Peter O'Toole nhìn chiếc Poutiac của mình đang từ từ lướt trên đường ray của trạm rửa xe tự động trên góc đường La Cienega và đường Sawyer. Trên đoạn ray xe vừa lướt qua bọt chất tẩy rửa đọng từng đám như tuyết. Kể cũng lạ, năm nay đã bốn lăm mà anh chưa hề lần nào trông thấy tuyết.
Xe luồn qua một thứ lùm cây bằng dải cao su, các dải này bắt đầu chuyển động, quất mạnh vào thân xe trong lúc các tia nước từ mọi phía xịt vào. Xa hơn một chút, đến lượt các bàn chải xoay tròn tiếp tục công việc, cuối cùng ở cuối dây chuyền là bàn tay của những công nhân Mexico.
Trong một thoáng Peter chợt hình dung thấy mình cũng nằm thắng đơ trên đôi ray này, và được chùi rửa cẩn thận cho kỳ hết những dơ bẩn bám vào anh do nghề nghiệp buộc phải đụng chạm hàng ngày: lưu manh, côn đồ, hung thủ, bọn điên đủ loại, bọn nghiền ma túy...
Và không bao giờ hết những phát hiện mới. Các đồng nghiệp bên New York vừa cho biết: một bà người Đức trên chuyến bay từ Bangkok sang đã chết ở phi trường Kenedy vì giấu trong dạ dày một trăm lẻ một túi Cocain.
Mới sáng nay, anh được tin cô điếm nghiền ma túy hành nghề ở Chicago tên là Lon Ann Powell đã thế chấp đứa con trai Anthony 22 tháng tuổi cho tên bán thuốc lấy năm mươi đôla ma túy. Quá hạn cô chưa trả được nợ, tên bán thuốc đã quăng em bé vào bô rác.
Và ở ngay Los Angeles này, lãnh địa của chính Peter, một đôi vợ chồng người Đen mới hai mươi tuổi, sau khi ngậm một lượng lớn LSD đã tưởng tượng mình trở thành chim có thể bay lượn nên đã nhảy từ trên đỉnh tháp cao nhất của Century City. Mới cách đây một tiếng!
Cuộc leo thang không dứt vào thế giới kinh hoàng.
Anh đi dọc theo hành lang vách kính để theo dõi các công đoạn.
Bất giác anh nhìn các đồ vật bày bán trong trạm: "Quý khách đặt ngón tay vào đây để kiểm tra tim". Anh thọc đầu ngón trỏ vào lỗ trên chiếc máy nhỏ sơn đỏ, bỏ vào khe một đồng tiền, đọc bản chỉ dẫn: "Dưới 60, quí khách có sức khỏe của siêu vận động viên Olympic. Từ 70 đến gặp bác sĩ... Trên 100, chạy thật nhanh tới bệnh viện gần nhất!".
Trên màn ảnh của máy hiện ra cục tròn đỏ tương tự trái bóng bàn nhảy nhót. Nghĩa là Peter đang nhìn thấy nhịp đập của tim mình. Các con số hiện lên: 80... 90... 100... 120...
Peter rút vội tay ra, còn nhanh hơn là nhúng phải dầu sôi: sắp chết đến nơi rồi!
Có khi chết rồi cũng nên!
Anh vội nới cổ áo, chạy bổ ra, nhảy lên xe và nổ máy lao vụt đi như thằng điên, dưới cặp mắt sững sờ của gã nhân viên trạm người Mexico đứng đực giữa nắng với nắm giẻ trên tay.
Rinaldo Kubler không bao giờ đeo cravát, để làm gì cơ chứ? Anh ta xây dựng cơ đồ từ năm mười tám tuổi, và ở những nơi thời thượng tối nào anh cũng đến trên một chiếc xe khác nhau, không có ai hé răng bình phẩm chuyện này. Mọi nhân viên phục vụ đều được những món puốcboa chóng mặt. Để thử nghiệm quyền lực của mình, gã cố tình vác mặt đến những nơi ăn chơi xa xỉ nhất trong chiếc pull cộc tay rách tơi tả và quần jean thủng: Người ta vội vàng ba chân bốn cẳng chạy tới dẫn vào bàn tốt nhất.
