Chủ nhật ngày 10 tháng 4 năm 2005, 11:42 sáng.
“Dấu hiệu không tốt rồi.
Fowler thì thầm.
Dicanti lần tay vào trong lưng áo rồi rút ra một khẩu côn xoay P.38.
“Vào trong thôi.”
“Tôi tưởng Troy thu súng của cô rồi.”
“Ông ta chỉ bắt tôi nộp lại khẩu tự động thôi, đó là vũ khí trang bị thông thường cho tất cả các nhân viên cảnh sát. Món đồ chơi nhỏ này chỉ dành cho trường hợp khẩn cấp thôi.”
Hai người bước qua ngưỡng cửa. Bảo tàng bên trong nhà để đồ thánh vắng hoe, đèn trong các tủ kính trưng bày cũng đã tắt. Chút ánh sáng mặt trời lọt vào trong phòng qua các cửa sổ nhỏ lấp lánh phản chiếu trên nền nhà và chân tường lát đá cẩm thạch bóng lộn. Ngoài trời đang là giữa trưa, nhưng trong các gian trưng bày vẫn tối om.
Fowler khẽ khàng đi trước, thầm nguyền rủa tiếng lộp cộp mà đôi giầy của mình tạo ra. Họ đi thẳng qua bốn gian trưng bày của bảo tàng mà không nhìn sang hai bên.
Nhưng đến gian trưng bày thứ sáu, Fowler bất chợt dừng lại Trên sàn nhà phía trước ông chỉ khoảng nửa mét, hơi ẩn trong hành lang tối mà ông định bước vào, là một cảnh tượng trông thật khác thường: một bàn tay đi găng trắng và một cánh tay trong tay áo sặc sỡ những sọc màu vàng, xanh và đỏ.
Bước vòng qua góc, họ phát hiện ra đó là cánh tay của một lính Cận vệ Thụy Sĩ. Bàn tay trái của người lính xấu số vẫn nắm chặt cán kích, nhưng trên khuôn mặt nơi từng là đôi mắt giờ chỉ còn là hai hốc sâu hoắm bê bết máu.
Sâu hơn phía cuối hành lang Paola nhìn thấy hai bà sơ mặc áo chùng đen và mang khăn trùm đầu kín mít, nằm co quắp cạnh nhau.
Mắt của họ cũng đã bị khoét b
Paola lên cò súng. Cô và Fowler cùng nhìn nhau hiểu ý.
“Hắn đang ở đây.”
Họ đứng trong hành lang ngắn dẫn đến phòng để đồ thờ chính của Vatican, vốn lúc nào cũng có dây chăng bên ngoài.
Cánh cửa đôi của phòng để đồ thánh bao giờ cũng mở toang để công chúng có thể đứng ngoài và thỏa mãn trí tò mò bằng cách nhìn vào trong nơi Đức Thánh cha khoác bộ áo choàng của mình lên người trước khi hành lễ mi xa.
Nhưng lúc này cả hai cửa đều đóng chặt.
“Lạy Chúa, hy vọng là chúng ta không đến quá muộn.” Paola căm phẫn thì thào, mắt dán chặt vào những thi thể trên sàn nhà.
Người lính Thụy Sĩ và hai bà sơ đã nâng tổng số nạn nhân của Karosky lên thành ít nhất là tám người. Paola tự thề với mình đó sẽ là những nạn nhân cuối cùng. Không một chút băn khoăn, do dự, cô băng qua khoảng trống giữa nơi cô đang đứng và cửa chính, bước vòng quanh những thi thể. Tay trái cô nắm chắc khẩu súng, tay phải đưa lên đỡ bên dưới. Cô chậm rãi bước qua ngưỡng cửa.
Nơi cô bước vào là một căn phòng hình bát giác có trần cao khoảng hơn mười mét, tràn ngập trong màn ánh sáng vàng lung linh huyền ảo. Trước mặt cô là một bàn thờ lớn giữa những chiếc cột, phía trên là một bức tranh sơn dầu vẽ cảnh Chúa được đưa từ thánh giá xuống. Dựa sát vào những bức tường ốp đá cẩm thạch lộng lẫy và sáng bóng là mười chiếc tủ đứng khảm gỗ quý và mạ vàng, bên trong là những bộ quần áo lễ thiêng của Đức Thánh cha.
