“Máu trong người tôi đang sôi sục như dòng dung nham. Giờ đây, dường như tôi có thể hít thở bầu không khí trong lành một cách tự do, sau quãng thời gian chỉ toàn thở gấp gỉa. Vậy rốt cuộc, thứ thống khổ nào đã khiến tâm hồn tôi chấn động dữ dội đến thế?—loại đau đớn nào đã để lại những cảm giác kỳ lạ và phi tự nhiên nhường này? Phải chăng tôi vừa bừng tỉnh sau một giấc mộng mị với những ý nghĩ bỏng rẫy và những viễn cảnh hãi hùng?—hay ẩn chứa chút sự thật nào trong những hình ảnh gớm ghiếc dường như đã lướt qua bộ não tôi tựa một bóng ma rùng rợn? Tiếng nấc nghẹn ngào chực trào dâng từ lồng ngực tôi, tự phát như một phản xạ, mang ý nghĩa gì? Lạy Chúa! Lúc này tôi có cảm giác như mọi ý tưởng điên rồ nhất, cuồng loạn nhất đã dồn nén lại thành những tập sách dày, nhưng lại bị nén chặt chỉ trong vài khoảnh khắc! Tôi đang sảng sao chăng?—tôi có thực sự đang ở đây—trong một căn phòng được bài trí sang trọng—và ngồi bên chiếc bàn này để viết không? Ánh nắng rực rỡ có đang tràn qua ô cửa sổ để ngỏ không?—và làn gió có đang lùa vào phòng, mơn man gò má đang bừng lên vì sốt cùng vương trán đang nhức nhối, đồng thời mang theo hương thơm ngát của các loài hoa đến cho tôi không? Tất cả những điều này là sự thật—hay chỉ là một giấc mơ?
“Tôi có còn là một cư dân của cõi trần gian này không,—cõi trần mà dường như có lúc tôi đã quên sạch mọi ký ức, để rồi trải qua khoảng thời gian đó trong một chốn hỗn mang đầy rẫy những hình ảnh kinh hoàng—những bóng ma gớm ghiếc—những sinh vật kỳ dị không thể gọi tên? Ổ, tôi nhớ ra rồi—tôi đã tìm thấy xấp giấy này, chiếc bút này, và lọ mực này ở chiếc tủ đựng quần áo lớn và bề thế được chạm trổ vô cùng tinh xảo kia;—và có điều gì đó đang mách bảo rằng có kẻ đang canh chừng mọi cử động của tôi—rình mò hành động của tôi—và chúng sẽ nổi giận với tôi—thậm chí ngược đãi tôi—nếu chúng bắt gặp tôi đang viết lại những ý nghĩ của mình. Ôi! Tôi sợ lắm—tôi sợ lắm. Lạy Chúa! Tôi đang ở đâu thế này? Đầu óc tôi đang quay cuồng—máu trong người tôi lại bắt đầu sôi lên—bàn tay tôi run rẩy khi viết. Nhưng tại sao tôi lại phải viết nhỉ? Tôi chẳng biết nữa:—vậy mà việc này dường như lại khiến tôi thấy dễ chịu hơn!
“Nếu có ai—bất kỳ ai trong số những kẻ mà tôi nhớ là vừa mới nhìn thấy lúc nãy—cố gắng bước vào phòng, tôi sẽ giấu xấp giấy của mình vào chiếc tủ kia. Hay là giấu dưới gầm giường nhỉ?—hoặc nhét giữa những tấm đệm? Không: cứ để trong chiếc tủ ấy—đó là nơi an toàn nhất, tôi hoàn toàn tin chắc như vậy.
“Nhưng tại sao tôi lại không ra ngoài dạo chơi trong khu vườn mà tôi có thể nhìn thấy qua cửa sổ nhỉ?—hoặc đi sâu vào những cánh đồng ở đằng xa, rồi nằm xuống và suy ngẫm? Nếu ngọn gió lùa vào phòng này đã mang lại cho tôi sự dễ chịu, thì tôi sẽ cảm thấy sảng khoái biết bao nếu được lang thang giữa chốn đồng không hiu quạnh! Phải—tôi sẽ đi.
“Thế này là thế nào? Tôi vừa thử mở cửa—và nó đã bị khóa! Kẻ nào dám đối xử với tôi như vậy—với tôi—một quý tộc có dòng dõi và gia thế chứ? Tôi sẽ không dung thứ cho hành vi ấy: tôi sẽ cầu cứu anh trai tôi, vị thẩm phán, để được bảo vệ. Anh ấy sẽ treo cổ những kẻ khốn nạn đã cả gan gây ra sự hỗn xược này.
“Lạy Chúa! Tôi đang nhìn thấy gì thế kia? Cửa sổ có chấn song! Hỡi các đấng thần linh vĩ đại! Tôi phát điên mất thôi!
“Điên ư! Phải—đó là từ cuối cùng mà tôi viết ngày hôm qua—tôi đoán chắc đó là ngày hôm qua—khi tôi vội vã giấu xấp giấy đi lúc nghe thấy tiếng ai đó đến gần cửa. Tôi nhớ rõ điều đó lắm! Phải—đó là một ông lão, với nét mặt hiền từ và phúc hậu—mặc trang phục đen, cổ áo trắng tinh khôi—đeo một sợi dây chuyền lớn cùng những con dấu. Tôi đã nhìn ông ấy rất kỹ: nhưng tôi không hề quen biết ông. Tôi không nghĩ rằng mình từng gặp ông trước đây. Ông ngồi xuống cạnh tôi—bắt mạch cho tôi—và hỏi tôi mấy câu. À! Một ý nghĩ lóe lên trong đầu tôi: vị lão ông tốt bụng đó là một bác sĩ. Và bây giờ,—vải—tôi nghĩ mình có thể nhớ lại tất cả,—tôi đã lăng mạ ông ấy—tôi đã sỉ nhục ông ấy một cách vô cùng thô bạo;—và rồi mấy tên đàn ông bước vào, ép tôi phải lên giường. Chúng lột quần áo của tôi bằng vũ lực. Tôi đã chống cự lại chúng; nhưng chẳng ích gì.
“Ôi! Tất cả những điều này nghĩa là gì? Tại sao những kẻ đó lại khống chế tôi?—tại sao vị bác sĩ ấy lại phải chăm sóc tôi?—và tại sao ô cửa sổ kia lại có chấn song? Lạy Chúa nhân từ! Không thể nào có chuyện đó—không—không—ý nghĩ hãi hùng ấy——
“Phải: chắc chắn là thế rồi—tôi thực sự đã phát điên!
“Một lần nữa, tôi ngồi xuống, điềm tĩnh và thản nhiên để viết. Tôi đã cân nhắc kỹ lưỡng tình trạng của mình—tự đặt ra cho bản thân hàng ngàn câu hỏi—đọc lại những gì tôi vừa viết ở trên—cố gắng hồi tưởng lại tất cả quá khứ—xem xét thật cẩn thận hiện tại—và dám nghĩ về tương lai. Qua tất cả những điều này—và qua những thanh chấn song bên cửa sổ—tôi biết chắc rằng mình đã mất trí!
“Phải: nhưng giờ đây tôi có thể viết ra từ ấy mà không hề bị kích động; và tôi phải tập viết lại nó nhiều lần, để dần dần lấy lại được sự bình tĩnh cần thiết, sao cho có thể ghi lại trên trang giấy này mọi chuyện đã xảy ra với mình. Khi đó, tôi sẽ nắm giữ một ký ức xác thực—một chiếc chìa khóa vững chắc để mở cửa quá khứ; và nếu trong một khoảnh khắc mê sảng, tôi lại quên hết những gì đã xảy ra, tôi có thể nhanh chóng khắc sâu lại câu chuyện bi thảm ấy vào trí nhớ trong một khoảng thời gian minh mẫn như lúc này.
“Điên—điên—điên—điên! Thế đấy—giờ đây tôi có thể viết ra từ đó mà không hề chút kích động; và đây là một chiến thắng tôi đã đạt được. Bằng cách nắm bắt một cách trọn vẹn và chính xác vị thế thực sự của mình, tôi sẽ biết phải hành xử ra sao. Tôi ý thức được rằng mình đang ở trong một nhà thương điên; tôi cũng nhận thức rõ rằng bản thân đã trải qua những khoảng thời gian mê sảng đầy sợ hãi. Nhưng tôi phải trấn an bản thân càng nhiều càng tốt. Tôi không thể cứ mãi ở lại cái nơi kinh hoàng này;—và nếu không thể hoàn toàn trở lại người bình thường, ít ra tôi có thể giả vờ như thế—và rồi họ sẽ thả tôi ra. Tuy nhiên, để lấy lại được trí tuệ, hoặc ra vẻ như đã hồi phục lý trí, tôi phải ghi nhớ mọi chuyện đã xảy ra với mình, để có thể trò chuyện một cách điềm tĩnh và có lý có lẽ về vấn đề đó. Khoan đã! Tôi sẽ suy nghĩ—tôi sẽ ngẫm nghĩ thật sâu sắc trong suốt phần ngày còn lại; và ngày mai tôi sẽ cầm bút trở lại.
“Cầu trời cho vị bác sĩ hay đám gia nhân của ông ta—hoặc mụ quản gia tò mò kia, đừng có bén mảng nhìn vào cái tủ quần áo! Tôi thà chết chứ không chịu mất bản thảo này đâu.
“Ngày 13 tháng 6 năm 1846.
“Tôi đã biết hôm nay là ngày mấy trong tháng. Vị bác sĩ đã ở bên tôi suốt một tiếng đồng hồ; và ông ấy đã vui vẻ đáp ứng yêu cầu của tôi khi tôi xin một cuốn lịch. Ông bảo rằng hôm nay là ngày 13 tháng 6; và từ nay trở đi, tôi hy vọng mình có thể ghi nhớ chính xác các ngày tháng. Hồi tôi còn đi học—nhưng chuyện đó đã từ rất nhiều năm về trước rồi!—tôi thường tự làm lịch để tính xem còn bao lâu nữa thì đến kỳ nghỉ; và tối nào tôi cũng gạch bỏ ngày vừa trôi qua. Ôi! Thời thơ ấu hạnh phúc—hạnh phúc biết bao—ngươi sẽ chẳng bao giờ quay trở lại nữa sao? Ngươi đã đi mất vãng rồi sao? Giờ đây, tôi đành phải xóa đi từng ngày trôi qua, và cầu mong khoảng thời gian được giải thoát của mình đang đến gần. Đó sẽ là kỳ nghỉ của tuổi trưởng thành, thứ mà tôi phải ngóng trông với niềm hy vọng khát khao—sục sôi—bỏng rẫy nhường nào!
