Điệp Viên Của Chúa

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 4 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Trụ Sở Uacv
Số 3, Phố Lamarmora

❊ ❊ ❊

Thứ năm, ngày 7 tháng 4 năm 2005, 8:32 sáng

Fowler quay mặt khỏi những tấm ảnh nằm vung vãi trên sàn. Ông ta chỉ bước lướt qua mà không hề có ý định cúi xuống nhặt chúng lên. Paola tự hỏi liệu đó có phải là một cách ngấm ngầm đáp lại những lời buộc tội của Dante hay không. Nhiều lần trong suốt những ngày sau đó, Paola có cảm giác cô đang đứng trước mặt một người đàn ông vừa bí hiểm vừa lịch sự, vừa mơ hồ vừa thông thái. Fowler là cả một mối mâu thuẫn sống, một mật mã không sao giải nổi. Nhưng ngay lúc này trong cô chỉ có một cảm xúc hoàn toàn khác, một cơn giận dữ đến mụ mẫm, điều cô không sao giấu nổi với cặp môi mím chặt.

Vị linh mục bước đến và ngồi xuống trước mặt Paola, đặt chiếc cặp sờn rách của mình xuống cạnh bàn. Tay trái ông ta đang xách một chiếc túi giấy đựng ba cốc cà phê.

Ong ta lấy ra một cốc và chìa trước mặt Paola.

“Cappuccino không?”

“Tôi ghét cappuccino. Nó làm tôi nhớ lại một con chó mà tôi từng nuôi, những thứ mà nó nôn ra có màu giống hệt thứ cà phê này. Nhưng thôi, được rồi.” Cô cầm lấy cốc cà phê.

Trong vài phút Fowler vẫn lặng yên không nói gì.

Paola không còn đủ kiên nhẫn để tiếp tục giả vờ nghiên cứu tập hồ sơ về Karosky được nữa, cô quyết định phải đối đầu với ông ta. Cô phải biết r

“Sao đây? ông không định...”

Giọng nói của cô bỗng tắc nghẹn. Trước đó Paola chưa hề nhìn Fowler kể từ lúc ông ta bước vào phòng. Giờ đây cô mới nhận ra rằng ông ta đang như người mất hồn. Hai bàn tay cầm cốc cà phê đưa lên miệng đang run bần bật.

Căn phòng buổi sáng rất mát mẻ, nhưng những giọt mồ hôi đang lấm tấm rịn ra lấp lánh trên làn da đầu hói bóng của ông ta. Cặp mắt màu xanh lơ của ông ta như đang hét lên rằng chúng đã từng phải chứng kiến những điều khủng khiếp không thể nào gột sạch, và ngay lúc này tất cả như đang chầm chậm tái hiện trước mặt vị linh mục như một bộ phim nghiệt ngã.

Paola lặng yên. Cô nhận ra rằng vẻ lạnh lùng mà Fowler đã thể hiện khi liếc nhìn những bức ảnh chỉ là một cái mặt nạ không hơn không kém. Cô kiên nhẫn chờ đợi. Phải vài phút sau vị linh mục mới bình tĩnh trở lại, và khi ông cất tiếng, giọng nói của ông nghe thật xa vời, nhợt nhạt.

“Thật khó khăn. Cô nghĩ cô đã quên hết mọi chuyện, nhưng rồi tất cả lại thức dậy, giống như một cái nút chai trong bồn tắm. Cô giữ nó rồi thả tay, nó lại nổi bắn lên trên. Và thế là mọi chuyện lại sống lại từ đầu.”

“Có thể là nói ra sẽ nhẹ nhàng hơn.”

“Tin tôi đi: Chẳng có tác dụng gì đâu. Từ trước kia đã thế rồi. Có nhiều chuyện mà nói ra cũng chẳng giải quyết được gì.”

“Nghe một linh mục nói thế thì kể cũng hơi lạ. Càng khó tin đối với một nhà tâm lý. Nhưng lại rất dễ hiểu dối với một điệp viên CIA được huấn luyện để giết người. “

Fowler phải cố hết sức giữ bình tĩnh mới không chau mày.