Nếu Paola có thời gian liếc nhìn lên trần nhà, hẳn cô đã trông thấy một mái vòm trang trí những bức bích họa tuyệt đẹp, lung linh phản chiếu những tia nắng lọt vào qua các ô cửa sổ lúc này mắt Paola đang dán chặt vào hai người đàn ông đang đứng ở bên kia căn phòng.
Cô nhận ra Hồng y Casey trước tiên. Người thứ hai cũng là một hồng y. Trông ông ta rất quen, và cuối cùng cô cũng nhớ ra. Chính là Hồng y Pauljic.
Hai người đang đứng cạnh nhau trước bàn thờ. Pauljic đứng ngay sau Casey. Ông ta vừa chỉnh xong chiếc áo choàng lễ của Hồng y Casey thì Dicanti ập tới, họng súng chĩa thẳng vào hai người.
“Hắn đâu rồi?” Cô quát lên, tiếng thét lanh lảnh vang vọng khắp mái vòm phòng để đồ thánh. “Các ông có thấy hắn không?”
Dán chặt mắt vào khẩu súng lăm lăm trên tay Dicanti, vị hồng y người Mỹ chậm rãi, hết sức chậm rãi, cất tiếng.
“Ai ở đâu cơ, thưa cô?”
“Karosky. Kẻ đã giết người lính Thụy Sĩ và hai bà sơ ngoài kia.”
Cô chưa nói dứt lời thì Fowler đã vào trong phòng để đồ thánh. Ông bước lại bên Paola. Ông nhìn Casey, và rồi lần đầu tiên Powler và Pauliic bất giác đưa mắt nhìn nhau.
Trong những ánh mắt đó là lửa và cả sự nhận ra người cũ .
“Xin chào, Victor,”
Vị linh mục lên tiếng trước, giọng ông khàn hẳn đi, xa vắng.
Hồng y Pauljic, hay nói đúng hơn là Karosky, bất ngờ choàng tay trái qua cổ Hồng y Casey. Tay phải hắn rút ra khẩu súng của Pontiero và kề lên thái dương vị hồng y người Mỹ
“Đứng im!” Dicanti lại quát lên, và tiếng ‘im’ vang vọng liên tiếp nhau trong khắp căn phòng.
“Đừng có manh động, cô Dicanti, nếu không chúng ta sẽ được biết trong đầu vị hồng y này có gì đấy.”
Tên giết người rít lên bằng một giọng giận dữ và đe dọa làm Paola bất giác rùng mình. Cô chợt nhớ lại cảm giác giận dữ điên cuồng của mình khi chứng kiến thi thể đẫm máu của Pontiero lúc con quái vật này gọi điện cho cô.
Cô bình tĩnh ngắm thật cẩn thận.
Karosky đứng cách cô hơn năm mét, và lúc này chỉ có đầu và hai cánh tay trước của hắn là lộ ra sau tấm bia sống là Hồng y Casey.
Dù có ngắm thật chuẩn thì với một khẩu côn xoay bé tí thế này cô cũng không thể nào bắn trúng.
“Thả súng xuống sàn nhà đi thanh tra, không tôi sẽ giết ông ta ngay lập tức.”
Paola cắn chặt môi để không thét lên vì giận dữ. Tên giết người đang đứng ngay trước mặt mà cô không thể làm gì được.
“Đừng bỏ súng, Tiến sĩ. Hắn không làm gì Hồng y Casey đâu. Đúng không Victor?”
Karosky xiết chặt cánh tay quanh cổ Casey.
“Tất nhiên là ta sẽ làm. Bỏ súng xuống, Dicanti.”
“Bỏ xuống!” Xin hãy làm theo lời hắn đi,” Casey rên rỉ bằng giọng mệt mỏi và run rẩy.
“Màn kịch rất đạt, Victor ạ.” Fowler giận run lên. - Còn nhớ là chúng ta đã hoàn toàn không hiểu làm thế nào tên giết người có thể thoát khỏi phòng của Hồng y Cardoso. Giờ thì đã rõ rồi. Hắn không hề ra khỏi phòng.”