Lúc gã hai tư tuổi, các khoản ưu đãi dành cho Nữ Hoàng Anh như thế đã trở thành thứ nghiện ngập không bao giờ chán.
Nếu không có đám ma chết tiệt đầu độc cả một ngày, và trận cúm xổ mũi tong tỏng làm cổ gã khản đặc, thì tất cả sẽ tuyệt diệu.
Rinaldo đã mua trả tiền ngay tòa dinh thự đẹp nhất Bel Air và chi thêm hai triệu đôla để tu sửa theo đúng như trong những cơn mộng mị của đứa trẻ tâm thần hoang tưởng. Gã cho xây dưới nền nhà một chiếc hầm lớn bọc thép chống được cả động đất và sức nổ của hàng trăm quả bom hạt nhân. Ngoài anh ta ra không một ai lọt được vào đấy.
Chiếc máy vi tính trung tâm điều khiển việc đóng mở các cửa hoạt động theo âm thanh, chỉ tuân theo giọng nói của ông chủ nó là Rinaldo. Muốn vào hầm, phải đi qua căn phòng bảo hiểm: mỗi lần chỉ một người được phép qua. Cánh cửa thứ nhất có đóng lại thì cánh cửa thứ hai mới mở ra. Nội thất chiếc hang Alibaba này cũng mê hồn như nhân vật đã xây nó. Nhiệt độ, độ ẩm, độ sáng không bao giờ thay đổi. Quanh con thác nhân tạo là mảnh vườn đầy hoa thơm cỏ lạ. Trong bốn phòng của nơi ẩn náu an toàn tuyệt đối này, gồm phòng ngủ, vườn, phòng video và phòng làm việc, Rinaldo cất giấu những của cải quý nhất: đồ nữ trang, các bức danh họa thứ thiệt và của rởm, các hồ sơ giấy tờ riêng. Một bể nước mặn đầy cá quý, máy phun các thứ mùi tùy ý thích của chủ nhân: mùi rơm rạ, mùi cỏ tươi, cỏ mộc, mùi đất ẩm, hương hoa hồng, hoa huệ... thay đổi theo ngón tay ông chủ ấn nút.
Anh ta quyết định khi dự đám tang sẽ đeo chiếc đồng hồ bạch kim đã thửa Van Cleef làm riêng một chiếc cho mình.
Đến trước cửa căn phòng bảo hiểm thứ nhất anh nói to câu ra lệnh mở:
— Nào con ngốc, mở chứ?
Anh ta bước lên một bước, nhưng vội đứng khựng lại để khỏi đập mặt vào cánh cửa thép nhẵn li, lạnh ngắt: nó không trượt đi mà vẫn khép chặt.
Rinaldo nhắc lại câu thần chú nhiều lần, thoạt tiên còn bình tĩnh, sau đó với giọng giận dữ, cuối cùng với vẻ điên tiết.
Lúc thấy rõ quát tháo cũng vô hiệu như những quả đấm liên hồi, anh ta bỏ lên nhà, gọi điện chửi bới viên kỹ sư điện tử đã lắp ráp bộ máy tự động này. Nhưng kỹ sư vẫn bình tĩnh:
— Ông nói đúng câu: "Nào con ngốc, mở chứ?".
— Nói đến mỏi mồm.
— Thưa ông Kubler, tôi hiểu ra rồi. Rõ ràng ông đang bị cảm lạnh. Tiếng nói bị méo. Máy tính không nhận ra các xung động âm thanh của ông.
— Làm sao lấy được đồng hồ?
— Thưa ông Kubler, không có cách nào khác là chờ đến khi ông hết bị cảm.
*
* *
Mang cái tên Peter O'Toole thật chẳng dễ chịu gì. Mỗi lần gọi điện thoại vừa xưng tên là các cô tổng đài thích đùa lại cười vào mũi anh ta và đáp họ là Nancy Reagan, Marilyn hoặc Liz Taylor. Lắm lúc Peter đâm ra căm ghét người diễn viên trùng tên với mình. Có cảm tưởng khó chịu là "gã kia" - theo cách anh vẫn gọi những lúc bực mình - là tên lừa đảo sinh ra để đầu độc đời anh ta.