ọ không hề huấn luyện tôi giết người, cũng chẳng có gì đặc biệt hơn những người lính khác. Tôi được huấn luyện về các kỹ thuật phản gián thôi. Chúa ban cho tôi năng khiếu xạ kích gần như hoàn hảo, đúng là như vậy, nhưng tôi cũng đâu có đi tìm kiếm điều đó. Và để trả lời luôn câu hỏi tiếp theo của cô, tôi chưa hề giết ai cả kể từ năm 1972 đến nay. Thực ra ít nhất thì tôi cũng biết là tôi đã giết 11 người lính Việt cộng. Nhưng tất cả đều là trong lúc chiến đấu.”

“Ông tình nguyện nhập ngũ mà”

“Trước khi cô phán xét tôi, cứ nghe tôi kể đã. Tôi chưa bao giờ kể cho bất kỳ ai những gì tôi sắp kể với cô, vì vậy làm ơn đi. Tôi chỉ yêu cầu cô nghe tôi nói hết thôi. Không cần cô phải tin hay thông cảm với tôi làm gì, bởi vì ngay lúc này đó có lẽ là một đòi hỏi quá sức. Đơn giản là hãy lắng nghe những gì tôi sắp kề.”

Paola gật đầu đồng ý.

“Tôi đoán là những thông tin này đến được tay cô là qua anh bạn Vatican của chúng ta. Nếu như đó là báo cáo của Sant' Ufizio, thì chắc chắn nó sẽ cung cấp cho cô những nét chính về lý lịch bản thân tôi. Tôi tình nguyện nhập ngũ năm 1971, vì một số...bất đồng với cha tôi. Tôi không muốn làm cô nặng đầu thêm với những chi tiết khủng khiếp về cuộc chiến tranh, bởi vì thực ra chẳng ngôn từ nào có thể kể hết được những điều chết chóc đó. Cô đã xem phim Apocalypse Now chưa? ([1]).”

“Rồi. Cũng khá lâu rồi. Tôi hơi bị sốc vì sự trần trụi mà nó diễn tả”.

“Chỉ là những nét bề ngoài thôi. Bộ phim đó chỉ là một cái bóng trên tường, so với những gì mà nó muốn thể hiện. Tôi đã chứng kiến quá nhiều đau khổ và bạo lực đủ để lấp đầy một số kiếp con người. Nhưng đó cũng chính là nơi tôi phát hiện ra thiên hướng của mình. Sựộ đó không hề đến với tôi trong một căn hầm cá nhân lúc nửa đêm, trong khi hỏa lực của kẻ thù đang vây bủa khắp xung quanh. Nó cũng không hề đến khi ngắm nhìn khuôn mặt một đứa trẻ mười tuổi mang trên cổ một chiếc vòng xâu từ tai người cắt ra. Mọi chuyện xảy ra phía sau chiến tuyến, vào một buổi chiều yên tĩnh ngồi bên người cha tuyên úy của trung đoàn. Chính lúc đó và tại đó tôi đã muốn dâng tặng đời mình cho Chúa và những con chiên của người. Và đó là con đường mà tôi đã chọn.”

“Thế còn CIA thì sao?”

“Đừng có vội vàng thế. Tôi không muốn quay lại Mỹ sau khi hết hạn phục vụ. Cha mẹ tôi vẫn còn ở đó. Vì vậy tôi cố đi càng xa càng tốt, đến tận sát chân Bức màn Thép ([2]). Tôi đã học được khá nhiều điều ở đó, nhưng một số thứ trong đó - cô mới ba mươi tư tuổi đầu, cô sẽ không hiểu được đâu. Ngày nào chúng tôi cũng phải sống chung với mối đe dọa của chiến tranh hạt nhân. Bản thân mối căm thù hiện hữu giữa các nhóm, và các khối khác nhau cũng là một loại tôn giáo. Dường như mỗi ngày trôi qua là các bên, có thể là chúng ta cũng có thể là họ, lại càng mất dần sự kiên nhẫn vốn đã ít ỏi của mình. Và khi đó sẽ là dấu chấm hết cho tất cả. Tôi dám chắc là như vậy. Không sớm thì muộn, một ai đó sẽ là người bấm nút.”

Fowler dừng lại một lát, nhấp một ngụm cà phê. Paola châm một điếu thuốc còn lại của Pontiero. Fowler vừa vươn tay qua bàn định lấy bao thuốc thì Paola đã đẩy nó ra xa khỏi tầm với của ông ta.

“Chúng là của tôi. Tự tôi sẽ hút hết chỗ này.”

