Bucklersbury—một con phố ngoằn ngoèo nối từ Cheapside đến Walbrook—tập trung rất nhiều quán ăn, nơi với giá mười lăm xu, một “gã nhà giàu vùng City” có thể kiếm được một bữa ăn theo kiểu “rẻ mà tệ”. Hết mười xu cho một phần thịt cắt từ tảng lớn—hai xu một vại bia porter—một xu khoai tây—một xu bánh mì—và một xu tiền típ cho người phục vụ.
Ngay khi có người bước vào một trong những cơ sở ấy và ngồi vào bàn, một bồi bàn mang chiếc tạp dồ vấy bẩn ngang lưng cùng một chiếc khăn lau vắt trên cánh tay liền lao tới, tuôn một lèo thực đơn nhanh và khó hiểu chẳng khác nào lời tuyên thệ của bồi thẩm đoàn hay nhân chứng tại tòa án.
Đúng lúc những cảnh tượng vừa rồi đang diễn ra ở khu West End của London, hai quý ông thong thả bước vào một quán ăn ở Bucklersbury và chọn chỗ ngồi đối diện nhau tại một trong vô số chiếc bàn nhỏ trải khăn bẩn thỉu, trên bày bừa dao, nĩa, lọ muối, lọ tiêu và lọ giấm—tất cả đều sẵn sàng cho quá trình “nạp thực phẩm” buổi trưa.
Hai vị khách vừa mới thả neo chưa bao lâu, gã bồi bàn đã lao đến chỗ họ như thể tốc độ là vấn đề sống còn; và chẳng thèm quan tâm xem các vị khách có đang chú ý hay không, tên đầy tớ gia đình ấy liền huyên thuyên đọc danh sách những món ngon hiện đang có sẵn trong bếp.
—Bò quay—bò luộc—thịt lợn quay đùi—thịt lợn luộc đùi ăn kèm cháo đậu—thịt bê phi-lê dăm-bông—bánh nướng bít-tết bò—đùi cừu luộc sốt nụ bạch hoa—rau xanh—súp lơ—và khoai tây. Xin mời các ngài gọi món.
Nhưng nếu tốc độ nói của gã bồi bàn được thể hiện chính xác trên bản in, việc hắn lặp lại thực đơn sẽ phải trông như thế này:
—Bòquaybòluộcđùilợnquayđùilợnluộcănkèmcháodạudăm-bôngbêphi-lêbánhnướgbít-tếtbòđùi cừuluộcsốtnụbạchhoarauxanhsúp-lơvàkhoaitẩysinhmờicácngàigọimón!
—Nào—chúng ta ăn gì đây, anh bạn già?—người khách trẻ tuổi hơn quay sang nói với bạn đồng hành.
—Chúa ơi! Tôi muốn ăn đùi lợn luộc với cháo đậu chứ gì nữa, bạn tôi ơi!—câu trả lời đầy vẻ quả quyết vang lên, kèm theo một cái nhìn hung dữ hướng về phía gã bồi bàn như muốn dằn mặt rằng hắn tốt nhất đừng có giở trò vớ vẩn nào—dù rằng lúc ấy chẳng có gì xa lạ với tâm trí của gã tội nghiệp hơn thế.
—Rất tốt, thưa ngài!—gã bồi bàn la lên.—Lợn luộc và cháo đậu!—hắn hét lớn để thông báo cho cô nhân viên đứng quầy ở tận cuối phòng.
—Và tôi cũng thế,—bạn của vị người Ireland nói.
—Món giống vậy cho quý ông!—gã bồi bàn hét vang, lại hướng về phía cô gái vừa được nhắc tới.—Bia ale hay stout đây, thưa các ngài?
—Porter—một vại!—gã người Ireland hung dữ quát lên.
—Bia pale ale cho tôi,—bạn hắn ra hiệu.
—Một vại porter và một vại pale ale cho hai quý ông!—gã bồi bàn gân cổ gọi.—Rau củ—bánh mì chứ?—hắn hỏi tiếp.
—Không bánh mì—rau xanh!—gã người Ireland bật thốt.
—Bánh mì và khoai tây cho tôi,—bạn hắn nói.