Mười thế hệ cụ kị ông cha anh hiện đang nằm dưới những ngôi mộ cẩm thạch màu xám trong nghĩa trang dân tộc Celt tại ngôi làng nhỏ xíu giữa trung tâm quận Wicklow. Không thể nghi ngờ mảy may: tất cả đều lấy tên O'Toole.
Và anh cũng vậy, như hàng trăm người Irlande khác ở RossLare, ở Dublin. Nhưng hà cớ gì bố mẹ anh lại đặt tên tục anh là Peter? Thực ra họ cũng chả làm sao biết được. Vì khi anh ra đời, "gã kia" vẫn chỉ là chú nhóc vô danh mặc quần thủng đít, hoặc mới bắt đầu có những mụn trứng cá đầu tiên của tuổi dậy thì.
Đi tới góc đường Beverly Center anh rời đường La Cienega rẽ vào San Vicente, vào đỗ trong bãi xe bệnh viện Cedar Sinai. Ở đấy anh có người quen: Bromsky bác sĩ tim mạch.
Anh đẩy cửa bước vào đại sảnh, rẽ trái đi về phía bốn quầy tiếp nhận có bốn tiếp viên bận blouse xanh ngồi trong phòng kính đang bận rộn trước máy vi tính. Anh chào cô rảnh nhất đang ngồi sửa móng tay.
— Tôi xin gặp bác sĩ Bromsky.
— Ông có hẹn không?
— Không
— Ông thấy trong người có gì không ổn?
— Chẳng có gì. Chỉ muốn đo huyết áp.
— Chắc tim làm sao?
Anh sốt ruột, lo lắng, vội vã.
— Tôi vừa nói với cô là mọi cái đều ổn cả.
Cô ta nhìn với vẻ dò xét.
— Ông thấy choáng váng chắc?
Peter muốn giết chết cô.
— Tôi yêu cầu cô báo cho bác sĩ Bromsky rằng...
— Khoan, đã, cô kia cắt ngang. - Ông định trả tiền khám bằng gì?
— Phiếu tín dụng.
— Visa? American? Diner? Hay Master charge?
— Của American.
— Ông có mang theo đây?
Anh rút trong túi ra đưa cho cô, dù anh có đang hấp hối, người đầm đìa máu hoặc nát bét cả hai chân thì cô kia vẫn chẳng vội gì nếu chưa xét kỹ phiếu tín dụng của anh. Không có tiền là đi thẳng vào nhà xác.
Dĩ nhiên họ không có quyền để anh chết, nhưng không có văn bản pháp luật nào buộc họ phải chữa chạy cho anh nếu anh không có tiền trả trước: họ biết đòi ai nếu anh nằm lại trên bàn mổ?
Cô tiếp nhận đút tấm phiếu vào máy tính, không buồn liếc qua.
— Địa chỉ, ngày sinh, tiền sử bệnh tật?
Peter hiểu phải chấp nhận trò chơi của cô ta, nếu không sẽ không được gặp Bromsky. Anh bấm bụng, trả lời mọi câu vặn vẹo của cô. Cuối cùng cô mới hỏi đến họ tên.
— O'Toole.
— Tên tục?
— Peter, anh thở dài nhẫn nhục.
Cô ta phá lên cười, rồi chợt lấy lại bộ mặt nhà nghề, cô ta ngốc nghếch tuyên bố không có thì giờ để đùa cợt vớ vẩn.
— Nghe đây! Tôi là trung úy O'Toole, đội Hollywood. Cô không chịu nhúc nhích, tự tôi sẽ đi tìm bác sĩ.
Cô ta chăm chú nhìn anh, ấn nút, đặt chiếc bút máy và cuống tấm phiếu tín dụng trước mặt Peter. Anh ký tên. Cô vơ mảnh giấy, chỉ vào cô y tá tới và bảo.
— Chúng tôi sẽ chăm sóc ông.