“Đừng lo, tôi có định hút đâu, tôi chỉ tự hỏi là tại sao tự nhiên cô lại quay lại với thói quen này.”

“Chẳng sao cả. Tốt nhất là ông tiếp tục câu chuyện của mình đi hơn là nói về việc này.”

Fowler lờ mờ cảm nhận được nỗi đau trong giọng nói của cô.

Ông tiếp tục câu chuyện.

“Tất nhiên, tôi vẫn muốn được là một phần của quân đội. Tôi yêu tinh thần đồng đội, tính kỷ luật, cảm giác của cuộc sống trong quân ngũ. Cô cứ thử nghĩ mà xem, cũng không khác cuộc sống của một linh mục là bao: đó là vấn đề hy sinh bản thân vì người khác. Bản thân quân đội không phải là điều gì đó xấu xa; chỉ có chiến tranh mới là điều tồi tệ. Tôi đã đề nghị được cử tới một căn cứ quân sự của Mỹ làm cha tuyên úy, và vì tôi là một linh mục giáo khu nên vị giám mục của tôi đã chấp thuận.”

“Tôi không hiểu linh mục giáo khu nghĩa là thế nào?”

“Đại khái tôi là một linh mục tự do. Tôi không bị ràng buộc vào một giáo đoàn nào hết. Nếu muốn, tôi có thể yêu cầu vị giám mục của mình cử tôi phụ trách một giáo xứ nào đó. Nhưng tôi nghĩ tốt nhất là tôi nên thực thi công việc chăn chiên của mình ở nơi nào hợp với mình nhất, tất nhiên là lúc nào cũng cần có sự cho phép của vị giám mục, có thể hiểu đó như một sự bổ nhiệm chính thức.”

“Tôi hiểu rồi.”

“Tại đó, tức là tại căn cứ quân sự, tôi làm việc bên cạnh rất nhiều sĩ quan của Cục (CIA), họ đang thực hiện một chương trình đặc biệt về các hoạt động chống phản gián cho các quân nhân không thuộc CIA. Họ mời tôi tham gia, bốn tiếng một ngày, năm ngày một tuần, trong vòng hai năm. Điều đó cũng chẳng ảnh hưởng gì đến công việc chăn chiên của tôi; chỉ là thức khuya dậy sớm hơn một chút thôi. Vì vậy tôi đã chấp nhận. Và hóa ra tôi lại là một học viên xuất sắc. Một đêm, sau giờ học, một huấn luyện viên đã kéo tôi lại và đề nghị tôi tham gia Đại Đội. Đó là bí danh nội bộ của CIA tại các đơn vị. Tôi bảo ông ta rằng tôi là một linh mục, rằng việc đó là không thể. Tôi còn cả núi công việc chờ phía trước với hàng trăm tín đồ Công giáo trẻ tuổi trong căn cứ. Cấp trên của họ cứ ra rả suốt nhiều giờ mỗi ngày dạy những người lính này cách căm thù cộng sản. Trong khi tôi chỉ có một giờ mỗi tuần cho việc nhắc nhở họ rằng tất cả chúng ta đều là con của Chúa.”

“Có vẻ như cha đã thua.”

“Hầu như lúc nào cũng thế. Sự nghiệp của một linh mục cũng giống như một vận động viên marathon.”

“Hình như tôi đã đọc câu này trong một cuộc phỏng vấn của ông với Karosky thì phải.”

“Có thể. Chúng tôi chấp nhận tích lũy từng điểm nhỏ một. Những chiến thắng khiêm tốn. Họa hoằn lắm chúng tôi mới giành được điều gì đó kha khá một chút, nhưng rất hiếm khi thôi. Chúng tôi gieo một nắm hạt giống, với hy vọng là vài ba hạt sẽ nẩy mầm. Thường thì người gieo hạt có mấy khi được là người hái quả, nghe thì rất dễ nản lòng.”

“Đó là chưa kể bao nhiêu khó khăn thất bại.”

“Ngày xửa ngày xưa có một ông vua đi săn trong rừng và gặp một ông già, một ông già nghèo khổ, đang còng lưng trên những luống đất. Vua lại gần và thấy ông già đang gieo hạt dẻ. Vua hỏi ông già tại sao lại làm như vậy và ông già trả lời, “Thần thích ăn hạt dẻ.” Vua bèn nói, ông già lẩm cẩm ơi, đừng có tự hành hạ cái lưng của mình như thế. Chẳng lẽ ông lại không biết rằng đến lúc những cái cây này đủ lớn để có hạt ăn được thì ông cũng chẳng còn sống nữa đâu?” Và ông già đã trả lời, “Thưa bệ hạ, nếu tổ tiên thần cũng nghĩ như vậy thì thần đã chẳng bao giờ có hạt dẻ mà ăn.”'