“Sao cơ?” Paola bàng hoàng.
“Chúng ta đã phải phá cửa để vào trong, nhưng không thấy ai cả. Và đúng lúc đó có tiếng hét ở ngoài hành lang, làm chúng ta tưởng tên bệnh hoạn này lại tấn công ai đó ngoài cầu thang thoát hiểm. Không nghi ngờ gì nữa, khi ấy Victor vẫn ở trong phòng. Ngươi đã trốn ở dưới gầm giường? Hay trong tủ?”
“Thông minh lắm, cha Fowler. Giờ thì bỏ súng xuống thanh tra.”
“Nhưng tiếng thét cầu cứu này cùng với lời miêu tả về kẻ tấn công dường như xuất phát từ một nguồn đáng tin cậy. Một người phụng sự Chúa. Một vị hồng y đáng kính trọng. Một kẻ tòng phạm giết người.”
“Câm đi, Fowler!”
“Ông ta đã hứa hẹn những gì với ngươi để đổi lại việc ngươi loại bỏ hoàn toàn những đối thủ cạnh tranh? Để thỏa mãn sự thèm khát vinh quang mà ông ta không đáng hưởng?”
“Đủ rồi!
Trông Karosky lúc này hệt một người điên, mồ hôi đầm đìa nhỏ giọt trên mặt hắn, một bên lông mày giả mà hắn đã gắn lên bây giờ rụng ra, rủ xuống một bên mắt.
“Ông ta đã đến gặp ngươi ở Tu viện, đúng không Victor? Ông ta chính là người đã gửi ngươi tới tu viện mà, chẳng phải thế sao?”
“Những lời bôi nhọ vô lý ngươi vừa nói là quá đủ rồi đấy, Fowler. Bảo người phụ nữ kia bỏ súng xuống nếu không tên điên này sẽ giết ta mất.”
Casey nói bằng một giọng ra lệnh. Trông ông ta hoàn toàn tuyệt vọng.
“Hãy nói cho chúng ta biết kế hoạch của Đức ông đi Victor.” Fowler nói, không thèm đếm xỉa gì đến Casey. Ngươi phải giả vờ tấn công ông ta ngay giữa Thánh đường Saint Peter đúng không? Và ông ta sẽ thuyết phục ngươi buông vũ khí, ngay trước mặt tất cả những con chiên của Chúa và hàng trăm ống kính máy quay?”
“Câm ngay, nếu không ta giết ông ta! Ta sẽ giết ông ta!”
“Ngươi sẽ là kẻ phải chết. Còn ông ta sẽ là một anh hùng, một vị thánh sống.”
“Ông ta hứa sẽ cho anh điều gì để có được chìa khóa của Nước trời, Victor?”
“Thiên đường, đồ chó đẻ khốn kiếp kia! Cuộc sống vĩnh cửu!”
Bất thình lình Karosky bỏ mũi súng ra khỏi thái dương của Casey, nhắm thẳng vào Dicanti và bóp cò.
Fowler xô Paola ngã lăn xuống sàn nhà, khẩu súng văng ra khỏi tay cô. Phát súng của Karosky bắn trượt qua đầu Dicanti và găm thẳng vào vai trái của Fowler, làm xương vai của vị linh mục vỡ vụn thành nhiều mảnh.
Karosky buông Casey ra, vị hồng y vội vàng lẩn trốn vào khe giữa hai chiếc tủ. Không còn đủ thời gian nhặt lại khẩu súng, Paola xô thẳng vào Karosky với hai nắm đấm giận dữ. Vai phải của cô huých thẳng vào bụng Karosky và đẩy hắn dựa vào tường, nhưng đòn tấ không đủ sức làm hắn tức thở vì bên dưới lớp áo choàng Karosky đã lót thêm một tảng mút dầy để trông có vẻ nặng nề hơn. Khẩu súng của Pontiero văng xuống sàn đá cẩm thạch, tạo nên một tiếng cạch khô khốc.
Karosky giáng mạnh cùi chỏ xuống lưng Dicanti. Cô rú lên vì đau đớn, nhưng vẫn cố đứng vững và đấm thẳng vào mặt Karosky. Đòn đánh làm Karosky tối tăm mặt mũi và loạng choạng suýt ngã.