Anh đã trả tiền. Từ lúc này có thể chết yên ổn trong sự chăm sóc dành cho những người có điều kiện để hưởng. Theo gót cô y tá anh đi vòng vèo qua những hành lang trắng toát đến phòng cấp cứu căng màn ngăn cách các khoang khám bệnh. Anh được đưa vào một khoang. Trong đó có chiếc giường phủ vải nhựa, chai ôxy, dây truyền dịch và nhiều máy hồi sức lắp đồng hồ chi chít.
— Thưa cô... Peter định nói.
— Cởi quần áo.
Với nụ cười vô cảm, cô đưa một bộ pijama xanh. Peter nổi cáu.
— Này cô, tôi chỉ muốn kiểm tra huyết áp thôi.
Nụ cười càng lạnh lẽo.
— Quy tắc nó thế. Ông được đưa vào phòng cấp cứu nên phải được khám nghiệm trước đã rồi mới điều trị.
— Tôi không cần điều trị, Peter gầm lên. Tôi đến thăm bác sĩ Bromsky.
— Bác sĩ là thầy thuốc điều trị cho ông?
— Tôi không bệnh tật gì hết.
— Hôm nay bác sĩ Bromsky không trực.
— Cứ gọi! Bảo tới ngay! Peter van vỉ.
— Bình tĩnh đi nào. Chúng tôi sẽ báo cho bác sĩ ngay.
Ba phút sau, tuy tức điên lên được, anh vẫn phải nằm dài trên giường, lỗ mũi nhét đầy ống, cánh tay đầy bơm tiêm, ống nghe đặt trên ngực, hai thái dương tua tủa điện cực, khắp mình bị bàn tay của kíp mổ sáu người nắn bóp không chừa chỗ nào. Một tốp kiểm tra nhịp đập tim qua điện tâm đồ hiện trên màn ảnh, tốp khác bắt anh làm điện não đồ, một tốp khác nữa ngoáy lỗ tai anh...
Peter chán nản để mặc họ muốn vần mình thế nào thì vần.
Một giờ sau Bromsky mới đến.
— Cứt chưa! Sao không chọn lúc khác mà chết có được không? Người ta đang thắng một trận golf.
Bác sĩ liếc qua Peter, đặt ngón tay lên miệng ra dấu im lặng đừng phản đốì ầm lên, lướt qua kết quả các xét nghiệm và cười ầm ĩ:
— Có chuyện gì vậy? Anh mắc chứng tâm thần hoang tưởng chắc? Mọi cái đều tốt cả!
O'Toole phàn nàn trước tiên về chuyện bị giữ lại đây, rồi thuật lại chuyện đo huyết áp ở máy tự động. Bromsky bật cười.
— Mạch 52. Anh có thể đấu mười hiệp vẫn chưa hết hơi đâu.
Sau đúng hai tiếng rưỡi nằm bệnh viện Peter mới mặc được quần áo và thoát ra. Không buồn trở về nhà thay quần áo, anh nhằm thẳng hướng đông, rẽ phải vào đường La Cienega và cố chen vào dòng xe cuồn cuộn. Không ăn thua, xe không nhích lên được. Anh với ra ghế sau lấy chiếc đèn nhấp nháy, luồn tay qua cửa gắn lên mui xe bằng chân đế cao su cấu tạo kiểu ống giác rồi hụ còi. Như có phép tiên: toàn bộ dòng xe lập tức khựng lại trên cả hai chiều.
Năm phút sau anh đã đến góc đường Sawyer. Anh đỗ xe trong bãi trạm dịch vụ, đi qua cô thu ngân, qua hành lang dọc cây chuyền rửa xe. Đến trước chiếc máy màu đỏ đã đánh lừa anh về nhịp đập của tim, anh rút khẩu Magnum 345 bắn nó vỡ tan. Peter đứng lặng hồi lâu, khoan khoái nhìn mảnh vụn chiếc máy.
— Cho mày hết đưa ra những điều ngu xuẩn!
Rồi anh quay gót, đi qua trước mặt khách hàng và nhân viên mặt xám ngoét vì sợ, lên xe lao vụt đi, anh đã nhận được hai chục lời gọi qua máy vô tuyến trong xe, ở nhiệm sở đang có người chờ.