—Một bánh mì—một rau xanh—một khoai tây—cho các quý ông!—gã bồi bàn hét lên, truyền đạt những chỉ thị cuối cùng cho cô gái đang túc trực ở quầy bar; và cô nàng liền chuyển từng mệnh lệnh mới xuống một đường ống thông thẳng với nhà bếp—giọng điệu của cô ta thì điệu đà còn tác phong thì uỷ mị trái ngược hẳn với vẻ tự nhiên, nhanh nhẹn và tất bật của gã bồi bàn.
Nhưng trước khi những món ngon được gọi ấy được kéo từ dưới bếp lên quầy bằng chiếc thang máy nhỏ dịch vụ chạy lên xuống giữa hai khu vực vừa rồi—chúng ta phải dừng lại để thông báo với độc giả—nếu quả thực họ chưa hề đoán ra điều đó—rằng hai vị khách ghé thăm quán ăn ở Bucklersbury chính là hai người bạn cũ của chúng ta: Đại úy O’Blunderbuss và ông Francis Curtis!
Vị đại úy hào hoa lúc này đã bước sang tuổi sáu mươi tư; và dẫu thời gian đã làm đầu ông hói trọc, ria mép và ria cằm bạc trắng như cước, vẻ hung dữ trên gương mặt ông vẫn nguyên vẹn và bản tính nóng như lửa chưa hề suy giảm. Ông vẫn là Đại úy O’Blunderbuss đáng sợ—sẵn sàng đấu súng với bất cứ ai trong mọi hoàn cảnh—và ngày càng nghiện rượu poteen nặng hơn xưa. Dáng người ông vẫn thẳng thắn như thời trai trẻ; và chiếc áo khoác quân phục có viền dây bện được cài kín ngực, che chở cho lồng ngực nở nang không một chút còng lưng. Vị đại úy có phần mập mạp hơn hồi chúng ta chia tay ông mười chín năm về trước; nhưng thể lực của ông có vẻ vẫn tráng kiện như xưa.
Frank Curtis lúc này đã ở tuổi bốn mươi ba. Anh ta cũng đã “đẫy đà” hơn theo cách gọi thông thường; nhưng gương mặt khi béo lên lại chẳng hề mất đi vẻ trơ trẽn, tự phụ đáng ghét, và tác phong thì vẫn xấc láo như ngày nào. Anh ta cũng chẳng từ bỏ thói quen hay nói dối, mà trái lại còn phát huy thêm bằng cách thay đổi kiểu khoác lác và bản chất những lời bị đặt của mình. Anh ta vẫn ăn mặc theo lối loè loẹt—mê mẩn những chiếc chiếc mũ có kiểu dáng kỳ quái, và chiếc áo lê-gim tập hợp trên một thước vải tất cả các màu sắc tồn tại và có tên gọi trên trái đất này.
Tuy nhiên, chúng ta phải thừa nhận—vì không thể che giấu sự thật về điểm này—rằng cả đại úy lẫn anh chàng Frank Curtis đều phảng phất một vẻ tàn tạ, xơ xác mà dẫu có dùng sự hách dịch của người này hay thói tự phụ trơ trẽn của người kia cũng không sao che đậy nổi. Rõ ràng là họ đã mất đi sự tín nhiệm của những thợ may, thợ làm mũ—và thậm chí cả những bà giặt là;—bởi trang phục của họ lẽ ra có thể đỡ sờn rách hơn một chút, và cổ tay áo cũng có thể sạch sẽ hơn đôi chút. Chúng ta dùng từ “cổ tay áo”, bởi đó là phần duy nhất trên chiếc áo sơ mi của họ lọt vào mắt người nhìn—khi chiếc áo khoác viền dây của đại úy và chiếc áo lê-gim hai hàng khuy đã phai màu của anh Curtis đều được cài kín đến tận cổ.
—Này bồi bàn!—vị sĩ quan hào hoa cất giọng quát lớn khi thời gian gọi món đã trôi qua khoảng một phút rưỡi.
—Vâng, thưa ngài—tôi ra ngay đây,—gã nhân viên được gọi đáp vọng lại trong lúc vội vã chạy đi theo một hướng hoàn toàn khác.
