Bí Ẩn Thành Phố London, Tập 4

Lượt đọc: 245 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 153
Cha Và Con.

❊ ❊ ❊

Ông Hatfield tìm thấy con trai mình đang đợi ở phòng cà phê; và khi bước lên chiếc citadine, loại xe mui trần một ngựa mà ông vừa dùng để đến nơi, hai cha con tiếp tục di chuyển về khách sạn nơi ông trọ, nằm ở Quảng trường Vendôme.

Lúc này đã qua mười một giờ đêm, bởi những biến cố được kể lại trong hai chương trước đã ngốn mất tròn hai tiếng đồng hồ; và trong khoảng thời gian ngắn ngủi ấy, biết bao sự thật đã phơi bày, biết bao đổi thay trong tình cảm đã diễn ra, bao cảm xúc mới mẻ nảy sinh, và biết bao viễn cảnh tươi sáng đã lụi tàn!

Thế nhưng cuộc đời vốn là vậy; và chỉ hai phút, thay vì hai tiếng, đôi khi cũng đủ để xô đổ những lâu đài hạnh phúc tuyệt vời nhất mà trí tưởng tượng từng xây nên trong cõi mộng mơ hoặc chốn thực tại.

Khi đến khách sạn ở Quảng trường Vendôme, hai cha con lui về căn phòng mà người cha đang thuê; và Charles ngả người lên chiếc ghế sofa, như thể kiệt sức và ngộp thở trước những cơn chấn động kinh hoàng mà anh vừa trải qua trong buổi sáng hôm đó.

Ông Hatfield kể lại cho con trai nghe mọi điều đã diễn ra giữa Perdita và ông sau khi chàng thanh niên rời khỏi phòng; và Charles cảm thấy vô cùng nhẹ nhõm — nếu như có thể thấy nhẹ nhõm giữa vô vàn suy nghĩ kỳ lạ và ký ức đang dồn dậpùa về — khi biết rằng những giấy tờ gia đình đã nằm gọn trong tay cha mình.

“Và những giấy tờ ấy sẽ không còn là nguồn cơn gây hoang mang hay rắc rối cho những ai gắn liền với chúng nữa,” ông Hatfield nói, khi đã kết thúc câu chuyện ngắn gọn của mình; đoạn, ông giông chuông gọi người hầu phòng vừa đáp lời để sai đem vào một ngọn nến đã thắp sáng.

Mệnh lệnh này được tuân thủ nhanh chóng; và khi người gia nhân lui ra, ông Hatfield liền ném toàn bộ tài liệu vào lò sưởi rồi châm lửa đốt. Trong lúc chúng đang cháy — những thứ giấy tờ quý giá ấy, thứ đáng giá cả một tước hiệu Bá tước nếu ông chọn cách dựa vào các bằng chứng mà chúng chứa đựng — cả hai cha con cùng đăm đăm nhìn theo với ánh mắt bất động, nhưng mang trong lòng những nỗi niềm khác nhau. Bởi Charles thở dài khi nghĩ đến những giấc mơ tươi đẹp mà việc đọc qua những trang giấy ấy từng thắp lên trong trí tưởng tượng; còn ông Hatfield thì cảm thấy một sự nhẹ nhõm khôn tả khi chứng kiến chúng bị thiêu rụi.

“Giờ thì,” ông thốt lên với giọng đầy đắc thắng, “chẳng một linh hồn nào trên cõi đời này có thể tranh chấp quyền thừa hưởng tước vị và điền trang của anh tôi nữa! Và đừng nghĩ rằng, Charles,” ông nói thêm, quay sang con trai với giọng điềm tĩnh và chừng mực hơn, “đừng nghĩ rằng ta phải bận lòng hay đau xót khi tiêu hủy những giấy tờ này. Ngọn lửa đã tắt — chẳng còn lại gì ngoài một đống tro tàn — và ta đã hoàn toàn tự nguyện, vui vẻ từ bỏ đi thứ quyền lực có thể gây tổn hại, hoặc biến ta thành kẻ sai trái với người anh mà ta mang ơn sâu sắc. Nhưng thế là đủ rồi; và giờ hãy kể cho ta nghe, Charles, bằng những chi tiết đầy đủ nhất mà con có thể chịu đựng được, toàn bộ sự thật về mối quan hệ bất hạnh của con với những người phụ nữ ấy, để thuyết phục ta rằng không còn điều gì sót lại có thể cản trở việc tống khứ họ một cách triệt để. Vì con phải nhớ rằng, dẫu chúng ta đã xoay sở để giải quyết cô con gái, người mẹ vẫn nắm giữ bí mật về nhiều điều mà ta không muốn bị lộ tẩy.”