“Nhưng trở lại với câu chuyện của tôi.
“Một trăm ngàn bảng Anh đã thuộc về tôi vào ngày tôi bước sang tuổi trưởng thành. Chuyện đó cách đây đã chín năm rồi! Tôi hoàn toàn làm chủ cuộc đời mình: cha mẹ tôi đã qua đời từ lâu—và những người giám hộ thậm chí chẳng thèm khuyên răn tôi—huống hồ là kiểm soát tôi. Họ chẳng phải họ hàng gì—chỉ là những kẻ làm ăn buôn bán được ủy thác quản lý gia tài của tôi nhằm mục đích sinh sôi nảy nở. Ngay khoảnh khắc nắm trong tay khối tài sản đó, tôi đã lao đầu vào vòng xoáy của những cuộc vui chơi trác táng. Chúa ơi! Tôi đã chìm đắm trong những buổi tiệc tùng sa đọa đến mức nào chứ. Có ai uống rượu giỏi hơn tôi mà vẫn có thể lững thững đi bộ về nhà một cách vững vàng sau đó không?—ai được phái đẹp săn đón và ve vuết nhiều hơn tôi?—ai là kẻ thường xuyên lui tới các trường đua ngựa, sòng bạc, và những sào huyệt của thói hư tật xấu thời thượng cùng sự trụy lạc của giới quý tộc hơn tôi chứ? Thật là một tên ngốc! Tôi đã tưởng rằng tiêu tiền một cách phóng khoáng chính là tận hưởng cuộc sống một cách trọn vẹn. Tôi có liền một lúc ba nhân tình—ba người phụ nữ, mỗi người sống trong một cơ ngơi riêng, và toàn bộ chi phí đều do tôi gánh vác! Hậu quả là gì chứ? Vào tuổi hai lăm, thể chất của tôi gần như đã tàn tạ và tám mươi ngàn bảng Anh trong gia tài của tôi đã bay sạch. Nền tảng sự sống của tôi dường như đã bị khoét rỗng—bệnh tật đang gặm nhấm tận tâm can—một chuỗi ngày truỵ lạc không dứt đang đẩy tôi lao về phía mồ mã với tốc độ của một con ngựa đua!
“Đột nhiên, tôi bừng tỉnh như thể vừa qua khỏi một giấc chiêm bao. Nhưng không phải vì sự cắn rứt lương tâm đã chạm đến tôi,—cũng chẳng phải vì những lời khuyên răn tốt đẹp được ban ơn,—hay vì bất kỳ cảm xúc đức hạnh tiềm ẩn nào trỗi dậy. Cũng chẳng phải vì gia tài đã gần cạn kiệt và sức khỏe đang suy sụp nhanh chóng. Không: mà là bởi vào kỷ nguyên đó, lần đầu tiên tôi nhìn thấy Editha của mình! Ôi! Làm sao tôi có thể giữ được sự bình tĩnh lúc này, khi nghĩ về nàng như những gì tôi đã chiêm ngưỡng khi ấy,—chiêm ngưỡng nàng trong toàn bộ vẻ rực rỡ của nhan sắc vô song—tỏa sáng với vẻ đẹp tựa như đang bao bọc quanh nàng vầng hào quang chỉ thuộc về các thiên thần! Phải—khi ấy tôi hai mươi lăm tuổi, còn Editha Greville mới mười chín—cái độ tuổi tuyệt diệu khi vóc dáng thiếu nữ đang đơm hoa kết trái thành vẻ kiều diễm của người phụ nữ—tròn trịa, đầy đặn, và được tạc đẽo một cách tinh xảo tuyệt trần!
“Chúng tôi yêu nhau—gần như từ cái nhìn đầu tiên; và mặc dù phải mất vài tuần trước khi tôi dám thổ lộ mối tình của mình, tôi đã có thể đọc được trong đôi mắt của Editha rằng nàng không hề ghét bỏ tôi. Nàng là con một; cha nàng đã qua đời; mẹ nàng, dù là một phụ nữ vô cùng giàu có, nhưng rất ít khi giao du xã hội; và vì thế, lối sống hoằng hoãng của tôi không bị bà Greville biết rõ tường tận. Dù vậy, bà cũng từng nghe đồn rằng tôi là kẻ hoang phí và thiếu thận trọng; thế nhưng khi tôi khẩn khoản xin bà trao cho tay con gái bà, bà đã gật đầu đồng ý, đồng thời bày tỏ niềm hy vọng rằng lúc đó tôi đã trút bỏ hết mọi thói hư tật xấu thời trai trẻ và sẽ tu chí làm ăn khi bước vào đời sống hôn nhân. Cứ thế, tôi trở thành vị hôn được công nhận của Editha; và khi một vài người bạn của bà Greville—những kẻ biết rất rõ về tôi—trình bày với bà rằng tôi khét tiếng là một tay trác táng đã gần như phá sản, bà cụ vẫn đặt quá nhiều niềm tin vào những lời hứa hẹn hoàn lương mà tôi từng thốt ra, nên đã không rút lại sự chấp thuận mà bà từng dành cho cuộc hôn nhân của chúng tôi. Hơn thế nữa, bà thấy rằng Editha vô cùng gắn bó với tôi, và hạnh phúc của thiếu nữ kiều diễm ấy hoàn toàn phụ thuộc vào việc chuyện tình duyên được xuôi chèo mát mái.

“Nhưng, ôi chao! Những suy nghĩ đầy đau đớn cứ thế len lỏi vào tâm trí tôi. Tôi cảm thấy thể chất của mình đã tàn phế—và tin chắc rằng bản thân đang mắc bệnh lao phổi. Trung thành với những lời thề nguyện trang trọng mà tôi từng hứa với bà Greville, tôi đã thay đổi hoàn toàn lối sống của mình; và thay vì uống rượu quá độ, tôi tuyệt giao với mọi loại thức uống có cồn. Tương tự, thay vì dành trọn đêm thâu cho những cuộc vui chơi trác táng, tôi trở về nhà từ sớm và tìm đến chiếc giường của mình. Thế nhưng, sự thay đổi đột ngột trong lối sống ấy lại gây ra những hậu quả mà tôi chỉ có thể so sánh với phản ứng dữ dội khủng khiếp mà một người phải trải qua khi thức dậy vào buổi sáng sau một đêm chìm đắm trong cơn say khướt. Một sức nặng ngàn cân đổ ập lên tâm trạng tôi. Tôi trở nên buồn bã và chán nản đến mức những ý nghĩ kinh khủng về việc tự sát cứ luẩn quẩn trong bộ não tôi. Sự suy nhược thần kinh của tôi đã lên đến cực điểm, vô cùng đau đớn và dữ dội. Chỉ cần một tiếng gõ cửa hoặc tiếng chuông cửa lớn hơn bình thường cũng đủ khiến tôi giật bắn mình như thể vừa phạm tội và đang chờ đợi nha lại tới bắt giam. Tôi liên tục tưởng tượng ra những viễn cảnh khủng khiếp nhất về tương lai; và khi chìm đắm trong những cơn mơ màng ấy, tôi thực sự tin rằng mình đang chứng kiến những điều có thật—tình trạng bệnh lý của tâm trí tôi lúc bấy giờ đã tồi tệ đến thế là cùng!
“Do đó, việc tôi bắt đầu suy ngẫm về bước đi mà mình đã thực hiện đối với Editha là điều hoàn toàn dễ hiểu. Tôi đã tìm kiếm và chiếm được tình cảm của một sinh linh xinh đẹp, người sở hữu một trái tim nhân hậu, một tính cách đáng yêu, và một tâm hồn giàu tình cảm; và tôi bàng hoàng khi nghĩ rằng một tạo vật như thế, đang ở độ tuổi thanh xuân tràn trề sức sống, lại phải bước lên bệ thờ kết hôn với một kẻ có thân hình tàn tạ, năng lượng sống hầu như đã cạn kiệt, và dường như đang lơ lửng ngay bên bờ vực của cái chết! Ôi! Những suy nghĩ ấy mới phát điên làm sao! Tôi coi bản thân mình là một tên đểu cáng—một kẻ lừa đảo; và hết lần này đến lần khác—tôi suýt chút nữa đã quỳ sụp xuống chân bà Greville mà kêu lên rằng: ‘Xin ngài hãy tha thứ cho con, thưa phu nhân, vì đã dám ngỏ lời cầu hôn con gái ngài! Con chẳng qua chỉ là một bóng ma—một cái bóng: ngón tay của Thần Chết đang đặt lên người con rồi,—và nếu Editha bước theo con lên bệ thờ, rất có thể chưa đầy một năm nữa nàng sẽ phải nối gót con xuống mồ!’—Nhưng khi nghĩ đến nhan sắc vô song của Editha, và ngẫm lại sự vĩ đại của tình yêu mà tôi dành cho nàng, tôi lại không đủ can đảm để từ bỏ hy vọng được sở hữu một báu vật nhường ấy. Hơn thế nữa, khi ở bên nàng, tôi có thể mỉm cười và vui vẻ: giọng nói ngân nga của nàng làm tôi say đắm hơn cả những giai điệu đầy cảm hứng của một nữ thi sĩ ứng tác;—hơi thở của nàng thơm ngát hơn cả hương hoa—đôi môi nàng ngọt ngào hơn cả giọt mật trên những đóa hoa xuân! Ôi! Không—không: tôi không thể từ bỏ Editha của mình! Thế nhưng vẫn chưa có ngày nào được ấn định cho đám cưới của chúng tôi—và sáu tuần đã trôi qua kể từ ngày tôi ngỏ lời và được chấp thuận. Tôi có nên thú nhận sự thật không? Tôi không dám xin mẹ nàng chọn ngày: tôi né tránh ý nghĩ ấy như thể mình đang mưu toan phạm tội ác mớ—đã nhắm sẵn nạn nhân—nhưng lại sợ hãi việc phải định đoạt ngày giờ mà nhát dao sát nhân sẽ giáng xuống!