Và đúng lúc đó Paola phạm phải sai lầm duy nhất.
Cô đảo mắt nhìn quanh tìm khẩu súng của mình.
Tranh thủ phút lơi lỏng đó, Karosky bật người đấm túi bụi vào mặt, bụng và hai bên sườn Paola. Hắn chụp lấy cổ cô như hắn đã làm với Casey. Nhưng lần này trên tay hắn là một vật nhỏ ngắn ngủn mà hắn cầm gạt qua gạt lại trên mặt cô. Đó là một con dao cắt cá bình thường, nhưng cực kỳ sắc bén.
“Chà, Paola, ngươi không biết trò này làm ta thích thú đến thế nào đâu.” hắn thì thầm vào tai cô.
“Victor!”
Karosky giật mình quay lại. Fowler đã lồm cồm bò dậy, ông quỳ một gối trên sàn đá cẩm thạch, vai trái đã vỡ nát, máu bê bết chảy xuống cánh tay đã mềm nhũn, thõng hẳn xuống sàn nhà.
Nhưng tay phải ông đang cầm khẩu súng của Paola.
Nòng súng chĩa thẳng vào trán Karosky.
“Ngươi sẽ không dám bắn đâu, Fowler.” Karosky hổn hển nói. -Ngươi và ta đâu có khác gì nhau. Cả hai chúng ta đều phải trải qua một địa ngục mà. Và trong lời thề khi trở thành linh mục, ngươi đã nguyện sẽ không bao giờ cướp đi một mạng sống nào nữa.”
Bằng một nỗ lực phi thường, khuôn mặt méo xệch vì đau đớn, Fowler nâng tay trái lên nắm lấy chiếc cổ áo linh mục trắng toát của mình. Với cử chỉ hết sức dứt khoát, ông giật tung chiếc cổ áo và tung lên khoảng không trung giữa ông và Karosky. Chiếc cổ áo xoay tròn, lớp vải hồ bột cứng đơ còn hằn rõ một vết máu in hình vân ngón tay Fowler vừa nắm vào. Karosky sững sờ nhìn chiếc cổ áo đang rơi xuống, mặt đờ đẫn như người bị thôi miên, nhưng hắn không bao giờ còn nhìn thấy chiếc cổ áo chạm đất.
Fowler bóp cò, viên đạn duy nhất găm thẳng vào giữa hai mắt Karosky.
Tên giết người ngã lăn ra sàn. Từ nơi xa vắng đâu đó hắn nghe thấy lao xao tiếng cha mẹ đang gọi tên mình. Và hắn đã đi theo họ .
Paola vội vàng chạy lại bên Fowler, trông ông tái nhợt như một xác chết. Vừa chạy cô vừa cởi phăng chiếc áo khoác và xé toang vạt áo để băng vết thương cho Fowler.
“Nằm xuống.”
“Mọi chuyện thật khủng khiếp trước khi các vị vào đây, bạn của ta.”
Đó là giọng của Casey. Lão hồng y đã lấy lại can đảm để đứng lên được. “Con quái vật đó đã khống chế ta.”
“Đừng có đứng đó, Hồng y. Đi báo cho ai đó...”
Paola hối hả vừa nói vừa giúp Fowler nằm thẳng ra trên sàn.
Đột nhiên cô chợt nhận ra chỗ mà Casey đang bước tới: đ khẩu súng của Pontiero đang nằm lăn lóc bên xác Karosky. Cô bàng hoàng nhớ ra cô và Fowler là hai nhân chứng nguy hiểm biết rõ tội lỗi của lão. Paola vội vàng quay ra tìm khẩu súng của mình.
“Xin chào,” Thanh tra Camilo Cirin vừa nói vừa lạnh lùng rảo bước vào phòng cùng ba nhân viên Vigilanza.
Ông ta bước tới đứng ngay sát Casey khi lão hồng y đang định cúi xuống lượm khẩu súng của Pontiero. Lão vội vàng đứng thẳng lên.
“Ta cứ tưởng ông không bao giờ đến được đây cơ đấy, Chánh Thanh tra ạ. Các ông phải bắt giữ hai người này ngay lập tức,” Casey vừa nói trơn tru vừa chỉ vào Fowler và Dicanti.