Charles lập tức tuân theo yêu cầu của cha, kể lại việc bà Fitzhardinge đã chặn đường anh ra sao — cách bà ta nói năng đầy vẻ thong dong mờ ám để rồi lôi kéo anh đi cùng đến phố Suffolk — cách anh thấy mình ở đó trước mặt Perdita — và cách bà Fitzhardinge trong một lần gặp sau đó đã nhắc đến một số vấn đề gia đình, chứng tỏ bà ta nắm rõ những bí mật đặc biệt mà bà ta khẳng định đã được mụ du mục Miranda truyền lại.

“Vậy ra không phải từ miệng con mà bà ta biết được những uẩn khúc liên quan đến ta từ đầu!” ông Hatfield hỏi lại với vẻ dò xét.

“Dạ không: bà ta đặc biệt nhắc đến mụ du mục như là nguồn tin cho mọi điều bà ta biết và ám chỉ,” câu trả lời vang lên.

“Nhưng mụ du mục nào có hay biết gì về cuộc hôn nhân giữa mẹ ta và vị Cố Bá tước xứ Ellingham,” ông Hatfield nhận xét; “và hệ quả là mụ ta hoàn toàn mù tịt về tính hợp pháp trong thân thế của ta cũng như những quyền lợi đáng lẽ thuộc về ta.”

“Ồ! Giờ thì mọi thứ bừng sáng trong tâm trí con rồi!” Charles thốt lên. “Con nhớ ra là mụ ta từng ngạc nhiên khi con bảo mình là một nhà quý tộc trẻ, điều mà lúc đó thực sự con vẫn tin là thế; và con cũng nhớ sau đó mụ ta đã trò chuyện với con theo cách, dẫu ra điều hiểu biết tường tận mọi chuyện gia đình chúng ta, lại dẫn dắt con thốt ra những lời đáp vốn dĩ chính là việc vô tình tiết lộ bí mật cho mụ ta. Nhưng khi ấy con chẳng hề mảy may nghi ngờ; giờ đây, khi tấm màn che mắt đã được gỡ bỏ, con mới nhìn nhận mọi việc dưới ánh sáng chân thực và rõ ràng hơn.”

“Đúng thế — và ta cũng có thể hiểu được vấn đề này,” ông Hatfield nói sau vài phút trầm ngâm suy nghĩ. “Khi trở lại Anh, hẳn những người phụ nữ này đã tình cờ gặp Miranda; từ miệng mụ ta, họ nắm được đủ thứ cơ sở bí mật mà chắc chắn họ định dùng làm phương tiện tỏi tiền ta thông qua con. Sau đó, sự mê muội của con đối với cô con gái lại khiến con buông lời với người mẹ một cách bừa bãi và thiếu suy nghĩ, khiến bà ta càng thấu tỏ hơn về vị thế gia tộc chúng ta. Cứ như thế, dẫu ra vẻ tường tận mọi thứ, bà ta đã moi từ con những mảnh ghép còn thiếu trong bức tranh mà Miranda từng kể thuở ban đầu. Vâng — chắc chắn đó là sự thật và là lời giải thích cho toàn bộ cơ sự này; và giờ việc chúng ta cần làm là nhanh chóng trở về Anh không một chút chần chừ, để nếu mụ già kia có được thả ra khỏi cáo buộc hiện tại, chúng ta sẽ dùng tiền mua lấy sự im lặng và việc lưu vong của ả, hệt như cách chúng ta đã thỏa thuận với cô con gái của ả vậy.”

“Nhưng làm sao con có thể đối mặt với mẹ đây?” Charles hỏi với giọng ngập tràn nỗi buồn sâu sắc: “Làm sao gặp lại Bá tước xứ Ellingham, người mà con từng tâm cơ hãm hại — và Quý bà Frances, người mà con đã đối xử một cách tồi tệ đến thế?”

“Giờ thì con đã nhận ra sự sai quáng trong cách hành xử của mình với cô ấy rồi đấy!” ông Hatfield thốt lên. “Ồ! Ta vô cùng mừng rỡ khi thấy trái tim con đã biết rộng mở để đón nhận những thức tỉnh mang tính cứu rỗi nhường ấy!”

“Những biến cố ngày hôm nay đã biến con thành một con người hoàn toàn khác,” Charles quả quyết nói.