“Một buổi sáng, khi tôi đang nằm trên giường suy ngẫm về tất cả những điều này—bởi cơn trầm uất tối tăm đang bao trùm lấy tôi—thì người hầu phòng bước vào phòng mang theo những tờ báo buổi sáng. Tôi thờ thợ lật giở một tờ báo, thì đôi mắt bất chợt bắt gặp một mẩu quảng cáo có tựa đề thế này:—‘Tuổi Trẻ, Những Nguyên Nhân Dẫn Đến Sự Suy Tàn Sớm; Kèm Theo Những Gợi Ý Rõ Ràng Để Hồi Sức Hoàn Toàn.’ Cuốn sách này được thông báo là tác phẩm xuất thân từ ngòi bút của T. L. Surtees và Cục, các Bác sĩ Tư vấn, ngụ tại một trong những con phố dẫn ra Quảng trường Soho; và qua một số trích dẫn lời khen từ các tờ báo hàng đầu, có vẻ như cuốn sách là một chuyên luận y khoa có tính hữu ích, giá trị và tầm quan trọng rất lớn. Hy vọng lúc bấy giờ mới lóe lên trong tâm hồn tôi. Biết đâu thể chất của tôi chưa đến mức bị tổn hại không thể cứu vãn? Rốt cuộc thì có lẽ tôi không mắc bệnh lao phổi chăng? Những suy nghĩ ấy cứ thế hiện lên trong đầu tôi sau khi đọc đi đọc lại mẩu quảng cáo đó; và tôi quyết định không chần chừ thêm một phút nào nữa, phải đến gặp ngay những vị y sĩ tài ba đảm nhận việc hồi phục thể chất cho mọi cơ địa, dù trường hợp đó có vẻ tuyệt vọng đến đâu chăng nữa. Thế rồi, sau khi vội vã thay quần áo, tôi bắt một chiếc xe hơi đi đến địa chỉ được nêu trong quảng cáo. Ngôi nhà có vẻ ngoài vô cùng bề thế; và dòng chữ ‘Surtees và Cục, Bác sĩ Tư vấn,’ hiện lên bằng những chữ cái đen đậm trên những tấm kẽm lớn sáng loáng. Những chiếc rèm che nắng màu nâu vàng buông xuống; và khi bước chân xuống xe với trái tim đang đập thình thịch, tôi tự nhủ: ‘Chắc chắn những vị danh y này có bệnh nhân đang chờ ở mọi căn phòng để được họ tư vấn đây.’ Bước vào hành lang, tôi thấy một cánh cửa bên trong gắn tay nắm bằng đồng và có ô kính mờ nửa vòng tròn trên đó khắc đúng những dòng chữ xuất hiện trên các tấm kẽm bóng loáng. Tôi được một người hầu nam lập tức đón vào và dẫn lên lầu đến một phòng khách, mà mọi chi tiết vào khoảnh khắc này vẫn còn tươi nguyên trong ký ức tôi cứ như thể tôi đang ngồi và viết ở đó ngay lúc này vậy.
“Căn phòng này thoạt nhìn đã gây ấn tượng cho tôi về một vẻ xa hoa lộng lẫy; nhưng khi quan sát kỹ hơn các vật dụng bài trí bên trong, tôi nhận ra rằng gu thẩm mỹ dung tục nhất đã ngự trị trong việc trang trí nơi này. Giấy dán tường mang màu đỏ sậm và vàng; trên các bức tranh được lồng trong những chiếc khung nguy nga treo dọc tường, càng làm cho những bức họa bôi bác ấy trở nên thảm hại và lố bịch hơn. Hai trong số đó được che bằng kính tấm, như thể chúng vô cùng giá trị; trong khi thực chất chúng cũng tệ hại chẳng kém gì những bức còn lại. ‘Hẳn là một kẻ vô lương tâm nào đó,’ tôi thầm nghĩ, ‘đã lừa gạt những vị bác sĩ đáng kính này bằng cách giới thiệu cho họ những bức tranh mà đến nhà để rác tôi cũng chẳng thèm nhận. Nhưng những người có tư duy triết học và cống hiến cho các nghiên cứu chuyên môn hiếm khi lại là những thẩm định viên giỏi về các tác phẩm nghệ thuật.’ Vừa ngẫm nghĩ như thế, tôi vừa tiếp tục quan sát căn phòng; và tôi không khỏi ngạc nhiên trước sự thô tục tột cùng cùng sự vắng bóng hoàn toàn của khiếu thẩm mỹ vốn đặc trưng cho vô số món đồ sứ kiểu Pháp bày bừa khắp nơi. Nơi này là một bức tượng Phật Trung Hoa có cái đầu cử động được; nơi kia là một gã bán hàng rong ngồi trên một con dê khổng lồ. Ở các góc lò sưởi là hai bức tranh rõ ràng được cắt ra từ một bức tranh lớn, vẽ những em bé trường từ thiện nhỏ. Giữa phòng kê một chiếc bàn tròn chơi bài loo, trên đặt một chiếc bàn viết, và xung quanh là những ấn phẩm y khoa, mang trên trang bìa những cái tên đầy ma thuật của những vị quý ông mà tôi đang hồi hộp chờ đợi được gặp. Tò mò, tôi mở một trong những cuốn sách ấy ra; nhưng sự khiêu dâm của những hình minh họa màu in trong đó khiến tôi phát tởm. Tuy nhiên, chỉ một thoáng suy nghĩ đã khiến tôi tự nhủ rằng chẳng có gì là bất lịch sự trong việc khai mở nghệ thuật y khoa thần thánh; và tôi cảm thấy xấu hổ vì thậm chí đã có lúc nảy sinh những sự e dè như thế. Là lời nhận xét kết luận về chính căn phòng khách này, tôi phải nói rằng toàn bộ vẻ bề ngoài của nó thể hiện gu thẩm mỹ của một kẻ phất lên nhờ thời vận hơn là vẻ tao nhã tinh tế của một tâm trí được mài giũa.
“Sau khi chờ đợi gần ba phần tư giờ đồng hồ, một người hầu nam xuất hiện, và với vô số cái cúi đầu khép nép, dẫn tôi xuống lầu đi vào một phòng ăn được bài trí vô cùng loè loẹt và phô trương. Sự thô tục hạ tiện trong gu thẩm mỹ mà tôi từng nhận thấy ở những nơi khác lại tiếp tục lộ diện qua bộ rèm lụa damask màu đỏ sậm với tua rua và viền vàng—những chiếc gương soi trong khung nặng trịch—những bức họa loè loẹt treo trên tường—và đồ đạc được bố trí cốt để trưng bày. Cánh cửa đôi dẫn tôi vào một căn phòng phía trong, với vẻ ngoài cũng dung tục chẳng kém; và phía bên kia là một căn phòng nhỏ, chỉ rộng vài thước vuông, mà người hầu gọi là phòng phẫu thuật khi đẩy tôi vào.
“Tôi phải thú nhận rằng trái tim mình đập thình thịch khi bước qua hai căn phòng dẫn đến chốn thâm nghiêm nơi tôi mong đợi sẽ được diện kiến các vị y sĩ danh tiếng. Tôi từng hình dung về một cặp đôi quý ông lớn tuổi đáng kính, với thiên tài hiện rõ trên vầng trán cao hói, và ánh mắt bộc lộ toàn bộ sức mạnh của một trí tuệ uyên bác. Do đó, tôi không khỏi ngạc nhiên khi bước vào phòng phẫu thuật và chỉ thấy duy nhất một cá nhân, kẻ hoàn toàn trái ngược với bức chân dung mà tôi đã tự vẽ ra trong trí tưởng tượng. Các nét trên khuôn mặt hắn mang đậm nét Do Thái: làn da ngăm đen và bóng nhờn đặc trưng của tầng lớp người gốc Do Thái nghèo hèn;—tóc đen và rất dày; và phần râu quai nón mọc tràn dưới cằm. Đôi mắt hắn tối màu, và một bên mắt to hơn bên kia; chiếc mũi dơi của hắn hơi lệch sang một bên; và tổng thể khuôn mặt hắn ta kém sang, thô tục và ngu ngốc chưa từng thấy, hệt như một tấm gương phản chiếu một tâm hồn bủn xỉn, ti tiện. Trang phục của hắn mang kiểu cách phô trương, nửa vời giữa một kẻ phất lên nhờ thời vận và một tên côn đồ chuyên nghiệp ở chốn phồn hoa. Hắn mặc áo khoác dài màu xanh, áo ghi-lê loè loẹt, và chiếc quần rộng thùng thình được khoét ở mu bàn chân để ôm trọn đôi bốt da bóng loáng. Trên người hắn đeo đầy nữ trang;—một sợi dây chuyền vàng dày, với chiếc chìa khóa lớn lủng lẳng bên đồng hồ—chiếc áo sơ mi thêu đính những viên kim cương và khuy mạ men xanh;—còn đôi bàn tay dơ dáy của hắn đeo đầy nhẫn đắt tiền, trông lạc lõng chẳng khác nào ngọc trai đeo vào cổ lợn trên những ngón tay thô kệch, bám đầy ghèn đất.
“Đó chính là con người mà tôi đang diện kiến; và nếu lúc đó tâm trí tôi không ở trong trạng thái tuyệt vọng đến mức sẵn sàng bấu víu vào bất kỳ cọng rơm nào, thì tôi đã sớm nhìn thấu con người lẫn mánh khóe của hắn ta. Nhưng tôi lại tự nhủ bằng câu châm ngôn rằng không bao giờ nên đánh giá con người qua vẻ bề ngoài; và ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu tôi rằng rất nhiều người nổi tiếng với trí tuệ uyên bác lại có ngoại hình, tác phong lẫn cách nói chuyện hoàn toàn chẳng lấy gì làm đẹp mắt. Hơn nữa, tôi chưa bao giờ hùa theo những định kiến xấu hổ, bất công và ngớ ngẩn mà quá nhiều đồng hương của tôi dành cho người Do Thái; và vì thế, việc ông Surtees này là người gốc Do Thái hoàn toàn không để lại trong tôi bất kỳ ấn tượng bất lợi nào về ông ta.
