi, nụ cười hóm hỉnh, bàn tay vuốt ve của anh. Mắt nàng rưng rưng lệ.
— Mình xuống đây, nàng bảo Noelle. - Sẵn sàng trong mười phút nữa.
Cứ nghĩ rằng lại sắp phải đương đầu với những cái đầu trống rỗng chói lọi của Hollywood, nàng thấy buồn nôn.
Nàng thề rằng đây là lần cuối.
Nàng khóa các vali.