“Vậy thì ta gần như cảm thấy hạnh phúc vì chúng đã xảy ra!” cha anh kêu lên. “Những bài học ấy quá đỗi cay đắng — thực sự rất cay đắng, đứa con tội nghiệp của ta ạ; nhưng thành quả thu lại có thể là sự đền bù xứng đáng cho cả con lẫn cha mẹ. Chúng ta đã tìm lại được một đứa con — và con đã thu nhặt được một vốn sống quý giá gấp muôn vạn lần những lời giáo huấn hay nhất từng thốt ra từ miệng phàm nhân.”

“Ồ, điều này đúng lắm — quả thực rất đúng, thưa cha!” Charles kêu lên. “Nhưng cha vẫn chưa trả lời những câu hỏi — những câu hỏi đầy đau đớn — mà con vừa đặt ra cho cha.”

“Trước hết, về phần mẹ con,” ông Hatfield đáp lời, “con thừa biết bà ấy sẽ rộng mở vòng tay đón nhận con. Còn về phần Bá tước, mọi chuyện — tất cả mọi thứ — đều phải được kể hết cho ngài ấy nghe; và con có thể trông đợi sự hào phóng từ ngài. Nhưng ngặt một nỗi là về phía Quý bà Frances Ellingham, người vô cùng yêu thương con — người mà lý do khiến con bỏ trốn đã được giấu kỹ — và là người tuyệt đối không thể để lọt tai câu chuyện về mối tình trác táng của con với một ả đàn bà hư hỏng... Ồ, chính vì nghĩ đến con bé mà ta không biết phải xử sự ra sao — ta thấy rối bời và vô cùng lúng túng!”

“Xin cha hãy nhớ cho, thưa cha kính yêu,” Charles cất lời bằng giọng hạ mình sâu sắc, “rằng từ nay về sau con sẽ tuân rắp mọi điều cha sai bảo. Cha chỉ cần lên tiếng — còn lại con sẽ cúi đầu tuân theo.”

“Đừng nghĩ rằng, con trai yêu quý của ta,” ông Hatfield đáp, “ta sẽ đòi hỏi ở con sự phục tùng đi ngược lại tuổi tác và địa vị xã hội của con — hay ta lại cố tình dùng thứ quyền uy mang chút vẩn đục của sự nghiêm khắc rút ra từ quá khứ để áp đặt lên con. Không đâu; nhưng ta sẽ dìu dắt và khuyên bảo con như một người bạn — và ta sẽ luôn cất lời vì lợi ích lớn lao nhất của con. Khi đặt chân đến Luân Đôn, chúng ta sẽ không vội trở thẳng về phố Pall Mall; thay vào đó, ta sẽ ghé một khách sạn, từ nơi ấy ta sẽ bí mật phái người mời Bá tước tới; và những lời khuyên của ngài sẽ giúp ta định hướng cách đối xử với cô con gái khả ái của ngài ấy. Còn bây giờ, hỡi Charles, con có thấy mình đủ sức bắt đầu hành trình trở về quê hương ngay lập tức không? — hay con đã quá ư kiệt quệ rồi——”

“Không — không đâu: chúng ta hãy rời khỏi Paris ngay lập tức không chần chừ!” chàng thanh niên thốt lên. “Con chẳng còn lý do gì để ở lại đây thêm nữa.”

Ông Hatfield giông chuông gọi; và một người hầu phòng xuất hiện ngay lập tức.

“Một cỗ xe bốn ngựa thật nhanh chóng,” đó là mệnh lệnh ngắn gọn được đưa ra; “và anh phải đem hộ chiếu của chúng tôi đi đóng dấu thị thực để qua Boulogne hoặc Calais.”

Gã gia nhân cúi đầu lui ra.

Hai tiếng đồng hồ sau, hai cha con đã ngồi cạnh nhau trong cỗ xe ngựa đang băng băng lăn bánh trên con đường dẫn tới Saint Denis.

“Giờ thì ta sẽ kể cho con nghe đôi điều về những chuyến phiêu lưu mà ta đã trải qua trong công cuộc truy tìm con,” ông Hatfield lên tiếng, nhận ra bầu không khí im lặng giữa mình và Charles đang dần trở nên ngột ngạt: bởi họ chưa hề thốt ra nửa lời kể từ khoảnh khắc bước lên xe cho đến khi ông chủ động cất lời lúc này — một khoảng thời gian kéo dài gần nửa tiếng đồng hồ.