—Chúa thánh thần ơi!—đại úy thốt lên, đấm mạnh một cú xuống bàn đến mức lọ tiêu nhảy múa điệu polka với lọ mù tạt, còn dao và nĩa thì biểu diễn một vũ điệu pas de quatre.—Cái món đùi lợn luộc và cháo đậu đó rốt cuộc hôm nay có chịu mang ra không hả?
—Dạ ra ngay đây, thưa ngài!—gã bồi bàn đáp, chẳng hề tỏ ra hoảng hốt chút nào dù đang bận rộn túi bụi—bởi bọn bồi bàn luôn giữ được vẻ điềm tĩnh và thản nhiên ngay cả khi vội vã nhất.
—Nếu trong vòng bảy giây nữa mà nó không xuất hiện, đồ khốn kiếp,—đại úy gầm lên,—ta sẽ lột da mi sống đấy!
—Rất vâng lời, thưa ngài,—gã bồi bàn vừa nói vừa vội vã chạy đi phục vụ những vị khách mới đến.
—Điểm tuyệt vời của các quán ăn kiểu Pháp là ngay khi bạn gọi món thì chúng xuất hiện trên bàn như có phép thuật vậy,—Frank Curtis nhận xét với giọng đủ lớn để mọi người có mặt đều biết rằng anh ta từng đến Pháp.—Hồi tôi ở Paris—trong sứ mệnh bí mật từ Chính phủ Anh ấy mà, thưa đại úy———
—Chúa ơi! Tôi nhớ rõ lắm chứ,—vị sĩ quan hào hoa thốt lên.—Đó cũng là lúc tôi đến để hiến dâng thanh gươm và sức lực của mình cho Hoàng đế xứ Thổ—ý tôi là Sultan.
—Đúng vậy đấy,—Frank nói.—Thôi nào—như tôi đang định kể cho anh nghe——
—Hai lợn luộc—hai cháo đậu—cho các quý ông,—gã bồi bàn lên tiếng đúng lúc đó, đặt những chiếc đĩa lên bàn.—Một—bánh mì—một rau xanh—một khoai tây—cho các quý ông.
Đại úy và anh Curtis lao vào thưởng thức những món ngon được bày trước mặt; và sau một khoảng lặng, trong đó món lợn luộc và những thứ kèm theo biến mất với tốc độ đáng kinh ngạc, anh chàng kia nghiêng người qua bàn, thì thầm nhỏ nhẹ:—Thật là may mắn hết sức khi tôi vừa gặp được anh bạn Styles lúc nãy; bởi nếu anh ấy không cho tôi mượn đồng tiền vàng này, chúng ta đã phải nhịn bữa trưa cũng như nhịn bữa sáng rồi.
—Chúa ơi! Điều đó thì đúng quá rồi, Frank!—vị sĩ quan hào hoa đáp lại, cũng bằng giọng thầm thì.—Cậu hẹn gặp lại ông Styles vào chiều nay ở đâu thế?
—Ở một quán rượu nhỏ xinh xắn mà tôi biết—nơi có căn phòng lịch sự và những loại rượu mạnh tuyệt hảo,—anh Curtis đáp.
—A! Rượu poteen chính hiệu—thức uống tuyệt vời!—đại úy nói.—Thế thì thật là phúc đức lớn lao, dẫu sao đi nữa! Và, lạy Chúa! Tôi hy vọng bạn cậu là ông Styles sẽ giúp chúng ta làm nên trò trống gì đó như ông ấy đã gợi ý—vì thề có các đấng thần linh ạ! Frank, đi kiếm mấy đồng tiền vốn hoạt động quả là một việc trần ai khoai củ!
—Styles là một tay cự phách đấy, đại úy,—anh Curtis đáp, chép miệng sau ngụm bia pale ale cuối cùng—hay “palale” theo cách gọi của gã bồi bàn.—Chính Chúa phù hộ cho anh! Cính anh ấy là người đã lập ra Công ty Vận tải Khinh khí cầu London và Paris, có cả các nhánh dù bay đến Dover và Calais đấy.
—Và tại sao nó lại thất bại?—vị sĩ quan hào hoa hỏi.