*
* *
— Nhìn đây, chị Jennifer, nhìn đây... Chưa bao giờ chị xinh đẹp như lúc này! Cực kỳ!
Jennifer lẩm bẩm một lời tán thưởng mơ hồ, mắt vẫn không rời bài báo trên tờ Nàng.
Mỗi lần Paulo bới tóc, cô đều mải miết đọc một tạp chí gì đấy để khỏi nhìn thấy mặt mình trong gương.
— Chị thấy người không được khỏe chắc? Paulo lo ngại. Anh ta thấy Jennifer châm liên tục hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác. Mặt xanh xao, vô cảm, chân trái run bần bật.
Những dấu hiệu Paulo biết rất rõ: cô đang đói ma túy. Tiệm của anh ở Rodeo Drive là nơi các mái tóc nổi tiếng nhất Hollywood vẫn tới phó thác số phận cho đôi tay nhỏ nhắn múp míp của anh, nên anh đã hàng trăm lần chứng kiến cảnh này. Các bà khách vừa rời mũ sấy là chạy vội vào toilet. Lúc rời ghế, mặt các bà xám ngoét. Khi quay lại, đều trẻ ra đến mười tuổi: Cocain đấy.
Paulo cả đời chưa bao giờ hút một điếu cần sa, anh ta lên án những thói này là vô đạo đức, làm mất phẩm giá con người.
Anh còn được nghe những chuyện thật đồi bại: có những chủ tiệm để sẵn vài liều ma túy sau quầy hàng. Tuy giá ma túy rất đắt nhưng họ vẫn có lợi. Hiệu suất làm việc tăng lên. Khi đã mắc vào tròng, không một nhân viên nào dám tranh cãi về tiền công cao thấp, về số giờ làm việc nhiều ít. Vấn đề nan giải nhất được giải quyết: lao động trong niềm vui.
— Tôi đau đầu, Jenny nói. Lại còn vụ tang lễ này nữa, biết làm sao bây giờ?
— Tôi không bỏ rơi chị đâu. Đừng lo. Nào chị thử liếc mắt nhìn một tí tẹo xem.
Anh nhẹ nhàng nâng cằm cô lên. Cô nhìn vào gương: toàn bộ mái tóc được gom gọn thành một búi duy nhất màu vàng xám cuộn xoắn trên gáy.
— Chị ưng ý không?
Jennifer là một trong mấy người được anh hạ cố đến tận nhà phục vụ. Thấy cô ta im lặng, anh cho rằng cô không hài lòng, vội bổ sung.
— Không những đẹp mà còn tạo vẻ tang tóc. Chị Jenny này...
Từ mười phút qua anh vẫn nóng lòng muốn cầu xin một ân huệ cao nhất.
— Tôi ướm thử đồ trang sức của chị nhé?
Cô vung tay phác một cử chỉ mơ hồ. Paulo vớ chiếc tráp Jenny vẫn vứt cả mớ đồ nữ trang quí nhất trong đó - quà tặng của những kẻ mến mộ, hoặc "vốn đầu tư" của cô vào những nơi do các cố vấn kinh doanh chỉ vẽ. Cô vẫn coi đồ nữ trang chẳng hơn gì đôi tất cũ, và không thích đeo các món ngũ kim này, làm nặng mình và chỉ tổ khổ thêm vì bị xung quanh nhìn ngắm.
— Đẹp quá! Quý quá! Toàn những kỳ quan! Paulo rên rỉ bày các đồ trang sức ra.
Anh kéo ghế đến ngồi cạnh Jenny. Không còn đôi gót vẫn làm anh cao thêm mười hai xăngtimét, lúc này trông Paulo như cục mỡ bé tẹo mầu nâu. Anh đeo lên tai mình đôi hoa ngọc lam màu xanh mượt mà, sâu thẳm, rất đặc biệt.
Jenny nhìn mà không thấy anh ta, vẻ mặt thờ ơ. Trong lúc Paulo mơ thành lời.
— Tôi dám đánh đổi cả cuộc đời lấy những viên ngọc này.
Anh biết Jenny không nghe được anh vừa nói gì. Tuy vậy, anh thấy cần dùng lời nói để truyền cảm niềm rung động của mình.