“Con rất sẵn lòng lắng nghe,” chàng thanh niên đáp lời, lòng đầy khao khát hướng suy nghĩ ra khỏi những đề tài đau đớn vốn đang bủa vây tâm trí: “vì thú thật là con vẫn không tài nào đoán ra được vì sao cha lại có thể chạm trán với các sĩ quan cảnh sát ở Dover, và cách nào cha lần ra được khách sạn nơi cha đã tìm thấy con sáng nay.”

“Mọi chuyện giải thích ra thì rất đơn giản,” ông Hatfield nói, và khi cỗ xe đang chạy trên đoạn đường chưa rải nhựa, chẳng cần phải gắng sức quá nhiều giọng nói của ông cũng đủ nghe rõ. “Ta sẽ bắt đầu từ những sự kiện xảy ra vào buổi sáng hôm con rời khỏi Luân Đôn cùng hai người phụ nữ với ảnh hưởng tai hại đã gây ra biết bao sóng gió ấy. Con hẳn nhớ cuộc nói chuyện vô cùng đau đớn diễn ra giữa ta với con trong phòng sách chứ, và việc con đã đùng đùng bỏ đi — có lẽ đúng vào thời điểm mà những lời giải thích đáng lẽ đã có thể phơi bày cho con thấy sự viển vông trong những tham vọng và giấc mơ vàng son về thân thế cùng tước vị của mình. Chẳng lâu sau khi con bỏ đi như thế, Bá tước bước vào phòng; và một cuộc trò chuyện diễn ra đã dẫn đến việc nhắc đến những tài liệu cơ mật. Ngài tìm kiếm chúng trong hốc tường nơi ngài cất giấu — nhưng chúng đã biến mất. Cùng lúc đó, ta nhận ra một sự thật rằng cuốn Niên giám của một năm nào đó, chứa đựng một câu chuyện hãi hùng, đã được đọc gần đây. Rồi mọi thứ bừng sáng trong đầu ta và Bá tước; cuối cùng chúng ta cũng thấu thấu hiểu được động cơ đằng sau thái độ kỳ lạ mà con đã dành cho cha mẹ thời gian gần đây. Giữa lúc dầu sôi lửa bỏng ấy, anh chàng Clarence Villiers xuất hiện; và khi bàn bạc với cậu ta, chúng ta bàng hoàng nhận ra rằng hai người phụ nữ mang cái tên Fitzhardinge chính là dì và em họ của cậu ấy — mụ Slingsby, kẻ từng bị lưu đày nhiều năm trước vì tội làm giả giấy tờ — và Perdita, đứa con hoang sinh ra trong nhà tù Newgate chỉ vài tuần trước ngày mụ ta bị đày đi. Con có thể hình dung được nỗi đau đớn tột cùng mà chúng ta phải chịu đựng khi phát hiện ra con đã vướng vào lưới tình với những kẻ như thế; và Villiers đã tức tốc phóng tới phố Suffolk để tìm gặp con.”

“Ước gì khi ấy cậu ấy tìm ra con — ước gì cuộc ra đi của con cùng lũ khốn kiếp ấy chỉ bị chậm lại dăm ba phút thôi!” Charles kêu lên, vẫn chìm đắm trong những cảm xúc giày vò khôn xiết.