Paola bất giác mỉm cười, ngỡ ngàng vì chân lý giản dị của câu chuyện

“Cô có biết câu chuyện đó dạy chúng ta điều gì không?”

Fowler ngừng lại một lát trước khi tiếp tục. “Đó là cô sẽ luôn tiến về phía trước nếu có ý chí, lòng kính Chúa và một chai Johnnie Walker.”

Paola hơi giật mình. Cô chưa bao giờ hình dung một vị linh mục đoan trang và chỉn chu lại ôm chai whiskey trên tay, nhưng rõ ràng là ông ta mới cô đơn làm sao trong suốt cuộc đời mình.

“Người huấn luyện viên cũng bảo tôi rằng sẽ có linh mục khác giúp đỡ những chàng trai trẻ trong căn cứ, nhưng hàng nghìn thanh niên bên kia Bức màn Thép thì chẳng có ai giúp đỡ, tôi biết điều ông ta nói cũng phần nào có lý. Họ có thể phục vụ lợi ích của đất nước chúng tôi cũng như Nhà thờ Công giáo nữa, tất nhiên là ở những nơi hai khái niệm này trùng hợp với nhau. Đồng thời, hồi đó tôi đã thực sự tin rằng hai điều này không có gì mâu thuẫn.”

“Vậy bây giờ ông nghĩ sao? Bởi vì ông chẳng vừa quay lại hoạt động đấy thôi.”

“Tôi sẽ giải thích điều đó ngay đây. Họ đề nghị tôi làm điệp viên tự do, được phép chọn những nhiệm vụ nào mà tôi tin là phù hợp. Tôi đi khắp nơi. Có nơi tôi làm linh mục, có nơi tôi xuất hiện như một công dân bình thường. Mạng sống của tôi nhiều lần bị đe dọa, nhưng nói chung đó đều là những việc đáng làm. Tôi giúp đỡ những người cần đến sự giúp đỡ của tôi bằng cách này hay cách khác. Có lúc sự giúp đỡ đó là một lời cảnh báo kịp thời, lúc thì lại là một báo cáo, một bức thư, khi thì là việc xây dựng một mạng lưới liên lạc, hoặc để giúp ai đó thoát khỏi tình cảnh khó khăn. Tôi học thêm các ngoại ngữ, và tôi thậm chí còn cảm thấy vững vàng hơn để có thể quay về Mỹ. Đó là trước khi xảy ra những chuyện ở Honduras.”

“Khoan đã, ông vừa bỏ qua một phần quan trọng, đám tang của cha mẹ ông.”

Nét mặt Fowler thể hiện một nỗi khó chịu cực kỳ sâu sắc.

“Tôi đã từ chối đến dự tang lễ. Mãi sau tôi mới đến để dàn xếp một vài thủ tục pháp lý còn dang dở.”

“Cha Fowler, ông làm tôi ngạc nhiên thật. Tám mươi triệu đô la đâu chỉ là vấn đề thủ tục.”

“À, vậy là cô còn biết cả chuyện đó nữa. Được rồi, đúng là tôi đã từ bỏ quyền sở hữu tiền bạc mà tôi được thừa kế. Nhưng tôi không hề cho chúng đi, như người ta vẫn nghĩ. Tôi dùng số tiền đó để lập ra một quỹ phi lợi nhuận hoạt động trong nhiều lĩnh vực xã hội, cả trong và ngoài nước Mỹ. Quỹ đó mang tên Howard Eisner, người cha tuyên úy đã khuyến khích tôi khi còn ở Việt Nam.

“Ông là người thành lập quỹ Eisner?” Paola mở choàng mắt. “Chà, ông thật không phải người bình thường.”

“Thực ra tôi cũng đâu có thành lập ra nó. Tôi chỉ cung cấp tài chính cho nó thôi. Trong thực tế, những luật sư của cha mẹ tôi đảm nhiệm toàn bộ công việc. Cha mẹ tôi mà biết tôi làm vậy chắc đau lòng lắm.”