—Đơn giản vì nó vốn chẳng hề định thành công,—Frank đáp với giọng tỉnh bơ.—Mục đích là kiếm tiền bằng cách trưng bày những chiếc khinh khí cầu và dù sẽ dùng trong dự án; và báo chí đã vào cuộc rất nghiêm túc. Chừng nào sự tò mò còn được duy trì, Styles đút túi hơn năm gươn-ni mỗi ngày chỉ nhờ tiền vé một shilling một đầu người. À mà anh ta là một tay thông minh—một tay cực kỳ thông minh, tôi phải nói cho anh biết đấy. Nhưng cũng gần đến giờ chúng ta phải đi gặp anh ta rồi: vì dẫu chẳng có việc gì đặc biệt để làm vào lúc này, anh ta luôn tỏ ra bận rộn và không bao giờ đợi quá một phút cho một cuộc hẹn:—đó là cách anh ta tạo dựng cho mình tiếng tăm của một người đúng giờ và có tác phong công nghiệp.
—Này bồi bàn!—Đại úy O’Blunderbuss quát lớn.
—Dạ đến ngay đây, thưa ngài!—gã nhân viên vừa được gọi réo lên: rồi lao xộc đến bàn, cất giọng hỏi.—Phô mai không, thưa các ngài?
—Không. Hết bao nhiêu tiền?—Curtis hỏi.
Gã bồi bàn nhanh chóng liệt kê các món và nêu tổng số tiền, liền được Frank thanh toán ngay lập tức khi anh ta hào phóng ném xuống một đồng vàng như thể trong túi vẫn còn đầy rẫy những đồng tiền cùng loại. Khi nhận lại tiền thừa, anh ta boa cho gã bồi bàn sáu xu—một cử chỉ hào phóng khiến kẻ có con mắt tinh đời ấy phớt lờ mọi yêu cầu phục vụ khác vào lúc đó, cho đến khi hắn đã cung kính tiễn đưa hai vị quý ông ra tận cửa.
Rời khỏi quán ăn, Đại úy O’Blunderbuss và anh Frank Curtis tay trong tay bước vào phố Cheapside; và khi thoáng nhìn thấy chiếc đồng hồ của nhà thờ Bow Church, anh Curtis liền cất giọng:—Chúng ta còn khối thời gian. Mới có hai rưỡi thôi—mà ba giờ chúng ta mới hẹn gặp Styles ở một quán rượu trên đường Fleet Street. Thế nên chẳng cần phải phi nhanh như thể có cả một đội cảnh sát tư pháp đang bám sát gót đâu.
—Chúa ơi! Cậu có nhớ những trò vui tơi bời mà chúng ta từng có với mấy tên vô lại bám đuôi trên phố Baker Street không?—vị sĩ quan hào hoa kêu lên.—Tính ra chắc cũng phải hơn hai mươi năm rồi—hay ít ra cũng mười chín!
—Và anh có nhớ những trận cười bể bụng của chúng ta trong nhà tù King’s Bench hồi mấy vị ủy viên già buồn ngủ giam giữ tôi lại không?—Curtis nói.
—Thề có gậy thánh thần! Tôi chẳng quên mảy may chuyện nào trong số đó cả!—đại úy thốt lên.—Nhưng đó thực sự là một cú giáng đau đớn cho cậu, bạn tôi ơi, khi ngài Christopher qua đời mà chẳng để lại cho cậu lấy một xu cắc ké!
—Tôi không dám nghĩ đến chuyện đó đâu, đại úy—dù đã chừng chục năm hoặc hơn trôi qua kể từ dạo ấy. Nhưng anh đoán xem hôm nọ tôi đã trông thấy ai ngồi trên xe ngựa sang trọng hệt như thể bà ta là quý phu nhân từ bé?
—Chúa ơi! Ý cậu là người vợ cũ của ngài Christopher chứ gì?—vị sĩ quan hào hoa thốt lên.—Bà ta có còn dẫn theo tên đầy tớ mặc đồng phục oai vệ đứng đằng sau như mọi khi không?