“Khốn nỗi! Con đã cao chạy xa bay từ đời nào,” ông Hatfield tiếp lời; “và khi Villiers quay lại để báo tin đó, một cuộc truy đuổi lập tức được quyết định. Clarence chọn một ngả đường — Bá tước chọn ngả thứ hai — còn ta chọn con đường dẫn tới Dover. Ta phi trên một con ngựa tốt và chắc chắn đã bắt kịp con trước khi con đi được dặm đường nào, thế nhưng, khi vừa ôm cua qua một khúc ngoặt, ta đột nhiên chạm trán một chiếc xe ngựa nhẹ đang lao tới với tốc độ chóng mặt. Cú tông quá mạnh khiến ta bị hất văng khỏi lưng ngựa với một lực khủng đến mức ngất lịm đi. Lúc tỉnh lại, ta thấy mình đang nằm trên chiếc giường của một quán trọ nhỏ ven đường; bên cạnh có một ngọn nến đang cháy. Trời đã tối mịt; hàng giờ đồng hồ đã trôi qua kể từ tai nạn khủng khiếp ấy; và trong suốt khoảng thời gian đằng đẵng đó, ta hoàn toàn bất tỉnh — chẳng hay biết gì về những gì đang diễn ra xung quanh. Người ta đã phái người đi mời một y sĩ từ Greenwich, chốn sát bên nơi tai nạn xảy ra; và gã ta hóa ra lại là một tay lang băm dốt nát chẳng hề đưa ra nổi một biện pháp hiệu quả nào để cứu chữa cho ta. Nhưng rồi chính tạo hóa cuối cùng đã giành lại quyền kiểm soát ở nơi mà sự tắc trách của y học đành bó tay chẳng mang lại nổi một kết quả tốt đẹp nào; và ta đã hồi phục lại tư duy — chỉ để trải nghiệm nỗi đau đớn cay đắng tột cùng vì khoảng thời gian bị bỏ phí. Dẫu đang ốm đau và oằn mình trong đớn đau, ta vẫn cố gắng gượng dậy với quyết tâm tiếp tục hành trình; thế nhưng điều đó là bất khả thi. Bởi thứ nhất, ta đã quá kiệt sức để có thể lê lác nổi khỏi chiếc giường đang bất lực giam cầm mình; và thứ hai, ta bàng hoàng hay tin con ngựa của ta đã bị thương tích vô cùng nặng nề. Tóm lại một câu, ta đành phó mặc cho hoàn cảnh, chấp nhận ngậm ngùi nằm lại nơi đó thêm ít nhất vài giờ nữa; và một giấc ngủ sâu đã ập đến che chở ta. Sáng hôm sau ta tỉnh dậy, người ngợm sảng khoái hơn nhiều, dẫu vẫn còn chịu đựng những cơn đau nhức từ các vết bầm giập nặng nề. Mọi hy vọng tiếp tục hành trình trên lưng ngựa đã tiêu tan; thế là ta đành thuê một cỗ xe trạm để phóng như bay đến Dover. Ta tới nơi vào buổi chiều; và tình cờ thế nào lại trọ đúng vào cái khách sạn mà con và mấy ả đồng hành đã dừng chân. Khi gặng hỏi, ta hay tin con và cô nàng trẻ tuổi đã nhổ giò đi Calais từ sáng sớm, còn mụ già thì đã bị tóm gọn trên đường ra cảng nhờ vào bức điện tín gửi nhanh từ Luân Đôn. Chẳng có chuyến tàu thủy nào sang Pháp cho đến tận ngày hôm sau; thế nên ta buộc phải cắn răng kiên nhẫn chờ đợi tại khách sạn. Kiên nhẫn thật đấy chứ! Không — chuyện đó là bất khả thi; bởi mọi sự trì hoãn này đều có thể đẩy con người ta phát điên lên trong hoàn cảnh ấy. Nhưng ta sẽ không đi sâu vào những chi tiết không cần thiết trong câu chuyện của mình — lại càng không muốn nhắc lại bản chất của những cảm xúc mà ta đã trải qua lúc bấy giờ. Tối hôm đó ta ăn tối ở phòng cà phê — nếu cái việc ngồi vào bàn tiệc mà chẳng nuốt nổi miếng nào được gọi là ăn tối; và trong lúc đang ngồi bên bữa ăn chẳng màng đụng đũa ấy, ta bỗng chú ý đến một cuộc trò chuyện giữa hai sĩ quan cảnh sát đang nhấm nháp chai rượu vang ở chiếc bàn bên cạnh.”

“Ồ! Đáng lẽ ra con phải nhận ra có điều gì đó mờ ám và sai quáng trong chuyến phiêu lưu ở đoạn đê Marine Parade ấy chứ!” Charles kêu lên, giận đến tím mặt trước sự mù quáng và ngu xuẩn của chính mình. “Nhưng con khi ấy đã bị mê hoặc hoàn toàn bởi cái ả xảo quyệt, đầy mưu mô đó……”