“Xin thứ lỗi, thưa Đức ông. Chờ tôi một lát.” Camilo Cirin liếc xuống dưới sàn nhà. Ông ta bước qua xác Karosky và nhặt khẩu súng của Pontiero lên tay.
Mũi giầy của viên chánh thanh tra gí trên mặt Karosky.
“Vậy ra đây chính là hắn?”
“Đúng thế,” Fowler nói.
“Mẹ kiếp, Cirin, một hồng y giả mạo.” Paola giận dữ nói. “Làm sao lại có chuyện đó được cơ chứ?”
“Hắn có những lời bảo đảm rất uy tín mà.”
Trong khoảnh khắc, Cirin chợt hiểu ra tất cả. Đằng sau khuôn mặt lạnh lùng của ông ta là một bộ óc hoạt động nhanh như một cỗ máy siêu tốc. Lúc này ông ta mới nhớ ra rằng Pauljic là hồng y cuối cùng mà Giáo hoàng John Paul II đã tấn phong. Cách đây sáu tháng, khi Đức Thánh cha vừa mới khỏi giường bệnh được vài ngày. Cirin nhớ là Giáo hoàng đã đề cập với Samalo và Ratzinger về việc tấn phong một ồng y in pectore ([1]), mà danh tính của người này sẽ chỉ có một mình Casey biết. Hồng y Casey sẽ công bố danh tính của vị Hồng y bí mật này sau khi Giáo hoàng băng hà. Lúc này ông ta không khó khăn gì mà không nhận ra ai là người đã thì thầm cái tên Pauljic vào tai Giáo hoàng, và ai cũng là người đã cùng vị “hồng y mới” đến Tòa nhà Santa Martha để ra mắt các đạo hữu đang tò mò chờ đợi.
“Hồng y Casey, Đức ông có nhiều điều cần giải thích đấy.”
“Ta không hiểu ông đang nói chuyện gì.”
“Thôi đi Hồng y.”
Trông Casey có vẻ hoang mang tột độ, nhưng ông ta nhanh chóng lấy lại vẻ ngạo nghễ và thái độ kiêu hãnh của mình, chính điều đã đưa ông ta trượt dài xuống vực thẳm.
“Suốt bao năm qua, Giáo hoàng John Paul II đã chuẩn bị tất cả để ta tiếp tục công trình của Người. Hơn ai hết Cirin ạ, ông phải biết rõ là chuyện gì có thể xảy ra nếu quyền kiểm soát nhà thờ lại rơi vào tay những kẻ không có kỷ luật và đức tin. Ta tin rằng trong lúc này ông sẽ biết hành động phù hợp nhất với lợi ích của nhà thờ, bạn thân mến của ta.”
Ánh mắt của Cirin cho thấy ông ta đã đưa ra phán quyết chỉ trong giây lát.
“Tất nhiên là tôi sẽ làm như vậy, thưa Đức ông.”
“Domenico?”
“Vâng, thưa Thanh tra.”
Một nhân viên Vigilanza vừa vào phòng cùng Cirin trả lời. Cả bộ quần áo và cà vạt của anh ta đều đen sì.
“Hồng y Casey sẽ ra ngoài kia chủ trì buổi lễ novena trong Thánh đường.” Lão hồng y mỉm cười. - Sau đó, các anh sẽ hộ tống Đức ông tới nơi ở mới của người: Tu viện Albergradz, trên dãy núi An-pơ. Tại đó hồng y sẽ có thời gian suy ngẫm về những hành động của mình. Đức ông cũng sẽ có cơ hội rèn luyện khả năng leo núi.”
“Nghe nói đó là một môn thể thao khá nguy hiểm,” Fowler gượng đau nhận xét.
“Tất nhiên rồi. Tai nạn xảy ra liên tục mà.” Paola cũng đế thêm vào.
Casey không nói gì, bản thân sự im lặng cũng cho thấy ông ta đã hoàn toàn suy sụp. Đầu ông ta rũ xuống, cằm gục hẳn trên ngực áo. Ông ta lặng lẽ lê chân ra khỏi phòng để đồ thánh, không nói với ai một lời nào, Domenico theo sát phía sau.