— Chị có biết gốc gác của chúng không?
Không có phản ứng, cô ta cóc cần biết.
— Từ một mỏ độc nhất trên thế giới, nay đã kiệt. Trên núi Zaskar bang Casmia, ở độ cao sáu ngàn mét. Cuối thế kỷ vừa rồi, dân quê vùng này đổi ngọc lấy muối ngang cân.
Anh cúi xuống tấm gương vỗ nhẹ tay lên đôi má nhão, chải bồng mái tóc cho lộ rõ hai tai và ngắm nghía đôi bông ngọc. Anh vừa giơ tay định lấy chiếc ghim áo bằng kim cương thì Jenny rùng mình nhảy bổ đến máy điện thoại. Paulo có cảm tưởng tưởng tựa hồ Jenny đã nhúc nhích trước khi nghe tiếng chuông reo. Và thấy mặt cô ta đanh lại.
— Anh ở đâu thế? Làm người ta đợi suốt hai tiếng rồi! Đáng lẽ phải dến từ giữa trưa cơ mà!
Paulo buồn bã tháo đôi hoa khỏi tai mình bỏ vào tráp rồi kín đáo đi về cuối phòng, giả bộ lục tìm trong túi đồ nghề mấy chiếc lược tưởng tượng. Trong mấy phút vừa rồi anh cảm thấy mình cao lớn, đẹp trai.
Anh liếc nhìn Jenny, thấy như cô đang tan rữa trước mắt mình.
— Không thể được! Tôi cần ngay! Tôi phải đi... phải làm...
Cô lắp bắp vì lo lắng, giọng cô đột nhiên ngẹn ngào cầu xin.
— Anh dám thề chứ?... Ghi đi: 5969 đại lộ Santa Monica. Trước cổng nghĩa địa... góc đường Gower... Trong một giờ nữa hử? Đừng làm tôi nhỡ tàu đấy! Tôi đợi.
Jennifer nhìn vào máy. Paulo hiểu: đầu dây đằng kia đã cắt liên lạc.
Anh để cho cô nói trước.
Cô nhìn mái tóc trong gương và nói với giọng đã trở lại bình thường, ảo não:
— Anh nói đúng... Nó tạo vẻ tang tóc thật sự.
*
* *
Máy bay sắp hạ cánh. Anh thắt đai bảo hiểm, nhìn qua cửa sổ đường phố Los Angeles thẳng băng cắt nhau thành góc vuông kéo dài đến tận bờ Thái Bình Dương xa tít. Đó là thành phố. Máy bay xuống thấp. Anh bắt đầu nhìn thấy cơn lốc xe hơi dán vào nhau trong mớ bòng bong không thể tưởng tượng nổi của các con đường cao tốc rãi nắng chói chang. Hôm nay là 20 tháng Năm, lúc 4 giờ chiều.
Một tuần trước, lúc anh còn đang ở trong ngôi nhà trên gác thượng của Vladimir đi dự hội thảo ở Dallas, anh đã nhận được tấm vé khứ hồi New York - Los Angeles kèm theo tờ danh thiếp có hàng chữ nguệch ngoạc của cô thư ký không quen biết nào đó "Alex Malachian chúc mừng anh".
Một phút trước khi lên đường anh vẫn còn lăn lóc trên xe ca cảnh sát chạy khắp thành phố New York nơi tội ác nở rộ như nấm độc.
Nhà xác Bronx và Manhattan không còn là bí mật đối với anh. Chiều đến anh trở về nhà mệt lử, và đêm nào giấc ngủ cũng bị cắt ngang vì một tin khẩn cấp, anh lại bị ném vào giữa cơn điên ngoài đường phố. Đã kiếm được ba nghìn đôla và đủ tư liệu để xuất bản một tập ảnh chuyên đề về những vụ ghê tởm anh còn giữ được bản sao.
Chuyện đó đã chấm dứt: một giờ nữa sẽ gặp Malachian. Anh sẽ lật sang trang mới.