“Ta khẩn khoản cầu xin con hãy bình tĩnh lại,” ông Hatfield ngắt lời bằng giọng điệu vừa nghiêm túc vừa ân cần: “bởi nếu giờ đây ta kể cho con nghe mọi chuyện đã xảy ra với ta, thì cốt chỉ để con được tường tận mọi ngóc ngách, không để lại điều gì làm mầm mống cho những cơn chấn động tâm lý trong tương lai. Do đó ta sẽ nói rõ cho con nghe thực chất cuộc trò chuyện giữa hai viên sĩ quan ấy. Thật tình, con có thể tưởng tượng được sự kinh ngạc của ta khi tình cờ nghe thấy một trong hai người thốt lên cái tên Perdita; bởi đó hoàn toàn không phải là một cái tên phổ biến — và có lẽ người phụ nữ này là sinh linh duy nhất trên mặt đất mang cái tên ấy. Lập tức taểnh tai lắng nghe — và chẳng mất bao lâu, toàn bộ câu chuyện diễn ra ở khu đi dạo hôm trước đã thu gọn vào tai ta. Sau đó, ta bước tới chỗ hai vị sĩ quan, thú nhận rằng mình đã lỡ nghe lén cuộc trò chuyện của họ, ngỏ lời xin lỗi vì sự bất lịch sự ấy nhưng đồng thời cũng viện cớ rằng chàng thanh niên trẻ tuổi mà họ nhìn thấy đi cùng Perdita có quan hệ họ hàng gần gũi với ta, và thực chất ta đang ráo riết truy tìm cậu ta. Họ khẳng định ta chẳng cần phải bận tâm xin lỗi gì sất, thế là ta nhập hội trò chuyện với họ. Chính khoảnh khắc ấy đã phơi bày trước mắt ta một câu chuyện hãi hùng về sự đồi trụy của một ả đàn bà; bởi hóa ra Perdita thực sự đã trở thành ‘Kẻ Lạc Lối’ từ khi còn rất trẻ, và những ân huệ của mụ ta sẵn sàng ban phát ở Sydney cho bất kỳ gã trai khôi ngô nào lọt vào mắt xanh của mụ.”

“Đồ Perdita đê tiện, đáng nguyền rủa!” Charles thốt lên, nghiến ken két hàm răng vì căm giận.

“Phải — con phải thấu hiểu rõ bản chất của mụ ta, đứa con tội nghiệp của ta ạ,” ông Hatfield nói; “để đề phòng mụ ta lại một lần nữa giở trò ve vãn, dùng thứ bùa mê thuốc lú để thao túng con.”

“Ồ, một mưu đồ như thế đối với mụ ta sẽ chỉ là sự điên rồ tột độ mà thôi!” Charles kêu lên, giọng đầy rẫy những biểu hiện của sự phẫn nộ tột cùng và thậm chí là căm ghét tột độ. “Nhưng hai vị sĩ quan mà cha tình cờ gặp ấy còn nói gì nữa không?”

“Hóa ra,” ông Hatfield tiếp tục, “Perdita không phải loại đồi trụy đến tận gốc rễ theo cái cách chúng ta thường dùng để ám chỉ những ả đàn bà lầm đường lạc lối hành nghề hạ tiện để kiếm miếng ăn. Không đâu — ả không bao giờ đem những cái ôm ấp ái ân ra để đổi lấy vàng bạc. Thật vậy, dẫu nghèo rớt mồng tơi, ả gần như chẳng bao giờ nhận bất kỳ sự đền ơn nào từ những người tình — trừ khi chúng được trao gửi một cách tế nhị dưới dạng quà cáp. Còn tiền bạc thì tuyệt đối không bao giờ mụ cầm tới: lòng kiêu hãnh của mụ nổi loạn trước điều đó; và việc mụ lao đầu vào con đường truỵ lạc hoàn toàn xuất phát từ bản tính buông thả cùng khao khát cháy bỏng trong huyết quản.”

“Và con lại có thể rơi vào bẫy của một ả đàn bà nhơ nhớp nhường ấy cơ chứ!” chàng thanh niên thốt lên.