“‘Xin mời ngồi,’ vị bác sĩ nói, với giọng điệu và tác phong mà lúc đó tôi lầm tưởng là sự tự lập trong nghề nghiệp, nhưng sau này mới phát hiện ra đó chỉ là sự xấc láo thô tục của một kẻ phất lên ngu dốt và tự đắc. Tôi kéo ghế ngồi theo lời mời; và khi hắn ngồi vào bàn làm việc, hắn chìa cái bàn tay dơ dáy đầy nhẫn ra và nói: ‘Vill you obleege me vith yer card?’—Tôi làm theo lời yêu cầu; nhưng không khỏi có chút do dự, vì tôi vốn hy vọng có thể tránh việc phải khai tên tuổi và địa chỉ của mình.—‘À, tôi hiểu rồi,’ ông Surtees nói bằng giọng trầm ngâm khi xem xét tấm danh thiếp: ‘Anh Macdonald,’ hắn tiếp tục đọc tên tôi. ‘Nhân tiện, anh có họ hàng gì với Hầu tước Burlington không? Vì họ của gia đình ngài ấy giống hệt họ của anh đấy.’—Tôi đáp rằng mình không có họ hàng gì với vị quý tộc được nhắc tới.—‘Vell, không sao cả,’ ông Surtees tiếp tục. ‘Hầu tước là bạn thân chí cốt của tôi. Ngài ấy mang ơn tôi rất nhiều. Hồi đầu ngài ấy đến gặp tôi với một cơ thể tàn tạ và kiệt quệ đến mức không một gã thợ mộc y khoa nào trên đất nước Anh này có thể chữa lành nổi ngoại trừ tôi. Nhưng chỉ trong vòng vài tuần, tôi đã giúp ngài ấy khỏe mạnh như vần vũ; và giờ đây ngài ấy sẵn sàng lao vào lửa đỏ nước sôi để phục vụ tôi. Chuyện đó chỉ ngốn của ngài ấy có vài ngàn bảng; và tính ra thì quá rẻ, chúa mới biết được! Nhưng sao hôm nay anh lại cất công đến gặp tôi thế? Có phải vì đã đọc được một trong những ấn phẩm y khoa của tôi không? À, mâý cuốn đó bán chạy lắm đấy nhé! Hay vì anh thấy mẩu quảng cáo của tôi trên báo?’—Tôi hoàn toàn bối rối trước tràng tiếng Anh tồi tệ và ngữ pháp thô bỉ ấy đến mức trong vài phút liền tôi không sao đáp lại được những câu hỏi được đặt ra. Liệu có thể nào một kẻ thô lỗ, dốt nát và tự phụ này lại là một nhân vật y khoa có máu mặt—là tác giả của những ấn phẩm giá trị—là vị bác sĩ phẫu thuật nổi tiếng mà các trích dẫn báo chí in trong quảng cáo ca tụng đến vậy cơ chứ? Tôi sững sờ. Nhưng một lần nữa, hy vọng lại làm tôi mù quáng trước bản chất thực sự của con người này: tôi lại tự trấn an mình bằng suy nghĩ rằng ông Surtees có thể là một bác sĩ phẫu thuật xuất sắc, dẫu hắn có là một kẻ kém cỏi về ngữ pháp; và do đó, tôi đã lấy lại được sự bình tĩnh vừa đủ để thông báo với hắn rằng tôi ghé qua là vì đọc được mẩu quảng cáo trên báo.
“Vị bác sĩ có vẻ hài lòng với câu trả lời của tôi, và liền thốt lên: ‘Vell, ngài ơi, thật là một diễm phúc khi mọi người vẫn đọc quảng cáo phải không nào? Tại sao ư? Bởi nhờ đó họ mới biết đến những vị danh y đã cống hiến cả đời mình cho nghệ thuật chữa trị mọi loại bệnh tật. Ngài đang đứng trước mặt đây,’ hắn tiếp tục bằng giọng điệu khoa trương và vẻ mặt kiêu ngạo, ‘một kẻ tường tận mọi ngóc ngách của cơ thể con người. Không ai hiểu rõ bệnh lao phổi thực chất là gì hơn tôi đâu.’—‘Vậy là ông đã nghiên cứu chuyên sâu về bệnh lao phổi phải không thưa ông?’ tôi lên tiếng khi thấy hắn dừng lại để chờ đợi một lời hồi đáp từ tôi.—‘Chắc chắn rồi!’ là câu trả lời ngắn ngủn của hắn. ‘Sự thật là,’ hắn tiếp tục, ‘rất ít bác sĩ hiểu rõ bệnh lao phổi là gì, hay nó khởi phát từ bộ phận nào trên cơ thể. Này nhé, trước đây tôi từng biết một quý ông, ngài ấy bị chứng suy nhược cấp tính khởi phát từ ngón chân cái của bàn chân trái, rồi lan ngược lên trên cho đến khi bao trùm toàn bộ cơ thể. Các bác sĩ khác đều đã bó tay, và thợ mai táng thậm chí đang tía tai tía mặt nghĩ đến mối làm ăn béo bở sắp tới thì tôi được mời tham gia điều trị. Tôi bắt ông ấy uống mười bảy chai Cao Zura tuyệt diệu của tôi, và ngài ấy đã bình phục chỉ trong chưa đầy hai tuần.’
“Yếu ớt, suy nhược và gầy gò như lúc bấy giờ, giai thoại này đã để lại trong tôi một ấn tượng sâu sắc. Tôi quên mất ngữ pháp tồi tệ—tôi bỏ qua sự kiêu ngạo và thô tục tự đắc: tôi chỉ nhìn và nghe thấy một người quả quyết một cách trang trọng rằng ông ta đã cứu vớt một sinh linh khỏi nanh vuốt tử thần, trong khi tất cả các thành viên khác của ngành y đều đã coi như vô phương cứu chữa. Hẳn là ông Surtees đã nhận ra mình đã đẩy tôi đến mức độ dễ dắt mũi theo ý đồ của hắn; thế nên hắn liền nói: ‘Vell, ngài tốt bụng ơi, ngài có thể vui lòng giải thích lý do cụ thể khiến ngài đến tham vấn tôi không?’ Tôi bèn thẳng thắn và thành thật thú nhận rằng mình đã nướng bốn phần năm gia tài vào những cuộc vui chơi trác táng không hồi kết—rằng sức khỏe của tôi đã suy giảm nghiêm trọng, nếu không muốn nói là hoàn toàn tàn tạ—rằng kể từ khi tôi từ bỏ rượu chè và mọi nguồn kích thích không tự nhiên khác, tôi thường xuyên rơi vào những cơn trầm uất đến mức ý nghĩ tự sát hầu như liên tục hiện diện trong tâm trí—rằng tôi yêu và được yêu bởi một thiếu nữ xinh đẹp có gia thế—nhưng tôi lại sợ hãi việc kết hôn, sợ rằng mình sẽ biến nàng thành một người vợ góa bụa bất hạnh chẳng bao lâu sau đó. Ông Surtees lắng nghe hết sức chăm chú; và khi tôi dứt lời, hắn có vẻ trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu. Cuối cùng hắn nói: ‘Vell, để tôi bắt mạch cho ngài xem nào.’—Tôi chìa tay ra; và hắn đặt ngón tay cái lên một phần cổ tay của tôi—nơi mà tôi vốn chẳng nghĩ là có mạch đập ở đó: nhưng lúc ấy tôi tự nhủ rằng trình độ y học tuyệt đỉnh của hắn đã giúp hắn phát hiện ra một mạch đập mới, và cách tốt nhất để kiểm tra nó là dùng ngón cái.—‘Mạch yếu quá đi mất!’ hắn vừa nói vừa lắc đầu với vẻ uy nghiêm chẳng kém gì bức tượng Phật Trung Hoa trên phòng khách của hắn. ‘Nhưng xin đừng vội tuyệt vọng, thưa ngài quý mến; trường hợp này tệ lắm, tôi phải thừa nhận—một trường hợp rất, rất tệ; và tôi dám chắc mình chưa từng thấy ca nào tồi tệ hơn thế. Xin hỏi, thiếu nữ mà ngài định cưới là ai thế? Tôi hỏi có mục đích cả đấy.’—Tôi nghĩ rằng vì vị danh y này đã biết rõ tên tuổi và địa chỉ của mình, nên việc trả lời câu hỏi mới này chẳng thể gây hại gì, nhất là khi dù tôi có từ chối, hắn cũng có thể dễ dàng dò hỏi để biết được sự thật: do đó tôi đã đáp ứng hắn về điểm này. ‘À! Tôi không biết cô ấy,’ hắn thản nhiên nhận xét: rồi sau vài giây suy nghĩ, hắn tiếp tục: ‘Vell, tôi nhận chữa khỏi bệnh cho ngài; nhưng việc này sẽ tốn kém đấy. Ngài phải viết cho tôi một tấm séc một trăm gine—phí tư vấn của tôi; và rồi tôi sẽ bảo ngài phải làm gì tiếp theo.’—Được trấn an bởi những lời hứa hẹn ấy, tôi không mảy may do dự mà viết ngay một tờ hối phiếu cho số tiền hắn yêu cầu. Hắn liền mở một ngăn kéo, lấy ra một chiếc hộp nhỏ chứa sáu chai thuốc. ‘Đây chính là linh dược cải lão hoàn đồng đích thực,’ hắn nói với giọng điệu đầy vẻ huyền bí trang trọng: ‘nó vực dậy cơ thể ngay lập tức, và chặn đứng tiến triển của bệnh lao phổi. Đại Thư Ký bên Thổ Nhĩ Kỳ có gửi một hộp đến mỗi tuần thông qua Đại sứ quán của ngài ấy, và có thể nói tất cả các vị nguyên thủ quốc gia ở châu Âu đều là bệnh nhân của tôi. Hãy uống một chai loại cao tuyệt diệu này mỗi ngày; và khi dùng hết, hãy quay lại tìm tôi. Giá của sáu chai là mười lăm gine; và ngài có thể viết cho tôi một tờ séc khác ngay bây giờ.’—Tôi vội vã làm theo yêu cầu đó; và ông Surtees lịch sự tiễn tôi ra khỏi phòng khám.
“Nhưng ở đây tôi phải ngừng viết; vì tôi đã mệt mỏi—đầu óc bắt đầu mụ mẫm—và trí nhớ thì phai nhạt dần. Ôi! Tôi thật là một kẻ ngốc—một tên đần độn, khi đã không nhìn thấu con người và mánh khóe lang băm của hắn ta trong chuyến thăm viếng mà tôi vừa kể lại chi tiết đến vậy.
“Ngày 18 tháng 6 năm 1846.
“Tôi lại tiếp tục viết câu chuyện của mình. Năm ngày đã trôi qua kể từ lần cuối cùng tôi đặt bút; và khoảng thời gian đó là một vùng tăm tối. Phải—cơn điên lại tái phát: nhưng nó đã qua—và giờ đây tôi lại điềm tĩnh và tỉnh táo trở lại. Tôi vừa đọc lại tất cả những gì mình viết ở trên; và tôi đã cười ngất trước sự trung thực và tỉ mỉ trong đoạn mô tả chuyến viếng thăm đầu tiên của tôi tới tên bác sĩ lang băm ấy. Giờ hãy để tôi tiếp tục câu chuyện; bởi các sự việc một lần nữa lại hiện lên tươi mới và sống động trong ký ức tôi.