Máy bay đỗ xuống, trượt êm. Kostia đi lẫn vào đám hành khách, trong bụng phấp phỏng đợi bị xét giấy tờ. Nhưng mọi người chẳng ai nhòm ngó ai, tự do qua lại cửa phòng đại sảnh nhà ga sân bay. Anh tới cabin điện thoại quay số máy của Malachian, số máy anh thuộc lòng đến mức có thể đọc ngược.
— Tôi là Kostia Vlassov, cần gặp ông Alexandre Malachian.
*
* *
Dinh thự náo loạn cả lên, đám gia nhân không thống nhất với nhau về cách xử sự. Cái chết của Alexandre Malachian sẽ thay đổi trong chừng mực nhất định số phận của họ, nhưng còn phải biết rõ ai sẽ trả tiền công còn nợ của họ, việc hình như không có ai quan tâm.
Anh bếp hỏi anh hầu phòng chịu trách nhiệm tìm hiểu việc đó:
— Văn phòng báo cậu thế nào?
— Rằng nội trong một tuần sẽ thanh toán hết.
— Ai chi?
— Tớ không biết.
— Cậu hỏi ai?
— Một mụ đàn bà.
— Tên gì?
— Mụ đâu có nói!
José tỏ ý bất lực, cầu cứu những người làm chứng cho anh. Kể cả Stefano bồi phòng tất cả bọn họ có mười người. Hai làm vườn, hai cô hầu phòng, tài xế Anis người Liban, vệ sĩ Peter, phụ bếp André và Jeff phụ trách bảo dưỡng các sân quần vợt, kiểm tra nhiệt độ nước bể bơi, xịt thuốc chống gián nhậy trong các phòng chứa quần áo và hàng ngày thay các bóng đèn hàng trăm chiếc thắp sáng suốt hai tư giờ trong khuôn viên dinh thự.
Mỗi khi có khách mời, Malachian thường vầy vò với khách bằng cách làm tình làm tội kẻ ăn người ở trong nhà và những người phụ động thuê mướn thêm để tiếp tân.
Anh ta mặc cả chi li giá tiền từng khoản dịch vụ nhỏ nhoi, đòi các nhà cung cấp phải hạ giá và sau mỗi cuộc truy hoan lại bới thùng rác đếm số chai đã uống. Khi nào muốn, anh ta không ngần ngại huy động gia nhân làm suốt đêm chủ nhật đến tận sáng sớm thứ hai. Bên California, số đông người làm công trong các gia đình bình thường không có giấy phép lao động. Nhưng vì không muốn rắc rối với các cơ quan nhập cư nên họ sẵn sàng chịu đựng mọi thói ngông cuồng của chủ không dám chống đối.
— Thế nào? Anh bếp hỏi bâng quơ.
Stefano đáp: Để tớ nói cho mà nghe. Tuy đã ngoẻo rồi, thằng đốn mạt ấy cũng còn tìm ra cách quỵt tiền công của chúng mình.
Điện thoại... Stefano cầm máy.
— Dinh thự Malachian đây.
Anh ta nghe xong, bảo người đối thoại cầm máy, che tay lên ống nói:
— Một gã muốn gặp Malachian.
Cả đám gia nhân tủm tỉm cười. Anis hỏi:
— Tên gì?
— Kostia Vlassov. Nói sao bây giờ?
— Hỏi xem gã muốn gì.
— Ông cần gặp có việc gì cơ? Stefano lấy giọng bồi chuyên nghiệp.
Anh nghe câu trả lời, gật gù, nói nhỏ với chúng bạn:
— Gã nói vừa từ New York tới, có hẹn với Malachian vào lúc 5 giờ.
Anis nhảy đến giằng máy trong tay Stefano.
— Ông Malachian vắng nhà, thưa ông... Một việc đột xuất đáng tiếc. Ông phải đi dự một lễ tang với tư cách khách danh dự. Dạ, chắc là được chứ ạ... Ở Fierce Brothers, số 5969 đại lộ Santa Monica... Một xí nghiệp mai táng... Xin mời ông. Cảm ơn.
Anh ta nhẹ tay gác máy, quay nhìn mọi người đang cười nấc lên và hãnh diện nói:
— Các bạn cười cái nỗi gì? Tớ có bịa tí nào không?