“Được rồi. Giờ hãy kể cho tôi chuyện ở Honduras. Ông cứ kể chi tiết vào.”

Vị linh mục tò mò nhìn Dicanti. Thái độ của cô đã thay đổi rất nhanh chóng và giờ đây cô bắt đầu tin vào những gì ông nói. Ngay chính cô cũng băn khoăn tự hỏi điều gì đã khiến cô thay đổi như vậy.

“Tôi không muốn làm mất thời gian của cô bằng những chi tiết. Lịch sử của El Aguacate có lẽ đủ lấp đầy một cuốn sách dày, nhưng tôi chỉ trình bày những nét cơ bản thôi. Mục tiêu của CIA là hoạt động dưới danh nghĩa một cuộc cách mạng. Nhiệm vụ của tôi là giúp đỡ những người công giáo bị đàn áp dưới chế độ Sandinista. Một đội quâ tình nguyện được thành lập và huấn luyện, nhằm mục đích tiến hành chiến tranh du kích lật đổ chính phủ. Binh lính được tuyển mộ từ những người dân Nicaragua nghèo đói nhất. Một đồng minh cũ của chính phủ Mỹ bán vũ khí cho họ, một người mà hồi đó ít ai ngờ có thể thay đổi đến nhường này: Osama bin Laden. Và quyền chỉ huy lực lượng Contra đã rơi vào tay một người tốt nghiệp trung học có tên là Bernie Salazar, một tên cuồng tín, đáng buồn là sau này chúng tôi mới nhận ra.

Trong những tháng mà đội quân đó được huấn luyện, tôi đã cùng Salazar vượt biên giới, mỗi lần đột nhập lại là một lần nguy hiểm hơn. Tôi đã giúp vài chức sắc tôn giáo bị lộ trốn ra nước ngoài. Nhưng càng ngày tôi càng nhận ra nhiều mối bất hòa với Salazar. Hắn bắt đầu nhìn thấy ai cũng là cộng sản, ở đây, ở kia, khắp mọi nơi. Nếu nghe lời hắn thì chỉ cần lật bất kỳ tảng đá nào lên cũng có cộng sản.”

“Theo những gì tôi đọc trong một giáo trình tâm thần học cũ thì những thủ lĩnh cuồng tín thường rất dễ bị sa vào trạng thái hoang tưởng cao độ.”

“Trong trường hợp này thì hoàn toàn đúng vậy. Tôi gặp một tai nạn, mà mãi về sau tôi mới biết là đã được trù tính trước. Sau lần đó tôi bị gãy chân, khiến cho việc vượt qua biên giới không còn thực hiện được nữa. Trong khi đó những du kích vẫn liên tục vượt biên rồi quay lại. Họ không còn ngủ trong doanh trại nữa, mà là trong những lán trại trong rừng, mà họ gọi là bivouac, trại dã ngoại. Ban đêm theo lịch thì họ tập trận, nhưng về sau tôi mới biết là họ lợi dụng đêm tối để thực hiện những vụ hành quyết.

Tôi vẫn nằm bẹp trên giường, nhưng cái đêm mà Salazar bắt giữ các nữ tu sĩ và buộc tội họ là theo cộng sản. Có người đã cho tôi biết. Đó là một chàng trai tốt, giống như hầu hết những người đã đi theo Salazar. Thông tin đó được anh ta tiết lộ cho tôi biết trong lúc xưng tội. Anh ta biết là tôi sẽ không nói với bất kỳ ai, nhưng thông tin đó buộc tphải làm tất cả những gì có thể để giúp đỡ các nữ tu. Chúng tôi đã làm những gì có thể...”

Gương mặt Fowler lúc này trở nên tái mét. Ông ta ngừng lại hồi lâu để nuốt khan, ánh mắt không hề nhìn Paola mà gắn chặt vào đâu đó bên ngoài cửa sổ.

“...nhưng cũng không đủ. Ngày nay thì Salazar, cùng hầu hết những người lính trẻ của hắn, đã chết, nhưng cả thế giới biết rằng lực lượng Contra đã cướp chiếc trực thăng và ném các nữ tu xuống một ngôi làng thuộc quyền kiểm soát của Sandinitas. Họ phải bay đến ba chuyến mới hoàn thành công việc dã man đó.”

“Tại sao họ lại làm vậy?”