“Tôi thừa nhận rằng trí tưởng tượng đóng vai trò rất lớn trong các bệnh tật và phương pháp chữa trị của chúng ta. Khi sở hữu thứ mà tôi tưởng là một loại thuốc bổ ích, tinh thần tôi phấn chấn hẳn lên; và vào cuối mỗi ngày trong số sáu ngày dùng hết số thuốc, tôi lại tự nhủ: ‘Quả nhiên mình cảm thấy khỏe và sung sức hơn.’ Những cơn trầm uất thưa hẳn đi và bớt dữ dội hơn: sự thèm ăn của tôi cải thiện—và sắc hồng đã phần nào quay trở lại đôi gò má. Sự thay đổi này chắc chắn phần lớn là do lối sống điều độ mà tôi đã áp dụng, cùng với sự bình yên trong tâm hồn mà tôi cảm nhận được. Hơn thế nữa, tôi tràn đầy hy vọng rằng mình sẽ hồi phục sức khỏe hoàn toàn; và do đó, dù lúc đó tôi đổ công cho thuốc men, tôi không mảy may nghi ngờ rằng thứ nước đó thực ra hoàn toàn vô giá trị. Editha vô cùng vui mừng khi thấy tinh thần tôi khá lên nhiều; và mẹ nàng bày tỏ sự hoan hỉ trước lối sống quy củ mà tôi đã tuân thủ. Tôi không hé răng nửa lời với ai về chuyến viếng thăm ông Surtees; đó là bí mật của tôi—và cảm giác hổ thẹn khiến tôi gìn giữ nó một cách tôn nghiêm. Hết tuần đó, tôi lại đến gặp hắn, và lần này được đón vào phòng khám ngay lập tức. Lại thêm một khoản phí tư vấn một trăm gine—thêm sáu chai thuốc được kê đơn, và thêm một tấm séc được cắt cho số tiền đó. Hắn hỏi tôi đã đọc cuốn sách của hắn chưa; và tôi buộc phải lắc đầu đáp không. ‘Vell, không sao đâu,’ hắn nói; ‘tôi không giận đâu; nhưng anh sẽ có cơ hội thưởng thức nó trước khi quay lại lần sau. Tôi sẽ tót lên phòng khách lấy cho anh một cuốn.’ Thế là hắn rời khỏi phòng khám; và trong lúc hắn vắng mặt tạm thời, một sự tò mò không cưỡng lại được đã thôi thúc tôi liếc nhìn một bức thư đang mở trên bàn. Tôi đọc nó; và nội dung từng câu từng chữ như sau:—‘Joe thân mến, Anh đòi tôi cho mượn bằng cấp mấy ngày để làm màu với một bệnh nhân mới; nhưng tôi nói thẳng là tôi không muốn mang nó ra khỏi nhà đâu. Hơn nữa, nó chẳng có ích gì cho anh, vì nó mang tên La’Vert, còn anh thì đã đổi thành Surtees. Thôi nhé, từ người anh em thương mến của anh, v.v.’—Bức thư này ký tên La’Vert; và qua đó hiển nhiên cái tên thật của người bạn thân Surtees của tôi chính là Joseph La’Vert. Ngay lập tức, tôi nhận ra mình đã sập bẫy của một tên lang băm; nhưng tôi vẫn đủ tự chủ để kìm nén cơn thịnh nộ khi hắn quay trở lại phòng. Đi cùng hắn là một người phụ nữ—tôi không thể gọi là phu nhân—được hắn giới thiệu là vợ mình. Và ở đây tôi phải dừng lại để mô tả vài nét về bà ta.
“Bà Surtees là một phụ nữ Do Thái thô tục, da ngăm đen, với chiếc mũi khoằm dài. Làn da của bà ta trông như vừa bị trét dầu rồi lau lại bằng khăn khô; nhưng trên gò má lại phớt một lớp phấn hồng dày cộm. Bà ta cực kỳ béo phì, với bộ ngực đồ sộ; mái tóc bù xù, gợn sóng được chải thành từng búi và ép sát xuống bằng hạt mộc qua. Bà ta diện một bộ trang phục lòe loẹt hết chỗ nói, và như chính bà ta thốt lên, ’chuẩn bị đi hóng gió bằng xe ngựa.’ Chiếc áo dài của bà ta làm bằng vải nhung xanh lá; chiếc khăn choàng đỏ rực; còn chiếc mũ phớt hồng cánh sen được trang trí vô số hoa giả, ở cả trong lẫn ngoài. Bà ta mang tất lụa hồng chóe và mặc váy ngắn, vì lầm tưởng rằng đôi chân to như chân voi của mình có điểm gì hấp dẫn. Dĩ nhiên, bà ta mang trên người cả một cửa tiệm kim hoàn di động. Bà ta không đeo găng tay; đôi bàn tay to và đỏ ứng đeo đầy nhẫn. Bông tai làm bằng vàng đính ngọc lam; và đến đây thì chân dung bà ta đã hoàn tất.
“Nghi thức giới thiệu vừa dứt thì một ả đàn bà khác xông sầm vào phòng, và lập tức được giới thiệu với tôi là em gái của bà Surtees. Một cặp chị em như thế thì quả là hiếm có trên đời! Trông họ chẳng khác nào con gái mấy hàng thịt diện đồ Chủ nhật; và cách ăn mặc của họ rõ ràng có sự tính toán kỹ lưỡng để tạo sự tương phản. Chiếc váy của người em làm bằng nhung xanh dương; chiếc khăn choàng màu vàng chóe; và chiếc mũ phớt trắng toát. Sau khi ban tặng cho tôi những cái nhìn trừng trừng thật lâu cùng vài câu bình luận về thời tiết và mấy chuyện làng nhàng tương tự, hai mươi mả phụ nữ ấy rời khỏi phòng để lên chiếc xe ngựa đang đợi sẵn ngoài cửa. Ông Surtees tỏ ra ga-lăng khi tiễn họ ra tận xe; và ngay khi chỉ còn lại một mình, sự tò mò lại thúc giục tôi băng qua hai căn phòng để ngó ra cửa sổ phía trước. Chiếc xe ngựa hoàn toàn tương xứng với cách bài trí của ngôi nhà và trang phục của những vị chủ nhân. Đó là một chiếc xe mui trần kiểu barouche, phần thân sơn màu xanh dương sáng; nhưng toàn bộ phần gầm và bánh xe lại có màu vàng rơm. Nội thất bọc da maroquen màu vàng. Xe được kéo bởi hai con ngựa nâu lùn, bộ dây cương lấp lánh bạc; còn trang phục của người đánh xe mang màu xanh loè loẹt với những chiếc khuy cũng bằng bạc.
“Nhưng trong lúc tôi đang quan sát từ cửa sổ, tai tôi vô tình bắt được một đoạn hội thoại ngắn diễn ra ở hành lang giữa ông Surtees và vợ trước khi ông ta đỡ bà ta lên xe. Chắc chắn họ nghĩ rằng tôi vẫn ở trong phòng phẫu thuật và không ngờ tôi lại đứng gần đến thế để nghe rõ mọi điều.—‘Vell, Joe,’ bà Surtees kêu lên, ‘có con mồi nào với cái gã mặt tái mà anh bảo là đẹp trai khiến tôi phải vào ngắm không?’—‘Một mỏ vàng béo bở đấy,’ hắn đáp lại bằng một tiếng cười khúc khích dung tục.—‘Ồ thế à, vậy hắn đã chịu nôn tiền ra chưa?’ người phụ nữ hỏi, hùa theo tiếng cười nắc nẻ.—‘Tất nhiên rồi, cục cưng của anh,’ vị bác sĩ tư vấn quý giá này đáp: ‘và anh định vắt kiệt thêm từ hắn trước khi buông tay.’—‘Ồ, tốt lắm,’ bà Surtees đáp lời: ‘trong trường hợp này, thằng cu Abey phải có một chiếc mũ kiểu polka mới, và thằng bé Joe một chiếc áo nhung mới bằng tiền đó đấy’—‘Được thôi!’ vị bác sĩ tư vấn thốt lên. ‘Nào, đi mau lên và làm cho thiên hạ ở công viên lác mắt chơi. Lệnh ông đây sẽ ra gia nhập với mấy người sau.’ Hắn ta đỡ hai người phụ nữ lên xe; rồi tôi vội vã quay trở lại phòng phẫu thuật, ngồi phịch xuống đó cho đến khi hắn trở vào—để hắn không thể nghi ngờ rằng tôi đã rời khỏi chỗ trong lúc hắn vắng mặt. Tôi rất muốn nói cho hắn biết tất cả những gì mình đã biết hoặc nghi ngờ về bản chất thực sự của hắn: nhưng nỗi sợ bị phơi bày khiến tôi ngậm miệng—và tôi chào từ giã hắn với tất cả sự lịch sự ít ỏi mà tôi có thể dành cho một kẻ như thế.
“Tôi biết rằng mình đã bị lừa gạt một cách triệt để và toàn diện: nhưng ngẫm lại, tôi lại thấy mừng vì điều đó. Tôi nhận ra rằng việc uống thuốc đã kích thích trí tưởng tượng của tôi, và nhờ đó đã giúp cải thiện sức khỏe. Khi về đến nhà, tôi vứt thẳng sáu chai thuốc đi mà không uống thêm một giọt nào thứ cao dởm đó nữa; và tôi lập tức mời một vị bác sĩ chân chính, người với mức phí năm gine đã cho tôi những lời khuyên hữu ích. Lúc đó tôi đi đến kết luận rằng trong bất kỳ tình huống khẩn cấp nào, việc cầu cứu sự trợ giúp hợp pháp bao-gồm y tế, luật pháp hay tài chính luôn là lựa chọn khôn ngoan hơn việc tìm đến những kẻ đăng quảng cáo. Sức khỏe của tôi cải thiện nhanh chóng; và ba tháng sau, tôi trở thành người chồng hạnh phúc của nàng Editha cũng hạnh phúc không kém.
Đến đây tôi phải dừng lại một lúc: ký ức về ngày cưới đã gợi lại những hoài niệm khiến tôi ngập tràn xúc cảm!
“Ngày 20 tháng 6 năm 1846.
“Tôi tiếp tục câu chuyện. Mười hai tháng đã trôi qua kể từ ngày tôi kết hôn với người phụ nữ xinh đẹp và khả ái nhất trên đời; và không có bất kỳ biến cố nào xảy ra làm gián đoạn hạnh phúc của chúng tôi. Một bé trai ra đời đã ban phước cho cuộc hôn nhân của chúng tôi—và tôi hạnh phúc đúng như những gì một người chồng, một người cha có thể cảm nhận. Sức khỏe của tôi gần như hồi phục hoàn toàn; và lối sống của tôi trở nên điều độ, gắn bó với gia đình. Tôi căm ghét ý nghĩ về những niềm vui kích thích và sự thụ hưởng sốt sắng từng đẩy tôi đến bờ vực tàn phá mọi thứ—sức khỏe, tài sản và danh tiếng; và bà Greville, người sống cùng chúng tôi, thường mỉm cười quả quyết rằng tôi chính là hình mẫu lý tưởng của những người chồng tốt. Anh trai tôi, người đã trở thành một thẩm phán, là vị khách thường xuyên lui tới ngôi nhà chúng tôi; và mọi thứ cứ thế tiến triển trong sự bình yên, thoải mái và tĩnh lặng, cho đến khi một sự cố bất ngờ xảy ra làm đảo lộn viễn cảnh tươi đẹp đó.