—Có chứ—và cậu nhóc Blunt ngồi bên trong,—Curtis nói thêm.—Thằng bé trông giống y chang gã người hầu béo mập, hệt như một đứa trẻ đối với một người trung niên trên đời này vậy—vẫn cái mặt bệu nước tiểu—tóc đỏ quánh—ánh mắt đờ đẫn——
—Thôi nào, thề có các đấng thần linh! Tôi nghĩ cậu hơi quá đáng với tên người hầu rồi đấy, Frank!—đại úy ngắt lời.—Hắn đâu phải là kẻ xấu xí như cách cậu cố mô tả. Tôi không bảo, chẳng hạn như hắn đẹp trai bằng cậu, bạn hiền của tôi ơi—hay lại cân đối dẻo dai bằng tôi, Frank——
—Còn lâu mới bằng được, đại úy,—anh Curtis kêu lên.—Tôi nghĩ lúc này chúng ta không phải là những kẻ có ngoại hình tệ hại nhất ở phố Cheapside đâu. Đó chính xác là điều mà Styles đã nói với chúng ta sáng nay. ‘Tôi muốn một đôi bạn lịch lãm như các anh,’ anh ấy bảo thế, ‘cùng tham gia với tôi vào một việc đang làm dang dở.’
—Chúng ta chính là những gã hoàn hảo để hợp tác với anh ta, Frank!—đại úy kêu lên:—và hơn thế nữa, cậu và tôi có thể phối hợp nhịp nhàng với nhau. Chẳng phải tự nhiên mà chúng ta làm bạn bè suốt hai mươi năm qua đâu.
—Trong khoảng thời gian đó, chúng ta đã trải qua bao thăng trầm, đại úy,—Frank nhận xét,—đã ăn không biết bao nhiêu bữa cơm ngon, và cũng phải nhịn đói không biết bao nhiêu lần—tiêu sạch không biết bao nhiêu đồng gươn-ni, và trải qua không ít ngày chẳng biết quỷ thần ở đâu mà kiếm lấy một đồng shilling——
—Thề có các đấng thần linh! Và chúng ta cũng có không biết bao nhiêu trận cười ra nước mắt nữa chứ lị!—Đại úy O’Blunderbuss nói.—Cậu có nhớ lần chúng ta bị tống vào đồn cảnh sát vào cái đêm mà người vợ thân yêu của cậu bỏ đi theo ông già đem lòng yêu cô ta, và——
—Và kẻ đã tốt bụng gánh thay cho tôi người vợ cùng với năm cái đuôi nheo phiền phức ấy!—Frank cười lớn sảng khoái.—À! Đó quả là một thương vụ huy hoàng—ý tôi là lão Shipley đã giải thoát cho tôi khỏi người vợ hiền và năm trách nhiệm lớn lao.
—Và chẳng phải chính tôi là kẻ đứng ra ngã giá thay cho cậu đó sao?—đại úy đòi công.—Chẳng phải chính tôi đã bắt lão ta móc ra một ngàn bảng để tránh một vụ kiện ngoại tình sao? Thề có rượu poteen của Ireland quê tôi—tôi đã thực hiện vụ đó gọn gàng và sạch sẽ hệt như bất kỳ thương vụ nào từng được giải quyết trên cõi đời này!
—Đúng thế thật, đại úy,—Frank nói.—Nhưng tôi xin thề là đã điểm ba giờ sát nút rồi kìa!—anh ta kêu lên, ngước nhìn lên nhà thờ Saint Bride mà họ đang đi ngang qua.—Sao chúng ta lại la cà lâu thế không biết! Tôi ước gì đại úy đừng có dừng lại ngắm nghía mấy cô nàng mãi thế,—anh nói thêm và cười phá lên.
—Chúa ơi! Chính cậu mới là kẻ cứ liếc mắt đưa tình với mọi cô ả chúng ta gặp trên đường đấy chứ, Frank,—đại úy đáp trả lời bóng gió vốn được coi là một lời khen ngợi mang tính bè bạn.—Nhưng mà chốn nào thế, hả cậu trai?
—Ở đây này,—Curtis nói, rẽ vào một quán rượu trên đường Fleet Street đúng lúc đồng hồ điểm ba giờ.