“Ở Sydney,” ông Hatfield kể tiếp, “mụ ta được xem như một thứ kỳ nhân dị dạng. Được phú cho một trí tuệ sắc sảo chẳng kém gì nhan sắc kiều diễm, lại sở hữu năng lực thiên bẩm phi thường, mụ ngấu nghiến lắng nghe những câu chuyện của các sĩ quan và những quý ông từng trở thành tình nhân của mình, rồi gom nhặt, cất giấu mọi thông tin thu nạp được. Mụ cũng có sở thích đọc báo chí gửi từ Anh quốc sang, cùng các ấn phẩm bàn về xứ sở quê nhà và các cường quốc châu Âu; nhờ thế, mụ tích lũy được một kho tàng kiến thức hỗn hợp khổng lồ, đủ để biến mình thành một người phụ nữ từng trải lọc lõi giữa đời. Với sự nhạy bén kỳ lạ, mụ cũng nhanh chóng học hỏi và thấm nhuần dáng đi, phong thái cùng cung cách ứng xử thanh lịch mà mụ quan sát thấy ở tầng lớp bề trên; thậm chí ngay cả cách đi đứng của các quý bà ở Sydney mỗi khi ra đường cũng được mụ ghi nhớ và bắt chước theo. Thế nên, dẫu sống trong cảnh bần hàn — cái cảnh nghèo mà mụ kiên quyết bám lấy thay vì từ bỏ sự độc lập để làm vợ hay làm tình nhân được bao nuôi, dù mụ hoàn toàn có thể chọn một trong hai con đường ấy — vâng, dẫu trong nghèo khó, ta phải nói rằng ở mụ vẫn tỏa ra một bầu không khí kiêu kỳ và ngạo mễ trầm mặc, đủ sức khiến một kẻ lạ mặt phải lầm tưởng rằng mụ xuất thân từ một dòng dõi quý tộc đời đời kiêu hãnh nhưng nay gia vận sa sút. Hơn thế nữa, tính khí mụ vô cùng quật cường và dữ dội; mụ thừa sức biết cách trả thù một nhát gạt ngang phè. Nếu nhận được lời tỉnh tỏ từ bất cứ kẻ nào không hợp nhãn, mụ sẽ hất hủi bằng cả sự khinh miệt; và nếu có thể, mụ sẽ tìm cách trừng phạt gã tình nhân cả gan ấy bằng cách này hay cách khác vì sự xấc láo dám bắt chuyện với mụ. Thú vui của mụ đôi khi là tự giăng quanh mình — quanh những hành tung, lời nói và thậm chí cả nhân cách — một lớp màn bí ẩn, đồng thời cố tình ra vẻ lập dị trong thói quen lẫn lối sống để khiến nhiều kẻ u muội, nhẹ dạ cả tin tưởng rằng mụ không phải là một sinh linh phàm tục bình thường. Đối với những kẻ được coi là ngang hàng, mụ giữ thái độ lạnh lùng, xa cách và dè dặt; còn với những ai, theo đúng nghĩa tương tự, mà ta gọi là bề trên, mụ lại hạ mình cư xử một cách ban ơn, tựa hồ như sự hiện diện của mụ chính là một đặc ân dành cho họ. Trong chuyện tình ái, mụ vẫn duy trì cái sự kiêu hãnh kỳ lạ đó, hệt như một Nữ hoàng Catherine xứ Nga, ban phát ân huệ mời gọi người tình vào vòng tay nhưng chưa bao giờ hạ mình chấp nhận lời mời mọc phát xuất từ phía họ. Tóm lại một lời, Perdita bị xem là nhân vật kỳ lạ nhất, đồng thời cũng khó hiểu nhất — một sinh thể bất khả tư nghị tại Sydney; và ngay cả những người đáng kính nhất cũng khao khát được chỉ mặt điểm tên mụ mỗi khi dạo bước trên phố. Được ban phước một trí tuệ lẫy lừng — sở hữu vẻ đẹp hiếm có gần như siêu phàm — khoác lên mình tấm áo choàng bí ẩn — lại bộc lộ một tinh thần kiêu hãnh cùng khả năng thiên bẩm trong việc tự thân hấp thụ sự tinh tế và phép lịch sự của giới thượng lưu — chẳng có gì là lạ khi Perdita không hề bị nhìn nhận như một kẻ phàm tục tầm thường trong mắt cư dân vùng đất lưu đày ấy. Nhưng qua tất cả những gì ta vừa kể cho con, hỡi Charles, con có thể dễ dàng nhận ra bản chất của một người phụ nữ như thế nguy hiểm đến nhường nào — mụ ta thành thạo đến mức nào trong mọi ngóc ngách của trường phái giả hình, quỷ quyệt và lừa lọc; và nếu ta phải dài dòng kể lể tỉ mỉ về mụ như thế — nếu ta tường thuật lại từng chi tiết những gì ta học được từ hai viên sĩ quan ở Dover — thì đơn giản chỉ là để giúp con cao tay hơn trong việc đề phòng ả yêu tinh ấy……”

“Con đã nói rồi,” Charles ngắt lời, cất tiếng bằng sự quả quyết phát xuất từ tận đáy lòng cùng niềm tin sâu sắc rằng: “rằng chưa bao giờ — chưa bao giờ mụ ta có thể lấy lại được quyền thống trị trên cõi lòng con nữa! Ồ, cha kính yêu của con ơi, bài học này quá đỗi khốc liệt để có thể làm một lời cảnh tỉnh; thà con tìm đến cái ôm của một con rắn độc gớm ghiếc còn hơn là để bản thân bị dụ dỗ quay trở lại vòng tay của Perdita. Và — ồ!” chàng thanh niên thốt lên khi một tia ký ức bất ngờ lóe lên trong đầu, “đáng lẽ con phải nhận ra cảnh báo từ nhiều ngày trước rồi; vì con sực nhớ đến một giấc mơ kinh hoàng mà con từng trải qua, thứ mà giờ đây con phải nhìn nhận như một điềm gở được thiên định! Thật là một kẻ điên rồ khi con lại đi phớt lờ một lời báo trước thiêng liêng đến thế về sự thật!”