“Hôm đó là một buổi tối muộn, không lâu sau khi Editha yêu quý của tôi hồi phục sau kỳ sinh nở, tôi được thông báo rằng có một người từ chối xưng danh tính muốn gặp riêng tôi để thưa chuyện. Tôi ra lệnh cho người hầu dẫn hắn vào thư viện; và ngay sau đó tôi bước vào trong. Kẻ mà tôi đối mặt là một gã thấp, vạm vỡ, với gương mặt đầy sát khí: hắn ăn mặc bô lô ba la và toát lên vẻ xấc láo vênh váo như thể đang thực hiện một sứ mệnh mờ ám nào đó mà hắn biết chắc chắn sẽ thành công. Tôi hỏi mục đích của hắn mà không mời hắn ngồi—vì tôi đã có cảm giác ghét cay ghét đắng ngay từ khoảnh khắc nhìn thấy những nét mặt nham hiểm của hắn. ‘Tên anh là Macdonald phải không?’ hắn nói, ngả ngớn ngã người xuống chiếc ghế một cách cực kỳ tự nhiên.—‘Anh không cần phải nhắc tôi điều đó,’ tôi nhận xét, cố tỏ ra lạnh lùng nhất có thể.—‘Ồ, nhưng mà phải chứ!’ hắn thốt lên: ‘bởi vì tôi phải chắc chắn rằng mình đang nói chuyện đúng người chứ. Nào, anh đã thừa nhận tên mình rồi nhé: bây giờ anh có thể cho tôi biết anh có phải là gã đàn ông đã cưới cô Editha Greville không?’—‘Sự xấc láo này có ý nghĩa gì?’ tôi giận dữ hỏi. ‘Hãy giải thích mục đích của anh đi, thưa ngài, mà đừng vòng vo tam quốc nữa.’—‘Tôi sẽ đi thẳng vào vấn đề ngay đây,’ gã đó đáp lại mà chẳng hề nao núng chút nào. ‘Mười lăm hay mười sáu tháng trước, anh từng đến thăm một vị quý ông sống cách Quảng trường Soho không quá một dặm.’—Tôi giật mình tái mặt: vì ngay lập tức tôi nhận ra gã đang ám chỉ vị bác sĩ tư vấn.—‘Được rồi, giờ thì tôi thấy mọi chuyện khớp rồi đấy,’ hắn kêu lên, chắc hẳn đã rút ra kết luận từ sự bối rối trên nét mặt tôi. ‘Dĩ nhiên là anh không muốn việc mình từng đến gặp vị quý ông đó bị bại lộ đâu nhỉ,’ hắn nhấn mạnh thêm.—‘Tôi không hiểu ý anh là gì,’ tôi đáp.—‘Thế này nhé,’ gã tiếp tục: ‘sẽ chẳng vui vẻ gì nếu anh trai, mẹ vợ, bạn bè, thương gia, người hầu, và thậm chí cả vợ anh, biết được sự thật rằng anh từng là bệnh nhân của ông Surtees một thời gian trước khi kết hôn.’—‘Tôi chỉ gặp lão ta có hai lần!’ tôi thốt lên nghẹn ngào, vì những cảm giác kinh hoàng đang nhanh chóng tràn ngập cơ thể tôi.—‘Mặc kệ anh gặp mấy lần đi chứ,’ gã nói bằng giọng tàn nhẫn: ‘anh đã đến đó để xin tư vấn, và thế là đủ đối với tôi. Giờ thì đến lượt anh trả lời xem sẽ chi bao nhiêu để tôi giữ kín bí mật này.’—‘Đồ khốn! Tên tống tiền!’ tôi thốt lên, cơn thịnh nộ đã lấn át nỗi sợ hãi trong lồng ngực—‘Cố hăm dọa tôi cũng vô ích thôi,’ tên côn đảng nói với sự bình tĩnh lạnh lùng đến tột độ: ‘Tôi cần tiền, và tôi định moi nó từ anh đấy.’—‘Hoặc không thì?’ tôi nói, khi mọi cảm giác khốn khổ quay trở lại lúc nhận ra mình đang bị đe dọa bởi sự phơi bày, nỗi ô nhục và sự suy đọa không thể cứu vãn.—‘Hoặc không thì,’ hắn lặp lại, ‘tôi sẽ kể bí mật đó cho tất cả những người mà tôi vừa nêu tên; và khi đó chúng ta hãy chờ xem liệu anh còn dám ngẩng cao đầu ở cái xã hội này nữa hay không.’—‘Và anh muốn bao nhiêu tiền?’ tôi hỏi, trái tim chìm xuống tận đáy vực.—‘Năm trăm cho lúc này là đủ,’ hắn ngạo mạn đáp.—‘Cho lúc này ư?’ tôi kêu lên, lặp lại lời hắn: ‘gì chứ! Ý anh là sẽ còn tìm gặp tôi vì mục đích này nữa à?’—‘Trừ khi anh xì tiền ra ngay lập tức và không lèm bèm thêm câu nào nữa,’ hắn nói.—Chẳng còn lựa chọn nào khác ngoài việc tuân theo; thế là tôi đếm giao vào tay hắn xấp tiền giấy ngân hàng đúng số con số vừa nêu. Chỉ một phút sau, hắn đã chuồn mất—và tôi bị bỏ lại một mình để nghiền ngẫm về cảnh tượng vừa diễn ra.
“Phải mất một thời gian dài tôi mới có thể trấn an nét mặt và cảm xúc của mình đến mức có thể quay lại phòng khách mà không làm vợ và mẹ vợ nghi ngờ rằng vừa có chuyện chẳng lành xảy ra. Nhưng tôi đã cố giấu đi nỗi buồn mà sự kiện buổi tối đó gieo rắc trong lòng; và sáng sớm hôm sau, tôi đến gặp ông Surtees. Thoạt đầu hắn có vẻ không nhận ra tôi—hoặc chí ít, nếu có nhận ra, hắn cũng là một bậc thầy đóng vai kẻ mất trí: nhưng khi tôi xướng tên mình, hắn thốt lên: ‘Vell, có thể nào anh lại quay lại xin tư vấn nữa ư?’—‘Còn lâu nhé,’ tôi đáp, với một sự cay đắng không thể che giấu và hắn cũng nhận ra ngay; vì hắn cắn môi và đỏ bừng mặt. Tôi bèn thuật lại chi tiết về vị khách ghé thăm vào tối hôm trước và cáo buộc hắn chính là kẻ chủ mưu đằng sau vụ này. Nhưng hắn phản phác cáo buộc ấy với một sự phẫn nộ mãnh liệt—dù là thật hay giả vờ thì đến tận bây giờ tôi cũng không thể phân định được—đến mức lúc đó tôi thực sự tin hắn; và nếu hiện tại tôi đang viết tác phẩm này để cho thiên hạ đọc, chắc chắn tôi sẽ rất miễn cưỡng khi để người ta suy diễn rằng ông Surtees thực sự dính líu đến vụ tống tiền đó. Dù căm ghét và khinh bỉ hắn đến đâu, tôi cũng không muốn làm điều bất công vô cớ với hắn; và do đó tôi buộc phải tuyên bố rằng hắn rất nồng nhiệt và quả quyết về sự trong sạch hoàn toàn của mình trong vụ việc này.—‘Nhưng làm sao gã đó biết được tôi từng đến gặp ông chứ?’ tôi hỏi.—‘Vell, mọi chuyện đồn đại ra ngoài theo vô số cách khó hiểu lắm chứ bộ,’ hắn đáp: ‘nhưng tôi thề có chúa chứng giám rằng tôi trong sạch trong chuyện này chẳng khác nào đứa trẻ chưa ra đời. Tôi có thể làm gì để thuyết phục anh đây là sự thật chứ?’—‘Tôi không có cái nhìn tồi tệ đến thế về bản chất con người để mà không tin ngài,’ tôi đáp lại, rồi cáo từ. Tuy nhiên, dù đang quẩn quanh và kiệt quệ, tôi vẫn không thể không ngửi thấy mùi cá rán nồng nặc và khó chịu bốc lên từ khu bếp ở tầng trệt của ngôi nhà: tôi cũng chẳng nhịn được cười khi thoáng thấy bà Surtees đang hớt hải chạy lên lầu, rõ ràng vừa từ dưới bếp mò lên—vì khuôn mặt ngăm đen của bà ta bóng nhẫy mỡ và vẻ ngoài thì dơ dáy, lôi thôi hết chỗ nói. Thế mà, chỉ vài tiếng sau trong ngày, người đàn bà này chắc chắn sẽ lồng lộn bước ra trong bộ xiêm y bảy sắc cầu vồng loè loẹt cùng vô số nữ trang đắt tiền khoe mẽ!