“Thông điệp họ đưa ra rất rõ ràng: Chúng ta sẽ giết bất kỳ ai nghi ngờ là dính dáng đến Sandinitas. Cho dù họ có là ai đi nữa.”

Paola ngồi lặng yên, mông lung suy nghĩ về những gì cô vừa nghe.

“Và ông tự đổ lỗi cho bản thân...đúng vậy không?”

“Thật khó mà không làm thế. Tôi đã không cứu được những nữ tu sĩ đó. Và tôi đã không biết chăm lo cho những đứa trẻ cầm súng đó, để cuối cùng chúng lại đi giết chóc chính đồng bào mình. Tôi đến đó với quyết tâm làm những gì tốt nhất, nhưng cuối cùng tôi đã không đạt được. Tôi cũng chỉ là một chiếc ốc trong một cỗ máy quái vật. Nước Mỹ của tôi đã quá quen với việc một ai đó mà chúng tôi huấn luyện, giúp đỡ và bảo vệ cuối cùng lại quay lại cắn chúng tôi.”

Mặc dù lúc này những tia nắng đã rọi thẳng vào mặt, Fowler vẫn ngồi bất động không chớp mắt. Ông ta chỉ hơi nheo mắt lại, đôi mắt chỉ còn là hai cái khe màu xanh lơ. Ánh mắt của ông ta dường như dán chặt vào đâu đó trên những mái nhà ngoài cửa sổ.

“Lần đầu tiên tôi nhìn thấy nhữngcác ngôi mộ chung đó- vị linh mục tiếp tục - tôi chợt nhớ ra những tràng súng máy tóe lửa trong những cơn ác mộng nhiệt đới. 'Tập xạ kích', hồi đó họ đã giải thích như vậy, và tôi dần cũng quá quen với âm thanh chát chúa đó. Và rồi có những lúc giữa đêm khuya, tôi nghĩ tôi đã nghe thấy tiếng ai đó kêu khóc giữa những loạt đạn, nhưng lại lại gạt đi. Cơn buồn ngủ đã hoàn toàn chiến thắng. Sáng hôm sau lần nào tôi cũng tự trấn an rằng đó chỉ là do trí tưởng tượng mà thôi. Giá như, vào lúc đó, tôi mà nói chuyện với vị chỉ huy căn cứ, và giá như chúng tôi điều tra hoạt động của Salazar sát sao hơn, chúng tôi đã có thể cứu được rất nhiều mạng người. Đó là lý do tôi phải chịu trách nhiệm về những cái chết của họ, đó cũng là lý do tôi rời CIA, và cũng vì lý do đó mà tôi phải trình diện trước Sant’ Uffizio.”

“Đức cha ạ, từ lâu rồi tôi không còn tin vào Chúa nữa. Giờ đây tôi biết rằng khi chúng ta chết đi, tất cả sẽ kết thúc. Tôi nghĩ chúng ta sẽ lại tan vào đất, sau một giai đoạn ngắn chu du trong ruột của những con sâu. Nhưng nếu ông cần một lời xá tội thì ông có thể có từ tôi đây. Ông đã làm tất cả để cứu các linh mục trước khi họ rơi vào bẫy.”

Một nụ cười biết ơn thoáng nở trên mặt Fowler.

“Cám ơn cô. Cô không biết những lời cô vừa nói quan trọng với tôi đến nhường nào đâu, mặc dù tôi cũng rất đau lòng khi phải nghe nói những lời đoạn tuyệt như vậy từ một tín đồ Công giáo lâu năm như cô.”

“Nhưng ông vẫn chưa nói tại sao ông quyết định quay lại hoạt động cho CIA.”

“Rất đơn giản. Một người bạn đã nhờ tôi. Mà tôi thì không bao giờ muốn để bạn bè phải thất vọng.”

“Vậy ra bây giờ ông là điệp viên của Chúa ư?”

Fowler mỉm cười

“Đấy là cô gọi tôi như vậy nhé.”

Dicanti đứng bật dậy và bước lại giá sách kê cạnh bàn làm việc của mình.

“Đức cha ạ, làm thế này là sai nguyên tắc, nhưng như mẹ tôi vẫn nói, người ta chỉ sống có một lần thôi.”

Cô rút một cuốn sách dày cộp về phân tích hiện trường ra khỏi giá và chìa cho Fowler.