Cirin quỳ bên cạnh Fowler. Paola một tay nâng cao đầu vị linh mục, tay kia ấn chặt chiếc áo khoác vào vết thương.
“Cho phép tôi.” ông ta gỡ tay Dicanti ra. Chiếc áo khoác tả tơi của cô đã bê bết máu. Cirin bịt chiếc áo khoác của mình vào vết thương.
“Ông cứ thả lỏng đi. Xe cấp cứu đang đến rồi. Xin lỗi, nhưng tôi không hiểu các vị làm sao lọt được vào trong này?
“Tất nhiên là chúng tôi phải tránh xa những quầy soát vé của ông chứ, Cirin. Thay vào đó, chúng tôi đi qua đường của Sant’ Uffizio.”
Cirin vẫn giữ nguyên vẻ bình thản, chỉ hơi nhướng một bên lông mày. Paola hiểu rằng đó là cách ông ta tỏ ra ngạc nhiên.
“À, tất nhiên rồi. Ông giám mục già Gonthas Haner, người không bao giờ nghỉ việc. Có vẻ như dạo này ông ta đã hạ bớt tiêu chuẩn của những vị khách vào Vatican thì phải.”
“Nhưng cái giá mà ông ta đòi lại cao hơn,” Fowler vừa nói vừa buồn rầu nghĩ về buổi phỏng vấn không hề dễ chịu gì đang chờ đợi mình ngày mai.
Cirin gật đầu. Ông ta hiểu điều Fowler đang nói đến, tay ông ta ấn chặt hơn chiếc áo khoác áp vào vết thương.
“Tôi nghĩ là việc đó có thể sắp xếp lại.”
Một nhóm cấp cứu bước vào phòng, mang theo một chiếc cáng.
Trong lúc hai nhân viên y tế cúi xuống kiểm tra người bị thương, bên trong Thánh đường, tám cậu lễ sinh và hai linh mục cầm bình hương đứng chờ ở lối cửa dẫn vào phòng để đồ thờ, chờ đợi các hồng y Casey và Pauljic ra hành lễ. Bây giờ đã là 12 giờ 4 phút. Lẽ ra buổi lễ mi xa đã phải bắt đầu rồi. Vị linh mục cao tuổi đã định cử một cậu lễ sinh vào trong phòng để đồ thánh xem có chuyện gì xảy ra hay không. Rất có thể hai bà sơ phụ trách trông nom phòng để đồ thánh vẫn chưa chọn được bộ đồ lễ phù hợp cho các hồng y. Nhưng đã có quy định rõ ràng là ông ta phải ở ngoài để đốc thúc những người tham gia phụ lễ.
Cuối cùng thì chỉ có một mình Hồng y Casey xuất hiện ở cánh cửa dẫn sang thánh đường. Những cậu lễ sinh đi theo ông ta đến trước bàn thờ Thánh Joseph, nơi sẽ cử hành buổi lễ. Những tín đồ dự lễ ngồi ngay sát bàn thờ không ngừng bàn tán, trao đổi trong suốt buổi lễ, họ thì thầm với nhau rằng chắc chắn vị hồng y phải thực lòng kính yêu Giáo hoàng quá cố của mình bởi từ đầu đến cuối buổi lễ, Casey lúc nào cũng đầm đìa nước mắ“Bình tĩnh nào, ông đã qua cơn nguy hiểm rồi một cô y tá vỗ về ông. “Chỉ một phút nữa thôi chúng ta sẽ về đến bệnh viện. Tại đó chúng tôi sẽ tiến hành các xét nghiệm cần thiết, nhưng đừng lo, chỗ chảy máu đã được kiểm soát rồi.”
Đội cấp cứu nâng chiếc cáng lên, và đúng giây phút đó Paola chợt hiểu tất cả: mối ác cảm đối với cha mẹ, từ bỏ khoản thừa kế, cùng nỗi căm phẫn lúc nào cũng hiện hữu và giằng xé không nguôi. Cô giơ tay ngăn hai nhân viên y tế lại, đúng lúc họ đang định đưa chiếc cáng vào trong xe cấp cứu.
“Giờ tôi mới hiểu. Địa ngục chung mà ông và hắn đã phải trải qua. Ông tình nguyện đi Việt Nam để trả thù cha mình phải không?”