“Tôi phải nhắc lại một lần nữa rằng tôi rời khỏi căn nhà của ông Surtees với niềm tin chắc rằng hắn chẳng dính dáng gì đến âm mưu tống tiền; và trên đường về nhà, tôi tự nhủ: ‘Cảnh tượng đêm qua là một trong những cái giá mà chúng ta buộc phải trả cho những thói hư tật xấu và lối sống sai lầm thời tuổi trẻ. Nhưng, ngay cả khi bản thân Surtees vô tội, thì hành vi tống tiền ấy suy cho cùng chẳng phải vẫn là hệ quả của một hệ thống lang băm đê tiện đó sao? Hãy phá hủy cái hệ thống ấy đi—và sự bình yên trong mỗi gia đình sẽ chẳng còn bị quấy rầy bởi những chuyến ghé thăm của lũ tống tiền!’—Dần dần tâm trí tôi bình yên trở lại; và khi những tuần tháng trôi qua, tôi gần như quên bẵng đi sự cố từng khiến mình bực bội khôn nguôi, thì vào một buổi tối nọ, gã đàn ông đó lại xuất hiện tại nhà. Lại một lần nữa cái thông điệp gở miệng ấy được truyền đạt đến tôi khi tôi đang ngồi quây quần bên người vợ yêu quý cùng người mẹ vợ tuyệt vời của nàng—lại một lần nữa tôi gặp riêng gã đàn ông đó—và lại một lần nữa tôi buộc phải nhẫn nhịn sự xấc láo lạnh lùng của hắn để rồi khuất phục trước những yêu sách tống tiền. Lại thêm năm trăm bảng Anh từ túi tôi chuyển sang túi hắn;—và một lần nữa tôi buộc phải che giấu cảm xúc thật của mình khi quay lại phòng khách đoàn tụ với hai người phụ nữ. Và rồi, khi thời gian trôi đi, tôi vẫn không thể xóa nhòa những lo âu mà chuyến viếng thăm thứ hai này đã khơi gợi trong tâm trí—tôi không thể quên rằng mình đang nằm trong tay một tên ác nhân, kẻ chắc chắn sẽ quay lại. Nhiều tháng trôi qua; và lần thứ ba—tôi nhớ rất rõ—đó là vào đêm Giáng sinh,—thông điệp định mệnh ấy lại được truyền tới tôi. Lần này tôi giật nảy mình dữ dội và lộ rõ vẻ hoảng loạn đến mức cả vợ lẫn mẹ vợ đều nhận ra sự bấn loạn của tôi. Tuy nhiên, tôi vẫn vội vã bỏ đi mà không trả lời những câu hỏi đầy lo lắng của họ; và khi đối mặt với tên tống tiền, tôi trút lên đầu hắn những lời trách móc cay đắng nhất. Hắn lắng nghe tôi với một vẻ thản nhiên và tự chủ chỉ càng làm cơn giận của tôi bùng cháy dữ dội hơn; và cuối cùng tôi ngừng nói đơn giản vì đã kiệt sức. Lúc đó, hắn mới thông báo với tôi bằng cái giọng điệu hách dịch và thô lỗ rằng hắn đang có cơ hội di cư với những điều kiện vô cùng thuận lợi—rằng hắn cần một ngàn bảng—và nếu tôi đưa cho hắn số tiền này, hắn sẽ không bao giờ quấy rầy tôi nữa. Tôi bắt hắn phải thề nguyện bằng những lời thề độc địa nhất; và để cứu lấy bản thân khỏi nỗi nhục nhã có thể vùi dập tôi xuống tận bùn đen và biến cuộc sống thành một cực hình không thể chịu đựng được, tôi đã viết cho tên khốn một tấm séc rút từ ngân hàng với số tiền khổng lồ mà hắn đòi hỏi. Nhưng khi quay lại bên Editha và bà Greville, tôi buộc phải bịa ra những lời nói dối để giải thích cho sự bấn loạn của mình; và tôi đau đớn nhận ra với nỗi buồn sâu sắc rằng cả hai người họ đều nhận thấy tôi đang lừa dối họ—rằng tôi đang che giấu sự thật—và có điều gì đó đang đè nặng trong tâm trí tôi!25
“Ôi—vậy là họ đã phỏng đoán chính xác; bởi sự bình yên trong tôi giờ đây đã tan tành đến mức tôi tuyệt vọng chẳng mong lấy lại được nữa. Tôi đinh ninh rằng, bất chấp những lời thề thốt linh thiêng của tên ác nhân, hắn sẽ quay lại; và tôi sợ hãi khi ở nhà—bởi cứ mỗi tiếng gõ cửa lại khiến tôi giật bắn mình vì sợ hãi. Nếu tôi đi dạo hay đi cưỡi ngựa, lúc trở về tôi lại nơm nớp lo sợ không biết người hầu có thông báo rằng có vị khách nào đó đã ghé tìm tôi trong lúc vắng nhà và sẽ quay lại vào buổi tối hay không. Cứ thế, cuộc đời tôi trở thành một gánh nặng thực sự; và nỗi sầu muộn của tôi càng bị trầm trọng hóa bởi sự bức thiết phải chôn giấu tất cả trong lòng. Hết lần này đến lần khác, tôi nghĩ đến việc bịa ra lý do nào đó để thuyết phục vợ và mẹ vợ đồng ý rời bỏ cơ ngơi ở London để sang lục địa. Nhưng tôi có thể viện cớ gì cho một hành động kỳ lạ đến vậy?—hơn nữa, liệu tên tống tiền có dò ra tung tích của tôi nếu hắn quyết tâm truy tìm hay không? Bởi vì việc nghĩ ra một lý do hợp lý để đổi tên họ là điều bất khả thi. Cứ thế, nhiều tháng trời trôi qua mà tôi chẳng thể định đoạt được kế hoạch nào để chặn đứng tên tống tiền nếu hắn quay trở lại; và tôi nhận ra sức khỏe cũng như tinh thần của Editha bắt đầu suy sụp—bởi nàng biết rằng tôi đang ngấm ngầm bất hạnh!
“Và tên tống tiền đã quay lại thật: và một lần nữa tôi buộc phải khuất phục trước yêu sách của hắn. Hai ngàn bảng Anh là số tiền hắn vơ vét từ tôi lần này; và khi tôi nhắc nhở hắn về những lời thề thốt linh thiêng năm xưa, hắn cười hô hố vào mặt tôi. Ôi! Tôi căm ghét—ghê tởm—ghê tởm con người đó biết bao! Tôi suýt đã tước đoạt mạng sống của hắn ngay tại chỗ: nhưng tôi nhớ đến người vợ hiền và đứa con trai thơ dại, thế là tôi kìm tay lại. Và giờ đây tâm trí tôi bắt đầu suy sụp nghiêm trọng—một sự suy nhược thần kinh đau đớn liên tục chi phối tôi—sức khỏe của tôi lại tàn lụi, suy sụp nhanh chóng dưới sức nặng của nỗi buồn chẳng kém gì những tổn hại do đời sống trác táng gây ra trước kia. Ôi—và điều tồi tệ hơn cả là Editha của tôi ngày càng xanh xao và gầy gò đi trông thấy;—còn tôi thì không dám hé môi an ủi nàng—tôi không thể thốt nổi một lời nói dối để cam đoan rằng bản thân đang hạnh phúc. Cứ thế, tổ ấm từng hạnh phúc một thời của chúng tôi biến thành một chốn u ám: một nỗi trầm uất nặng nề bao trùm lấy tất cả chúng tôi—và với nỗi đau đớn khôn tả, tôi nhận ra bà Greville bắt đầu nhìn tôi với ánh mắt hoài nghi. Có lẽ bà nghĩ rằng một tội ác nào đó đang đè nặng lên tâm hồn tôi—vâng, chắc chắn đó là ấn tượng của bà—nếu không thì bà đã hỏi cho ra lẽ rồi. Nhưng bà đã không sống đủ lâu để chứng kiến thảm kịch bi thương đó: một cơn bạo bệnh ngắn ngủi nhưng dữ dội đã cướp đi sinh mạng bà—và trong hoàn cảnh của tôi khi ấy, tôi lại thầm vui mừng vì sự kiện đó,—trước khi tự nhủ rằng: ‘Dù sao thì cũng bớt đi một người để lừa dối—bớt đi một người dõi theo tôi bằng ánh mắt u sầu đầy vẻ cầu khóc thầm lặng!’—Lạy Chúa! Sẽ chẳng có gì lạ lùng—chẳng có gì ngạc nhiên nếu sự điên loạn bắt đầu gặm nhấm cái pháo đài vững chãi của lý trí tôi ngay từ lúc đó!
“Thi hài của mẹ vợ tôi vừa được đưa xuống huyệt thì tên tống tiền lại xuất hiện tại nhà. Những đòi hỏi của hắn tăng lên tỷ lệ thuận với những nhượng bộ mà nỗi sợ hãi của tôi đã đáp ứng; nhưng lần này tôi hoàn toàn không tài nào thỏa mãn nổi yêu sách của hắn. Sự thật là vẫn còn rất nhiều tài sản sót lại;—nhưng chúng đã được sang tên cho vợ tôi—và tôi không thể tự ý định đoạt số tiền cần thiết từ nguồn tài nguyên của mình. Tôi thành thật thổ lộ điều đó với hắn, và khẩn khoản xin hắn rủ lòng thương;—vâng, nước mắt lưng tròng tôi đã nài nỉ hắn. Đồ khốn nạn! Đồ quái vật! Hắn quan tâm gì đến nỗi buồn—đến sự thống khổ của tôi chứ? Hắn bảo tôi hãy tìm đến một tay cho vay nặng lãi—đưa cho tôi địa chỉ của một kẻ chuyên cho vay tiền—và bảo rằng hắn sẽ quay lại vào tối hôm sau. Thế là—bị thúc đẩy bởi số phận khốn khổ khốn nạn của mình—tôi đã đến gặp kẻ cho vay tiền, người đã ứng trước cho tôi ba nghìn bảng dựa trên giấy nhận nợ của chính tôi, với lãi suất cắt cổ. Toàn bộ số tiền đó cuối cùng lại chui vào túi tên tống tiền; và khi hắn vừa khuất dạng, tôi ngã quỵ xuống vì lên cơn co giật. Hết ngày này qua ngày khác tôi liệt giường liệt chiếu; và khi tỉnh lại, tôi đã chìm trong cơn mê sảng. Người vợ yêu quý đang ngồi bên giường bệnh; nhưng, lạy Chúa!—nàng mới xanh xao, tàn tạ và hốc hác làm sao sau những đêm dài thức trắng và nỗi buồn sâu thẳm! Tôi dò hỏi nàng một cách thận trọng để xem liệu trong cơn sảng sạo mình có lỡ miệng khai ra bí mật không; nhưng tôi biết chắc chắn rằng mình chưa hề hé lộ. Lúc đó tôi mới thấy dễ thở hơn một chút; và nàng, vòng tay ôm lấy cổ tôi, vừa khóc nghẹn ngào vừa thốt lên: ‘Người chồng yêu dấu của anh, có một nỗi đau khủng khiếp nào đó đang gặm nhấm tâm trí anh. Em có thể được chọn làm người giữ bí mật cho anh không? Em nhận ra rằng cứ sau mỗi lần gặng hỏi vị khách ghé đến dạo này, và luôn luôn vào buổi tối, anh lại bị đánh gục như thể vừa gánh chịu một tai họa nặng nề. Ôi, tất cả những điều này nghĩa là gì?—Tôi tìm cách an ủi nàng—vỗ về nàng—trấn an nàng hết sức có thể; nhưng tôi thấy rằng nàng chỉ đang giả vờ được xoa dịu, tất cả cũng chỉ vì tôi mà thôi!