“Hãy bình tĩnh lại nào, Charles,” ông Hatfield kêu lên; “và giờ hãy để ta kết thúc câu chuyện của mình. Ta đã đi đến khúc mấu chốt liên quan đến cuộc gặp gỡ tình cờ với hai sĩ quan ở Dover, nơi ta buộc phải qua đêm — một đêm dài đằng đẵng ngập tràn sự hoang mang hành hạ đến tột cùng! Sáng hôm sau, ta sang Calais và lần theo dấu vết của con tại khách sạn Dessin. Không chần chừ, ta thuê một cỗ xe trạm và hối hả truy đuổi. Ta đặt chân đến Paris lúc năm giờ chiều hôm qua và trọ lại đúng cái khách sạn mà chúng ta vừa rời đi lúc nãy. Nhưng ta chẳng có thời gian để lãng phí, bởi ta đinh ninh rằng con có ý định kết hôn với Perdita. Do đó ta tức tốc phi thẳng đến Đại sứ quán Anh, hoặc là để đối mặt với điều tồi tệ nhất nếu mọi chuyện đã rồi — hoặc là tìm mọi biện pháp ngăn chặn buổi lễ trong trường hợp nó chưa kịp diễn ra. Nhưng ta chẳng thu thập được tin tức khả quan nào; chẳng một ai ta tiếp chuyện có thể xác nhận liệu những kẻ ta mô tả đã kết hôn trong ngày hay chưa. Ta đánh xe tới tư dinh của vị tuyên úy — nhưng ông ta đã đi vắng vài dặm về vùng ngoại ô. Ta tìm tới chỗ ở của viên thư ký — nhưng tay chức sắc này cũng đi vắng nốt. Gần như phát điên, ta phóng như bay tới Sở Cảnh sát để dò la xem liệu có cách nào tìm ra địa chỉ của con ở Paris hay không, vì ta thừa biết chủ các khách sạn đều bắt buộc phải nộp báo cáo danh sách khách trọ hằng ngày cho cơ quan chức năng có thẩm quyền. Thế nhưng ta lại thấy Sở Cảnh sát đã đóng cửa về đêm; và ta đành lê bước trở về khách sạn trong tâm trạng chán chường cùng thân thể kiệt quệ vì mỏi mệt. Gọi tên giao dịch viên tới, ta dặn dò kỹ lưỡng mọi chỉ thị để cậu ta tiến hành dò la ngay khi cơ quan ấy mở cửa vào sáng hôm sau. Cậu ta hứa sẽ làm vậy, và ta lui về giường — nhưng nào có được chợp mắt ngơi nghỉ chút nào!”

“Ồ! Cha kính yêu của con ơi,” Charles thốt lên, chộp lấy bàn tay đấng sinh thành và siết chặt đầy thiết tha lên môi mình, “làm sao cha có thể tha thứ cho con vì tất cả những nỗi nhọc nhằn mà con đã gây ra cho cha? — và nếu cha đã rộng lượng thứ tha, thì liệu con còn dám mong mỏi điều gì ở sự tha thứ của mẹ, khi bà hay biết toàn bộ nỗi đau khổ mà cha phải gánh chịu vì con?”

“Có lẽ không nhất thiết phải để mẹ con biết tuốt tuồn tuột mọi chuyện đâu,” ông Hatfield quả quyết nhận xét: “nhưng điều đó sẽ còn tùy thuộc vào hoàn cảnh — đặc biệt là kết quả của cuộc gặp gỡ riêng tư trước đó của chúng ta với Lãnh chúa Ellingham. Còn về phần con và ta, Charles, chúng ta đã tha thứ cho nhau mọi thứ rồi,” ông Hatfield cất lời bằng giọng điệu trang nghiêm. “Và giờ thì câu chuyện của ta đã đi đến hồi kết,” ông nói thêm; “bởi chẳng lâu sau tám giờ sáng nay, người giao dịch viên đã tới báo tin rằng hắn đã lùng ra khách sạn nơi con đang trú ngụ. Phần còn lại thì con đã rõ.”

Charles thở dài nhưng không đáp lời, và hành trình cứ thế tiếp diễn trong bầu không khí im lìm bao trùm suốt một quãng thời gian dài.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.