Fowler sững sờ nhìn Paola. Ông giật mình đến nỗi không nhận ra là đang trả lời cô bằng tiếng Anh.
“Xin lỗi?”
“Giận dữ và cay đắng là điều đã đưa ông đến Việt Nam.”
Paola cũng nói bằng tiếng Anh, giọng cô nghe nhẹ như hơi thở để những người bên cạnh không để ý. “Mối căm thù sâu sắc đối với người cha, sự chối bỏ lạnh lùng đối với người mẹ. Việc ông từ chối nhận khoản thừa kế khổng lồ kia. Ông muốn cắt đứt hoàn toàn mọi mối liên hệ với gia đình mình. Trong một buổi phỏng vấn với Karosky ông đã nói về địa ngục. Tất cả đều có trong tập tài liệu mà ông đưa cho tôi. Vậy mà từ đầu đến giờ tôi mới hiểu ra.”
“Cô đang định nói gì vậy?”
“Tôi hiểu rồi,” Paola nhắc lại. Cô cúi người xuống bên cáng và nhẹ nhàng đặt tay lên vai bên phải của vị linh mục. Fowler đang bàng hoàng đến tê tái, ông chỉ muốn khóc òa lên nhưng cổ họng như bị chẹn lại.
“Tôi hiểu tại sao ông nhận công việc tại tu viện Saint Matthew, và những gì đã khiến ông trở thành con người như bây giờ. Khi còn nhỏ ông cũng đã bị chính người cha của mình lạm dụng. Đó là sự thật phải không? Và mẹ ông đã biết tất cả. Cũng giống như Karosky. Bởi vì hai người đứng ở hai đầu trên cùng một sợi dây số phận. Ông đã chọn con đường trở thành một con người còn hắn chọn con đường trở thành một con quái vật.
Fowler không còn biết nói gì nữa. Hai nhân viên y tế lại nâng chiếc cáng lên cho vào xe cấp cứu. Fowler cố hết sức nhìn Dicanti và mỉm cười.
“Bảo trọng nhé, tiến sĩ.”
Trong xe cấp cứu, Fowler cố hết sức để không ngất đi. Có lúc mắt ông đã nhắm nghiền trong giây lát, nhưng một giọng nói quen thuộc đã đưa ông tỉnh lại.
“Anthony.”
Fowler mỉm cười.
“Fabio à, cánh tay anh thế nào rồi?”
“Gãy nát chứ còn chó gì nữa.”
“Anh còn gặp may đấy.”
Dante không nói gì. Anh ta và Cirin đang ngồi trên chiếc ghế dài lắp ở một bên thùng xe cấp cứu. Viên phó thanh tra của Vigilanza vẫn giữ nguyên vẻ mặt giễu cợt và cay độc thường ngày của mình, mặc dù cánh tay trái của anh ta đang bó bột trắng xóa, khuôn mặt thì sưng tím khắp nơi. Về phần mình Cirin vẫn khoác nguyên bộ mặt thờ ơ, vô cảm như mọi khi.
“Bây giờ thì sao nhỉ? Các người định thủ tiêu tôi thế nào đây? Cho chất độc xyanua vào chai dịch truyền, làm mất máu dần dần, hay là một phát đạn cổ điển vào sau gáy? Tôi thì tôi thích kiểu sau cùng hơn.”
Dante nhếch mép cười lạnh lùng.
“Đừng có thách thức tôi. Có thể là một ngày nào đó, nhưng không phải là hôm nay, Anthony. Trái đất tròn mà. Sớm muộn thì cũng có dịp thuận tiện hơn. ”
Cirin chăm chú nhìn Fowler với bộ mặt không hề bộc lộ chút cảm xúc gì.
“Tôi muốn cảm ơn ông. Ông đã giúp chúng tôi rất nhiều.”
“Tôi không hề làm vì ông. Cũng như cho lý tưởng mà ông theo đuổi đâu.”
“Tôi biết.”
“Thực ra, đã có lúc tôi tin chắc là ông đứng sau vụ này.”
“Tôi cũng biết chuyện đó, và tôi không trách ông.”
Ba người lặng yên hồi lâu. Cuối cùng hóa ra là Cirin lại lên tiếng trước.