“Rồi—tôi hồi phục: nhưng hạnh phúc và tôi thì đã vĩnh biệt nhau từ lâu. Tôi có cảm giác như mình đang bị bám theo bởi một con quỷ vô hình, kẻ mà hơi thở làm ô uế cả bầu không khí tôi đang hít thở. Tôi biết rằng đầu óc mình đang quay cuồng—lý trí đang chao đảo—rằng tôi đang phát điên! Đã không ít lần tôi nghiêm sát nghĩ đến việc sát hại vợ con, rồi kết liễu luôn sinh mạng chính mình. Nhưng tôi không dám ra tay sát hại họ; và tôi vẫn còn đủ lòng dũng cảm đạo đức để không tìm đến cái chết chừng nào còn vương vấn dù chỉ một sợi dây liên kết mong manh níu giữ tôi với cuộc đời. Thế nhưng một tai họa mới lại đang chờ đón tôi—cho cả chúng tôi. Một luật sư mà tôi và vợ hết mực tin tưởng đã lừa chúng tôi ký tên vào một số giấy tờ dưới những thủ đoạn bỉ ổ nhất; và dựa vào đó, hắn đã bán sạch toàn bộ số cổ phiếu đứng tên Editha trong Ngân hàng. Sau đó hắn cuỗm tiền cao chạy xa bay; và chúng tôi đột ngột rơi từ sự giàu sang xuống mức khốn cùng. Tôi không đủ khả năng thanh toán tờ hối phiếu đến hạn, và kẻ cho vay nặng lãi nhất quyết không chịu nhượng bộ bất kỳ điều khoản nào. Hắn bảo rằng hắn đã chuyển nhượng nó theo đúng thủ tục kinh doanh thông thường và không thể tự mình gánh chịu khoản nợ đó. Tôi bị bắt và tống giam vào ngục tối. Bạn bè quay lưng với tôi, vì tin rằng thói hoang phí ngông cuồng của tôi đã dẫn đến thảm họa này. Phải: tất cả đều quay lưng trừ người vợ yêu quý—và nàng, một thiên thần! vẫn chung thủy sát cánh bên tôi! Chúng tôi vẫn còn hai trăm năm mươi bảng Anh mỗi năm; và Editha kiên quyết đòi thế chấp những ngôi nhà tạo ra nguồn thu nhập này để lấy tiền bảo lãnh cho tôi tại ngoại. Nhưng làm thế sẽ đẩy chúng tôi vào cảnh màn trời chiếu đất; và tôi không tài nào chịu đựng nổi ý nghĩ để một—hai—thế là ba người phải chịu cảnh khốn cùng! Không: khối tài sản đó đã được bảo đảm chặt chẽ đến mức chủ nợ không thể chạm tay vào—và theo lời khuyên của một luật sư, tôi quyết định nộp đơn xin phá sản lên Tòa án Phá sản. Tôi đã làm thế; và chủ nợ phản đối tôi với lý do tôi đã phung phí tài sản. Tôi không thể giải thích nổi số tiền hắn ứng trước đã đi về đâu—và khi luật sư đối kháng gặng hỏi tôi dưới sự chứng thực của lời thề trước tòa rằng liệu tôi có nướng nó vào cờ bạc hay không, tôi đã chớp lấy cái cớ giải thích đó và tự thề dối gian bằng một lời khẳng định có. Ôi! Tên tống tiền khốn nạn đó!—hắn đã đẩy tôi đến bước đường cùng—ngục tù—Tòa án Phá sản—lời thề gian—và cuối cùng là nhà thương điên! Lạy Chúa vĩ đại! Làm sao tôi có thể viết ra những dòng này một cách bình thản khi nghĩ về tất cả những bất công mà tôi phải gánh chịu?
“Ngày 23 tháng 7 năm 1846.
“Tôi lại buộc phải dừng bút lần nữa; nhưng cuối cùng tôi đã cầm bút trở lại. Tâm trí tôi đang dần ổn định hơn: tôi nghĩ mình sẽ hoàn toàn bình phục, miễn là tôi tìm được cách trốn khỏi cái nơi quái quỷ này!
“Tôi đã kể rằng mình xuất hiện trước Tòa án Phá sản, và bị chủ nợ nắm giữ tờ hối phiếu ba nghìn bảng phản đối. Viên Ủy viên đã tống giam tôi lại trong mười hai tháng như một hình phạt cho thói tiêu xài hoang phí vô độ. Tôi sẽ không kể lể dài dòng về quãng thời gian ngục tù đằng đẵng đó: nó thật kinh hoàng đối với một tâm hồn mẫn cảm như tôi. Ngay cả Editha, dẫu nhẫn nại và yêu thương đến đâu, cũng không tài nào xoa dịu tôi hoàn toàn. Có những khoảnh khắc thống khổ cay đắng đến mức tôi ngỡ như mình đã chết và đang chịu đựng những cực hình nơi địa ngục. Thật là một ý nghĩ hãi hùng! Nhưng cuối cùng khoảng thời gian ấy cũng trôi qua—và tôi lại được tự do. Chúng tôi thuê một ngôi nhà tranh nhỏ xinh xắn ở ngoại ô thành phố; và sự tĩnh lặng cuối cùng dường như đã trở lại với chúng tôi. Đứa con trai lớn lên khỏe mạnh khôi ngô: Ôi! Thằng bé trở nên tuấn tú làm sao—chắc chắn bây giờ nó phải là một thiếu niên khôi ngô lắm! Gần hai năm trôi qua—và tôi đang dần lấy lại sự bình yên trong tâm trí thì một ngày nọ, tôi chạm mặt tên tống tiền trên đường phố. Ôi! Một cơn rợn tóc gáy lạnh buốt chạy dọc sống lưng khi tôi thấy ánh mắt hắn dán chặt vào mình! Cứ như thể một bóng ma ghê rợn vừa chồi lên từ lòng đất để hù dọa và khiếp đảm tôi vậy. Tôi nhìn thấy Hiện Thân Của Sự Tàn Phụ; và một cơn choáng váng ập đến. Nhưng tôi nhanh chóng bừng tỉnh trước thực tại khốn cùng khi giọng nói quen thuộc ấy vang lên bên tai, tiếp tục đưa ra những đòi hỏi mới đối với chiếc ví của tôi. Tôi kéo hắn vào một quán rượu khuất nẻo gần đó; và vì lúc bấy giờ trong phòng chẳng có ai ngoài hai chúng tôi, chúng tôi có thể tự do bàn thảo công chuyện. Tự do thật đấy! Khi mà từng lời hắn thốt ra rơi xuống tim tôi nặng trịch như những giọt chì nung chảy—và từng âm tiết tôi thốt ra để đáp trả lại rít lên từ cái cổ họng khô khốc chẳng khác nào nước hắt lên tấm sắt nung đỏ! Tôi biết làm sao đây? Con ác quỷ khăng khăng đòi tiền, và thề bồi sẽ bám theo tôi về tận nhà. Dù vậy, hắn cũng tự lượng sức đòi hỏi vừa vặn với khả năng của tôi, và khăng khăng đòi ba trăm bảng vào một giờ nhất định tối hôm sau. Chúng tôi chia tay—và tôi thấy hắn bám đuôi mình: thực tế là hắn chẳng thèm che giấu tung tích hay ý đồ khi lầm lũi bám theo tôi cho đến tận lúc tôi bước qua cửa nhà—và tôi thừa biết rằng việc quay lại đối đầu với hắn hay tìm cách đánh lạc hướng hắn đều là vô nghĩa.

“Chúa mới biết làm thế nào tôi có thể giải thích với vợ về lý do vẻ ngoài của mình thay đổi—hay đúng hơn, làm thế nào tôi che giấu nguyên nhân thật sau một lời nói dối. Nhưng quả thực tôi đã thành công trong việc trấn an nàng phần nào; và ngày hôm sau, tôi tìm đến kẻ cho vay tiền—chính là gã từng cho tôi vay tiền trước kia—để xin vay thêm. Đó là một bước đi liều lĩnh của một kẻ đường cùng: nhưng ngạc nhiên thay, hắn đồng ý cho tôi vay mà không mảy may do dự. Tôi nhận tiền—ký giấy nhận nợ—và trả khoản tiền đó cho tên tống tiền. Nhưng mọi chuyện với tôi lúc này đã chạm đến bờ vực khủng hoảng—và tâm trí tôi bất ổn đến mức Editha thực sự hoảng sợ. Tôi nhớ rằng anh trai tôi, vị thẩm phán, đã được gọi đến; và ông đã ghé thăm nhà sau một thời gian dài xa cách với tôi. Rồi một màn sương mờ phủ lên ký ức tôi; và khi tỉnh lại, tôi đã ở—đây!
“Phải—ở đây, nơi tôi đang đặt những dòng bút này! Ôi, tôi đã phát điên—điên dại cuồng cuồng; và Chúa thừa hiểu rằng tôi đã chịu đựng đủ đường để có thể biến thành thế này. Sự bức hại dường ấy chỉ có thể kết thúc trong sự điên loạn. Nhưng giờ tôi đã đỡ hơn rồi: không—tôi đã hoàn toàn khỏe mạnh—dù bạn bè có không tin đi chăng nữa. Hôm qua anh trai tôi đã đến đây; và qua cách ông chìu chuộng khi tôi bảo rằng lý trí mình đang hồi phục nhanh chóng, tôi hiểu rằng ông vẫn đinh ninh tôi là một kẻ mất trí. Tôi khẩn nài ông cho phép tôi gặp Editha và con trai: ông hứa hẹn tôi sẽ có được niềm vui đó vào Chủ nhật tuần tới. Ông cũng bảo rằng sức khỏe của họ vẫn tốt, nhưng vô cùng đau khổ vì tôi.
“Giờ thì tôi đã hạ quyết tâm sẽ hành động thế nào rồi. Tôi sẽ trốn khỏi cái nơi kinh hoàng này và sang Pháp. Ở đó tôi sẽ mang một cái tên giả—và từ đó tôi sẽ viết thư giục Editha cùng con trai sang đoàn tụ với tôi ngay lập tức. Chúng tôi sẽ ở ngoài tầm với của tên tống tiền—và những ngày tháng bình yên, dẫu chưa hẳn hạnh phúc, vẫn có thể đang chờ đón chúng tôi. Phải—đây chính là hy vọng của tôi! Nhưng tôi có nên tiêu hủy bản thảo mà mình đã nhọc công viết lách bấy lâu, thứ đã mang lại cho tôi một công việc giúp ích cho tinh thần đến thế không? Không: tôi không thể đồng ý thủ tiêu những trang giấy chứa đựng câu chuyện đầy rẫy những lời cảnh tỉnh kinh hoàng này. Nhưng chẳng phải nó cũng chứa đựng bí mật của tôi đó sao?—và chẳng phải tên tuổi tôi cũng được nhắc đến xuyên suốt câu chuyện đấy ư? Kìa! Tiếng bước chân đang đến gần—tôi phải giấu xấp giấy của mình đi——