Ông ta mở nó ra. Trang đầu tiên có ghi lời đề tặng: “Hy vọng món quà này sẽ giúp cô giữ vững niềm tin. Maurizio.”

Những trang trong cuốn sách đã bị cắt rỗng, tạo thành ba chiếc hốc nhỏ, vừa khéo cho một chai Dewer nửa lít và hai chiếc cốc nhỏ.

“Mới có chín giờ sáng mà.”

“Thế ông có định uống luôn không hay cứ nhất định chờ đến tối hở đức cha? Tôi cảm thấy vô cùng tự hào được uống cùng người sáng lập quỹ Eisner. Ông không biết đâu, chính quỹ này đã cấp học bổng cho tôi theo học tại Quantico.”

Lần này đến lượt Fowler mở tròn mắt vì ngỡ ngàng.

Ông ta rót ra hai cốc whiskey đều nhau và nâng cốc của mình lên.

“Uống vì ai đây nhỉ?”

“Vì những người không còn ở bên chúng ta.”

“Được rồi. Vì những người không còn ở bên chúng ta.”

Họ cạn cốc. Thứ chất lỏng nóng rực chảy xuống cổ họng Paola. Với một người không bao giờ uống rượu như cô thật không khác gì phải uống đinh tẩm axit. Cô biết chắc là cả ngày hôm nay dạ dày cô sẽ cồn cào như lửa đốt nhưng dù sao cô vẫn tự hào được nâng cốc với người đàn ông này. Có những điều mà dù thế nào bạn cũng phải làm.

“Điều chúng ta phải quan tâm lúc này là đưa Dante quay lại nhóm. Đúng như ông dự đoán, đây là món quà từ người bạn Vatican của ông đấy” - Paola vừa nói vừa chỉ những tấm ảnh -“Tôi tự hỏi vì sao anh ta làm vậy. Có điều gì ở ông khiến anh ta khó chịu nhỉ?”

Fowler phá lên cười. Paola ngạc nhiên, cô chưa bao giờ thấy ai làm ra vẻ cười vui mà nghe lại buồn thảm và đau đớn đến thế.

“Đừng có nói với tôi là cô không để ý đấy nhé?”

“Xin lỗi, tôi không hiểu.”

“Cô tiến sĩ ơi, với một người xưa nay vẫn quá xuất sắc trong việc đọc suy nghĩ của người khác như cô, thật không thể tin nổi là cô lại hoàn toàn mù tịt trong trường hợp này. Chẳng lẽ cô không thấy là Dante đã phải lòng cô rồi à? Và không biết thế nào anh ta lại tin rằng tôi là đối thủ cạnh tranh của anh ta.”

Paola sững sờ, miệng há hốc. Cô có thể cảm thấy hai má mình đang đỏ bừng, và đó hoàn toàn không phải là vì ly rượu whiskey mà cô vừa uống. Đây là lần thứ hai người đàn ông này làm cô phải đỏ mặt. Cô hoàn toàn không hiểu tại sao ông ta lại có thể làm như vậy, nhưng trong thâm tâm cô vẫn muốn sống lại cảm giác đó thêm một chút, giống như một đứa trẻ nhút nhát nhưng vẫn cứ đòi được trơi trò đu quay thêm lần nữa.

Thật may mắn, đúng lúc cô đang ngượng ngùng không biết phải thoát khỏi hoàn cảnh khó xử này như thế nào thì chuông điện thoại bỗng reo vang. Dicanti vội vàng chộp lấy ông nghe. Mắt cô sáng bừng lên.

“Tôi sẽ xuống ngay.”

Fowler tò mò nhìn cô, không hiểu.

“Chúng ta thôi. Trong số những bức ảnh mà UACV tái tạo lại từ hiện trường sát hại hồng y Robayra có một bức có mặt của Francesco. Có lẽ chúng ta đã có thêm đầu mối rồi.”

❀ ❀ ❀

[1] Một bộ phim về chiến tranh Việt Nam của đạo diễn người Mỹ Francis Ford Coppola.

[2] Chỉ ranh giới giữa Phương Tây và khối xã hội chủ nghĩa ở châu Âu trong Chiến tranh lạnh.

VIÊN CỦA CHÚA Trinh thám, tôn giáo, Kỳ bí ebook©MotSAch —★— TVE-4u© NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA THÔNG TIN
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Juan Gomez Jurado

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.