“Liệu có cơ hội ông sẽ làm việc cùng chúng tôi nữa không?”
“Không bao giờ có chuyện đó đâu. Ông đã chơi tôi một lần. Sẽ không có lần thứ hai nữa.”
“Một lần cuối cùng thôi. Vì những ngày xưa thân ái.”
Fowler suy nghĩ trong giây lát
“Với một điều kiện. Và ông biết là gì rồi đấy.”
Cirin gật đầu.
“Ông có thể tin lời tôi. Không ai đến gần cô ấy đâu.”
“Cả cô kia nữa. Cái cô nhà báo người Tây Ban Nha ấy.”
“Điều đó thì tôi không thể bảo đảm. Chúng tôi vẫn không biết cô ta có chiếc đĩa hay không.”
“Tôi nói chuyện với cô ấy rồi. Cô ấy không còn giữ bản copy nào hết, và nhất định cô ấy cũng sẽ không hé răng đâu.”
“Thế thì tốt. Nếu không có chiếc đĩa thì cô ta cũng chẳng chứng minh được gì.”
Lần này sự im lặng trong xe cấp cứu kéo dài hơn, chỉ thỉnh thoảng bị gián đoạn bởi tiếng bíp khe khẽ phát ra từ chiếc máy điện tâm đồ được gắn với ngực Fowler. Vị linh mục đang lả dần, lả dần. Những lời cuối cùng của Cirin như vẳng lại từ đâu đó xa xăm trong một làn sương mù dày đặc.
“Ông biết không, Anthony? Đã có lúc tôi nghĩ chắc là ông sẽ nói cho cô ta biết sự thật. Toàn bộ sự thật.”
Fowler không trả lời mà cũng không quan trọng. Không phải cứ nói ra toàn bộ sự thật sẽ giúp con người ta được tự do. Ông biết ngay chính ông cũng không thể sống chung với sự thật của mình, làm sao có thể trút nó sang thành gánh nặng trên vai người khác được.
RATZINGER ĐƯỢC CHỌN LÀM VỊ GIÁO HOÀNG
KẾ TIẾP, HẦU NHƯ KHÔNG CÓ AI PHẢN ĐỐI
Bài viết của Andrea Otero (Thông tín viên đặc biệt)
ROMA - Hội nghị của Hồng y đoàn, nhóm họp để chọn ra người kế vị Giáo hoàng John Paul II, đã kết thúc ngày hôm qua với kết quả người được lựa chọn là hồng y Joseph Ratzinger, nguyên Tổng trưởng Bộ Giáo lý và Đức tin, đã trở thành Giáo hoàng Benedict XVI. Mặc dù đã tuyên thệ trên Kinh thánh là giữ bí mật, nếu không sẽ bị rút phép thông công, liên quan đến kết quả bầu chọn Giáo hoàng, những thông tin đầu tiên của các thành viên tham gia hội nghị cũng bắt đầu rò rỉ ra ngoài. Theo những thông tin này thì vị hồng y người Đức đã được chọn với tổng số 105/115 phiếu thuận, vượt xa con số cần thiết là 77 theo quy định. Những nguồn tin từ Vatican cho biết sự ủng hộ áp đảo mà Ratzinger có được là chưa hề có tiền lệ, nhất là nếu người ta biết rằng hội nghị của hồng y đoàn lần này chỉ mất có hai ngày là đã đưa ra được kết luận cuối cùng.
Theo các chuyên gia phân tích, kết quả bầu chọn áp đảo và chóng vánh như vậy là do không có những ứng cử viên nặng ký nào cạnh tranh. Những nguồn tin thân cận của Vatican cho biết các đối thủ cạnh tranh chủ yếu của Ratzinger (Portini, Robayra, và Cardoso) đều không lần nào đạt dược số phiếu cần thiết.
Cũng nguồn tin trên đã khẳng định rằng ba vị hồng y này “hơi khó ở” trong thời gian diễn ra Hội nghị của Hồng y đoàn.
❀ ❀ ❀
[1] Có nghĩa là đã được Giáo hoàng quyết định tấn phong chức Hồng y, nhưng chưa tiết lộ danh tính ngay, vì một lý do nào đó.